1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phần thứ hai PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG

39 338 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Thực Trạng Về Việc Duy Trì Và Mở Rộng Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm Của Nhà Máy Thuốc Lá Thăng Long
Trường học Trường Đại Học Kinh Doanh Và Công Nghệ Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị Doanh nghiệp
Thể loại Báo cáo/ Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 86,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1965 xuất khẩu 40.700.000 bao sang thị trườngLiên Xô cũ và chiếm 25,7% tổng sản phẩm sản xuất của nhà máy.Qua 10 năm liên tục xây dựng và phát triển, nhà máy đã đạt được nhữngthành

Trang 1

Phần thứ hai PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DUY TRÌ VÀ MỞ

RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA NHÀ MÁY THUỐC LÁ THĂNG LONG

I-/ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ MÁY

Để đắp ứng nhu cầu về thốc lá của nhân dân về thốc lá Vào năm 1956 theoquyết định số 2990/QĐ của thủ tướng chính phủ, nhà máy thuốc lá được xâydựng và chính thức được đưa vào hoạt động ngày 6/1/1957 tại thị xã Hà Đôngtỉnh Hà Sơn Bình ( nay là tỉnh Hà Tây )

Cho đến nay nhà máy thuốc lá Thăng Long đã trải qua 40 năm xây dựng

và trưởng thành Qua qúa trình phát triển lâu dài với bao thăng trầm trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh Ngày nay nhà máy đã vươn lên trở thành một trong

số nhà máy đầu ngành của ngành thuốc lá Việt Nam

1 Các giai đoạn hình thành và phát triển:

Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy thuốc lá Thăng Long có thểchia ra làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: từ năm 1957 đến 1986

Những năm đầu nhiệm vụ sản xuất chính của nhà máy là sản xuất các loạithuốc lá điếu, nhằm cung cấp cho nhu cầu của nhân dân, chủ yếu là lực lượng vũtrang và cán bộ công nhân viiên chức Thời kì sơ khai nhà máy chỉ được tiếpnhận một cơ sở vật chất kĩ thuật nhỏ bé Số công nhân viên chỉ là 233 người.Đến cuôí năm 1958 sau nhiều lần tuyển dụng nhà máy đã có tới 905 công nhânviên và một số dây chuyền máy móc thiết bị của Tiệp Khắc ( cũ ) và TrungQuốc

Kĩ thuật sản xuất thủ công, máy móc cũ kĩ lạc hậu cộng với tay ngề củacông nhân còn thấp, trình độ sản xuất còn non kém, vì vậy việc sản xuất gặp rấtnhiều khó khăn

Những năm đầu đi vào sản xuất nhà máy chỉ sản xuất được 8.950.000 baothuốc lá các loại, tương đương với giá trị là 2.095.000đ (thời giá năm 1957)

Để khắc phục tình trạng này, đến năm 1960 với sự trợ giúp của TrungQuốc nhà máy đã tiến hành xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức lại sản xuất và từ

đó dần dần đI vào thế ổn định Vì vậy sản lượng năm 1960 của nhà máy đã đạt73.400.000 bao

Với nỗ lực cố gắng của mình, nhà máy đã nhanh chóng củng cố lại sảnxuất, đưa tổng sản lượng của năm 1960 tăng 8 lần so với những năm đầu thànhlập Đến năm 1964 nhà máy đã sản xuất được 136.632.000 bao và đã xuất khẩu

1

Trang 2

được 31.177.000 bao Năm 1965 xuất khẩu 40.700.000 bao sang thị trườngLiên Xô ( cũ ) và chiếm 25,7% tổng sản phẩm sản xuất của nhà máy.

Qua 10 năm liên tục xây dựng và phát triển, nhà máy đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể, không những đã đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn cónhiều sản phẩm để xuất khẩu

Năm 1966 nhà máy đứng ra thành lập nhà máy thuốc lá Bắc Sơn ( Hà Bắc).Một đơn vị trực thuộc của nhà máy cho đến ngày nay

Để phục vụ tốt cho sản xuất nhà máy đã đầu tư kĩ thuật, phân bón vào một

số vùng nguyên liệu và các hoạt thu mua cũng như chế biến khâu nguyên liệu.Nhà máy đã góp phần to lớn vào việc hình thành và phát triển những vùngnguyên liệu trọng điểm ở các tỉnh phía bắc,và cũng nhờ vào đó mà chất lượngthuốc lá của nhà máy ngày một nâng cao

Năm 1980 sản lượng thuốc lá của nhà máy tăng vọt, tăng lên 144.220.000bao đây là năm sản lượng thuốc lá của nhà máy đạt mức kỉ lục Là do nhà máy

đã đầu tư mua thêm trang thiết bị hiện đại vì vậy chất lượng sản phẩm tăng cao

rõ rệt Cũng trong thời kì này sản phẩm của nhà máy có sự đa dạng hoá vềchủng loại mặt hàng, bên cạnh những mác thuốc truyền thống thì nay nhà máy

đã sản xuất thêm những loại thuốc lá mới như: Thủ Đô, Sa Pa, Bạch Đằng,Bông Lúa Chất lượng sản phẩm tương đối ổn định và được đánh giá cao Tạihội chợ Thủ Đô năm 1984 sản phẩm thuốc lá Sa Pa của nhà máy đã xếp loại A1.Nhìn chung trong giai đoạn này nhà máy đã có những bước phát triển nhảyvọt, là một trong những DNCN phát triển vững mạnh, thực sự là con chim đầuđàn trong ngành thuốc lá Việt Nam

Giai đoạn 2: từ 1986 đến nay

Đâylà bước ngoặt lịch sử của việc chuyển đổi cơ chế kinh tế ở nước ta.Thời kì đầu nhà máy gặp rất nhiều khó khăn và rất lúng túng với cơ chế mới,cộng với việc xoá bỏ chế đọ độc quyền phân phối thuốc lá Vì vậy làm sảnlượng thuốc lá của nhà máy liên tục giảm một cách đáng sợ Năm 1986 sảnlượng thuốc lá của nhà máy đạt 255.066.000 bao thì đến năm 1989 sản lượngnày chỉ còn 171.730.000 bao Nhịp độ sản xuất và tiêu thụ giảm sút, số lao độngdôi dư so với nhu cầu sản xuất ngày càng lớn Đây cũng là bước thăng trầmchung của tất cả các ngành sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân nước

ta, trong đó có ngành thuốc lá

Song với nhà máy thuốc lá Thăng Long tình trạng đó không kéo dài, nhàmáy đã nhanh chóng tìm ra được lối thoát bằng cách tập trung vào việc đầu tưchiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, nghiên cứu sâu vàokhâu tiếp thị và bán hàng để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

Trang 3

Để đuổi kịp sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ, cũng như duytrì nhịp độ sản xuất trong cơ chế thị trường, nhà máy đã nhập một loạt thiết bị

mới và đưa vào sản xuất Do đó chất lượng và sản lượng của nhà máy được phục

hồi và tăng lên rõ rệt Chẳng hạn như năm 1996 sản lượng thuốc lá của nhà máy

chỉ đạt 132.649.000 bao thì đến năm 1998 sản lượng đó đã tănglên

156.435.000bao Và tỉ lệ thuốc lá đầu lọc năm 1996 chỉ chiếm có 45,77% thì

đến năm 1998 tăng tỉ lệ thuốc lá đầu lọc lênchiếm 82%và tỉ lệ thuốc lá đầu lọc

bao cứng chiếm 35% Đây chính là điều kiện cơ bản tạo đà cho nhà máy phát

triển những năm tiếp theo

Năm 1998 nhà máy đã hoàn thành dây chuyền sản xuất sợi Đây là bướcđột phá khẩu của nhà maý Nó cho ra chất lượng sợi tốt và đảm bảo chất lượng

sản phẩm hơn.nhờ có dây chuyền sản xuất sợinhà máy đã đảm bảo đủ nguồn

nguyên liệu( sợi) phục vụ cho việc đa dạng hoá sản phẩm

Ngoài ra nhà máy đang mở rộng hướng sản xuuất kinh doanh trong việchợp tác vơí các hãng nổi tiếng thế giới như: hợp tác với hãng ROTHMAN, lập

dây chuyền sản xuất thuốc lá DUNHILL tại nhà máy Hợp tác với các hãng

TOBACO và BAT ( Britsh American TOBACO )

Cùng với vấn đề đổi mới công nghệ, nhà máy thuốc lá Thăng Long còn tậptrung vào giải quyết các vấn đề thị trường Công tác nghiên cứu thị trường và

chính sách tiếp thị của nhà máy ngày càng được quan tâm chú ý và được đầu tư

thích hợp Hiện nhà máy có đội ngũ tiếp thị chuyên mang sản phẩm đến từng

vùng thị ‘ttrường để làm công tác quảng cáo và giới thiệu sản phẩm, đồng thời

thu thập thông tin trực tiếp từ phía khách hàng Và từ những thông tin thu thập

được nhà máy tiến hành phân tích để đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhằm

duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của nhà máy

2 Các kết quả đạt được trong những năm qua ở nhà máy thuốc lá Thăng

Trang 4

năm giảm đíong sản lượng của nhà máy vẫn tăng hàng năm Một điều đáng chú

ý là sản phẩm có chất lượng cao của nhà máy ngày một tăng do đó đã làm tănggiá trị tổng sản lượng, tăng doanh thu và tăng nhiều về lợi nhuận Doanh thu tiêuthụ năm 1998 đạt 178,926 tỉ đồng, năm 1999 tăng lên 526, 827 tỉ đồng và vượt135,8% so với năm 1998

Biểu 2: Thu nhập trung bình cuả người lao động từ 1996-2001

Năm Thu nhập bình quân 1 người/tháng

1 Tính chất và nhiệm vụ sản xuất của nhà máy.

Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thuốc lá của nhân dân, nhà máy đãcho ra đời nhiều loại sản phẩm có chất lượng tốt, được người tiêu dùng đánh giácao

Qua những năm tháng hình thành và phát triển nhà máy đã cho ra thịtrường nhiều loại sản phẩm khác nhau.Đặc biệt là giai đoạn từ sau năm 1986,nhà nước đã cho chuyển nền kinh tế theo cơ cấu một nền kinh tế thị trường Thịtrường và vấn đề cạnh tranh trên thị trường là vấn đề cơ bản, sống còn của mỗi

DN Nhiệm vụ của nhà máy trong thời gian này là sản xuất những mặt hàngtruyền thống và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó phảiluôn nghiên cứu để cho ra đời những sản phẩm mới với chất lượng ngày một caohơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường với những đòi hỏi ngày một caohơn

2 Tình hình đầu tư và sử dụng máy móc thiết bị của nhà máy.

Trước đây dây chuyền sản xuất của nhà máy còn lạc hậu, không đồng bộ vàthời gian khấu hao đã hết Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, bằngnguồn vốn cấp phát của tổng công ty thuốc lá Việt Nam và bằng nguồn vố tự cónhà máy đã đầu tư mua sắm dây chuyề máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuấtmới từ nước ngoài Nhà máy đã lắp đặt thêm máy cuốn MAK8, MAK3, máyđóng bao Tây Đức số 3, đại tu phần điện, 2 máy AC - 11 và đặc biệt lắp đặt day

Trang 5

chuyền sản xuất sợi đảm bảo tốt về chất lượng và chất lượng sản phẩm thuốc lácủa nhà máy Cho đến năm 1998 nhà máy đã có một đây chuyền máy móc thiết

bị, công nghệ hiện đại đủ khả năng cho ra thị trường những sản phẩm có chấtlượng cao, mẫu mẫ đẹp đáp ứng được nhu cầu của khách hàng

Biểu 3: Tình hình máy móc thiết bị của nhà máy

Stt Tên thiết bị Năm đưa Số lượng máy Năng suất t.hiện/kh

vào sử dụng Hiện có Đang sd

Như vậy thời gian sử dụng của một số máy quá lâu ( tập trung chủ yếu ởphân xưởng bao mềm ) Nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm

Tình hình máy móc thiết bị tại các phân xưởng chính

Phân xưởng sợi: mơí được trang bị một dây chuyền sản xuất sợi củaTrung Quốc trị giá 8.000.000$ Là dây chuyền chế biến sợi tiên tiến và hiẹn đạinhất Việt Nam hiện nay được đưa vào sử dụng năm 1998 Dây chuyền này hàngnăm tiết kiệm cho nhà máy hơn chục tỉ đồng Vì trước đâycuống lá bị loại bỏ đInay được tận dụng triệit để (mỗi năm hàng trăm tấn Điều quan trọng hơn là từkhi có dây chuyền này chất lượng sợi thuốc đồng đề, đảm bảo yuê cầu kĩ thuật

và chất lượng thuốc được nâng lên

5

Trang 6

Máy cắt ngọn và phối

Hấp chân không

Làm ẩm lá

đã cắtTách cuộng

Sấy cuộngThùng trữ

Sấy sợi cuộng

Trưng nở cuộng

Thái cuộngHấp ép

cuộng

Thùng trữ

cuộng

Phân li sợi cuộng

Thùng trữ sợi cuộng

Phun hương

Thùng trữ

và phối sợi cuộng

Làm ẩm cuộng

Phối trộn sợi

lá và sợi cuộng

Sơ đồ 3: Qui trình sản xuất sợi

Nguyên liệu

Sợi

Đây là dây chuyền có vốn đầu tư lớn, có tính tự động cao, có khả năng chếbiến sợi thuốc lá phẩm cấp caothấp khác nhau Vì vậy thích hợp cho viẹc đadạng hoấ các loại sản phẩm

Phân xưởng DUNHILL:

Được trang bị một dây truyền thiết bị hiện đạicủa hãng ROTHMAN dướihình thức cho vay và chuyển giao công nghệ Dây chuyền này cho ra thị trườngnhững sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảoi chất lượng và đủ sức cạnhtranh trên thị trường

Phân xưởng bao cứng:

Máy móc thiết bị của phân xưởng này khá hiện đại, hầu hết đèu đươc nhậpvào những năm 90 Dây chuyền hoàn toàn tự động và cần rất ítlao động sử dụng.Tạo ra một năng suất khá cao, sản phẩm đạt chất lượng, đẹp về mẫu mã

Ngoài ra để phục vụ cho các phân xưởng sản xuất chính, nhà máy có phânxưởng nguyên liệu, phân xưởng cơ điện củng cố và sửa chữa máy móc thiết bị phục vụ tốt cho sản xuất chính

Nhìn chung máy móc thiết bị của nhà máy thuốc lá Thăng Long đã đạt đếntính tự động tương đối cao, có đủ khả năngcho ra những sản phẩm chất lượng

Trang 7

cao đáp ứng nhu cầu của thị trường Bên cạnh đó máy móc ở một số phân xưởng( chủ yếu ở phân xưởng bao mềm) đã quá cũ, tỉ lệ lao động thủ công cao

3 Nguồn cung ứng nguyên vật liệu:

Thực hiện chỉ đạo và hợp tác gieo trồng thuốc lá giống mới ở các địaphương như: Lạng sơn,Hà bắc, Bắc thái Nhà máy thường xyên cử cán bộ vàcông nhân kĩ thuật trực tiêp xuống nơ gieo trồng để thực hiện giám sát và cố vấn

kĩ thuật Năm 2000 diện tích gieo trồng của cả hai vụ là 2095ha so với năm 1999đạt 216%

Có 2 vùng nguyên liệu chủ yếu của nhà máy:

Vùng 1: Gồm Cao Bằng, Lạng Sơn và một số xã ở huyện Sóc Sơn ngoạithành Hà Nội ĐâY là vùng nguyên liệu có chất lượng khá cao

Vùng 2: Gồm Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hà Tây Là vùng có năng suất khá caonhưng chất lượng không bằng vùng 1

Ngoài nguồn cung cấp nguyên liệu ở nội đỉâ nhà máy hàng năm vẫn phảinhậpmột khối lượng nguyên liệu nhất định, như nhập thuốc sợi từ SINGAPO đểsản xuất thuốc lá VINATABA Các loại nguyên liệu khác như nhập thuốc lávàng của CAMPUCHIA, thuốc lá nâu ở phía nam Các loai nguyên liệu nàyđược phối trộn theo những tỉ lệ khác nhau, tuỳ theo từng mác thuốc Mỗi nămnhà máy phải mua khoảng 500 tấn nguyên liệu thuốc lá nâu và khoảng 100thuốc lá vàng Nhà máy còn phải mua hàng loạt các loại phụ liệu khác nhau như:Giấy cuốn đầu lọc, giấy bóng kính, các loại phụ liệu phục vụ cho sản xuất cùngcác loại hoá chất khác Phần lớn những phụ liệu này đều phải nhập từ nướcngoài

Hiện nay nhà máy đã hợp tác với các hãng thuốc lá: TOBACO của Pháp vàBAT (British America TOBACO) trồng thực nghiệm gần 100ha giống mới tạiSóc Sơn, Ba Vì, Hà Bắc Bước đầu đã đạtiêu thụ kết quả tốt

4 Lao động và quản lí, tổ chức lao động ở nhà máy:

Nhà máy thuốc lá Thăng Long là một đơnhưng vị kinh tế lớn, đang cónhững bước phát triển mạnh Nhà máy đã giải quyết tốt vấn đề lao động, cónhững năm tổng số lao động của nhà máy lên tới hơn 2669 người ( Số liệu năm1986) Cho đến hiện nay số lượng lao động của nhà máy chỉ là 1157 người.Nằm trên địa TP Hà Nội, dân cư đông đúc, có nhiều trường đạI học nênnhà máy có nhiều thuận lợi trong việc xây dựng cho mình một đội ngũ cán bộ cóchuyên môn nghiệp vụ cao và công nhân giỏi nghề Hiện nay lực lượng laođộng của nhà máy tuổi đời trung bình còn khá trẻ khoảng 30

Về trình độ lao động của nhà máy:

7

Trang 8

Trình độ đạI học: 110 người.

Trình độ trung học: 165 người

Bậc thợ bình quân 5/6 với bậc thợ công nghệ

Bậc thợ bình quân 5/7 với bậc thợ cơ khí

Lao động nữ là 650 người chiếm 60%

Tỉ lệ lao động gián tiếp là 7%

Qua số liệu trên đây cho thấy bậc thợ trung bình của nhà máy là tương đốicao, tỉ lẹ lao động gián tiếp lại thấp ĐIều đó chứng tỏ trình độ lao động nóichung của nhà máy tương đối cao Vì vậy hiệu quả làm việc chắc chắn sẽ caohơn Tuy vậy hàng năm nhà máy vẫn tổ chức đào tạolao động tại chỗ và gửi đIđào tạo với số lượng lớn công nhân đồng thời tiếp nhận nhiều kĩ sư và cử nhânkinh tế Và điều đó đã giúp cho nhà máy làm ănhưng có hiệu qủa ngày một caohơn

Biểu 4: Một số chỉ tiêu qua 2 năm 1999-2000

- Tổ chức và quản lí lao động trong sản xuất:

Nhà máy xây dựng dựa trên hai bộ phận chính:

+ Bộ phận sản xuất chính bao gồm:

Phân xưởng nguyên liệu: Gồm 105 lao động có nhiệm vụ nâng cao chấtlượng nguyên liệu trước khi đưa vào chế biến đảm bảo đúng yêu cầu kĩ thuật Phãn xưởng sợi: có 187 lao động làm nhiệm vụ chế biến nguyên liệu (láthuốc) thành sợi thuốc để phục vụ cho sản xuất ở phân xưởng bao mềm Đây làmột khâu then chốt, quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của nhàmáy

Phân xưởng bao mềm: Gồm 350 lao động có nhiệm vụ cuốn điếu và cho

ra các sản phẩm là các loại thuốc lá bao mềm (có và không có đầu lọc)

Trang 9

Phân xưởng bao cứng: Có 94 lao động có nhiệm vụ nhận sợi từ phânxưởng sợi và sản xuất ra thành phẩm là thuốc lá bao cứng như: VINATABA,Hồng Hà, Ba Đình.

Phân xưởng DUNHILL bao gồm 50 người chuyên gia công sản xuấtthuốc lá DUNHILL cho hãng ROTHMAN

+ Các phân xưởng phụ và phù trợ gồm:

Phân xưởng cơ điện có 75 lao động chuyên bảo dưỡng và sửa chữa máymóc thiết bị

Phân xưởng 4 có 23 người gia công phụ tùng chi tiết máy

Đội bốc xếp có 50 người chuyên vận chuyển bốc xếp nguyên vật liệu,thành phẩm trong nhà máy

Đội xe gồm 18 người có nhiệm vụ vận chuyển nguyên vật liệu về nhậpkho; và chở thành phẩm đến các đạI lí tiêu thụ

Với cơ cấu như trên đã tạo ra sự chuyên môn hoá trong quá trình sản xuấtsản phẩm, điều đó đã tạo điều kiện cho công nhân nâng cao tay nghề, thành thạovới công việc của họ nên năng suất đạtiêu thụ cao hơn

Bộ phận lao động gián tiếp là các phòng ban Để tránh bộ máy cồng kềnh

và phù hợp với cơ cấu tổ chức sản xuất, đồng thời đẩy mạnh công tác tiêu thụsản phẩm cơ cấu quản lí của nhà máy được xâyb dựng theo kiểu trực tuyến chứcnăng: Gồm một giám đốc, hai phó giám đốc và các phòng ban

Nhiệm vụ và số lao động của các phòng ban:

- Phòng kế hoạch vật tư: có 15 cán bộ nhân viên chịu trách nhiệm về côngtác kế hoạch và cung ứng vật tư cho nhà máy

- Phòng tiêu thụ thị trường: Gồm 32 cán bộ công nhân viên chịu tráchnhiệm về khâu bán hàng và trực tiếp quản lí kho thành phẩm và kho phế liệu

- Phòng tài vụ chịu trách nhiệm về vấn đề chi tiêu tài chính của nhà máy.Phòng này có 15 người

- Phòng tổ chức bảo vệ: Có 30 lao động gồm có hai bộ phận:

Bộ phận lao động tiền lương 4 người

Bộ phận bảo vệ 26 người

- Phòng kĩ thuật cơ điện gồm 26 người

- Phòng kĩ thuật công nghệ có 26 cán bộ công nhân viên gồm các bộ phậntiếp thị, quảng cáo

- Phòng nguyên liệu 35 người có nhiệm vụ quản lí kho nguyên liệu

9

Trang 10

- Phòng KCS gồm 36 người có nhiệm vụ kiểm tra chất lượngtrước khixuất hàng ra khỏi nhà máy.

_ Phòng xây dựng cơ bản có 16 lao động

Nói chung bộ phận quản lí tương đối gọn nhẹ nên thuận tiện cho việc giaochỉ tiêu và thực hiện các chỉ tiêu Qua đó giám đốc có thể nắm bắt được cácthông tin nhanh nhất từ dưới lên để có biện pháp chỉ đạo kịp thời các hoạt độngcủa nhà máy

Trang 11

Giám Đốc

Phòng

tổ chức bảo vệ

Phòng

kế hoạch vật tư

Phòng thị trường

Phòng tài vụ

Phòng hành chính

Phòng

kĩ thuật CN

Phòng KCS

Phòng nguyên liệu

Phòng

kĩ thuật

cơ điện

Phòng xây dựng

cơ bản

Phòng xây dựng

cơ bản

Kho

cơ khí

Nhà nghỉ

Kho VTBC

Kho VL

Kho Tp’

Nhà trẻ

Nhà ăn

Y tế

Tổ hương hồ

Kho nguyên

liệu

Kho vật tư NN

Đội xe Bốc xếpPx’ chuẩn bị

Px’ cơ điện

PX DUNHILLPx’ b.cứng

Px’ b.mềmPx’ sợi

Sơ đồ 4: Mô hình tổ chức sản xuất và quản lí

11

Trang 12

5 Tình hình tài chính của nhà máy.

Các DN hoạt động trong cơ chế thị trường thì vấn đề về tài chính là vôcùng quan trọng Một nền tài chính lành mạnh có thể tạo ra sự phát triển vữngchắc Ngược lại nó có ảnh hưỡngấu tới mọi hoạt động và cả ý đồ chiến lược củanhà máy Bằng việc xây dựng và phân tích các chỉ tiêu tài chính ta sẽ thấy thựcchất được hệu quả và khả năng phát triển của nhà máy Xem qua quá trình tàichính của DN ta mới thấy thấy hết được tiềm lực của DN đó Vốn của DN cóbao nhiêu? Trong đó lại chia ra các loại vốn là vốn lưu động và vốn cố định.Trong vốn lưu động thì vốn tự có bao nhiêu và vốn vay bao nhiêu Cũng quabảng tài chính của DN ta sẽ thấy DN có số nợ phải trả có lớn không, rồi cáckhoản phải thu là bao nhiêu và lợi nhuận hàng năm ra sao?

Biểu 5: Một số chỉ tiêu tài chính ở nhà máy trong thời gian từ 1998 -2001

23.52719.4864.041

23.52719.4864.041

23.52719.4864.041

2 Vốn CĐ còn lại đến c.năm:

- Vốn ngân sách

- Vốn DN tự bxung

16.7366.555

36.63919.730

49.23825.093

49.47829.243

3 Vốn lưu động:

- Vốn ngân sách

- Vốn DN tự bxung

28.28425.7792.485

30.71625.7792.698

30.76527.0002.698

31.46228.7552.707

48.56829.467

47.80833.690

56.69744.353Qua bảng ta thấy tình hình tài chính của nhà máy ngày một khả quan hơn.Lợi nhuận và doanh thu liên tục tăng chứng tỏ nhà máy làm ăn có hiệu quả Nộpngân sách của nhà máy cho nhà nước ngày một tăng mạnh cho thấy nhà máykhông những làm ăn ngày một hiệu quả mà việc thực hiện nghĩa vụ đối với nhảnước cũng rất tốt

Vốn tự bổ xung ngày một tăng, Tổng số nợ phải trả tuy còn hơn nợ phải thuxong nó tăng chậm mức tăng của nợ phải thu

Từ những điều đáng khích lệ nêu trên, vì thế nhà nước đã đặt lòng tin vàonhà máy nên nhà nước đã mạnh dạn tăng thêm việc cấp ngân sách cho nhà máy

Có thể thấy rằng khả năng tài chính của nhà máy có thế mạnh trong việcđầu tiêu thụư chiều sâu để nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới có chất lượng

Trang 13

cao hơn Vì vậy nhà máy nên mạnh dạn lập các phương án đầu tư sản xuất sảnphẩm mới, đa dạng hoá các loại sản phẩm cũng như việcnâng cao hơn nữa chấtlượng sản phẩm.

Tuy nhiên cũng qua bảng trên thì thấy tài chính của nhà máy vẫn phụ thuộcquá lớn vào ngân sách nhà nước Mức độ tăng ngày càng cao hơn ĐIều nàycóảnh hưởng rất lớn đến sự tự chủ, tính năng động trong sản xuất kinh doanh củanhà máy

Một DN muốn hoạt động có hiệu quả và đứng vững trên thị trường cầnphải có một nguồn tài chính thích hợp và đủ mạnh Thế mạnh về tài chính sẽ tạocho DN có đủ nguồn lực để đầu tư vào mọi mặt, tăng thêm sức cạnh tranh của

DN trên thị trường Và vươn ra chiếm lĩnh thị trường giành phần thắng về mình

6 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của nhà máy.

Trong suốt thời gian tồn tại gần 30 năm, nhà máy thuốc lá Thăng Long nằmtrong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Nên nhà máy không cần phải biết tớithị trường tiêu thụ sản phẩm của mình là gì cả Sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnhcủa nhà nước và việc tiêu thụ sản phẩm đều do nhà nước bao tiêu cả Tốt hayxấu đều tiêu thụ được hết Trong thời gian này nhà máy chỉ việc trú trọng vàocông tác sản xuất, làm sao cho hoàn thành kế hoạch là được Nừu vượt càng tốt,

sễ được nhà nước tuyên dương

Sản phẩm của nhà máy thời gian này phục vụ hai đối tượng chủ yéu là lựclượng vũ trang nhân dân và cán bbộ công nhân viên Đây là thị trường có sứctiêu thụ cực lớn nhưng yêu cầu về chất lượng chỉ cần thấp Hơn nữa các loại sảnphẩm thời gian này không có dịp gặp nhau, đối mặt với nhau nên việc tốt xấugiữa các sản phẩm là không thể so sánh được Vì mỗi một vùng nhà nước lại chođặt một nhà máy giải quyết nhu cầu ở vùng đó và không được phép giao lưuhàng hoá vùng này với vùng kia Vì vậy người tiêu dùng không có sự lựa chọn

về hàng hoá cho mình nhà nước bán cho loại nào thì phải dùng loại đó Vì chấtlượng sản phẩm kém mà không dùng thì cất đI mai dùng tiếp

Sau nghị quyết 217 - HĐBT của hội đồng bộ trưởng, nhà máy đã có điềukiện tiếp cận với thị trường Yêu cầu của cơ chế mới là phục vụ sát hơn nhu cầucủa người tiêu dùng Nhà máy đã triển khai các đạI lí bán hàng ở hàng loạt cáctỉnh TP trên cả nước Những năm 92 trở về trưóc sản phẩm của nhà máy đã cómậtở các thị trường phía nam như: Tây Ninh, Long An Nhưng do sự phát triểnmạnh mẽ của các nhà máy thuốc lá ở phía nam và tình trạng thuốc lá ngoại nhậpvào ồ ạt nên thị trường của nhà máy không được qui mô rộng như trước nữa Thịtrường của nhà máy hiện nay là từ Thừa Thiên Huế trở ra và có một vài đạI lí ởNha Trang và Đà Nẵng Đây cũng là một yếu điểm của nhà máy trong việc nắmbắt và đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng để duy trì và mở rộng thị trường

14

Trang 14

tiêu thụ sản phẩm Để tuột khỏi tay những thị trường rộng và có sức tiêu thụtương đối lớn Diều này không được quan tâm đúng mức thì ai dám chắc rằngthị trường của nhà máy trong tương lai sẽ không bị mất thêm.

Theo số liệu của năm 2001, nhà máy bán sản phẩm ra ở trên dưới 30tỉnh,TP và kéo dài từ các tỉnh miền núi phía bắc đến Thừa Thiên Huế và đangtích cực tiếp thị để mở rộng hai thị trường Đà Nẵng và Nha Trang

Cho đênhưến nay các thị trường như Nam Định, Hà Nam, Hà Nội, TháiBình, Thanh Hoá và Nghệ An là những thị trường có sức tiêu thụ lớn nhất củanhà máy Với doanh số bán ra trên các thị trường chiếm trên 60% sản phẩm tiêuthụ của nhà máy

Vì thị trường của nhà máy tương đối rộng, đối tượng phục vụ củ nhà máyrất đa dạng, từ thành phố, thị xã, nông thôn, miền núi vùng sâu, vùng xa đều có

cả Thu nhập của các đối tượng này là rất khác nhau và có sự chênh lệch khá lớngiữa các vùng Vì vậy nhà máy không thể không đa dạng hoá sản phẩm để đápứng nhu cầu của các đối tượng này

Nhóm 1: Những khách hàng có thu nhập trung bình trở xuống, có nhu cầuvới loại sản phẩm cấp thấp, giá thàng phù hơp với túi tiền của họ Những kháchhàng này chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn Khối lượng tiêu thụ ở nhóm này

là rất lớn, nhưng lợi nhuận thu về chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ vì giá bán thấp Chẳnghạn như một gói Điện Biên bao bạccủa nhà máy giá chỉ có 700đ/ bao

* Nhóm 2: Với những người có thu nhập khá đến khá, có nhu cầu vớiloại sản phẩm với chất lượng khá trở lên, nhóm này tập trung chủ yếu ở các khu

đô thị Sản lượng sản phẩm tiêu thụ có tỉ trọng không lớn lắm nhưng doanh thu

và lợi nhuận đem lại tương đối cao như thuốc lá VINATABA thu lãi 650 đ/bao

và bán với giá 5500 đ/bao Nhưng loại sản phẩm này đang bị cạnh tranh cực kìgay gắt Hiện nay có bốn nhà máy thuốc lá ở Việt Nam cùng tham gia sản xuấtloại thuốc này Do cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường mà giá loại thuốc này banăm trở lại đây liên tục hạ

Đứng trước tình hình trên tổng công ty thuốc lá Việt Nam đã phân cho mỗinhà máy được phép chỉ sản xuất một lượng nhất định và tiêu thụ là do tổng công

ty chịu trách nhiệm ( ở đây qui luật cạnh tranh được thực hiện đầy đủ )

Ngoài ra trên thị trường còn xuất hiện nhiều loại thuốc lá với chất lượng vàgiá cả tương đương với VINATABA như: Ngựa trắng, JET, 555 nội địa, HERO

* Nhóm 3: là nhóm những người có thu nhập tương đối cao, thói quen tiêudùng của nhóm này khó thay đổi, yêu cầu của sản phẩm phải có chất lượng cao,bao bì đẹp mẫu mã sang trọng và có tiếng trên thị trường trong cũng như ngoàinước Các sản phẩm loại này có giá cả tương đối cao Chẳng hạn như 555 ngoại

Trang 15

loại bao vuông giá là 13.500đ/bao, loại bao dẹt của Thái khoảng 20.000đ/bao Rồi loại cao cấp hơn nữa là thuốc lá xì gà chính hiệu của CUBA loại này giá là1$/1 điếu.

Qua trên ta thấy được thực trạng của nhà máy chỉ có thể phục vụ và đápứng nhu cầu của nhóm 1 và nhóm 2 Riêng nhóm 3 thì để với tới và đáp ứngnhu cầu của nhóm này đòi hỏi nhà máy không chỉ đầu tư tiền của và công sứcrất lớn đồng thời phải có một công nghệ cao mới mong đạt được hiệu quả Cáchtốt nhật nhà máy nên liên doanh hợp tác với các hãng nổi tiếng và sản xuất ranhững sản phẩm có chất lượng thực sự cao

Như vậy cơ hội để chiếm lĩnh thị trường của nhà máy là không nhỏ nhưngcũng không phải là dễ Vẫn còn những khó khăn cần tập trung giải quyết nhưvấn đề về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, phươn thức thanh toán, phương thứcbán hàng kích thích người tiêu dùng Tất cả các vấn đề nêu trên không ngoàimục đích là duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của nhà máy

Có được thị trường đã khó nhưng duy trì và mở rộng nó lại càng khó hơn

Mà có duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thì mới bán được hàng,mới có doanh thu và lợi nhuận, DN mới đứng vững và đI lên được Như vậy nhàmáy phải tìm mọi cách và bằng mọi biện pháp để duy trì và mở rộng thị trườngtiêu thụ sản phẩm

7 Tình hình dự trữ tồn kho và công tác kiểm soát nội bộ DN trong nhà máy.

Do đặc điểm mùa vụ của nguồn nguyên liệu nên vấn đề dự trữ nguyên liệucủa nhà máy là hết sức cần thiết Nhà máy luôn phải dự trữ với khối lượng rấtlớn Có đến hàng trăm tấn nguyên liệu là lá thuốc lá khô được đưa từ nơi trồng

về dữ trữ trong kho của nhà máy Do đặc tính của loại nguyên liệu này tương đốiđặc biệt, rất khó bảo quản Nên việc bảo quản hết sức khó khăn, là loại nguyênliệu khô lại rất dễ bắt cháy Nếu không được cất trữ trong kho khô ráo, có nhiệt

độ và độ ẩm thích hợp thì nó lại dễ bị ẩm mốc, làm mất hương vị và mùi thơm

và làm giảm chất lượng của nguyên liệu từ đó làm giảm chất lượng sản phẩm

Vì vậy việc xây dựng hệ thống kho tàng để dự trữ và bảo quản nguyên liệu củanhà máy đòi hỏi phải được bố trí ở nơi thật thích hợp nghĩa là phải an toàn độclập và có khoảng cách với các khu vực sản xuất khác Việc bảo vệ và trực khophải được thực hiện hết sức nghiêm túc và tuyệt đối an toàn Đồng thời việc xâydựng này cũng phải đảm bảo cho việc vận chuyển nguyên liệu từ ngoài vào nhàmáy cũng như việc lấy nguyên liệu từ kho ra nơi sản xuất Nó cũng phải đượcđặt ở nơi có vị trí an toàn và thích hợp nhất để trong trường hợp có hoả hoạnxảy ra thì việc cứu cháy được dễ dàng và thuận tiện Và nếu có cháy cũng gây rathiệt hại thấp nhất đến taì sản và tính mạng công nhân trong nhà máy

16

Trang 16

Để đáp ứng những yêu cầu trên kho nguyên liệu của nhà máy đã được xâydựng và thiết kế theo đúng tiêu chuẩn kĩ thuật cả về kích thước kho, nhiệt độ, độ

ẩm, hệ thống bình vòi, bể cứu hoả

Với dung tích của kho lên đến hàng chục nghìn mét khối Nguyên liệuđược chứa trong các thùng có dung tích nhỏ sắp xếp theo một trình tự nhất địnhđồng thời có sự bảo vệ và kiểm duyệt nghiêm ngặt nên mấy chụ năm qua nhàmáy chưa để xẩy ra một vụ cháy nào đáng tiếc Nguyên liệu dự trữ luôn đảmbảo cho sản xuất được tiến hành liên tục không bị gián đoạn.Hương vị và chấtlượng nguyên liệu không hề bị thay đổi so với lúc ban đầu Vì được chứa trongcác thùng sắt kín nên mùi của nguyên liệu không bị bay ra ngoài và do vậy côngtác đảm bảo vệ sinh môi trường vẫn được thực hiện tốt

Do đặc thù của loại sản phẩm là dễ bị ẩm mốc, dễ bắt cháy nếu không đượcbảo quản tốt sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng Do vậy ảnh hưởng trựctiếp đến sức khoẻ của người tiêu dùng.Nó là loại chất rất dễ bắt cháy, có thờigian bảo hành và sử dụng thấp, từ 40-50 ngày đối với loại thuốc lá cấp thấp và

từ 3-6 tháng đối với thuốc lá cấp cao Do vậy sản phẩm sản xuất ra cần được tiêuthụ nhanh sao cho đến tay người tiêu dùng chất lượng ít bị thay đổi như ẩm mốchay mất mùi

Vì vậy bộ phận KCS của nhà máy luôn làm việc với kỉ luật và trách nhiệmcao, thường xuyên kiểm tra chặt chẽ từng công đoạn sản xuất đặc biệt là khinhập kho thành phẩm và xuất kho bán hàng cho khách Nhà máy đã ra qui địnhnếu đạI lý nào phát hiện ra chất lượng thuốc có vấn đề như mất mùi hoặc phị hơiphải báo ngay cho nhà máy để nhà máy xử lí hoặc đổi lại Lô hàng nào có thờihạn sủ dụng đã quá thờu gian qui định thì nhà máy cho cán bộ kĩ thuật đến kiểmtra và nếu được phép thì lô hàng này mới được bán

Kho thành phẩm được xây dựng ngay tại cổng của nhà mánên rất thuận tiệncho việc xuất hàng, kiểm tra cũng như việc phòng cháy chữa cháy Kho nàyđược bảo quản bằng máy lạnh, có độ ẩm thấp và được bảo quản cực ki kĩ càng.Chỉ có những người có nhiệm vụ mới được vào kho Hệ thống nước như vòinước, bể nước được bố trí trong khắp nhà máy Cán bộ công nhân viên của nhàmáy có trách nhiệm và kỉ luật rất cao trong việc phòng chữa cháy

Do đặc thù của thuốc lá về thời gin sử dụng ngắn, dây truyền sản xuất cũngkhông quá phức tạpcho việc râ kế hoạch ngắn hạn trong việc sản xuất Vì vậycăn cứ vào tình hình thị trường và sức tiêu thụ của thị trường mà phòng kếhoạch linh hoạt đưa ra kế hoạch sản xuất 10 ngày một, đảm bảo hàng hoá không

bị tồn kho quá nhiều ảnh hưởng đến chất lượng Mà cũng không quá thiếu hàngbán cho khách Vì vậy hàng dự trữ và tồn kho của nhà máy luôn được điều chỉnhthích hợp

Trang 17

8 Các hoạt động xúc tiến bán hàng.

Các hoạt động này bao gồm:

- Nghiên cứu và đưa ra những nhận định về tình hình thị trường

- Nắm bắt và đáp ứng các nhu cầu người tiêu dùng

- Quảng cáo và tiếp thị, tiếp cận thị trường

- Đặt và mở thêm các đạI lí chân rết bán hàng

- Mở rộng thêm hình thức cửa hàng giới thiệu sản phẩm: Làm sao thu hútđược sự chú ý của càng nhiều người càng tốt

Nhà máy đã có những đầu tư thích đáng vào việc nghiên cứu thị trường,nghiên cứu sản phẩm mới cũng như nghiên cứu để nắm bắt thị hiếu của ngườitiêu dùng

Nhà máy đã hình thành một đội ngũ tiếp thị có nhiệm vụ quảng cáo và giớithiệu sản phẩm, bán sản phẩm đến tận tay ngưới tiêu dùng, giúp cho người tiêudùng hiểu biết về sản phẩm của nhà máy Nhưng nhìn chung đội ngũ tiếp thị nàyhoạt động chưa có hiệu quả, chưa đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng cho nênchưa làm nổi bật được tên tuổi của nhà máy Vì vậy người tiêu dùng mới chỉnhớ tên sản phẩm đã tiêu dùng của nhà máy Còn sản phẩm đó sản xuất ở đâu thì

họ không biết Đó cũng là do đội ngũ này chưa được tuyển chọn kĩ lưỡng, chưa

có chuyên môn nghiệp vụ( hầu hết là công nhân trong lúc thiếu việc làm) Họchưa được qua đào tạo kinh nghiệm lại ít Trong khi đó nhà máy chưa xác định

rõ nhiệm vụ quan trọng của họ, và việc khuyến khích bằng vật chất chưa cao Vìvậy đội ngũ này làm việc thiếu nhiệt tình, ít đI va ngại đI xa ĐIều đó làm chấtlượng cũng như hiệu quả của công việc đội ngũ mang lại còn quá thấp chưađúng với trọng trách của công việc này đòi hỏi

Tham gia các hội chợ, triển lãm của nhà máy chưa nhiều ĐIều đó được lígiải bởi chất lượng sản phẩm của nhà máy chưa cao Mà ở những nơi như thếnày thường là những người có nhận thức, học vấn và thu nhập khá nên họ yêucầu sản phẩm phải có chất lượng tương đối cao

18

Trang 18

Hàng năm nhà máy có mở hội nghị khách hàng vào dịp đầu năm( đạI diệncủa các đạI lí lớn) mục đích là lắng nghe và lấy ý kiến trực tiếp của người trunggian phân phối quan trọng bậc nhất về chất lượng sản phẩm, thị trường, cácphương thức thanh toán cũng như bán hàng điểm nào cần phát huy và những hạnchế của nhà máy cần khắc phục Và cũng trong dịp này tạo điều kiện cho họđược trao đổi những kinh nghiệm làm ăn với nhau đồng thời tạo được sợi dâygắn bó thân mật giữa họ với nhà máy, tạo cho họ sự yên tâm tin tưởng vào nhàmáy và cũng từ đó họ có trách nhiệm hơn trong việc bán hàng và bán nhiều hàngcho nhà máy.

Chính sách bán hàng và chính sách thanh toán cũng là một hoạt động quantrọng thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm diễn ra nhanh hơn

Chính sách của nhà máy trong việc thanh toán với khách hàng là một đạI límuốn mở cần phải có tài sản thế chấp Qua xem xét, đánh giá của cán bộ thịtrường nhà máy về tình hình và khả năng tiêu thụ sản phẩm của nhà máy ở khuvực đạI lí đó định mở, nhà máy có thể cho đạI lí đó lấy số hàng lần đầu với giátrị đúng bằng giá trị tài sản họ đã thế chấp và phải thanh toán tiền cho số hàng

đó sau 15 ngày Còn khu vực đạI lí định mở khả năng tiêu thụ sản phẩm của nhàmáy ở đây còn thấp thì nhà máy chỉ cho phép đại lí đó lấy số hàng với giá trị cóthể thấp hơn giá trị tài sản thế chấp để đảm bảo thời gian cho hàng hoá nếu tiêuthụ quá chậm, nhưng số hàng này người đạI lí vẫn phải thanh toán tiền sau 15ngày Những điều làm trên của nhà máy trước tiên đảm bảo cho vốn không bịchiếm dụng bởi vì sau 15 ngày đó người đạI lí đã phải thanh toán cho nhà máybất kì hàng bán được hay chưa.Đó cúng là một hạn chế của nhà máy do ít vốnnên trong phương thức thanh toán trên chưa được linh hoạt nhiều khi làm chocác đạI lí này khó xoay sở nếu không may họ sau 15 ngày kể từ khi lấy hàng màhàng hoá họ chưa bán được thì cũng có nghĩa là số vốn của họ phải đúng bằnggiá trị số hàng đã lấy( ngoài số tài sản đã thế chấp) và cũng với qui định như vậythì số vòng quay vốn của nhà máy là hai vòng một tháng, đó là số vòng quayvốn tương đối nhanh

Ngoài những qui định trên trong phương thức thanh toán nhà máy còn cónhững chính sách trong việc khuyến khích các đạI lí bán hàng Đó là qui địnhnếu đạI lí nào một tháng có giá trị hàng lấy bằng hai lần giá trị tài sản thế chấpthì sẽ được hưởng số % tiền thưởng là 0,5% giá trị hàng lấy.Điều đó cũng cónghĩa là đạI lí nào bán nhanh hàng thì dù họ có bán với giá bằng giá giao củanhà máy họ vẫn được hưởng tiền thưởng do bán hết hàng theo qui định thưởngcủa nhà máy Đây cũng là hình thức đẩy nhanh tốc độ quay nhanh của vòng vốnlại thúc đẩy được quá trình tiêu thụ sản phẩm và kích thích người bán hàng bánnhanh và nhiều hàng hơn

Trang 19

Tuy nhiên các đạI lí của nhà máy mới chỉ được đặt ở các trung tâm thànhphố và thị xã, mà mạng lưới tiêu thụ này chưa được nhà máy chú trọng mở rộngxuống các huyện lị Có lẽ nhà máy chưa hiểu hết được rằng nhiều tỉnh thành phố

đI lại dễ dàng do vậy việc lưu thông hàng hoá được suôn sẻ Nhưng cũng cónhững tỉnh việc đI lại từ huyện ra tỉnh gặp rất nhiều khó khăn lên việc lưu thônghàng hoá cũng khó khăn và giá cả hàng hoá giữa các vùng của các tỉnh nàychênh lệch khá lớn ĐIều đó không kích thích được người tiêu dùng mua nhiềuhàng hoá của nhà máy Chính vì vậy nhà máy không nên chỉ mở các đạI lí ở cáctrung tâm thành phố thị xã điều đó sẽ thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoácủa nhà máy đến nơi tiêu thụ nhưng nó có hạn chế là hàng hoá sẽ không phủ kínđược các thị trường đó Mà nhà máy nên mở thêm các đạI lí xuống các huyệncủa các tỉnh Bởi cũng qua số liệu về sự tiêu thụ của các ở các tỉnh thì thấy mộtđiều rằng có những tỉnh tuy số đạI lí ít nhưng lượng hàng tiêu thụ vẫn tương đốilớn, song cũng có những tỉnh số đạI lí ở đấy phải nhiều thì khối lượng hàng bán

ra mới nhiều Vậy thì câu hỏi đặt ra ở đây là những tỉnh bán ra ít thì có phải do

số đạI lí ở đó quá ít hay không

9, Các loại sản phẩm và đặc điểm của nó.

Trong cơ chế thị trường song song với việc đầu tư máy móc thiết bị và dâychuyền công nghệ, nhà máy đã từng bước thực hiện chính sách đa dạng hoá sảnphẩm theo hai hướng:

Một là: Nâng cao dần tỉ lệ thuốc lá đầu lọc để phục vụ khách hàng có nhucầu đòi hỏi chất lượng khá và cao cấp, giảm dần thuốc lá không đầu lọc có chấtlượng thấp

Hai là: Từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, kiểudáng bao thuốc

Nếu căn cứ vào tính chất của bao bì thi sản phẩm của nhà máy được chiathành:

Thuốc lá bao cứng gồm: VINATABA, DUNHILL, Hồng Hà, Ba Đình Thuốc lá bao mềm gồm: Thăng Long, M, Thủ Đô, Hoàn Kiếm, Điện Biênđầu lọc, Đống Đa

Nếu căn cứ vào đặc điểm của điếu thuốc thì có:

Thuốc lá đầu lọc loại bao cứng

Thuốc lá đầu lọc loại bao mềm

Thuốc lá không đầu lọc

Những loại thuốc có chất lượng tốt, bao bì mẫu mã đẹp, Thoả mãn đượcnhu cầu tiêu dùng của khách hàng ở các thành phố, thị xã như: DUNHILL,

20

Ngày đăng: 07/10/2013, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3: Qui trình sản xuất sợi - Phần thứ hai PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG
Sơ đồ 3 Qui trình sản xuất sợi (Trang 6)
Sơ đồ 4: Mô hình tổ chức sản xuất và quản lí - Phần thứ hai PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG
Sơ đồ 4 Mô hình tổ chức sản xuất và quản lí (Trang 11)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w