1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ

19 283 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp Hoàn Thiện Công Tác Phân Tích Tài Chính Tại Công Ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 40,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng yêu cầu đó, trong hoạt động tài chính và công tác phân tích tài chính, Công ty cần quán triệt một số quan điểm, phương hướng sau: - Xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý tài c

Trang 1

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ

3.1 Định hướng cơ chế quản lý tài chính và công tác phân tích tài chính tại Công

ty cổ phần Cảng Đoạn Xá.

Việc thực thi Hiệp định thương mại Việt Mỹ, hội nhập AFTA và đặc biệt việc gia nhập vào tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ Hiện tại, theo thống kê thì hơn 90% lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của nước ta đã được vận chuyển bằng đường biển Dự kiến trong những năm tới, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của nước ta sẽ tăng với tốc độ cao, đặc biệt lượng hàng hoá xuất nhập khẩu với các nước trong khu vực bởi thuế xuất được cắt giảm mạnh theo lộ trình đã cam kết Khối lượng hàng hoá thông qua cảng biển Việt Nam dự kiến đến năm 2010 là khoảng 215 triệu tấn, hứa hẹn nhiều cho các doanh nghiệp trong ngành vươn lên theo hướng mở rộng đầu tư, gia tăng năng lực dịch vụ và khai thác thị trường

Trong xu thế đó, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu qua Cảng Hải Phòng cũng tăng lên nhanh chóng Theo đó triển vọng của ngành vận tải nói chung và vận tải biển nói riêng cũng như các lĩnh vực kinh doanh phụ trợ cho hàng hoá xuất nhập khẩu như kinh doanh kho bãi, bốc dỡ hàng hoá tại Cảng được đánh giá là rất khả quan Tuy nhiên, thực tế này cũng đặt Công ty trong một bối cảnh cạnh tranh quyết liệt, đối với

cả các hãng tàu nước ngoài và khoảng hơn 200 doanh nghiệp làm dịch vụ hàng hải trong nước Đứng trước bối cảnh cạnh trang này, để nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như phát triển hình ảnh, vị thế của Công ty, cơ chế quản lý tài chính và công tác phân tích tài chính đóng vai trò không nhỏ

Để đáp ứng yêu cầu đó, trong hoạt động tài chính và công tác phân tích tài chính, Công ty cần quán triệt một số quan điểm, phương hướng sau:

- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của công ty phù hợp với điều kiện mới của nền kinh tế

- Nhận thức, đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính và coi đó là hoạt động không thể thiếu trong quản lý doanh nghiệp

Trang 2

- Đầu tư về cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ cán bộ phụ trách công tác phân tích tài chính giàu kiến thức và kinh nghiệm, xác định trách nhiệm của đội ngũ phân tích tài chính

- Phát huy tính hữu dụng của các thông tin trên các báo cáo phân tích tài chính,

là cơ sở cho việc kiểm soát tình hình tài chính cũng như việc ra các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ đông và nhận dạng các khả năng rủi ro của doanh nghiệp trong tương lai…

3.2 Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá.

Trên cơ sở phân tích thực trạng, những mặt đạt được và hạn chế của công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá, luận văn xin được nêu lên một

số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này của Công ty trên các nội dung chủ yếu sau:

3.2.1 Vể quy trình phân tích

Như đã biết, công tác phân tích tài chính của Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá diễn ra một cách hết sức tự phát, không theo một quy trình cụ thể Để công tác phân tích được tiến hành một cách hiệu quả, trước hết Công ty phải xác định được tầm quan trọng của công tác này và triển khai thực hiện theo một quy trình xác định gồm các bước:

* Lập kế hoạch phân tích: bước này sẽ xác định nội dung, phạm vi, thời gian và cách thức tổ chức phân tích Tuỳ theo yêu cầu cụ thể của Công ty trong từng giai đoạn, nội dung, phạm vi, thời gian và cách thức tổ chức phân tích được xác định khác nhau, nhưng nhất thiết phải có bước này để định hướng cho công tác phân tích, nhằm đạt được một cách tối ưu nhất những yêu cầu đặt ra

* Thu thập thông tin: đây là bước hết sức quan trọng Nguồn thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp thu thập được cần phải được kiểm tra tính chính xác, tính hợp pháp để làm cơ sở cho việc phân tích

* Tiến hành phân tích: bước này sẽ được tiến hành theo nội dung và phương pháp phù hợp trên cơ sở nguồn thông tin và kế hoạch phân tích đã xác định trước

* Lập báo cáo phân tích: trên kết quả đã đạt được, cán bộ chịu trách nhiệm lập báo cáo phân tích gửi Ban lãnh đạo và cung cấp cho các đối tượng liên quan khi có yêu cầu và được sự cho phép của Ban lãnh đạo

3.2.2 Về nội dung phân tích tài chính

Trang 3

Về nội dung phân tích tài chính, Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá cũng đã phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính cơ bản như: nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn, khả năng thanh toán, khả năng sinh lãi Tuy nhiên, việc phân tích vẫn chưa thật đầy đủ trong từng nhóm chỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động Công ty bỏ qua không tính toán

Để nội dung phân tích được đầy đủ và toàn diện hơn, cần phải lưu ý phân tích thêm các nội dung sau:

3.2.2.1 Về cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn:

* Về cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn, Công ty nên đi sâu chi tiết xem xét tỷ trọng của từng loại tài sản, đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu tài sản cũng như cơ cấu nguồn vốn Cơ cấu tài sản của Công ty được thể hiện trên bảng sau:

BẢNG 3.1: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN NĂM 2006

Đơn vị tính: triệu đồng

Tài sản

Đầu năm Cuối kỳ Cuối kỳ so với

đầu năm Số

tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

A Tài sản ngắn hạn

I Tiền và tương đương tiền

II Đầu tư tài chính ngắn hạn

III Phải thu ngắn hạn

IV Hàng tồn kho

V Tài sản ngắn hạn khác

B Tài sản dài hạn

21.940

2.274 0 19.379 283 3

55.903

28,18

2,92 0 24,89 0,36 0,01

71,82

16.936

4.869 0 11.806 249 12

83.830

16,81

4,83 0 11,72 0,25 0,01

83,19

-5.004 2.595 0 -7.573 -34 9

27.927

-11,37 1,91 0 -13.17 -0.11 0

11,37

Trang 4

I Phải thu dài hạn

II Tài sản cố định

III Bất động sản đầu tư

IV Đầu tư tài chính dài hạn

V Tài sản dài hạn khác

0 50.846 0 5.000 57

0 65,32 0 6,42 0,08

0 78.798 0 5.000 32

0 78,2 0 4,96 0,03

0 27.952 0 0 -25

0 12,88 0 -1.46 -0,05

(Nguồn: Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá)

Nhìn vào bảng cơ cấu tài sản, có thể thấy trong năm 2006, so sánh đầu năm và cuối năm, Công ty đã có sự gia tăng tương đối lớn về tài sản (tăng 22.933 triệu đồng, tương đương 29,46%) Trong cơ cấu tài sản, tài sản dài hạn luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn và có sự gia tăng cả về số tương đối và số tuyệt đối Cụ thể, so với đầu năm, tài sản dài hạn tăng một lượng là 27.927 triệu đồng, tăng 11,37% trong tỷ trọng tài sản

Sự gia tăng của tài sản dài hạn chủ yếu do Công ty đã đầu tư mua sắm tài sản cố định (so với đầu năm, tài sản cố định của Công ty tăng 27.952 triệu đồng) Đây là điểm rất đặc thù của một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển, cần đẩy mạnh đầu tư các máy móc thiết bị, kho bãi phục vụ công tác chuyển tải, xếp dỡ hàng hoá So sánh với các doanh nghiệp trong ngành, có thể thấy đây là xu hướng chung của những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển Việc đầu tư này quyết định đến việc tăng cường năng lực của Công ty trong hoạt động khai thác cảng biển Khoản đầu tư tài chính dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tài sản dài hạn và không có sự biến động do Công ty không chú trọng đầu tư vào hoạt động này Tuy nhiên, hiện nay, với sự phát triển năng động của thị trường chứng khoán, việc đầu tư vào lĩnh vực hoạt động này

có thể hứa hẹn mang lại lợi nhuận tốt cho công ty

Tài sản ngắn hạn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu tài sản và có sự giảm sút

cả về số tương đối và số tuyệt đối Trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty chủ yếu gồm các khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn

và hàng tồn kho Trong đó, các khoản phải thu ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất, nhưng có sự giảm cả về số tương đối và số tuyệt đối (giảm 7.573 triệu đồng so với đầu năm và giảm 13,17% trong cơ cấu tài sản) Điều này thể hiện nỗ lực lớn của Công ty trong việc thu hồi công nợ Tiền và các khoản tương đương tiền chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng vẫn có sự gia tăng, nếu phân tích số liệu này cùng với hệ số khả năng thanh

Trang 5

toán nhanh ( hệ số khă năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp năm 2006 là 0,53) thì

sẽ thấy mức độ dự trữ tiền của doanh nghiệp trong thời điểm cuối năm là hợp lý, đảm bảo được việc thanh toán mà không rơi vào tình trạng ứ đọng về tiền Về khoản mục hàng tồn kho, hàng tồn kho có xu hướng giảm cả về số tuyệt đối và số tương đối Nếu

so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành với tỷ trọng hàng tồn kho chiếm từ 0,1% đến 0,3% giá trị tổng tài sản, tỷ trọng hàng tồn kho của Công ty không quá thấp, nhưng Công ty cần có sự liên hệ chặt chẽ với nhà cung cấp để đảm bảo hàng tồn kho đáp ứng kịp thời hoạt động kinh doanh

Bên cạnh việc phân tích cơ cấu tài sản, cần phân tích cơ cấu nguồn vốn để thấy tình hình huy động vốn của Công ty Cơ cấu nguồn vốn được thể hiện ở bảng sau:

BẢNG 3.2: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN NĂM 2006

Đơn vị tính: triệu đồng

Nguồn vốn

Đầu năm Cuối năm Cuối năm so với

đầu năm

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

A Nợ phải trả

I Nợ ngắn hạn

II Nợ dài hạn

B Nguồn vốn chủ sở hữu

I Vốn chủ sở hữu

II Nguồn vốn và kinh phí khác

26.008

9.430 16.578

51.836

51.636 200

33,41

12,11 21,3

66,59

66,33 0,26

46.096

9.322 36.774

54.670

54.517 153

45,74

9,25 36,49

54,26

54,09 0,17

20.088

-98 20.196

2.834

2.881 -47

12,33

-2,86 15,19

-12,33

-12,24 -0,09

6

(Nguồn: Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá)

Nhìn vào bảng cơ cấu nguồn vốn, ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu luôn chiếm tỷ trọng trên 50% trong tổng nguồn vốn, điều đó thể hiện khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập của Công ty đối với các chủ nợ là cao Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu có sự giảm đi (giảm 12,33%) mặc dù có sự gia tăng về số tuyệt đối (tăng 2.834 triệu đồng) Sở dĩ có sự giảm sút về tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu bởi

có sự gia tăng về nợ phải trả Nợ phải trả tăng cả về số tương đối và tuyệt đối So với

Trang 6

đầu năm, nợ phải trả tăng 20.230 triệu đồng và về tỷ trọng tăng 12,33% trong cơ cấu nguồn vốn Sự gia tăng nợ phải trả chủ yếu do sự gia tăng của nợ dài hạn Công ty đã mạnh dạn vay Ngân hàng Đầu tư phát triển với hai khoản vay trung hạn giá trị lên tới 20.801 triệu đồng để đầu tư vào tài sản cố định Điều này phù hợp với xu hướng mở rộng quy mô kinh doanh của Công ty Sự gia tăng tỷ trọng nợ phải trả và sự giảm sút

tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong trường hợp này không làm mất đi cân bằng tài chính bởi mức độ độc lập của Công ty về mặt tài chính vẫn khá cao

3.2.2.2 Về tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh:

Việc phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh sẽ giúp công

ty thấy được mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp hay chính là việc phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp

Khi phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh, để nhận xét chính xác về tình hình, Công ty cần xem xét đến các chỉ tiêu sau:

+ Vốn hoạt động thuần

+ Hệ số tài trợ thường xuyên

+ Hệ số tài trợ tạm thời

+ Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên

+ Hệ số nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn

+ Hệ số tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn

Việc xem xét các chỉ tiêu trên sẽ giúp bộ phận phân tích có căn cứ đánh giá tính ổn định và bền vững về cân bằng tài chính của Công ty

Khảo sát tình hình bảo đảm nguồn vốn tại Công ty cố phần Cảng Đoạn Xá qua bảng 3.3 ta thấy vốn hoạt động thuần của Công ty trong cả 2 năm 2005 và 2006 đều lớn hơn 0 Đây là dấu hiệu tích cực thể hiện sự đảm bảo nhu cầu tài chính Trong cả 2 năm, tài sản ngắn hạn đều đảm bảo thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn và tài sản dài hạn, trong đó chủ yếu là tài sản cố định đều được tài trợ bởi nguồn tài trợ thường xuyên Vốn hoạt động thuần tuy có giảm sút nhưng không ảnh hưởng lớn tới cân bằng tài chính vì vẫn đảm bảo an toàn cho việc thanh toán nợ ngắn hạn Nguồn vốn tài trợ tạm thời giảm không đáng kể và nguồn vốn tài trợ thường xuyên đều tăng thể hiện tình hình đảm bảo nguồn vốn của Công ty luôn ở trạng thái ổn định và bền vững

Hệ số tài trợ thường xuyên của Công ty rất cao và tăng so với năm 2005 Với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải biển với giá trị tài sản dài hạn lớn

Trang 7

thì hệ số tài trợ thường xuyên lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty trong việc

đầu tư vào tài sản cố định để phục vụ hoạt động kinh doanh Hệ số vốn chủ sở hữu

trong nguồn tài trợ thường xuyên luôn luôn trên 0,5, chứng tỏ tính độc lập và tự chủ

về tài chính của Công ty cao Tuy hệ số này có giảm sút vào năm 2006 do việc huy

động vốn vay dài hạn để đẩy mạnh đầu tư mới tài sản cố định, song vẫn đảm bảo được

tính tự chủ về tài chính của Công ty

Trong hoạt động của mình, Công ty đã rất chú ý đến sự cân bằng tài chính

Điều này là tốt bởi sự vững vàng trong cân bằng tài chính sẽ giúp cho Công ty hoạt

động ổn định, không phải đối mặt với các khó khăn trong thanh toán

BẢNG 3.3: BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BẢO ĐẢM NGUỒN VỐN NĂM 2006

Đơn vị tính: triệu đồng

1 Vốn hoạt động thuần (đ) (Tài

sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn) 12.510.938.937 7.614.057.782 -7.199.127.891 51

2 Tài sản ngắn hạn 21.940.716.666 16.936.382.258 -5.004.334.408 77,2

Trang 8

3 Nguồn vốn tài trợ tạm thời

(đ) (Nợ ngắn hạn) 9.429.777.729 9.322.324.476 -107.453.253 98,86

4 Tài sản dài hạn (đ) 55.903.107.901 83.830.173.032 27.927.065.131 149,96

5 Nguồn vốn tài trợ thường

xuyên (đ) (Nợ dài hạn + Vốn

chủ sở hữu)

68.414.046.838 91.444.230.814 23.030.183.976 133,66

6 Hệ số tài trợ thường xuyên (6

7 Hệ số tài trợ tạm thời (7= 3/

8 Hệ số vốn chủ sở hữu so với

nguồn tài trợ thường xuyên (8=

Vốn CSH / 5)

9 Hệ số nguồn tài trợ thường

xuyên so với tài sản dài hạn (9=

5/2)

1,22 1,09 -0,13 86,51

10 Hệ số tài sản ngắn hạn so

với nợ ngắn hạn (10= 2/Nợ NH) 3,08 1,82 -1,26 59,09

(Nguồn: Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá)

3.2.2.3 Về khả năng thanh toán:

Trong nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, Công ty nên bổ sung hai chỉ tiêu:

Tỷ số nợ trên tổng tài sản (hệ số nợ) – Đòn bẩy tài chính và khả năng thanh toán lãi

vay Như đã phân tích, việc bổ sung các chỉ tiêu này trong công tác phân tích tài chính

của Công sẽ giúp các nhà phân tích đánh giá được hiệu quả sử dụng nợ và mức độ hợp

lý của việc huy động vốn vay Điều này hết sức cần thiết trong bối cảnh Công ty đang

có nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh nhưng chưa có điều kiện huy động thêm vốn

cổ đông

- Tỷ số nợ trên tổng tài sản:

Hệ số nợ =

Tổng nợ

= Hv

Tổng tài sản Trên cơ sở số liệu trên bảng cân đối kế toán của ba năm 2004 đến 2006, ta thấy

các hệ số nợ lần lượt là: 0,37 ; 0,33 ; 0,46 Hệ số nợ càng lớn thì Công ty càng có lợi

vì chỉ phải đóng góp một lượng vốn ít nhưng được sử dụng một lượng tài sản lớn Đặc

Trang 9

biệt, kinh doanh trên lĩnh vực dịch vụ cảng biển đòi hỏi lượng vốn lớn do phải trang bị

số lượng lớn tài sản cố định, vì vậy việc sử dụng đòn bẩy nợ có ý nghĩa thiết thực đối với Công ty Năm 2006, Công ty đã phát huy được đòn bẩy nợ để thúc đẩy hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, đòn bẩy nợ cũng là con dao hai lưỡi Bởi như lý thuyết, nếu doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận trên tiền vay lớn hơn so với tiền lãi phải trả thì phần lợi nhuận dành cho chủ sở hữu sẽ được nhân lên; nhưng ngược lại thì doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ giảm sút và làm mất cân bằng cán cân thanh toán Việc phân tích chỉ tiêu này phải được phân tích kết hợp với chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) và doanh lợi tài sản (ROA)

- Khả năng thanh toán lãi vay:

Khả năng thanh toán lãi vay =

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)

Lãi tiền vay Công ty cần phải phân tích chỉ tiêu này để đánh giá lợi nhuận của mình của mình có đảm bảo khả năng chỉ trả lãi hàng năm hay không Đây là chỉ tiêu không chỉ dành được sự quan tâm của chủ nợ mà còn phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trên số liệu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2004 đến năm

2006, khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp qua các năm lần lượt là: 15,8 ; 11,2 ; 7,9 Tuy khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp rất cao song trên các con

số tính toán, khả năng này giảm dần qua các năm vì lãi tiền vay tăng song lợi nhuận tăng không đủ lớn so với sự gia tăng của lãi tiền vay Điều này chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa thật tốt

3.2.2.4 Về khả năng hoạt động:

- Vòng quay tiền:

Vòng quay tiền =

Doanh thu Tiền và các khoản tương đương tiền

So sánh giữa các năm từ 2004 đến 2006, ta thấy vòng quay của tiền lượt là 6,5; 22,2; 11,5 (mỗi đồng tiền và khoản tương đương tiền lần lượt tạo ra 6,5; 22,2; 11,5 đồng doanh thu qua các năm), như vậy có sự tăng giảm không đều qua các năm Điều này chưa chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp không ổn định vì doanh thu tuy không tăng nhanh nhưng tăng khá đều qua các năm, tuy nhiên lượng tiền dự trữ có

Trang 10

sự thay đổi do chính sách dự trữ tiền của doanh nghiệp qua các năm khác nhau Cuối năm 2005, doanh nghiệp quyết định giảm lượng tiền dự trữ để đầu tư mua sắm tài sản

cố định nên khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền giảm đột biến và cũng dẫn tới sự gia tăng của chỉ tiêu vòng quay tiền trong năm 2005

- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:

Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong năm, qua đó đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng tài sản cố định của Công ty

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =

Doanh thu Tài sản cố định Căn cứ các số liệu trên các báo cáo tài chính của Công ty có thể thấy hiệu suất

sử dụng tài sản cố định qua các năm lần lượt là 0,76; 0,99 và 0,71 Ở một số doanh nghiệp cùng ngành với số vốn tương đương (Công ty cổ phần Cảng Rau quả, Công ty

cố phần thương cảng Vũng tàu) thì chỉ tiêu này trung bình là 6, tức là hiệu suất sử dụng tài sản cố định của Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá là rất thấp, vì vậy bên cạnh việc đầu tư thêm tài sản cố định, Công ty cần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định như tiến hành các biện pháp nhằm hợp lý hoá sản xuất, áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhằm tăng sản lượng xếp hàng trên bãi, rút ngắn thời gian giao nhận hàng,

- Vòng quay hàng tồn kho:

Vòng quay hàng tồn kho =

Giá vồn hàng bán ra trong kỳ Trị giá hàng tồn kho bình quân Qua tính toán có thể thấy vòng quay hàng tồn kho của Công ty tương đối cao (qua các năm từ 2004 đến 2006 lần lượt là 130,1; 133,3; 140,03) Song so với các doanh nghiệp cùng ngành (có thể lấy điển hình là Công ty cố phần Cảng Rau quả và Công ty cổ phần Cảng Đồng Nai với vòng quay hàng tồn kho trung bình là trên 300),

tỷ số này của Công ty là không cao Đây là đặc trưng của doanh nghiệp dịch vụ, số lượng hàng tồn kho không nhiều Hơn nữa, với loại hình kinh doanh dịch vụ vận tải biển, các vật liệu, phụ tùng cũng như các công cụ, dụng cụ khác không nhiều mà chủ yếu sử dụng nhiều nhiên liệu (xăng, dầu ) (Đối với việc cung cấp nhiên liệu, Công ty đã có nhà cung cấp thường xuyên là Công ty Xăng dầu Khu vực 3) Việc

Ngày đăng: 07/10/2013, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 3.1: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN NĂM 2006 - CHƯƠNG III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ
BẢNG 3.1 BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN NĂM 2006 (Trang 3)
BẢNG 3.2: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN NĂM 2006 - CHƯƠNG III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ
BẢNG 3.2 BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN NĂM 2006 (Trang 5)
BẢNG 3.3: BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BẢO ĐẢM NGUỒN VỐN NĂM 2006 - CHƯƠNG III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ
BẢNG 3.3 BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BẢO ĐẢM NGUỒN VỐN NĂM 2006 (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w