Đến nay SGD đã có 15 phòng nghiệp vụ,15 điểm giao dịch với gần 300 cán bộ nhân viên hệ thống, máy rút tiền tự động ATM hoạt động kết nốicác điểm giao dịch BIDV trên phạm vi toàn quốc hợp
Trang 1CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI SỞ GIAO DỊCH – NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.
vụ chiến lược của BIDV
SGD là đơn vị chủ lực trong xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác vớikhách hàng Tập đoàn, Tổng công ty, thực hiện đầu tư các dự án lớn và trọngđiểm của đất nước SGD cũng là đơn vị đi đầu triển khai thành công hệthống công nghệ hiện đại, dự án hiện đại hóa Ngân hàng và hệ thống thanhtoán Triển khai mô hình tổ chức theo hướng ngân hàng thương mại hiện đại.Thực hiện xuất sắc kế hoạch kinh doanh hàng năm Là hạt nhân trong côngtác phát triển mạng lưới trên địa bàn Hà Nội Mười năm liền được kiểm toánbởi PwC, Ernst and Young
Bên cạnh đó SGD cũng rất chú trọng xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, đáp ứng yêu cầu của hệ thống, gắn bótâm huyết với ngành Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Công đoàn
cơ sở xuất sắc, Chi đoàn thanh niên tiên tiến
Đến 31/12/2005, Tổng tài sản đạt 14.000 tỷ đồng, chiếm 10% Tổng tài sảncủa hệ thống Là đơn vị thành viên lớn nhất của BIDV, đóng góp nhiều nhấtvào kêt quả hoạt động kinh doanh của toàn ngành
Từ ngày đầu thành lập, Sở giao dịch đã có 2 phòng và 1 tổ nghiệp vụ, chủyếu làm nhiệm vụ cấp phát vốn ngân sách đầu tư các dự án
Trang 2Giai đoạn tiếp theo 1996-2000 với 167 cán bộ nhân viên Sở giao dịch đã có
12 nghiệp vụ, 1 chi nhánh khu vực, 2 phòng giao dịch và 7 quỹ tiết kiệm.Thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của NHTM, phục vụ đông đảo khách hàngthuộc mọi tầng lớp kinh tế và dân cư
Giai đoạn 2001-2005, Sở giao dịch đã thực hiện tách nâng cấp mở 4 chinhánh cấp 1 trên địa bàn Hà nội đó là chi nhánh Bắc HN năm 2002, chinhánh Hà thành năm 2003, chi nhánh Đông đô năm 2004 và chi nhánhQuang Trung năm 2005 Cơ cấu lại SGD theo mô hình phục vụ giao dịchmột cửa thuận lợi cho khách hàng và quản lý thông tin, thanh toán trựctuyến Đến nay SGD đã có 15 phòng nghiệp vụ,15 điểm giao dịch với gần
300 cán bộ nhân viên hệ thống, máy rút tiền tự động ATM hoạt động kết nốicác điểm giao dịch BIDV trên phạm vi toàn quốc hợp thành mạng lưới rộngkhắp phục vụ khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
Sau hơn 16 năm hoạt động, hiện nay Sở giao dịch là đơn vị có quy mô 20phòng nghiệp vụ, 300 cán bộ, với mạng lưới 14 phòng giao dịch, điểm giaodịch tại 3 quận Hoàn Kiếm , Ba Đình, Hai Bà Trưng
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Trang 3P Tiền tệ kho quỹ
Trang 42.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh một số năm gần đây.
Quá trình phát triển quy mô hoạt động của Sở giao dịch đuợc thể hiện quatăng trưởng khách hàng, tổng tài sản Đến nay đã có hàng vạn khách hàng
mở TK hoạt động, trong đó có tới 1.400 khách hàng là doanh nghiệp thuộccác thành phần kinh tế: Tập đoàn, Tổng công ty, Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, liên doanh, cổ phần, TNHH lớn…
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn.
Bảng 2.1: Cơ cấu huy động vốn của SGD-NHĐT&PTVN
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tuyệt đối % TT Tuyệt đối % TT Tuyệt đối % TT
Huy động vốn 7,570 6,49 10,111 3,357 13,621 34,71
Tiền gửi TCKT 4,408 18,95 7,285 65,28 11,821 62,27-TG không kì hạn 844 -17,17 1,645 94,76 3,427 108,28
(Nguồn : Phòng kế hoạch nguồn vốn SGD-NHĐT&PTVN)
Nguồn vốn Sở giao dịch hình thành chủ yếu từ nguồn tiền gửi thanh toán có
kì hạn từ các tổ chức kinh tế và tiền gửi tiết kiệm từ trong dân cư Đây là hainguồn tiền gửi tương đối ổn định
Tỷ trọng nguồn vốn huy động trung và dài hạn của Sở giao dịch chiếmkhoảng 45- 50% tổng nguồn vốn huy động
Tính đến thời điểm 31/12/2007 tổng nguồn vốn huy động của toàn Sở giaodịch đạt 13,621 tỷ đồng ( tăng 35% so với năm 2006 ) chiếm 6,25% thị phầntrên địa bàn
Trang 5Sở giao dịch giữ vững nền tảng các khách hàng truyền thống ( Ngân hàngphát triển, Bảo hiểm xã hội Việt nam, Tổng công ty dầu khí ) đồng thờicũng đẩy mạnh huy động vốn từ các khách hàng mới tiềm năng như tậpđoàn Bưu chính viễn thông, Tổng công ty viễn thông quân đội, Tổng công ty
xi măng Vịêt nam, Tổng công ty Vinaconex…
Với 3 phòng giao dịch mới được mở rộng thêm, huy động vốn từ dân cư tăngthêm khoảng 1,765 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 13% tổng nguồn vốn huy độngcủa toàn sở giao dịch Tích cực đẩy mạnh tiền gửi thanh toán, nâng số dưtiền gửi thanh toán bình quân lên 2000 tỷ đồng
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng.
Tín dụng là hoạt động thế mạnh của SGD-NHĐT&PTVN với số lượng cáckhách hàng lớn cũng như chất lượng tín dụng cao, Sở cũng phát triển cácnghiệp vụ dựa trên nguyên tắc chấp hành nghiêm chỉnh giới hạn tín dụngđược hội sở chính giao
Dư nợ tín dụng tính đến 31/12/2006 đạt khoảng 6700 tỷ đồng, tăng hơn 1000
tỷ đồng so với năm 2005, đạt 99% giới hạn tín dụng được giao, chiếm 5,09%thị phần tín dụng trên địa bàn
Bảng 2.2: Dư nợ tín dụng tại SGD- NHĐT&PTVN
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm1995
Năm2000
Năm2005
Năm2006
(Nguồn: Báo cáo thường niên Sở giao dịch NHĐT&PTVN)
Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu của BIDV là:
Trang 6- Xây lắp dân dụng, công nghiệp và đầu tư cơ sở hạ tầng.
- Bưu chính viễn thông
- Giao thông vận tải
- Công nghiệp khai khoáng
- Chế biến nông sản, thủy hải sản
- Chế biến hàng xuất khẩu
- Công nghiệp năng lượng và dầu khí
- Các khu công nghiệp trọng điểm
Trang 7Bảng 2.3: Tỷ trọng dư nợ tín dụng (TD) theo ngành so với
tổng dư nợ qua các năm
( Nguồn: Báo cáo thường niên SGD Ngân hàng ĐT& PT VN )
Trong các lĩnh vực kể trên, xây lắp, xi măng, điện lực và giao thông là nhữnglĩnh vực đầu tư chủ yếu của Sở giao dịch Riêng đối với xây lắp, dư nợ tíndụng chiếm xấp xỉ ¼ tổng dư nợ qua các năm
Hầu hết các lĩnh vực nhận tài trợ từ SGD lại là những lĩnh vực tập trungnhiều dự án lớn trong đó có những dự án trọng điểm của quốc gia, của vùngkinh tế mà nhu cầu vay vốn luôn ở mức cao và luôn được nhà nước ưu tiênđầu tư thực hiện
Trang 8
Bảng 2.4: Tỷ trọng dư nợ theo khách hàng so với tổng dư nợ qua các
( Nguồn: Báo cáo thường niên SGD Ngân hàng ĐT&PT VN )
Khách hàng truyền thống của Sở giao dịch là các tổng công ty lớn, tỷ trọng
dư nợ của nhóm khách hàng này luôn chiếm từ 35 – 40% tổng dư nợ của Sở.Tuy nhiên xu hướng các năm gần đây là tỷ trọng khách hàng doanh nghiệpvừa và nhỏ tăng dần
2.1.3.3 Các dịch vụ của SGD-NHĐT&PTVN.
Các dịch vụ ngân hàng mà SGD cung cấp đã góp một phần quan trọng vàokết quả kinh doanh chung của toàn hệ thống, bao gồm cả các dịch vụ truyềnthống và hiện đại
Năm 2004, thu từ dịch vụ chủ yếu vẫn tập trung vào các dịch vụ truyềnthống như bảo lãnh, thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, kinh doanhngoại tệ ( 89% tổng thu từ dịch vụ ) Hầu hết là những dịch vụ có quan hệchặt chẽ với tín dụng Khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp truyền thốngcủa BIDV Thực tế, dịch vụ vẫn là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự tăngtrưởng các hoạt động truyền thống khác như huy động vốn và tín dụng Những năm gần đây, dịch vụ ngân hàng bán lẻ cũng đã đạt được một số kếtquả nhất định Ngoài những sản phẩm dịch vụ truyền thống như thanh toán,bảo lãnh, kinh doanh tiền tệ… BIDV đã chú trọng quan tâm nghiên cứu pháttriển các sản phẩm, dịch vụ mới như dịch vụ thẻ, các sản phẩm HomeBanking, Phone Banking …
Trang 9Bảng 2.5: Chỉ tiêu của hoạt động thanh toán quốc tế và xuất nhập
khẩu
Đơn vị: triệu USD
Thu dịch vụ ròng của các năm có sự biến động rõ rệt, nhất là vào năm 2006 thu dịch vụ ròng là 58,397 triệu, tăng hơn 2 lần so với năm 2005
Trang 10Năm2007
Thu dịch
vụ ròng
24,502
2
58,397
Tính đến cuối năm tài chính 2007, SGD-NHĐT& PTVN đã hoàn thành thậmchí vượt trội các chỉ tiêu kế hoạch đề ra với tổng tài sản đạt 17,462 tỷ đồng,tăng 32,13% so với năm 2006, huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân
cư đạt 13,6201 tỷ đồng, tăng 37,97%, dư nợ tín dụng đạt 5,185 tỷ đồng, tăng18,07% Tỷ lệ nợ xấu của Sở cũng xuống mức 9,1%
2.2 Thực trạng hoạt động huy động vốn tại SGD-NHĐT&PTVN.
Là một đơn vị thành viên thực hiện trực tiếp các hoạt động kinh doanh củaNHĐT&PTVN, vốn chủ sở hữu của SGD chính là nguồn vốn ban đầu doNHĐT&PTVN cấp ( tài sản cố định bao gồm trụ sở, máy móc, trang thiết bịvăn phòng…) Lợi nhuận mà SGD tạo ra cũng là lợi nhuận thuộc vềNHĐT&PTVN, ban lãnh đạo toàn ngân hàng có quyền quyết định thu hồi vềquỹ chung của ngân hàng hoặc để lại nhằm tăng vốn cho SGD Do đó nghiêncứu về thực trạng huy động vốn của SGD chủ yếu tập trung việc nghiên cứuhoạt động huy động nợ của Sở giao dịch
Trang 11Chênh lệch( Số tuyệt đối)
Chênh lệch (Số tương đối)
Sở giao dịch còn đề ra các chiến lược Marketing để góp phần thúc đẩy tăngtrưởng vốn, tiếp cận tới khách hàng theo nhiều hình thức khác nhau, trên cácphương tiện thông tin đại chúng hay tư vấn trực tiếp, phát huy hiệu quả củacông cụ lãi suất… nhằm huy động vốn theo nhiều kênh, nhiều nguồn khácnhau
Cơ cấu huy động vốn cũng có nhiều biến động
Tỷ trọng nguồn vốn huy động trung và dài hạn của sở giao dịch chiếmkhoảng 40%- 50% tổng nguồn vốn huy động và có xu hướng giảm qua cácnăm trong khi đó tỷ trọng vốn ngắn hạn lại tăng Nguyên nhân chủ yếu lànhững năm gần đây, tình hình nền kinh tế khu vực và trong nước không ổnđịnh, nhiều biến động, lo sợ đồng tiền mất giá, khách hàng sẽ không gửi tiềnvào ngân hàng hoặc gửi với kì hạn ngắn để giảm thiểu rủi ro Bên cạnh đó,các tổ chức kinh tế - tăng cường gửi tiền vào tài khoản tiền gửi thanh toánnhằm mục đích giao dịch
Về loại tiền gửi, huy động VND chiếm trung bình khoảng hơn 80% tổngnguồn vốn Vốn huy động bằng ngoại tệ không nhiều do thị trường ngoại hối
có nhiều biến động, ảnh hưởng tới tâm lý khách hàng
Trang 122.2.2 Huy động vốn nợ.
Hoạt động huy động nợ của Sở giao dịch, được thực hiện thông qua các kênhnhư sau :
- Huy động tiền gửi tiết kiệm từ dân cư
- Huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế
- Phát hành kì phiếu, trái phiếu
- Huy động khác
Các hình thức huy động vốn của SGD đã đạt được những kết quả nhất định,mặc dù vẫn có sự biến động tăng giảm qua các năm do nhiều nhân tố tácđộng nhưng tổng lượng vốn huy động vẫn có sự tăng trưởng đều qua cácnăm
Trong 2 năm 2006 và 2007, huy động nợ của SGD tăng bình quân khoảng34% so với năm tài chính trước đó, một con số không phải là nhỏ
Có thể nhận định khái quát về tình hình huy động nợ tại SGD –NHĐT&PTVN qua bảng số liệu dưới đây
Trang 13Bảng 2.8: Các hình thức huy động vốn tại SGD-NHĐT&PTVN
Đơn vị : Tỷ đồng
2005
Năm2006
Năm2007
Tỷ lệ tăng trưởng (%)2006/2005 2007/2006
(Nguồn: Phòng kế hoạch nguồn vốn SGD-NHĐT$PTVN)
Trong khi huy động tiền gửi từ các doanh nghiệp sản xuất tăng một cáchđáng kể thì huy động từ dân cư cũng như các hình thức huy động thông quaphát hành kì phiếu, trái phiếu, CCTG lại giảm Trong đó, tiền gửi từ các tổchức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm 2005 ở mức gần 60% nhưng chođến năm 2007 đã lên tới 86% đạt hơn 11,821 tỷ đồng trên tổng số 13,620 tỷđồng tổng nguồn vốn huy động nợ, trung bình mỗi năm tăng khoảng 60% sovới năm trước đó Nguồn tiền gửi tiết kiệm từ dân cư tuy cũng chiếm một tỷtrọng tương đối, nhưng lại giảm rõ rệt vào năm 2007 Các nguồn huy động
từ phát hành giấy tờ có giá thì đều giảm tương đối nhiều trong vòng 2 nămtrờ lại đây Có thể phân tích sự thay đổi của từng nguồn huy động như sau:
Trang 14Huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế
Bảng 2.9: Huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế.
Đơn vị : tỷ đồng
Tiền gửi không kì
hạn
Tiền gửi có kì hạn 3,563 5,640 8,394
(Nguồn: Phòng kế hoạch nguồn vốn SGD-NHĐT&PTVN)
Nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế tăng đều qua các năm đối với cả 2 loại
là tiền gửi không kì hạn và tiền gửi có kì hạn Tiền gửi không kì hạn năm
2007 đã tăng hơn 4 lần so với năm 2005 đạt 3,427 tỷ đồng (tăng hơn 50% sovới năm 2006) Tiền gửi có kì hạn cũng tăng, tuy ở mức độ khiêm tốn hơnnhưng không phải là con số nhỏ với tốc độ tăng trưởng gần 35% 1 năm, năm
2007 đạt 8,394 tỷ đồng tăng khoảng 33% so với con số 5,640 tỷ đồng năm2006
Trang 15Biểu đồ 2.1 : Cơ cấu huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế.
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 0
Khuyến khích các tổ chức kinh tế mở tài khoản cá nhân cho cán bộ công nhân viên: Kể từ khi SGD-NHĐT&PTVN được chọn làm đơn vị thí điểm
thực hiện mở tài khoản cá nhân cho cán bộ công nhân viên cho đến nay, rấtnhiều công ty có quan hệ với Ngân hàng đã thực hiện trả lương qua tàikhoản Bên cạnh đó, hệ thống máy rút tiền tự động ATM cũng được đưa vào
sử dụng rộng khắp, tạo thuận tiện cho khách hàng trong việc gửi tiền cũngnhư rút tiền, nhờ đó mà thu hút được ngày càng nhiều khách hàng
Khuyến khích các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Sở giao dịch: Mặc dù đây là nguồn tiền gửi không ổn định nhưng lãi suất lại
thấp trong khi vẫn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn huyđộng từ các tổ chức kinh tế Sở giao dịch đã linh hoạt sử dụng các chính sách
Trang 16để khuyến khích đối tượng khách hàng doanh nghiệp gửi tiền vào ngânhàng : Ưu tiên cho những khách hàng thường xuyên có số dư tiền gửi cao và
ổn định sẽ được giảm lãi suất khi vay tiền từ ngân hàng, ưu đãi trong việcthu phí các dịch vụ khác của ngân hàng Bên cạnh đó, SGD tăng cường côngtác tuyên truyền, giới thiệu, quảng cáo về chất lượng dịch vụ của ngân hàng.Việc hiện đại hóa ngân hàng cũng góp phần mang lại số lượng lớn kháchhàng cho ngân hàng Nhờ những biện pháp tích cực đó mà Ngân hàng đã tiếpcận với rất nhiều khách hàng lớn như Bảo hiểm xã hội, Tổng công ty dầukhí, Tổng công ty điện lực … tỷ trọng tiền gửi của các tổ chức này chiếmkhoảng 55%-60% tổng nguồn vốn huy động
Bảng 2.10: Cơ cấu các loại tiền trong tiền gửi của các tổ chức kinh
( Nguồn: Phòng kế hoạch nguồn vốn SGD-NHĐT&PTVN )
Ta có thể thấy, trong tổng lượng tiền gửi thì tiền gửi bằng VND là chiếm tỷtrọng lớn hơn hẳn ngoại tệ kể cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng Điều này
có thể giải thích dễ dàng, do hầu hết các khách hàng của Sở là các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư phát triển, ít có nhu cầu sử dụngngoại tệ cũng như có ít các khoản thu bằng ngoại tệ
Huy động tiền gửi từ dân cư.
Tiền gửi tiết kiệm
Huy động tiền gửi từ dân cư tuy không chiếm tỷ trọng lớn như khoản tiềngửi huy động từ các tổ chức kinh tế trên địa bàn, tuy nhiên vẫn là một công
cụ truyền thống và phổ biến trong công tác huy động vốn của ngân hàng
Trang 17Đây là hình thức huy động không chỉ riêng SGD-NHĐT&PTVN quan tâm
mà tất cả các ngân hàng khác đều muốn thu hút vì thực tế hiện nay, nguồntiền nhàn rỗi trong tay dân cư là rất lớn, tiềm năng lớn hơn nhiều so với sốtiền hiện đang gửi trong các ngân hàng, lại là nguồn tương đối ổn định Đặcbiệt tại các thành phố lớn, tập trung dân cư đông đúc và mức sống tương đốicao thì ngân hàng càng phải chú trọng đến công tác huy động nguồn vốn nợnày
Bảng 2.11: Cơ cấu loại tiền trong tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
(Nguồn: Phòng kế hoạch nguồn vốn SGD-NHĐT&PTVN)
Vốn huy động từ tiền gửi của dân cư qua các năm tuy có những biến độngtăng giảm nhưng không quá lớn Năm 2005 tổng tiền gửi tiết kiệm đạt 2,168
tỷ đồng giảm khoảng 2% so với năm 2004 (2,209 tỷ đồng), tuy nhiên sangnăm 2006 lại tăng trở lại đạt mức 2,290 tỷ đồng Cơ cấu loại tiền theo xuhướng tỷ trọng tiền gửi VNĐ tăng dần qua các năm và thường chiếm khoảnghơn 60% trong tổng lượng tiền gửi tiết kiệm của dân cư, trong khi đó tỷtrọng tiền gửi ngoại tệ giảm dần từ 37.7% năm 2004 cho đến năm 2006 chỉcòn khoảng 32.5% Nguyên nhân là do tỷ giá đồng VN so với đồng ngoại tệtrong khoảng thời gian từ 2004 đến nay là không có quá nhiều biến động màmức lãi suất cho tiền gửi VNĐ lại cao hơn tiền gửi ngoại tệ nên dân cư ưathích gửi tiết kiệm bằng VNĐ hơn
SGD-NHĐT&PTVN cũng tìm nhiều cách để khuyến khích cư dân gửi tiềnvào Ngân hàng mình như việc sử dụng các hình thức tiết kiệm dự thưởng,tiết kiệm bậc thang, đa dạng hóa kì hạn tiền gửi tiết kiệm, ưu tiên về lãi suấtcho vay hay rút tiền trước hạn …