1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM

36 410 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Kiện Xây Dựng Sở Giao Dịch Hàng Hóa Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 97,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện khách quan để hình thành sở giao dịch hàng hóa Như đã nói ở trên, việc chia các điều kiện là đứng trên góc độ chủ thể của sởgiao dịch hàng hóa, do đó những điều kiện khách quan

Trang 1

CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA

Ở VIỆT NAM

2.1 ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH THÀNH SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA

Mặc dù một sở giao dịch có thể thực hiện tốt chức năng như một thị trườnghàng hoá, nhưng những lợi ích tiềm tàng của nó không thể đảm bảo chắc chắn sẽthành công Để có thể thành lập một sở giao dịch hàng hóa thì cần phải hội tụ nhữngđiều kiện nhất định Đứng trên góc độ những chủ thể trên sở giao dịch là các thànhviên sáng lập sở giao dịch, cơ quan nhà nước, nhà quản lý, điều hành và các tổ chứckinh doanh trên sở giao dịch hàng hóa, sau đây em xin phân các điều kiện này thànhcác điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan

2.1.1 Điều kiện khách quan để hình thành sở giao dịch hàng hóa

Như đã nói ở trên, việc chia các điều kiện là đứng trên góc độ chủ thể của sởgiao dịch hàng hóa, do đó những điều kiện khách quan là những điều kiện tồn tại tấtyếu mà các chủ thể này không thể tác động vào được

2.1.1.1 Cơ chế thị trường

Chính các yếu tố thị trường chứ không phải sự kiểm soát độc quyền hay là một

sự kiểm soát quá mức cần thiết của nhà nước tố tạo nên giá cả hàng hóa trên sở giaodịch Quá kiểm soát thường bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về chức năng và mục đíchcủa các sở giao dịch hàng hoá Những can thiệp trên cơ sở quy định của chính phủkhông phải là điều xấu nếu như nó không làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thườngcủa thị trường Tuy nhiên sự can thiệp này sẽ trở thành một yếu tố tác động tiêu cựcđến thị trường khi nó làm cho hoạt động thị trường gián đoạn khiến những người thamgia thị trường khó có thể hoạt động một cách hiệu quả Và chẳng có một nhà đầu tưnào, kể cả những đầu tư nhiệt tình nhất lại mong muốn giao dịch trên một thị trườngkém hiệu quả vì bị can thiệp như vậy

Cũng có những người hiểu sai cho rằng chính những sở giao dịch hàng hóa đãtạo nên các mức giá, tuy nhiên, những sở giao dịch này chính là một hình ảnh của mộtthị trường hàng hoá tự nhiên Trên thị trường, chính cung và cầu về loại hàng hóa phải

là những yếu tố xác định giá cả chứ không phải là các yếu tố khác Nếu có nhiềungười mua hơn là người bán thì giá sẽ bị đẩy lên, ngược lại nếu có nhiều người bán

Trang 2

hơn người mua thì giá lại bị đẩy xuống Lý do để một sở giao dịch tương lai hay một

sở giao dịch quyền chọn có thể tồn tại là bởi vì đó là cách tốt nhất để phát hiện giá trịgiao dịch Vì vậy nếu như thị trường tin rằng có một cách khác để hình thành nên giátrị trao đổi đó thì sở giao dịch không thể tồn tại được Do vậy, cơ chế thị trường làđiều kiện khách quan và là điều kiện then chốt mà một thị trường hàng hóa cần phảiđáp ứng được để có thể hình thành nên sở giao dịch hàng hóa

2.1.1.2 Sản xuất phát triển và hàng hóa được tiêu chuẩn hóa

Hàng hoá được giao dịch phải có khối lượng sản xuất lớn, được tiêu chuẩn hoá,

và sẽ dễ dàng hơn nếu như hàng hoá đó có thể cất trữ được Lịch sử phát triển sở giaodịch hàng hóa cho thấy rằng, sở dĩ sở giao dịch hàng hóa ra đời chính là do sức épphát triển sản xuất Sản xuất hàng hóa phát triển dẫn tới một lượng lớn hàng hóa đượcsản xuất ra và do đó yêu cầu cần phải phát triển lưu thông hàng hóa, và sở giao dịchhàng hóa ra đời Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các sởgiao dịch đóng vai trò như một trung tâm giao dịch hàng hóa không chỉ trong mộtquốc gia đó mà còn cả trong khu vực và trên thế giới Do vậy, hàng hóa phải được sảnxuất ra với số lượng lớn để đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng tăng khi sở giao dịchphát triển

Sản xuất hàng hóa phát triển không chỉ ở mặt số lượng mà còn cả về chấtlượng Một sở giao dịch hàng hoá bất kể là giao dịch giao ngay hay là giao dịch nhữngcông cụ phức tạp hơn như các hợp đồng tương lai hay quyền chọn thì đều cần có cáchợp đồng tiêu chuẩn với những hàng hoá đã được chuẩn hoá Do đó đây cũng đượcxem như là một trong những điều kiện quan trọng nhất để có thể xây dựng sở giaodịch hàng hóa Ở giai đoạn sở giao dịch hàng hóa giao ngay người ta có thể giao dịchnhững hàng hoá với những tiêu chuẩn khác nhau ở những thời điểm khác nhau (ví dụnhư hàng hoá loại A được giao dịch trong suốt 10 phút đầu tiên của giờ giao dịch, loại

B ở 10 phút tiếp theo và sẽ lặp lại sau mỗi giờ giao dịch) Với việc giao dịch như vậy

sẽ tăng được tính thanh khoản trên thị trường và tạo ra tính minh bạch trong quá trìnhhình thành giá cả (và do đó tăng được lòng tin vào sở giao dịch hàng hoá cũng như làtính hữu hiệu của một trung tâm tham khảo giá cả) Tuy nhiên vấn đề đặt ra là khôngchỉ phải phát triển chất lượng hàng hóa không thôi mà còn phải có một hệ thống có

Trang 3

thể đảm bảo được các tiêu chuẩn đó Để có được một hệ thống như vậy thì cần phảiđáp ứng được những yêu cầu sau:

Sự sẵn có của thiết bị đánh giá tiêu chuẩn và các nhân viên có kĩ thuật: Một

thiết bị đo phẩm chất một cách chính xác với khả năng cân đo hoặc xác định phẩmchất một khối lượng hàng hoá nhất định trong suốt mùa giao dịch cao điểm là mộtyêu cầu thiết yếu Cũng giống như ở các sở giao dịch, ở mỗi nhà kho chính của sởcũng cần phải có các thiết bị riêng Các nhân viên vận hành có kĩ năng cũng hết sứcquan trọng bởi lẽ kết quả kiểm tra sẽ khác nhau rất lớn nếu như cuộc kiểm tra đó đượctiến hành bởi một người không có những kĩ năng cần thiết

Hệ thống tiêu chuẩn được chấp nhận: Chính phủ thường đặt ra những tiêu

chuẩn chất lượng không phù hợp với các nhu cầu thương mại Thêm vào đó, các mùa

vụ phục vụ xuất khẩu lại phải phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế Do vậy, nếu nhưkhông có một hệ thống đánh giá tiêu chuẩn chung thống nhất nào mà được tất cả mọingười đều chấp nhận thì nên tạo ra một hội đồng với những đại điện khác nhau đểđánh giá, đưa ra các tiêu chuẩn

Việc miêu tả chất lượng và quá trình kiểm tra được chấp nhận không phải làphục vụ cho sở giao dịch mà là để phục vụ cho những người tham gia vào sở Nhữngtiêu chuẩn của nước ngoài có thể là một tham khảo hữu ích chứ không phải là yếu tốquyết định đối với những hàng hoá xuất khẩu Thông thường các sở giao dịch thường

có một dach sách các mức phẩm cấp khác nhau, và với các tiêu chuẩn định lượng khácnhau đối với mỗi loại tiêu chuẩn Danh sách này phải được những người tham gia chủyếu trên thị trường chấp nhận và nếu cần thì phải được xác nhận bởi một cơ quan nhànước có thẩm quyền

Lòng tin của người tham gia thị trường vào giấy chứng nhận phẩm chất: Đối

với những công ty chế biến hay với những thương nhân đã quen với việc tự mìnhkiểm tra hàng hoá thì việc chấp nhận phải mua bán thông qua những mô tả về phẩmchất thật là khó khăn Chính vì thế để tạo ra lòng tin đối với họ thì hệ thống kiểm địnhchất lượng có thể là sự kết hợp giữa các mẫu hàng và các giấy chứng nhận phẩm cấp

Đó là việc người mua có thể kiểm định xem liệu các giấy chứng nhận có phù hợp vớicác thực trạng hàng hoá hay không Sau một thời gian (có thể chỉ là một vài tháng) thìmọi người có thể quen dần và bắt đầu mua bán thông qua điện thoại Khi đã tạo dựng

Trang 4

được lòng tin trên thị trường thì sở giao dịch có thể bỏ qua những mẫu hàng hoá này.Một biện pháp khác đó là việc công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng cácmức giá khác nhau, và chỉ định một nhân viên trực điện thoại để trả lời tất cả nhữngthắc mắc về những mức giá hiện hành

Sự có mặt cơ quan giải quyết tranh chấp: Việc các sở giao dịch phải lấy mẫu là

không hiệu quả vì vậy, sẽ tốt hơn nếu như những người đem hàng hoá đó tự lấy mẫu

Để làm như vậy thì mọi người phải biết rằng nếu như hàng hoá mà họ đem đến khôngđại diện được cho hàng hoá của họ thì họ sẽ bị phạt Do đó cần phải có một quy trìnhnhanh và hiệu quả để trọng tài có thể xử lý trường hợp này một cách nhanh chóng vàhiệu quả Các sở giao dịch phải phổ biến các quy tắc trọng tài, tiêu chí lựa chọn trọngtài và hệ thống phạt

2.1.1.3 Hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày nay khi quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ thì xu hướnghội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu khách quan đối với bất kỳ một quốcgia nào Không một quốc gia nào có thể tồn tại độc lập, không nằm trong mối quan hệvới các quốc gia khác Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các doanh nghiệp củamột quốc gia tham gia một cách chủ động tích cực vào nền kinh tế thế giới Do vậy,quá trình hội nhập kinh tế quốc tế luôn mang trong mình những cơ hội và thách thức

to lớn Đặc biệt quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nền kinh tế chuyển đổi(trong đó có Việt Nam) là quá trình thực hiện tự do hóa thương mại và thực hiện cảicách toàn diện theo hướng mở cửa thị trường Từ đó đem lại nhiều cơ hội kinh tế nhưhàng hóa xuất khẩu có thể tiếp cận thị trường tốt hơn, thu hút được nhiều vốn đầu tưnước ngoài hơn và nhiều lợi ích gián tiếp khác đi liền với cạnh tranh quốc tế gay gắt

và tăng dần hiệu quả kinh tế theo quy mô Để có thể cạnh tranh và thâm nhập vào thịtrường thế giới thì cần phải đáp ứng được những yêu cầu giao dịch và những tiêuchuẩn chất lượng quốc tế Đứng trước yêu cầu đó, các sở giao dịch hàng hóa lúc nàychính là bộ máy thị trường có thể tạo điều kiện cho người giao dịch có thể cạnh tranhđược một cách hiệu quả nhất Do đó các sở giao dịch hàng hóa ở các quốc gia đóngvai trò như những công cụ quan trọng góp phần thực hiện công cuộc hội nhập kinh tếquốc tế cũng như xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra Như vậy, chính xu thế hội nhập

Trang 5

kinh tế quốc tế đang trở thành một điều kiện khách quan thúc đẩy sự hình thành các sởgiao dịch hàng hóa trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển

2.1.2 Điều kiện chủ quan để hình thành sở giao dịch hàng hóa

2.1.2.1 Nhu cầu hình thành sở giao dịch hàng hóa

Nhu cầu hình thành sở giao dịch hàng hóa ở đây xuất phát từ chính những chủ thể tương lai của sở giao dịch, bao gồm từ người sản xuất đến những nhà nhà kinh doanh, đầu tư lớn Đây chính là một trong những yếu tố chủ quan hết sức cần thiết để xây dựng sở giao dịch hàng hóa Tuy nhiên, để xuất hiện nhu cầu thì cần phải có những điều kiện nhất định như cung - cầu hàng hóa lớn từ nhiều đối tượng khác nhau, và các rủi ro giá cả trên thị trường đủ lớn để hình thành nên nhu cầu bảo hiểm và đủ hấp dẫn thu hút đầu tư.

Cung và cầu hàng hóa lớn: Cần phải có rất nhiều thành viên tiềm năng, và hàng hoá được giao dịch trên sở giao dịch phải là một bộ phận quan trọng trong hoạt động của những thành viên tham gia Đây là một trong những điều kiện thiết yếu để hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hoá Bởi lẽ sở giao dịch là một nơi để tập trung những người mua và người bán về những mặt hàng nhất định, do đó việc thành lập sở giao dịch hàng hóa sẽ trở nên vô ích nếu như không

có cung và cầu lớn Điều đó có nghĩa là phải có một lượng lớn những người sẽ tham gia vào thị trường Những người tham gia này cũng tùy thuộc vào loại hình

sở giao dịch hàng hóa Bất cứ sở giao dịch nào cũng đều khó mà hoạt động được nếu chỉ có người sản xuất hoặc những nhà buôn đơn thuần Vì vậy, muốn hình thành sở giao dịch hàng hóa nhất thết phải có được một số lượng lớn những người tham gia và thuộc nhiều nhóm đối tượng không chỉ những người có nhu cầu trong nước mà còn phải nỗ lực thu hút sự tham gia những người mua nước ngoài Một nhóm khách hàng quan trọng nữa chính là chính phủ và các bộ phận của chính phủ chuyên chịu trách nhiệm mua hay bán hàng hóa Ví dụ như sở giao dịch có thể mời bộ phận chuyên thực hiện hỗ trợ nông nghiệp (như phân bón, thuốc trừ sâu, ngũ cốc…) để thực hiện đấu giá ở sở giao dịch thay vì phân phối trực tiếp như trước đây; và có thể thuyết phục những người tiêu dùng hàng hóa lớn trong khu vực hàng hóa công cộng (như quân đội, bộ giáo dục…) tham

Trang 6

gia mua hàng hóa qua sở giao dịch, việc mua bán này còn có thể giúp góp phần xóa bỏ nguy cơ tham nhũng vẫn thường xảy ra.

Những người tham gia vào sở giao dịch cũng cần phải có tiềm năng nhất địnhtuy nhiên điều đó không có nghĩa rằng các sở giao dịch cũng chỉ thu hút các công tylớn Kinh nghiệm từ những sở giao dịch hàng hóa ở các quốc gia đã cho thấy rằngnhững công ty này có những tiềm lực kinh tế cũng như khả năng marketing lớn, họ cóthể thực hiện những chiến lược giao dịch rủi ro hơn và có xu hướng ít sử dụng các sởgiao dịch (bất kể là sở giao dịch giao ngay hay là các sở giao dịch tương lai hàng hóa).Trong khi đó nếu các công ty nhỏ biết được vai trò cũng như những xu thế diễn ra trên

sở giao dịch thì sẽ là một khối lượng khách hàng tiềm năng cho sở giao dịch, nên cáccông ty nhỏ cũng có thể là một lực lượng chủ thể đáng kể

Rủi ro biến động giá cả trên thị trường giao ngay: mục đích để các sở giao dịch tương lai hàng hóa xuất hiện chính là để phòng ngừa những rủi ro về giá cả

mà những sở giao dịch hàng hóa hữu hình không thể đáp ứng được nhu cầu đó Lợi ích chính mà sở giao dịch tương lai về hàng hóa đó chính là nó không chỉ là một cơ chế thị trường góp phần làm giảm các chi phí giao dịch, phát hiện giá cả một cách chính xác và minh bạch như những sở giao dịch hàng hóa thông thường mà nó còn là một nơi chuyển giao rủi ro Thông qua sở giao dịch khách hàng có thể chốt được mức giá và do đó có thể tự bảo hiểm khỏi những rủi ro do những biến động giá cả mà họ không thể lường trước được trước ngày giao hàng.

Do đó nếu như giá cả không có những biến động mạnh và không có sự bất ổn trong những biến động đó thì những người tham gia thị trường sẽ không cần thiết phải sử dụng tới những biện pháp hay công cụ trên sở giao dịch tương lai hàng hóa như đã nêu ra ở trên

Rủi ro này cũng chính là những lợi ích tiềm năng hấp dẫn sự tham gia của các nhà đầu cơ, họ là những người tham gia chính trên thị trường tương lai, là những người tạo nên đến 90% giao dịch trên thị trường Những người đầu cơ này có thể là những cá nhân có tiềm lực tài chính lớn muốn tham gia vào sở giao dịch hàng hóa hơn là đầu tư vào chứng khoán hay cổ phiếu, là những thành viên

tự doanh của sở giao dịch, hoặc là những quỹ đầu tư trong và ngoài nước Mối quan tâm chính của họ chính là việc thu lợi nhuận chính vì vậy muốn thành lập

Trang 7

các sở giao dịch tương lai thì phải có những cơ hội thu lợi lớn từ đó mới thu hút được những nhà đầu tư này Những rủi ro biến động giá cả gây thiệt hại cho người sản xuất, hay người tiêu dùng nhưng lại chính là một nhân tố tạo cơ hội thu lợi nhuận cho những nhà đầu cơ.

2.1.2.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng trang thiết bị

Việc dễ dàng tiếp cận và trang bị đầy đủ cũng là một điều kiện cần thiết, ví dụnhư việc dễ dàng tiếp cận với các trục đường, sự sẵn có các công ty vận tải, nhữngthiết bị cân cầu đường, dịch vụ quản lý chất lượng, sự quản lý có hiệu quả, kho hàng

và thông tin liên lạc (nếu các nhà kho và các công ty vận tải thuộc quyển kiểm soátcủa chỉ một vài công ty và không được sử dụng chung, thì sẽ chỉ nhận được rất ít lợiích từ một sở giao dịch hàng hoá) Việc xác định địa điểm để xây dựng sở giao dịchcũng là một điều kiện quan trọng Ví dụ đối với các sở giao dịch với những hình thứcđấu giá công khai thì cần phải có đủ không gian cho việc tháo dỡ hàng hoá, kho hàng

và vận chuyển hàng hoá đã được giao dịch, và cần phải có hệ thống đường sá có thểcho phép những xe tải có trọng tải lớn vận hành Nếu như sở giao dịch giao dịch hànghoá trên cơ sở các loại mẫu hàng hoá thì hàng hoá cần phải được đưa đến địa điểm thunhận hàng một cách nhanh chóng Thêm vào đó trong một thời gian ngắn các phòngthí nghiệm cần phải kiểm tra đánh giá chất lượng hàng hoá và đưa tới các sàn giaodịch hàng hoá mà có thể ở rất xa Do đó tất cả các công việc này có thể diễn ra trongmột khung cảnh ồn ào và bừa bộn do đó sở giao dịch không thể ở gần một khu vựcdân cư, nhưng phải có điều kiện giao thông thích hợp, gần với nguồn cung hàng hoá

để giảm thiểu chi phí Hơn nữa đối với những hàng hoá được giao dịch để xuất khẩuhay nhập khẩu thì nên xem xét đến việc đặt các sở giao dịch gần các bến cảng Tuynhiên đối với các sở giao dịch hàng hoá đã áp dụng phương tiện giao dịch điện tử thìviệc xác định địa điểm cho sàn giao dịch là không cần thiết, thay vào đó cần phải cómột hệ thống thông tin liên lạc sẵn có Và đối với các sở giao dịch bất kể là giao dịchđiện tử hay đấu giá đề cần thiết phải có những yêu cầu máy móc nhất định như: hệthống điện thoại tốt, các bảng điện tử và một mạng lưới máy tính kết nối thông suốt,với hệ thống hỗ trợ hiệu quả, mạng lưới cung cấp điện ổn định

2.1.2.3 Các chính sách của chính phủ

Trang 8

Nhà nước được xem như một chủ thể hết sức quan trọng trên thị trường sở giaodịch hàng hóa Ngay cả nếu như không đóng vai trò là một trong những thành viênsáng lập nên sở giao dịch hàng hóa đi nữa thì sự hỗ trợ đúng đắn từ phía chính phủcũng là điều kiện quan trọng, bao gồm sự sẵn sàng thông qua những quy định mới và

sự giám sát một cách hợp lý vào sở giao dịch Không chỉ những chính sách trực tiếpđiều chỉnh hoạt động sở giao dịch hàng hóa mà cả những chính sách khác của chínhphủ liên quan đến thị trường hàng hoá và giao dịch hàng hoá đều phải đáp ứng nhữngđiều kiện chung nhất định và tốt nhất là không nên có những sự can thiệp độc quyềncủa chính phủ làm gián đoạn việc trao đổi

Đối với các sở giao dịch thì nhà nước có những vai trò nhất định, trong đó cóhai vai trò tích cực: một là vai trò giám sát, chính phủ xử phạt những người cố tìmcách thao túng thị trường vì lợi ích riêng của mình, đảm bảo sự ràng buộc của hợpđồng, và vai trò thứ hai là vai trò hỗ trợ, nhà nước đưa ra khung pháp lý hoàn thiện vàthậm chí là một cơ cấu cơ sở hạ tầng (mà nếu không có nó thì một sở giao dịch khôngthể hoạt động một cách chính xác được) Các thị trường cần chính phủ nhưng khôngphải là sự kiểm soát quá mức Những vai trò này được thể hiện qua các chính sách củanhà nước để điều chỉnh nền kinh tế nói chung như các chính sách về thuế, hay chínhsách đối với các ngân hàng, và các thành phần kinh tế

Các chính sách thuế: Các chính sách này là một trong những chính sách vĩ

mô sức quan trọng được nhà nước sử dụng để thể hiện chủ trương của mình đối với việc hình thành sở giao dịch hàng hóa Bởi lẽ, các sở giao dịch hàng hóa muốn hoạt động được thì cần phải có một hệ thống thuế hợp lý và tạo điều kiện cho các giao dịch trên sở giao dịch Do đó, nếu như nhà nước ủng hộ việc thành lập sở giao dịch hàng hóa thì các chính sách thuế sẽ tạo điều kiện hết sức cho các hoạt động của nó; ví dụ như cho phép những sản phẩm nhập khẩu được bán đấu giá trên sở giao dịch, và việc thu thuế có thể được lùi lại cho đến khi người mua nhận hàng Bản thân thuế cũng có thể là một vấn đề, đặc biệt là nếu các giao dịch giấy

tờ bị đánh thuế như là các giao dịch hàng hoá thông thường Nếu sở giao dịch tiến hành giao dịch các hóa đơn nhà kho, thì thuế cũng được đánh chỉ tại thời điểm giao hàng gốc và/hoặc giao hàng cuối cùng, những thời điểm giữa hai mốc thời gian này thì việc trao đổi có thể hoàn toàn không mất phí đăng kí, thuế gia

Trang 9

trị gia tăng hay sự đánh thuế nào (ngoài một khoản phí giao dịch rất thấp cho sở giao dịch) Với các giao dịch tương lai cũng vậy, chỉ những giao dịch giao hàng thật mới bị đánh thuế Do đó, việc hoàn thiện hệ thống thuế và các chính sách thuế liên quan tới sở giao dịch hàng hóa là một trong những điều kiện cần để có thể hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa

Các chính sách tiền tệ - ngân hàng: Cần phải nhấn mạnh rằng các chính

sách tiền tệ có thể tác động mạnh đến các chức năng của sở giao dịch hàng hoá Nếu lạm phát cao, thì các hợp đồng kỳ hạn về tiền tệ và lãi suất khó có thể được giao dịch, và hàng hoá được giao dịch bằng đồng nội tệ, bất cứ giao dịch kỳ hạn nào với kỳ hạn hơn một khoảng từ một đến ba tháng (tuỳ thuộc vào mức tăng và khả năng dự đoán được của lạm phát) sẽ là hiệu quả cho mục đích tự bảo hiểm lạm phát, chứ không phải là tự bảo hiểm giá cả hàng hoá: cuối cùng thì giá cả của hàng hoá lúc kết thúc kỳ hạn được được xác định phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát hơn là giá trị thực của hàng hoá Các sở giao dịch hàng hoá ở các quốc gia

có tỷ lệ lạm phát cao do đó sẽ hướng tới những khách hàng liên quan đến thương nhân hơn là việc sử dụng các hợp đồng giao ngay hoặc có thời hạn ngắn, và nhóm các ngân hàng và các thể thế tài chính với việc sử dụng các hợp đồng giao ngay hơn là các hợp đồng kỳ hạn Việc kiểm soát vốn có thể cũng có tác dụng nếu

họ hạn chế việc các khách hàng tham gia vào các sở giao dịch nội địa; trong trường hợp này, trong các quy định về các dòng vốn, các chính phủ có thể sẽ đưa

ra một ngoại lệ cho việc lợi nhuận tạo ra trên các sở giao dịch về nước của các khách hàng nước ngoài

Tại nhiều nước, các quy định không cho phép các ngân hàng tham gia vào cáchoạt động như là buôn bán hàng hoá, cấp tiền bảo chứng cho các nhà tự bảo hiểm, tíchtrữ hàng hoá, hay là các gói công cụ trên các sở giao dịch hàng hoá cho các nhà đầu

tư Những quy định này đều là những rào cản khá lớn cho việc thực hiện các chứcnăng của các sở giao dịch hàng hoá; các ngân hàng và các sở giao dịch do đó nên hợptác để sửa đối những quy định này

Chính vì vậy, thông qua các công cụ chính sách này, nhà nước thể hiện sự ủng

hộ hay không ủng hộ đối với việc thành lập sở giao dịch hàng hóa Sự ủng hộ của nhà

Trang 10

nước được xem như là một điều kiện chủ quan hết sức quan trọng tạo tiền đề để xâydựng sở giao dịch hàng hóa.

2.1.2.4 Năng lực các nhà đầu tư

Thu hút sự mối quan tâm của những người tham gia thị trường, cũng nhưnhững nhà đầu cơ ở được xem như điều kiện sống còn đối với sự tồn tại của một sởgiao dịch hàng hoá Tuy nhiên một các thành viên này cần phải được trang bị nhữngkiến thức và tiềm năng nhất định chứ không phải những người không có một sự hiểubiết một cách đúng đắn về vai trò của các sở giao dịch hàng hóa Trên thực tế thịtrường cà phê Việt Nam đã chứng minh rất rõ điều này Một số doanh nghiệp ViệtNam giao dịch cà phê trên sở giao dịch hàng hóa của Luân Đôn (LIFFE) đang phảiđối mặt với những khoản thua lỗ đáng kể Thua lỗ chủ yếu do các doanh nghiệp, cánhân không nhận thức đầy đủ về phương thức này, họ không xem nó như một công cụphòng, chống rủi ro khi thị trường biến động, mà tham gia giao dịch mang tính đầu cơ,

“đỏ đen”, đặt lệnh mua bán khống, không có cà phê robusta vẫn tham gia giao dịchvới thị trường Liffe (London), không có cà phê arabica vẫn giao dịch với thị trườngNybot (New York) Điều đáng nói nữa là một số doanh nghiệp đã tự đứng ra làmtrung gian giao dịch để thu phí bất hợp pháp từ các đối tượng không đủ điều kiện giaodịch với Techcombank, trong khi các đối tượng chưa được khuyến cáo đầy đủ, chưahiểu biết sâu về phương thức này và thực sự không có cà phê, năng lực tài chính lạiquá nhỏ bé so với các đại gia nước ngoài, vì thế việc thua lỗ là tất yếu Theo nhưthống kê của VICOFA hiệp hội cà phê Việt Nam, trong đợt khảo sát đối với 9 trongtổng số doanh nghiệp có tham gia hoạt động trên sở giao dịch nước ngoài thì đã thua

lỗ tới gần 30 tỷ đồng-đây là một khoản “học phí” quá lớn để tìm hiểu về hoạt độngtrên sở giao dịch hàng hóa Hơn nữa những người chưa có sự hiểu biết này là nhữngngười có tâm lý dễ dao động nhất và do đó dễ gây đến những rối loạn trên thị trường.Nếu như sở giao dịch hàng hóa Việt Nam được thành lập trong điều kiện như vậy, thìliệu sẽ tồn tại được bao lâu với những chủ thể như thế này?

Chính vì những lý do như vậy, việc thu hút những người tham gia thị trường làmột vấn đề then chốt cho sự tồn tại của thị trường nhưng sự thu hút đó cũng phải dựatrên cơ sở chọn lọc và dần dần Để hình thành được các sở giao dịch thì cần phải có sựchuẩn bị sẵn về việc phổ biến vai trò lợi ích cũng như những nguy cơ tiềm ẩn trên sở

Trang 11

giao dịch từ đó thu hút được những người tham gia có nhu cầu thực sự, với động cơchân chính.

2.2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM

2.2.1 Cơ chế kinh tế của việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam kể từ năm 1954 cho đến nay đã trải qua nhiều thời kỳphát triển khác nhau Song tổng quan lại có thể chia ra làm hai giai đoạn lớn với haiphương pháp tổ chức và quản lỹ nền kinh tế hoàn toàn khác nhau:

Giai đoạn 1954-1986: thực chất giai đoạn này Việt Nam chưa có thị trườnghàng hóa theo đúng nghĩa của nó Hầu hết những sản phẩm của xã hội đều do nhànước quản lý, tổ chức sản xuất hay nhập khẩu cũng đều phụ thuộc vào những quyếtđịnh của nhà nước và sau đó được phân phối theo hiện vật theo nhu cầu của nền kinh

tế quốc dân và đời sống dân cư Vào giai đoạn này bức tranh nền kinh tế Việt Nam hếtsức ảm đạm

Giai đoạn 1987 đến nay: Sau khi tiến hành một công cuộc Đổi mới toàn diệnnền kinh tế, Việt nam đang chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.Bước ngoặt có ý nghĩa cơ bản là xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung và luôn đi liền vớihành chính quan liêu bao cấp trước đây và thực hiện cơ chế thị trường Vấn đề độcquyền nhà nước được xem xét lại và có những thay đổi đáng kể Nhà nước bắt đầugiảm sự can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh và vào thị trường nói chung Đồngthời nhà nước cũng vạch ra những nguyên tắc nhất định trong việc can thiệp vào thịtrường như sau:

Nguyên tắc thứ nhất: Nhà nước chỉ can thiệp ở tầm vĩ mô và bằng các biện

pháp vĩ mô đối với hoạt động kinh tế nói chung; còn những hoạt động mang tính vi

mô, vốn dĩ là công việc của các chủ thể kinh tế thì để cho họ tự quyết định theo sự dẫndắt của các quy luật thị trường và tự chịu trách nhiệm

Nguyên tắc thứ hai: Nhà nước thực hiện các hành vi can thiệp vào hoạt động

kinh tế phải xuất phát từ hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, có tính đến yêu cầu hộinhập quốc tế trong giai đoạn đương đại Mọi hành vi sao chép một cách máy móc các

mô hình quản lý của nước ngoài mà không tính đến hoàn cảnh và điều kiện đặc thù

Trang 12

của Việt Nam sẽ là không thích hợp và thậm chí còn có thể gây ra những hậu quả vôcùng bất lợi cho nền kinh tế và xã hội.

Nguyên tắc thứ ba: Nhà nước thực hiện các hành vi can thiệp vào nền kinh tế

phải nhằm thoả mãn các mục tiêu cơ bản về kinh tế, chính trị và xã hội theo địnhhướng XHCN như văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra

Nguyên tắc thứ tư: Nhà nước có thể can thiệp vào hoạt động kinh doanh bằng

nhiều công cụ và biện pháp khác nhau (chẳng hạn như công cụ pháp luật, các chínhsách và hệ thống chương trình, kế hoạch định hướng…) nhưng các biện pháp và công

cụ này không được gây cản trở cho quá trình tự do hoá thương mại quốc tế Việt Nam

đã tham gia hoặc cam kết sẽ tham gia, cũng như không cản trở quyền tự do kinhdoanh của các chủ thể tham gia giao dịch kinh tế

Nguyên tắc thứ năm: Tiêu chí xác định giới hạn hợp lý cho hành vi can thiệp

của Nhà nước vào kinh tế là hậu quả của sự can thiệp đó phải là cho kinh tế tăngtrưởng bền vững; các chủ thể kinh tế thoả mãn được lợi ích của mình khi giao dịchkinh tế; nền kinh tế và đời sống xã hội không gặp phải các rắc rối và những biến độngbất lợi; không bị cản trở xu hướng hội nhập quốc tế

Thị trường đã dần được hình thành theo quy luật khách quan là thị trường tự

do, nhiều thành phần kinh tế cạnh tranh và theo dẫn dắt của cung cầu Nhà nướckhuyến khích sự phát triển của tất cả các thành phần kinh tế, các thành phần kinh tếđược tự do phát triển và bình đẳng trước pháp luật Danh mục các hàng hóa do nhànước độc quyền đã giảm đáng kể và hiện chỉ còn một số mặt hàng thiết yếu như điện,than, nước Thị trường cạnh tranh hiện là hình thái thị trường phổ biến đối với hầu hếtcác mặt hàng như lương thực, thực phẩm thông dụng, dệt may Tuy nhiên, ở Việt Namnhiều năm qua tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và thiếu bình đẳng vẫn thườngxảy ra Chẳng hạn đầu vào của ngành kinh doanh sản xuất gạo, cà phê có rất nhiềungười bán nên sự cạnh tranh là phổ biến, song đầu ra của nó lại bị khống chế bởi quyđịnh giao cho một số doanh nghiệp làm đầu mối xuất khẩu ở đây, các yếu tố phi cạnhtranh là những “rào chắn” được tạo bởi việc quy định đầu mối và quota hạn ngạch Dovậy khi thị trường thế giới biến động đã phát sinh cạnh tranh không lành mạnh do việctranh mua tranh bán chèn ép lẫn nhau và yếu tố độc quyền lúc này trở thành đặc quyềnđem lại lợi ích cho các đầu mối

Trang 13

Đặc biệt trong những nỗ lực để gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO,Việt Nam đã có rất nhiều cam kết nhằm cải cách cơ cấu kinh tế, dần dần hội nhập nềnkinh tế trong nước với các nền kinh tế khác trên thế giới Việt Nam chấp nhận bị coi lànền kinh tế phi thị trường trong 12 năm tức là không muộn hơn 31/12/2018 Tuynhiên, trước thời điểm trên, nếu ta chứng minh được với đối tác nào là kinh tế ViệtNam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó ngừng áp dụng chế độ

“phi thị trường” đối với ta Chế độ “phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiệnchống bán phá giá Và các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặcthù đối với hàng xuất khẩu nước ta dù ta bị coi là nền kinh tế phi thị trường Trongnhững cam kết này có rất nhiều cam kết liên quan đến những lĩnh vực hàng hóa xuấtkhẩu góp phần thúc đẩy việc hình thành sở giao dịch hàng hóa việt Nam Ví dụ Về trợcấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theoquy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa Tuy nhiên với các ưu đãiđầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, ta được bảo lưuthời gian quá độ là 5 năm (trừ ngành dệt may) Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam camkết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập Tuynhiên, ta bảo lưu quyền được hưởng một số quy định riêng của WTO dành cho nướcđang phát triển trong lĩnh vực này Đối với loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắtgiảm nhìn chung ta duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản lượng Ngoài mứcnày, ta còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm.Các loại trợ cấp mang tính chất khuyến nông hay trợ cấp phục vụ phát triển nôngnghiệp được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế Những biện phápbảo hộ đối với nông dân trước đây nay đã bị dỡ bỏ, do đo người nông dân lại càng cần

cơ một cơ chế thị trường mới để thay thế những biện pháp này để tránh những rủi rohay ít nhất là không bị lâm vào tình trạng bị ép giá hoặc cạnh tranh quá khốc liệt trênthị trường thế giới

Với những cải cách như vậy, cơ chế thị trường của Việt nam đã cỏ thể chophép việc hình thành và phát triển một cơ cấu thị trường hiện đại với nhiều hình thứckinh doanh không chỉ ở những sở giao dịch hàng hóa hữu hình thông thường mà ngay

cả với những sở giao dịch tương lai về hàng hóa

Trang 14

2.2.2 Sự phát triển kinh tế của Việt Nam

Nếu chỉ có nhiều người mà không có tiềm năng về kinh tế thì cũng không thểhình thành nên sở giao dịch hàng hóa được Thực tế sự phát triển nền kinh tế ViệtNam với những thành tựu vượt bậc đã có những tác động hết sức tích cực tác động tớinhững tiềm năng về chủ thể của sở giao dịch hàng hóa của Việt Nam Trải qua 20 nămđổi mới nền kinh tế Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng vượt bậc với sự thay đổi

cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng phù hợp với các xu hướng chung trên thế giới

Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế, 2003-07 (%)

về GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương (105 sovới 123), cao hơn hàng chục nước có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam,phù hợp với nền kinh tế thị trường mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường theođịnh hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tỷ lệ nghèo

đã giảm (từ 17,8% xuống còn 14,8%)

Thêm vào đó, với sự thành công của thị trường chứng khoán trong những nămvừa qua cũng góp phần tăng số lượng chủ thể tiềm năng cho sở giao dịch hàng hóa Vìxét về cơ cấu cũng như hình thức hoạt động thì sở giao dịch hàng hóa và sở giao dịchchứng khoán không khác nhau mấy, vì vậy giao dịch trên sở giao dịch hàng hóa cũng

sẽ là một công cụ đầu tư hữu hiệu có thể thu hút được những nhà môi giới, hay nhữngngười đầu tư muốn thu lợi nhuận

Trang 15

Trong những năm vừa qua Việt Nam đã khẳng định được vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với việctrở thành thành viên thứ 150 của WTO, được bầu làm ủy viên không thường trực củahội đồng bảo an liên hợp quốc… Nhờ vậy mà uy tín của Việt Nam trên trường quốc tếngày càng gia tăng và thu hút mối quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư Bằngchứng là việc thu hút FDI của Việt Nam trong những năm vừa qua tăng nhanh và năm

2007 đã đạt con số kỷ lục là 20,3 tỷ USD tăng 69,1% so với năm trước, vượt 56% kếhoạch dự kiến Qua kết quả khảo sát triển vọng thu hút đầu tư của Hội nghị Thươngmại và Phát triển liên hợp quốc (UNCTAD) vừa công bố, Việt Nam đã vươn lên đứngthứ 6 trong tổng số 141 nền kinh tế được khảo sát (sau Trung Quốc, ấn Độ, Mỹ, Nga

và Brazil) Cho đến nay các nhà đầu tư từ khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh đã tiếnhành các hoạt động đầu tư tại Việt Nam Điều đó cho thấy các đối tác nước ngoài đãđặt lòng tin vào các chính sách kinh tế của Việt Nam Họ cũng đã tìm thấy ở ViệtNam khả năng tạo ra lợi ích cho các nỗ lực kinh doanh của học và Việt Nam khôngphải là một thị trường quá mới mẻ với họ nữa Chính yếu tố này đã tạo cho đối tácnước ngoài tâm lý yên tâm kinh doanh lâu dài khi tham gia vào các giao dịch thu lợinhuận của Việt Nam, và đây sẽ là một lực lượng chủ thể đáng kể khi Việt Nam hìnhthành sở giao dịch hàng hóa

2.2.3 Nguồn sản phẩm nông nghiệp phong phú

Việt nam là một nước nông nghiệp điều kiện tự nhiên như khí hậu, thổ nhưỡngrất thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nhưng do nhiều mặt còn hạn chế, đặc biệt làkhâu tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch nên thời gian qua việc sản xuất của nông sảnViệt nam chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của mình Tuy nhiên trong kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam hiện nay trị giá của các mặt hàng nông nghiệp chiếm một tỷtrọng còn rất cao và đóng một vai trò quan trọng Một số hàng nông sản xuất khẩu của

ta như gạo, cà phê, hạt tiêu, cao su, hạt điều, rau quả… chiếm một thị phần lớn trên thịtrường khu vực và thế giới

2.2.3.1 Tầm quan trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam

Trong những năm gần đây, cùng với xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóađất nước đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ thì tỷ lệ đóng góp vào GDP của Việt Nam

Trang 16

ngày càng có xu hướng giảm xuống từ chỗ chiếm tới 38,74% năm 1990 xuống còn20.36% năm 2006, đến năm 2007, con số này đã giảm xuống còn dưới 20% (19,8%)

và kế hoạch đến năm 2020 thì con số này sẽ giảm xuống dưới 10% Tuy nhiên giá trịđóng góp của ngành tăng liên tục từ năm 1990 là 16252 tỷ VNĐ thì đến năm 2006 đãtăng hơn 12 lần đạt 198266 tỷ VNĐ

Bảng 2.2: Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế

Nguồn: Niên giám thống kê 2006, nhà xuất bản thống kê

Tuy chỉ đóng góp vào GDP chung của cả nước nhỏ hơn so với những ngànhcông nghiệp và dịch vụ nhưng nông nghiệp lại thu hút phần lớn lực lượng lao độngcủa cả nước Cho dù là tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp ngày càng giảm trongnhững năm gần đây nhưng số lượng lao động trong nông nghiệp vẫn luôn chiếm đa sốlao động trong xã hội (chiếm hơn 50% lao động) Do vậy việc thúc đẩy tăng trưởng vàphát triển nông nghiệp vẫn sẽ là một trong những ưu tiên đầu tiên trong chiến lượcphát triển kinh tế

Bảng 2.3: Cơ cấu lao động làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm theo ngành

Đơn vị: %

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006Nông nghiệp và lâm nghiệp 62.5 60.6 58.7 57.0 55.4 53.8 52.1

Trang 17

Nguồn: tổng cục thống kê www.gso.gov.vn

Nông nghiệp không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút lao động, tạocông ăn việc làm cho tới hơn 50% lao động trong nước, góp phần tạo sự ổn định trong

xã hội mà còn góp phần đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu của quốc gia Tuy một mặt,nông nghiệp phải đảm bảo lương thực cho người dân trong nước, dự trữ lương thực,đảm bảo các chính sách về đảm bảo lương thực quốc gia nhưng hiện nay nông sảncũng vẫn là một trong những sản phẩm mũi nhọn trong cơ cấu xuất khẩu Việt Nam

Đã qua rồi cái thời là một nước nông nghiệp nhưng phải nhập khẩu lương thực, hiệnnay Việt Nam là một trong những nhà xuất khẩu nông sản lớn của thế giới với sảnlượng cao trên thế giới Về trị giá xuất khẩu gần đây mặt hàng nông sản có xu hươnggiảm so với những mặt hàng khác nhưng vẫn luôn chiếm một tỷ lệ tương đối lớn Năm

2007 hầu hết hàng nông sản năm nay đều được giá nên giá trị xuất khẩu tăng mạnhvới nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên như thủy sản, gạo, càphê, cao su, sản phẩm gỗ Cà phê là mặt hàng về đích với khoảng 1,8 tỷ USD tăng gần50% so với năm 2006 (năm 2006 xuất khoảng 1,2 tỷ USD) Mặt hàng gỗ chế biến đạtkhoảng 2,34 tỷ USD tăng 21% so với năm 2006; cao su trên 1,4 tỷ USD, tăng 10%;gạo là 1,48 tỷ USD tăng 16%, trong khi đó thủy sản vẫn dẫn đầu với con số 3,75 tỷUSD

Bảng 2.4: Xếp hạng sản lượng một số nông sản năm 2001, 2004 và 2007.

Trang 18

Nguồn: Số liệu kinh tế - xã hội các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhà xuất bản thống kê, và số liệu tự tổng hợp.

Những số liệu trên cho thấy rằng, cho dù công nghiệp hóa hiện đại hóa là một

xu thế tất yếu để phát triển đất nước và do đó, nông nghiệp sẽ đóng góp ngày càng ítvào GDP của cả nước, nhưng điều đó không có nghĩa rằng vai trò của nông nghiệpđến nền kinh tế sẽ giảm Nông nghiệp trong thời kỳ mới sẽ không chỉ tập trung về việctăng về lượng mà còn phải tập trung về chất để có thể cạnh tranh hơn nữa trên thịtrường Hơn nữa, công cuộc đổi mới của nước ta sẽ góp phần thúc đẩy lực lượng sảnxuất trong nông nghiệp, cơ giới hóa các khâu sản xuất, nông thôn sẽ chuyển dịch dầnsang hướng khai thác tiềm năng lợi thế và cải thiện cơ cấu xuất nhập khẩu hàng nônglâm thủy sản ở nước ta thời gian qua

2.2.3.2 Khả năng tham gia sở giao dịch hàng hóa của một số nông sản Việt Nam

Lúa gạo

Như đã đề cập ở trên, nông nghiệp Việt Nam giữ một vai trò quan trọng trong

sự phát triển và ổn định xã hội và trong đó nông nghiệp sản xuất lượng thực chiếm vịtrí quan trọng nhất Nghề trồng lúa vốn là một nghề đã có từ lâu đời ở Việt nam, hơnnữa do điều kiện tự nhiên thuận lợi nên Việt nam là một nước sản xuất lúa gạo đứngvào loại hàng đầu các nước trong khu vực và thế giới Hiện nay tuy sản lượng sản xuấtcủa Việt Nam chỉ đứng thứ 5 trên thế giới nhưng Việt Nam hiện đang đứng thứ 2 trênthế giới về lượng gạo xuất khẩu

Về diện tích: tổng diện tích tự nhiên của cả nước là vào khoảng 329.314,04ha

với khoảng 20,25% đất đai được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp trong đóhơn một nửa dùng cho sản xuất lúa Trong những năm gần đây diện tích trồng lúa củaViệt nam ngày càng tăng nhưng đó không chỉ nhờ tăng diện tích tự nhiên mà phần lớn

do tăng vụ, hiện nay nhiều nơi ở Việt Nam đã tiến hành trồng lúa 3 vụ

Bảng 2.5: Diện tích đất trồng lúa qua các năm

Đơn vị: nghìn ha

Diện tích 5718 6766 7666 7493 7504 7452 7444 7325 7181

Nguồn: Tổng quan ngành lúa gạo năm 2005 và số liệu tự tổng hợp.

Các cùng sản xuất lúa gạo ở nước ta chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long,đồng bằng sông Hồng và một phần duyên hải miền Trung

Ngày đăng: 07/10/2013, 07:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế, 2003-07 (%) - CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Bảng 2.1 Tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế, 2003-07 (%) (Trang 14)
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm theo ngành - CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Bảng 2.3 Cơ cấu lao động làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm theo ngành (Trang 16)
Bảng 2.4:  Xếp hạng sản lượng một số nông sản năm 2001, 2004 và 2007. - CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Bảng 2.4 Xếp hạng sản lượng một số nông sản năm 2001, 2004 và 2007 (Trang 17)
Bảng 2.5: Diện tích đất trồng lúa qua các năm - CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Bảng 2.5 Diện tích đất trồng lúa qua các năm (Trang 18)
Hình 2.2: Sản lượng xuất khẩu cà phê từ năm 2000 đến nay (ngàn tấn) - CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Hình 2.2 Sản lượng xuất khẩu cà phê từ năm 2000 đến nay (ngàn tấn) (Trang 22)
Bảng 2.9: Diện tích và sản lượng điều trong những năm vừa qua - CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Bảng 2.9 Diện tích và sản lượng điều trong những năm vừa qua (Trang 24)
Hình 2.4. Giá xuất khẩu trung bình mặt hàng hạt tiêu từ năm 2001  đến đầu năm 2006 (USD/tấn) - CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Hình 2.4. Giá xuất khẩu trung bình mặt hàng hạt tiêu từ năm 2001 đến đầu năm 2006 (USD/tấn) (Trang 31)
Hình 2.3: Chỉ số giá tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2008 - CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Hình 2.3 Chỉ số giá tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2008 (Trang 31)
Hình 2.5: Giá xuất khẩu trung bình nhân điều từ đầu năm 2001  đến đầu năm 2006 (USD/tấn) - CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Hình 2.5 Giá xuất khẩu trung bình nhân điều từ đầu năm 2001 đến đầu năm 2006 (USD/tấn) (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w