Bởi vậy, thực hiện sự phân đoạn thị trường sẽ giúp cho Công ty có các chiến lược, chiến thuật phù hợp với từng loại khách hàng, mục tiêu, nhờ đó có thể đạt được lợi nhuận tối đa và các m
Trang 1Chương II MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG Ở SIÊU THỊ IMS
2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG Ở SIÊU THỊ IMS
2.1.1 Đặc điểm thị trường của siêu thị IMS.
Thị trường là tập hợp nhu cầu của nhiều khách hàng rất khác nhau về tuổi tác, giới tính, thu nhập, ý thích, thói quen tiêu dung, phong tục tập quán tôn giáo Sự khác nhau này có ảnh hưởng rất lớn tới việc mua sắm và tiêu dùng hàng hoá
Những người đàn ông đứng tuổi và những người phụ nữ trẻ rất ít khi mua cùng loại sản phẩm hay các sản phẩm cùng nhãn hiệu
Bởi vậy, thực hiện sự phân đoạn thị trường sẽ giúp cho Công ty có các chiến lược, chiến thuật phù hợp với từng loại khách hàng, mục tiêu, nhờ đó có thể đạt được lợi nhuận tối đa và các mục tiêu quan trọng khác của xí nghiệp
Phân đoạn thị trường là yêu cầu của nghiên cứu thị trường
Phân đoạn thị trường là căn cứ vào mục đích nghiên cứu và các tiêu thức
cụ thể để chia thị trường thành một số đơn vị nhỏ khác biệt với nhau để các công ty có các chính sách phù hợp nhằm khai thác tối đa thị trường
Để đảm bảo tính chính xác và tính thực hành của phân đoạn thị trường việc lựa chọn tiêu thức phân đoạn thị trường có vai trò vô cùng quan trọng Sau đây là một số phân đoạn thị trường của siêu thị IMS:
a Quy mô thị trường của siêu thị.
Siêu thị IMS nằm trong phường Nam Thanh Xuân với số dân hiện có 27.109 người tương đương 5.949 hộ gia đình Ngoài ra thị trường của Siêu thị IMS dọc theo đường Nguyễn Trãi còn phải kể đến phường Thượng Đình với 1,5 vạn dân, phường Thanh Xuân có 1,4 vạn, phường Kim Giang 2,1 vạn và một phần thị xã Hà Đông kể từ cầu Hà Đông trở ra 1 vạn Tổng số dân trên thị trường tiềm năng của Siêu thị IMS là 8,7 vạn với mật độ tập trung khá cao ở hai bên đường từ 1,6 - 1,8 vạn người/km
Ngoài ra đường Nguyễn Trãi là một quốc lộ quan trọng nối giữa Ngã tư
Sở và thị xã Hà Đông với lưu lượng người qua lại là 124.000người/ ngày
b Đặc điểm người mua hàng siêu thị
Cơ cấu dân cư ảnh hưởng rõ dệt trong chính sách sản phẩm của Siêu thị IMS Việc tạo ra một tập hợp sản phẩm theo tập tính tâm lý và văn hoá theo cơ cấu dân cư này là điều kiện thành công đầu tiên của Siêu thị IMS
Trang 2Sau đây là phân đoạn thị trường nhu cầu tiêu dùng hàng hoá: thực phẩm, quần áo, gia dụng, cao cấp theo lứa tuổi của Siêu thị
Độ tuổi Tên gọi phẩm Thực Quần áo dụng Gia Cao cấp Đánh giá
cơ cấu dân cư
100%
c Phân đoạn thị trường nhu cầu tiêu dùng theo mức thu nhập.
Mức thu nhập của dân cư ảnh hưởng sâu sắc đến loại hàng bày bán trong Siêu thị, ngoài ra nó quyết định tổng giá trị có thể thanh toán cho lượng hàng hóa đó
Thu nhập của gia đình được chia làm hai phần Phần tích luỹ và phần tiêu dùng Các khoản tiêu dùng chính của một gia đình bao gồm thực phẩm, nhà ở, quần áo, đi lại và tiêu dùng của họ thay đổi tuỳ theo mức thu nhập của họ
Bảng số liệu sau đây sẽ cho chúng ta thấy khách hàng tiểm năng tiêu xài như thế nào
Loại Mức thu
nhập (VNĐ)
Tích luỹ Tiêu dùng % dân số
2
2.000.000-3.000.000
3
1.000.000-2.000.000
Bảng phân tích nhu cầu có khả năng thanh toán
Loại Mức thu nhập
bình quân
Hệ số tiêu dùng x/10
% dân số
Số hộ tính theo
% số dân
Nhu cầu (VNĐ)
Trang 32 2.500.000 8 50 7.000 140.000.000
100 K1.000
hộ
25.172.000.000 (đồng)
Ngoài ra, số nhu cầu có khả năng thanh toán đó sẽ được cộng tăng vì lưu lượng khách qua đây rất lớn
d Đặc điểm và cách mua sắm của dân cư trong vùng.
- Siêu thị là phương thức dịch vụ thương mại hiện đại ngày càng được dân chúng thành phố ưa chuộng Khi khách hàng bước vào cửa hàng có cảm giác thoải mái trong một không gian thoáng mát lịch sự văn minh, hàng hóa được trưng bày gọn gàng đẹp mắt có mỹ thuật khác hẳn với không khi đông bức chật chội, ồn ào, phức tạp và đầy rẫy tệ nạn xã hội như ăn xin, trộm cắp thường sảy ra khá phổ biến ở các chợ Về nội dung hàng hoá, có thể nói những mặt hàng được bày bán tại nơi này được chọn lựa kỹ từ những hàng sản xuất có tên tuổi trong và ngoài nước do đó hàng hoá có chất lượng cao, khách hàng yên tâm không có hàng kém chất lượng, hàng giả Giá cả được niêm yết rành rọt bằng tem cho từng đơn vị hàng hoá với nhiều chủng loại hàng hóa đa dạng có thể so sánh và thay thế Chính vì điều này đã khắc phục được tình trạng tâm lý của người mua hàng hay mặc cả về giá sẽ thay đổi theo loại mặt hàng đó
- Sự lo lắng về chất lượng sản phẩm tuỳ thuộc vào nhóm hàng mà thị trường khu vực Nam Thanh Xuân cung cấp cụ thể hàng phổ thông giá bình thường như bánh kẹo, nước ngọt họ rất ít lo lắng Còn các hàng cao cấp như son phấn, rượu ngoại vv thường gây cho họ tâm lý lo ngại về chất lượng sản phẩm Điều này có thể được Siêu thị IMS khắc phục bằng cách dần dần thích ứng và lựa chọn nguồn hàng cung cấp bảo đảm chất lượng
-Với số thu nhập của đại đa số dân cư trong vùng Thanh Xuân Bắc là công nhân viên chức bởi vậy có sự dè dặt trong khi lựa chọn loại hàng tiêu dùng phù hợp với quỹ chi dùng của gia đình họ là tất yêú Siêu thị IMS sẽ điều chỉnh chính sách sản phẩm và giá cả để hướng vào các sản phẩm tiêu dùng phổ thông như xà phòng, bánh kẹo nước ngọt vv
Thời gian mà khách hàng quanh vùng Siêu thịdùng để mua hàng là sáng
từ 8 - 9h chiều từ 16 - 19h Bởi vậy đội ngũ phục vụ của Siêu thị sẽ được phân
ca và bổ xung lực lượng bán hàng và các giờ cao điểm
Trang 4Căn cứ vào bảng thành tích tâm lý tiêu dùng theo giới tính cũng như quỹ tiêu dùng và thu nhập của dân cư ta có thể rút ra mặt hàng chủ yếu của Siêu thị IMS là thực phẩm và quần áo , đò gia dụng và một số chủng loại hàng hoá cao cấp
2.1.2 Cơ cấu mặt hàng trong Siêu thị IMS.
Thị trưòng tiêu thụ đòi hỏi các công ty phải luôn luôn đánh giá lại các đặc điểm, tính chất của mặt hàng hiện tại và phải luôn luôn tổ chức cung ứng, chào hàng những mặt hàng mới với những đặc tính mới để thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường
Nghiên cứu mặt hàng thương mại gồm nghiên cứu phương cách sử dụng tập quán và sự ưa chuộng của người tiêu dùng để giúp cho việc thiết kế lựa chọn mặt hàng, nghiên cứu hoàn tiện các thông số của sản phẩm hỗn hợp và sức cạnh tranh của mặt hàng cho phép nhà quản trị có những quyết định cụ thể về lựa chọn nhãn hiệu mặt hàng, dịch vụ sản phẩm tính kịp thời, cách đóng gói và giá bán của mặt hàng nghiên cứu sự chấp nhận của người tiêu dùng và tiềm năng tiếp thị bán sản phẩm mới trên thị trường Nếu Công ty thiếu nghiên cứu marketting sản phẩm sẽ không có cơ sở và điều kiện thoả mãn được khách hàng
đó chính là công ty tự tiêu diệt mình và để cho các đối thủ cạnh tranh giành khách hàng và đạt thắng lợi dễ dàng trong cạnh tranh trên thị trường
Bởi vậy, việc lựa chọn những mặt hàng để bán hàng trong Siêu thị IMS phải đáp ứng đúng nhu cầu của các tầng lớp dân cư quanh vùng sau khi đã xem xét , nghiên cứu khái quát đặc điểm tiêu dùng của tầng lớp dân cư vùng Siêu thị IMS có thể nhận xét về cơ cấu mặt hàng của Siêu thị IMS cần chú trọng vào một số đặc điểm sau:
a Những mặt hàng có thể coi là bán chạy nhất.
Tuỳ theo mùa của mỗi năm và các dịp tết hay lễ Giáng Sinh, Siêu thị IMS sẽ dự báo các mặt hàng hoá lưu kho, VD : Phục vụ mùa hè chủ yếu tiêu dùng nước giải khát, bia, hoa quả hộp vv Mùa đông chủ yếu họ tiêu dùng quần áo, rượu, đường, sữa Đặc biệt các dịp Tết âm lịch sẽ tăng đột biến vì cả mấy loại hàng đều có thể tiêu thụ cùng một lúc
b Nhóm phần trăm cơ cấu những mặt hàng khác:
Các mặt hàng được bày bán thêm để mở rộng sự lựa chọn trong chỉ tiêu của họ Như việc bày bia TIGER có kèm theo bia của các hãng CARBERG, HALIDA, SANMIGUELvv
Lượng tồn kho hay sự có mặt vủa nhiều hàng hoá có khả năng thay thế sẽ được đội ngũ nhân viên bán hàng và giám đốc điều hành tuỳ theo sức mua thực
tế để quyết định
Trang 5c Nhóm những mặt hàng cần hạn chế cho ít hiệu quả.
Căn cứ vào điều tra tại Siêu thị DAEWOO số 7 Đinh Tiên Hoàng và Minimark 14 Lý Nam Đế cho thấy với số doanh mục hàng từ 1200 đến 1400 chủng loại thì dân cư thường chỉ mua từ 200 đến 300 loại Điều này dặt ra một
số vấn đề cho Siêu thị IMS
Số lượng hàng hoá được thay đổi ở quy mô lớn hơn vấn đề tồn kho để chuẩn bị bán hàng đòi hỏi kho hàng chứa giữ
Về sức mua ở các mặt hàng tiêu thụ mạnh phải gánh chịu về vốn đối với các mặt hàng khác cho nên đòi hỏi Siêu thị IMS phải có chính sách ký gửi hay công tác riêng cho từng đối tác cung cấp hàng hoá
Những mặt hàng ít bán chạy có tính chất hướng dẫn người mua lựa chọn, đồng thời các mặt hàng kiểu này có cả ở mấy loại hàng sau: Thực phẩm, quần
áo, gia dụng, cao cấp Hay cụ thể hơn trong một kiểu loại bánh kẹo cũng chỉ có
1 hoặc 2 loại tiêu thụ được Nếu chính sách sản phẩm của Siêu thị IMS chú trọng đến các mặt hàng tiêu thụ mạnh mà không tìm tòi các sản phẩm mới sẽ phải chạy theo đuôi thị trường
Trên cơ sở đặc tính dân cư và cơ cấu mặt hàng thì cơ cấu hàng hoá trong Siêu thị IMS bao gồm các mặt hàng sau:
Dụng cụ gia đình
thực phẩm
Hoá phẩm thông thường
Hàng may mặc
Hàng dép da, giả da
Hàng phục vụ trẻ em
Mỹ phẩm cao cấp
Rượu bia các loại
2.1.3 trang thiết bị phục vụ khách hàng.
Ai đã hằng đi chợ siêu thị một lần sẽ còn muốn đi lần thứ hai và dần dần
sẽ trở thành một nhu cầu không thể thiếu được Người ta đến với siêu thị vì ở đây có thể tìm thấy tất cả thú vui, đặc biệt đi siêu thị được ngắm nhìn hàng trăm ngàn mặt hàng khác nhau, được cầm trong tay ngắm nghía, ướm thử các món hàng được lựa chọn thoải mái trước khi quyết định mua một mặt hàng nào đó
Đi chợ siêu thị là để mua sắm, nhưng khi nó đã trở thành thú vui thì đối với rất nhiều người đơn giản là đi dạo chợ thư giãn sau một ngày làm việc căng thẳng
Khi khách hàng bước vào cửa hàng, khách sẽ có cảm giác thoải mái trong một không gian thoáng mát, lịch sự, hàng hoá được trưng bày gọn gàng, đẹp
Trang 6mắt có mỹ thuật, khác hẳn với không khí động bức, chật chội, ồn ào Khách hàng có điều kiện tiếp cận hàng hoá ở trên kệ hàng, giá hàng để có thể dễ dàng chọn lựa trước khi quyết định mua, do hàng bán được sắp xếp gọn gàng trên các dẫy, kệ hàng nhiều tầng có lối đi thông thoáng khác với cách mua bán hiện nay, khách hàng đứng bên ngoài quầy sạp rất e ngại khi yêu cầu chủ hàng cho xem hàng hoá
Trang thiết bị phục vụ bán hàng, bày hàng đóng vai trò rất quan trọng trong các siêu thị vì đây là hình thức bày bán khác hẳn so với các cửa hàng bách hoá, các chợ khác Kinh nghiệm cho thấy hàng hoá nên bày đặt trên các giá hàng , kệ hàng ngang tầm mắt thì bán chạy hơn nhiều Độ cao lý tưởng khoảng 1,2 - 1,4m
Mục tiêu của các siêu thị là đạt doanh số cao và lợi nhuận lớn Để đạt mục tiêu này người ta phải bày hàng như thế nào đó để bán được nhiều hàng hoá có tỷ suất lợi nhuận cao và bán thật nhanh những hàng khó bảo quản Hai tiêu thức này là hai tiêu thức cơ bản để chọn các mặt hàng cho những vị trí bày hàng ưu tiên
Đối với Siêu thị IMS diện tích của cửa hàng chỉ đạt khoảng 200m2, như vậy còn rất chật hẹp so với một số các siêu thị khác Hàng hoá được tập trung vào 4 quầy : Quầy thực phẩm, quầy mỹ phẩm, quầy tổng hợp, quầy gia dụng
Tổng số các mặt hàng vào khoảng 3000mặt hàng được bày đặt trên các giá hàng rất ngăn nắp và đẹp mắt
Bày hàng là một nghệ thuật muốn hàng bán chạy thì phải trình bày cho hấp dẫn, khêu gợi sọ chú ý và kích thíc ý muốn mua hàng của khách Các giá để hàng cần sắp xếp sao cho người qua lại dễ thấy, đồng thời luôn tạo cho người ta
lý do dừng lại ngắm nghía và vào mua Nên đem đời sống vào tủ kính bán hàng:
có thể bày thêm búp bê, bình hoa, các tranh ảnh đẹp, với sự dàn cảnh hấp dẫn để
“nhử” khách qua đường vô cửa hàng mình
Kinh nghiệm cho thấy trình bày nhiều chủng loại, kiểu dáng, kích cỡ bày nhiều hàng, giá hàng, kệ hàng luôn đầy ắp hàng thường bán chạy hơn
Sau đây là một số kết luận quan trọng để phục vụ cho việc sử dụng các trang thiết bị bày hàng trong các siêu thị:
Khi đi, đa số mọi người đều nhìn phía bên phải nhiều hơn là bên trái
Tầm nhìn thuận tiện cho khách hàng là hơi chếch xuống (thông thương, đối với đường đi hẹp trong cửa hàng và đối với khổ người không cao như người Việt Nam thì tầm nhìn là 0,8 - 1,3m sau đó là ở khoảng thấp hơn, cuối cùng là khoảng cao hơn)
Trang 7 Trong khi đi “dạo” trong cửa hàng, khách hàng thường nhìn bằng cách
“quét” chứ không nhìn chăm chú ngay vào mặt hàng nào Khi quét như vậy nếu gặp phải một màu sắc đặc biệt (ví dụ : một màu phản quang) thì họ sẽ dừng lại tại điểm đó mà quan sát kỹ hơn mặt hàng này
Đối với một cửa hàng thì diện tích bày hàng là một trong những yếu tố quan trọng, vì thế việc trưng bày hợp lý các chủng loại hàng hoá sao cho tiết kiệm được diện tích và “khoe” được những mặt hàng quan trọng là một công việc hết sức cần thiết
2.1.4 Trang thiết bị phục vụ quản lý.
Siêu thị IMS được trang bị một máy tính tiền, bấm phím nhưng không nối mạng được với máy vi tính kiểm soát được hơn 1200 mặt hàng chiếm khoảng 40% lượng mặt hàng luôn chuyển qua Máy này chỉ làm được phép cộng đơn giản số hàng đã bán trong ngày và phần nào làm cho khách hàng thấy
ở đây có vẻ giống 1 siêu thị
Những hàng không nạp được vào máy phải ghi bằng tay, xẩy ra tình trạng ghi nhầm mã, nhầm giá, thu thiếu tiền, quên không ghi hoặc không kịp ghi nhất
là những lúc đông khách khách hàng kêu ca, nội bộ nghi ngờ nhau Nhân viên bán hàng suốt ngày phải theo dõi, sợ thu ngân sai sót, bỏ vị trí bán hàng, nhân viên kế toán và văn phòng lo rà soát đối chiếu tốn rất nhiều công sức Trung tâm thương mại đã cử 1 người chuyên môn thống kê cộng hàng bán được hàng ngày trên cơ sở báo cáo thu ngân
Công ty đã trang bị cho trung tâm một phần mềm Phần mềm này không nối với máy tính tiền, trung tâm thương mại chưa áp dụng được, một phần là do không nối mạng dược với máy tính tiền, phần mềm không phát huy được tác dụng hơn dùng máy vi tính thông dụng, trong khi trung tâm thương mại cần phải có được số liệu thông kê báo cáo phục vụ quản lý kịp thơì hàng tháng Hiện nay muốn sử dụng phần mềm này nối với máy tính tiền cần phải có một phần mềm khác bổ xung đưa phần mềm này hoà mạng với máy tính tiền, trị giá hơn 1.000USD
Trang thiết bị phục vụ quản lý siêu thị đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý hàng, tiền hàng bán trong ngày
Đối với hình thức kinh doanh siêu thị như hiện nay cần thiết phải có trang
bị về hệ thống mã vạch, niêm yết giá, máy tính tiền, camera thực hiện các quy định về phòng cháy chữa cháy
2.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SIÊU THỊ IMS
2.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty XNK chuyên gia lao động và kỹ thuật.
Trang 8Công ty XNK chuyên gia lao động và kỹ thuật được thành lập với tên ban đầu là ban phối hợp, điều hành công tác hợp tác chuyên gia với nước ngoài của Hội đồng Bộ trưởng Ban hợp tác chuyên gia của HBBT gia đời theo quyết định
16 /CT ngày 12-1- 1984 của Chủ tịch HĐBT (nay là Chính phủ) là cơ quan giúp việc chủ tịch HĐBT đặt tại văn phòng HĐBT Nhiệm vụ chính của ban chuyên gia là tham mưu cho HĐBT về công tác hợp tác chuyên gia với nước ngoài Quản lý nhà nước phối hợp với các bộ, ngạch trong việc xây dựng chế độ chính sách, đàm phán ký kết hợp đồng, cử và quản lý chuyên gia tại các nước phi XHCN có nhu cầu cần chuyên gia, kỹ thuật cao của Việt Nam trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế nông nghiệp, xây dựng, thuỷ lợi
Về cơ cấu tổ chức của ban hợp tác chuyên gia của HĐBT rất gọn nhẹ gồm 7 - 10 cán bộ cùng đại diện các bộ ngành như y tế, nông nghiệp, giáo dục, đại học và trung học chuyên nghiệp với việc phát triển mạnh của hoạt động hợp tác chuyên gia từ sau năm 1985 số cán bộ của Ban tăng lên từ 27 -30 người, với hình thức tổ chức làm việc theo chế độ chuyên viên Các cán bộ làm việc có tính chất độc lập theo định hướng của lãnh đạo
Từ năm 1989 với chủ trương của đảng và Nhà nước với đường lối đổi mới của Đảng trong nên kinh tế thị trường Ban hợp tác chuyên gia HĐBT được chuyển về trực thuộc Bộ kinh tế đối ngoại( nay là Bộ thương mại) với tên gọi Liên đoàn hợp tác kỹ thuật và chuyên gia với nước ngoài
Nhiệm vụ chủ yếu như Ban hợp tác chuyên gia và còn hoạt động nhập khẩu hàng hoá phục vụ cho chuyên gia, lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài
Năm 1992 thực hiện nghị định 388/CP của Chính phủ về việc thành lập lại doanh nghiệp Nhà nước căn cứ vào thông báo 70 ngày 16 -3-1993 về việc Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho phép thành lập doanh nghiệp Nhà nước, Bộ thương mại có quyết định 343 - TM-TCCB ngày 31- 3- 1993 về việc thành lập công ty XNK chuyên gia lao động và kỹ thuật -tên giao dịch Quốc tế:EXPORT
- IMPORT AND INTERNATIONAL MANPOWER SUPPLY COMPANY viết tắt là IMS Công ty chịu sự quản lý toàn diện của Bộ thương mại về hoạt động dịch vụ XK lao động chuyên gia, công ty chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Công ty có trụ sở chính tại H2A Nam Thanh Xuân Hà Nội, phía nam, Công ty có văn phòng đại diện tại 178 Điện Biên Phủ quận 3 thành phố Hồ Chí Minh
Công ty là hội viên chính thức của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam từ năm 1992
* chức năng nhiệm vụ của Công ty IMS.
Trang 9Công ty IMS là một doanh nghiệp Nhà nước, có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập có trụ sở và con dấu riêng để giao dịch
- Chức năng của Công ty
+ Trực tiếp xuất khẩu chuyên gia, lao động và kỹ thuật với nước ngoài + XNK trực tiếp hàng hoá và kinh doanh dịch vụ
+ Hợp tác đầu tư liên doanh liên kết sản xuất và làm dịch vụ có liên quan đến hoạt động ngành kinh doanh của Công ty
+ Kinh doanh hàng hoá nội địa có kết hợp với bán buôn và bán lẻ
* Nhiệm vụ:
- Xây dựng và thực hiện có hiệu quả các kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty phù hợp với chính sách cơ chế hiện hành của Nhà nước
- Quản lý vốn và tạo nguồn vốn
- Tuân thủ các chính sách chế độ quản lý kinh tế, quản lý XNK và giao dịch đối ngoại của Nhà nước
Thực hiện cam kết trong các hợp đồng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của Công ty ở trong nước cũng như nước ngoài
- Làm tốt công tác bảo vệ an toàn lao động
* Đặc điểm kinh doanh của Công ty IMS
Công ty IMS là một doanh nghiệp trực thuộc Bộ thương mại , hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (XNK) mới chỉ bắt đầu từ năm 1988, so với các các công ty doanh khác trong Bộ thương mại thì Công ty IMS chưa có bề dầy về kinh nghiệm cũng như bạn hàng trong nước và ngoài nước Được thành lập trong thời kỳ đổi mới chính sách của đảng và nhà nước, Công ty IMS là một doanh nghiệp thương mại công ty được phép XNK trực tiếp hàng hoá bán buôn
và bán lẻ, ngoài ra Công ty còn XNK uỷ thác cho các thành phần kinh tế không
có chức năng kinh doanh XNK doanh số hàng năm của Công ty đạt hàng năm
từ 15 đến 25 tỷ đồng trong các hoạt động XNK, bán buôn, bán lẻ trong nước, hàng hoá nhập khẩu uỷ thác và xuất khẩu chuyên gia, lao động Riêng trong lĩnh vực xuất khẩu chuyên gia, lao động Công ty IMS thực hiện theo nghị định 07 /
CP của chính phủ ban hành năm 1992, dịch vụ phí thu được cho phép từ 8% đến 12% lương tháng của người lao động và cũng là lãi gộp của Công ty Hoạt động kinh doanh của các bộ phận trực thuộc Công ty đều phải thực hiện thông qua phương án kinh doanh và được ban giám đốc phê duyệt, đảm bảo có lãi Nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp và nghĩa vụ đối với nhà nước - phương châm kinh doanh của Công ty đối với khách hàng và bạn hàng luôn giữ chữ
“tín”, hàng hoá XNK và kinh doanh nội địa phải đảm bảo đúng quy cách, phẩm
Trang 10chất, hàng nhập khẩu phải có giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá, chất lượng hàng hoá Công ty không kinh doanh buôn bán hàng giả hàng kém phẩm chất Đối với hoạt động kinh doanh nội địa nhằm tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu, và hàng tự khai thác kinh doanh được tiêu thụ do Trung tâm thương mại IMS đảm nhận