Với sự phân tích về các vấn đề cơ bản của phép biện chứng duy vật, “Bút ký triết học” giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng lý luận mác-xít về chủ nghĩa đế quốc, phát triển lý luận
Trang 1GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “BÚT KÝ TRIẾT HỌC” CỦA V.I.LÊNIN (V.I LÊNIN TOÀN TẬP - TẬP 29 - NXB TIẾN BỘ - MÁTXCƠVA
1981)
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.
- Tác phẩm này được Lênin viêt trong thời kỳ “chiến tranh thế giới lần thứ nhất” Thời đại mà những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc gay gắt đến cực độ, khủng hoảng và cách mạng đã chín muồi Đây là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa phép biện chứng duy vật với tính chất của chủ nghĩa đế quốc, của chiến tranh phi nghĩa, của sự nguỵ biện chiết trung, chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa sô vanh bởi các thủ lĩnh Quốc tế II Trước yêu cầu lịch sử phải bảo vệ và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác, Lênin đã viết tác phẩm này
- Đa số những ghi chú trong tác phẩm này, lần đầu tiên được công bố năm
1929 - 1930 trong văn tập Lênin toàn tập - tập 9 và tập 11 Nó được in thành tác phẩm “Bút ký triết học” năm 1933 - 1947 Năm 1958 được in thành tập 38 trong Lênin toàn tập tái bản lần thứ tư
- Cấu tạo trong các lần xuất bản trên là không giống nhau, trong đó nội dung tập 38 xuất bản năm 1958 là đầy đủ hơn cả Lần xuất bản này (tập 29 trong Lênin toàn tập - nhà xuất bản Tiến Bộ - Mátxcơva 1981- Tiếng Việt) so với tập
38 có bổ sung một số nội dung ở phần III và có lược bỏ một số ghi chép trong
“Bút ký về chủ nghĩa đế quốc” không có ở phần 2 vì đã đưa vào tập 28
- Về thứ tự sắp xếp tài liệu của cuốn sách tập 29 cũng khác trước đây Lần này tài liệu được sắp xếp theo trình tự thời gian (được xác định gián tiếp vì Lênin không ghi ngày tháng năm)
- Tác phẩm có ý nghĩa rất lớn:
a Với sự phân tích về các vấn đề cơ bản của phép biện chứng duy vật,
“Bút ký triết học” giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng lý luận mác-xít về chủ nghĩa đế quốc, phát triển lý luận cách mạng Xã hội chủ nghĩa, phát triển học thuyết về nhà nước, chiến lược, sách lược của Đảng
b Không nắm được “Bút ký triết học” thì không hiểu được toàn bộ việc Lênin tiếp tục phát triển triết học Mác trong các tác phẩm sau này như: “Nhà nước và cách mạng”, “Lại bàn về công đoàn”, “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”, “Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu”
c “Bút ký triết học” chỉ ra những con đường phát triển hơn nữa của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và lịch sử khoa học của triết học
d Phép biện chứng duy vật được Lênin trình bày trong “Bút ký triết học”
có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng để nghiên cứu các quy luật xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, phân tích những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản hiện đại, xác định sách lược của phong trào cộng sản quốc tế trong điều kiện hiện nay
và đấu tranh chống triết học tư sản, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại cũng như chủ nghĩa giáo điều
Trang 2II Bố cục của tác phẩm.
Ngoài lời tựa 30 trang, chú thích và các bản chỉ dẫn cùng mục lục 184 trang, nội dung của cuốn sách chứa đựng trong 750 trang được chia thành ba phần:
- Phần I Các bản tóm tắt và các đoạn trích gồm 397 trang với các bài viết:
+ Bản tóm tắt “Gia đình thần thánh“ của C.Mac và F.Enghen (1895)
+ Bản tóm tắt “Những bài giảng về bản chất tôn giáo” của Ludwig Feuerbach (1909)
+ Bản tóm tắt “Trình bày, phân tích và phê phán triết học của Lai-bni-txơ” của Ludwig Feuerbach (1914 - 1915)
+ Bản tóm tắt “Khoa học lôgíc” của Heghen (1914 - 1915)
+ Bản tom tắt “Những bài giảng về lịch sử triết học” của Heghen (1914 - 1915)
+ Bản tóm tắt “Những bài giảng về triết học của lịch sử” của Heghen (1914 - 1915)
+ Bản tóm tắt “Lôgíc học của Heghen” của Noen (1914 - 1915) + Bản tóm tắt “Triết học của Hêraclít bí ẩn ở Êphexơ” của Látxan (1914 - 1915)
+ Bản tóm tắt “Phép siêu hình” của Arixtốt (1914 - 1915)
- Phần II Những ghi chú về các sách các bài báo và các bài phê bình gồm 36 trang với các bài:
+ Ph I-béc-vếch “Khái luận về lịch sử triết học” (1903)
+ Ph Pôn-sen “Nhập môn triết học” (1903)
+ Ghi chú về bài phê bình cuốn sách của E Hếch-ken “Những cái
kỳ diệu của cuộc sống” và “Bí ẩn của vũ trụ” (1904)
+ Trích các cuốn sách viết về khoa học tự nhiên triết học của thư viện Xoóc-bon (1909)
+ Trích tập bút ký “Thống kê nông nghiệp Ao và những cái khác” (1913)
+ Trích “Bút ký về triết học” (1914 - 1915)
+ Trích “Bút ký về chủ nghĩa đế quốc” (có lược bớt so với tập 38;
1915 - 1916)
- Phần III Những ý kiến và bút tích ghi trong các trang sách gồm
315 trang với các bài viết:
+ Đítxơghen “Tập luận văn ngắn về triết học” (phần bổ sung mà tập
38 không có, 1908 - 1911)
Trang 3+ G.V.Plêkhanốp “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác” (1908
- 1911)
+ V.Suliaticốp “Sự biện hộ cho chủ nghĩa tư bản trong triết học Tây
Âu từ Đêcáctơ đến E.Makhơ” (1908 - 1911)
+ A.Rây “Triết học hiện đại” (1908 - 1911)
+ A.Đêbôrin “Chủ nghĩa duy vật biện chứng” (1908 - 1911)
+ G.V.Plêkhanốp “N.G.Tsecnưsepxky” (1908 - 1911)
+ I.U.M.Xtêclốp “N.G.Tsenưsepxky, cuộc đời và hoạt động của ông 1828 - 1889” (phần bổ sung mà tập 38 không có, 1908 - 1911)
III Các nội dung cơ bản về triết học của các chương trong tác phẩm.
1 Phần I Các bản tóm tắt và các đoạn trích (03 - 400).
a) Ở bản tóm tắt “Gia đình thần thánh” của C.Mac và F.Enghen (Tr 3
-46) Tên tác phẩm này của C.Mac và F.Enghen là “Gia đình thần thánh, hay phê phán sự phê phán có tính chất thần thánh” viết năm 1845 Ở phần tóm tắt này Lênin chú ý xem xét sự hình thành thế giới quan của C.Mac và F.Enghen Lênin nhận xét: C.Mac và F.Enghen đã đi từ triết học Heghen đến chủ nghĩa xã hội
-sự chuyển biến đó là rất rõ ràng C.Mác và F.Enghen đã hình thành quan điểm
về vai trò của cách mạng vô sản (Tr11), có quan điểm duy vật khi phân tích ý thức xã hội C.Mác và F.Enghen đã có luận điểm hết sức quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội là hoạt động lịch sử - hoạt động này là sự nghiệp của quần chúng - càng vững mạnh thì khối lượng quần chúng càng tăng lên C.Mac và F.Enghen đã phê phán đối với các quan hệ xã hội tư sản và triết học Heghen, đồng thời ở tác phẩm này hai ông cũng đã tiến hành phê phán, đánh giá đối với chủ nghĩa duy vật trước đó, mà quan trọng nhất của sự phê phán đối với chủ nghĩa duy vật trước đó là phần “Cuộc chiến đấu phê phán chống lại chủ nghĩa duy vật Pháp” Ở đây, C.Mac đã vạch rõ cách mạng vô sản là kết luận lôgíc rút ra từ toàn bộ sự phát triển lịch sử của triết học duy vật
Cũng trong phần này, Lênin đã tiến hành phê phán phái Heghen trẻ là duy tâm chủ quan về xã hội, có những tư tưởng phản động về vai trò của quần chúng nhân dân và vĩ nhân lãnh tụ trong lịch sử Lênin cũng nêu ra kết luận của C.Mac chống phái Heghen trẻ là: Không thể nhận thức được hiện thực lịch sử, nếu đã loại trừ khỏi nó mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn, giữa người với tự nhiên, giữa khoa học tự nhiên với công nghiệp, giữa phương thức sản xuất với đời sống (Tr 38 - 39)
Chính Lênin đã dựa vào kinh nghiệm của C.Mác và F.Enghen chống phái Heghen trẻ để chống lại phái “dân tuý” Nga trên những luận điểm sai trái của phái này về tính thụ động của quần chúng nhân dân, của đám đông trước sự anh hùng, quyết định của cá nhân vĩ nhân lãnh tụ
Trang 4b) Ở bản tóm tắt tác phẩm ”Những bài giảng về bản chất tôn giáo” của
Ludwig Feuerbach viết năm 1851, Lênin chủ yếu chú ý đến quan điểm duy vật
của Ludwig Feuerbach về tự nhiên và những tính quy luật khách quan của nó, sự phê phán của Ludwig Feuerbach đối với chủ nghĩa duy tâm , tôn giáo và sự luận chứng của ông về chủ nghĩa vô thần Lênin cho rằng, ở đây Ludwig Feuerbach mới chỉ phôi thai, mầm mống chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội mà thôi Hạn chế của Ludwig Feuerbach ngay trong thời gian 1848 - 1851 so với C.Mac
là ông ta đã không hiểu cuộc cách mạng 1848 Định nghĩa về giới tự nhiên của Ludwig Feuerbach rõ ràng nhưng không sâu sắc Định nghĩa của F.Enghen sâu sắc hơn và làm rõ sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm (Tr 54) Chủ nghĩa duy vật của Ludwig Feuerbach có nhiều hạn chế và chật hẹp cuả thuật ngữ ”nguyên lý nhân bản trong triết học” Nguyên lý nhân bản và chủ nghĩa tự nhiên của Ludwig Feuerbach chỉ là sự mô tả chủ nghĩa duy vật một cách không chính xác và yếu ớt (Tr 76)
c) Bản tóm tắt tác phẩm “Trình bày, phân tích và phê phán triết học của
Laibnitxơ” của Ludwig Feuerbach viết năm 1847 Lênin chú ý đến sự chuyển
hoá từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật của Ludwig Feuerbach Đặc biệt Lênin chú ý sự trình bày tỷ mỷ của Ludwig Feuerbach về hệ thống triết học phức tạp của nhà tư tưởng vĩ đại Đức ở thế kỷ XVIII Laibnitxơ
Laibnitxơ (1646 - 1716) là một nhà triết học, một bác sỹ, một nhà hoạt động xã hội Đức Ông là người có cống hiến cho sự phát triển toán học, là một trong những người sáng lập ra phép tính vi phân Ngoài ra ông còn nghiên cứu vật lý, địa lý, sinh học, sử học, ngôn ngữ và là người sáng lập ra lôgic toán hiện đại
Về triết học, ban đầu Laibnitxơ là nhà duy vật máy móc Sau đó ông chuyển sang duy tâm khách quan Với “Thuyết đơn tử” 1714 ông coi vật chất không là một thực thể vì nó có quảng tính nên nó có thể phân chia được Thực thể phải rất đơn giản: Đơn tử là thực thể tinh thần không thể phân chia Thế giới
có nhiều đơn tử, mỗi đơn tử đều có tri giác và khát vọng của mình, các đơn tử không tác động qua lại lẫn nhau nhưng đồng thời tạo ra cái thống nhất của thế giới Thế giới được điều khiển nhờ sự hoà hợp tiền định của các đơn tử tối cao
Về nhận thức luận, ông là nhà duy lý duy tâm Ông cho rằng tiêu chuẩn của chân lý là tính rõ ràng, rành mạch, không mâu thuẫn của tri thức Để kiểm tra chân lý chỉ cần các quy luật lôgíc của Arixtốt là đủ Về xã hội, ông có tư tưởng điều hoà giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến Đức
Ở trong tác phẩm của mình, Ludwig Feuerbach nhận định Laibnitxơ là duy tâm về vật chất (Tr81) Lênin cũng chú ý đến tư tưởng biện chứng của Laibnitxơ Người đánh giá cao tư tưởng biện chứng này mặc dù nó có chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa thầy tu (Tr 83) Người chú ý đến sự phê phán duy lý của Laibnitxơ đối với chủ nghĩa kinh nghiệm của Lôccơ; Lốccơ (1632 - 1704) là người tiếp tục kinh nghiệm luận của F.Bêcơn nhưng có bổ sung thêm đặc biệt là trong nhận thức luận Ông là nhà triết học nhị nguyên, là điểm xuất phát cho hai
Trang 5trào lưu triết học Duy vật Pháp với các đại biểu Điđơrô, Hônbách và Duy tâm chủ quan Anh với đại biểu là Beccơly Nếu F.Bêcơn nói mọi nhận thức đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, thì J.Lôccơ bổ sung thêm: mọi kinh nghiệm đều bắt nguồn từ cảm giác Lôccơ phủ nhận tư tưởng về sự tồn tại của tư tưởng bẩm sinh của Đề-các Ông coi tập hợp của tất cả những kinh nghiệm sẽ làm xuất hiện đời sống tâm lý, đời sống tư tưởng của con người Do không giải thích triệt để mối liên hệ giữa “đặc tính có trước “ và “đặc tính có sau” mà lý luận của ông về “đặc tính có trước và đặc tính có sau của đối tượng nhận thức” bị Beccơly lợi dụng để luận giải về tính chất chủ quan trong sự tồn tại của các đối tượng nhận thức
Lênin cũng chỉ ra sự giống nhau giữa tư tưởng của Laibnitxơ và Cant Cant (1732 - 1804) là nhà triết học nhị nguyên, duy tâm chủ quan và bất khả tri Trước 1770, ông là nhà vật lý với hai phát kiến vĩ đại: Giả thuyết về sự hình thành của vũ trụ từ những hạt bụi vật chất; Giả thuyết khoa học về sự lên xuống của nước thuỷ triều do tác động của sức hút mặt trăng với trái đất Sau 1770 triết học của ông chịu ảnh hưởng nhiều triết học của Hium, Lepnit và Vônphơ Ông coi “lực thuần tuý” mới là nguyên nhân và nguyên nhân vận động của vũ trụ Ông kết hợp triết học duy vật siêu hình và triết học duy tâm duy lý của thế kỷ XVII làm một Lý luận về bất khả tri của ông đối với “vật tự nó” và lý luận nhận thức của Cant là sự phủ nhận khả năng nhận thức của con người đối với thế giới
d) Trọng tâm của phần này và cũng là trọng tâm của tập 29 chính là
những tóm tắt các tác phẩm của Heghen (Tr 93 - 346) Lênin tóm tắt các tác
phẩm chính của Heghen “Khoa học lôgíc”, “Những bài giảng về lịch sử triết học”, “Những bài giảng về triết học của lịch sử” Hêghen (1770 - 1832) Triết học của ông xét về hệ thống là duy tâm khách quan có kết cấu siêu hình Ông thừa nhận lực lượng tinh thần là cái có trước Giới tự nhiên là cái có sau, phụ thuộc, là phát sin từ thinh thần khách quan Ông cũng thừa nhận phát triển có tận cùng, là lắp lại cái ban đầu theo quy tắc vòng tròn khép kín Ông cũng coi giới
tự nhiên không vận động phát triển về mặt thời gian mà chỉ vận động phát triển
về mặt không gian - tức chỉ tăng về số lượng trong không gian mà thôi.Tuy nhiên hạt nhân hợp lý trong triết học Hêghen chính là phép biện chứng Có thể nói, dù duy tâm và thiếu triệt để nhưng những vấn đề cơ bản cốt lõi nhất của phép biện chứng hiện đại đã được đề cập đến một cách bao quát và có nhiều điểm sâu sắc
- Ở đây Lênin phê phán chủ nghĩa duy tâm và hạn chế về lịch sử của triết học Heghen là “sự nhượng bộ của chủ nghĩa thần bí”, là “trò chơi những loại suy trống rỗng”, là “sự phản bội lại sự phát triển” và chỉ ra “cái hạt nhân hợp lý sâu sắc trong cái vỏ thần bí của chủ nghĩa Heghen” (Tr 164) Lênin loại bỏ thượng đế, ý niệm tuyệt đối, ý niệm thuần tuý và chủ nghĩa duy vật lộn ngược của Heghen, phát hiện ra ý nghĩa chân chính của lôgíc của Heghen, nhìn thấy
“suối lửa” chảy từ chủ nghĩa duy tâm khách quan sang chủ nghĩa duy vật (Tr 177), vạch ra những phôi thai của quan niệm duy vật của Heghen không chỉ về giới tự nhiên mà cả về lịch sử nữa
Trang 6- Lênin đánh giá: trong “Khoa học lôgíc” Heghen tiến gần hơn cả đến chủ nghĩa duy vật biện chứng, còn trong triết học lịch sử ông đứng cách xa nhất với chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong triết học lịch sử, C.Mac và F.Enghen đã tiến một bước lớn nhất, còn Heghen là già cỗi và trở thành một thứ
đồ cổ (Tr 344 - 345)
- Ở phần này, Lênin hiểu rõ và phát triển theo quan điểm duy vật những quy luật và những phạm trù cơ bản của phép biện chứng, vạch ra mối liên
hệ lẫn nhau giữa chúng, xác định tương quan giữa phép biện chứng, lôgíc học và
lý luận nhận thức:
+ “Sự kế tục sự nghiệp của Heghen và của C.Mac phải là sự xây dựng một cách biện chứng lịch sử của tư tưởng loài người, của khoa học và kỹ thuật” (Tr 156)
+ Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng, những mặt đối lập làm thế nào mà trở thành đồng nhất (Tr 116)
+ Phép biện chứng là sự phản ánh chính xác sự phát triển vĩnh viễn của thế giới (Tr 118)
+ Biện chứng của sự vật, hiện tượng sản sinh ra biện chứng của ý niệm chứ không phải ngược lại (Tr209)
+ Phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập (tr 240)
+ Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển
+ Phép biện chứng là sự nghiên cứu mâu thuẫn ngay trong bản chất của các đối tượng (Tr 268)
e) Trong bản tóm tắt sách của Gioóc giơ Noen “Lôgíc học của
Heghen” (Tr 347 - 354), Lênin nêu rõ tác giả là người duy tâm chủ nghĩa không
có tài: “Không một lời về phép biện chứng duy vật, chắc chắn là tác giả không
có một khái niệm gì về phép biện chứng duy vật cả” (Tr347) Sự phê phán của Noen là sự phê phán của nhà duy tâm nhỏ đã tầm thường hoá phép biện chứng của Heghen
f) Trong bản tóm tắt sách của Látxan “Triết học của Hêraclít - bí
ẩn ở Ephexơ” viết 1858 (Tr 361 - 377) Phéc-đi-năng Latxan (1825 - 1864) là
nhà hoạt động phong trào công nhân Đức Trong tư tưởng của mình, ông muốn lập ra một chủ nghĩa cơ hội mới, từ bỏ đấu tranh giai cấp, coi nhà nước là tổ chức siêu giai cấp, thoả hiệp với giai cấp phong kiến Đức Ông giải thích một cách kinh viện đối với triết học Hêghn để biện hộ cho đường lối chính trị cơ hội của mình Ông theo chủ nghĩa Man-tuýt ( Man-tuýt 1766 - 1834 là một linh mục Anh, lầ người nêu ra quy luật dân số siêu lịch sử Theo đó ông quan niệm dân số tăng theo cấp số nhân, tư liệu sản xuất tăng theo cấp số cộng rồi từ đó rút ra những mâu thuẫn của xã hội, và ông cho rằng chỉ có thể khắc phục những mâu thuẫn đó bằng ngăn ngừa tăng dân số, bằng thể chế hoá hôn nhân, điều chỉnh sin
Trang 7đẻ) coi mọi cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi nâng cao tiền lương đều
là vô nghĩa Latxan bị C.Mac và F.Enghen kịch liệt phê phán trong tác phẩm
“Phê phán cương lĩnh Gotha”
Lênin chỉ rõ tại sao C.Mac gọi tác phẩm này là “bài làm của học sinh”: Latxan chỉ nhắc lại, cóp lại Heghen về Hêracơlít “Nhồi nhét vào tác phẩm của mình cả cái đống học vấn cực kỳ thông thái rởm không thể tưởng tượng được” (Tr 363)
Lênin cũng chỉ ra, C.Mac đã đi từ Heghen đến Ludwig Feuerbach và đi qua Ludwig Feuerbach đến chủ nghĩa duy vật biện chứng khi tiếp cận triết học của Hêracơlít (Tr363 - 364) Đồng thời Lênin trách Latxan đã để trong bóng tối chủ nghĩa duy vật hoặc những khuynh hướng duy vật của triết học Hêracơlít (Tr 376)
g) Kết thúc phần này là bản tóm tắt tác phẩm “Phép siêu hình”
của Arixtốt gồm hai tập in năm 1847 (Tr 387 - 397) Ở đây Lênin nhận xét,
Arixtốt đã “đề cập đến tất cả, tất cả các phạm trù” (Tr 389), ông ta đã cố gắng tìm tòi và tiến gần đến phép biện chứng khách quan thông qua sự phê phán của ông ta đối với chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn Arixtôt là người đặt nền móng đầu tiên cho môn lôgic hình thức Ở đây những quy luật cơ bản của tư duy hình thức đã được ông nêu lên và có giá trị đến ngày nay: quy luật đồng nhất, quy luật không mâu thuẫn, quy luật bài trung Lênin cũng chỉ ra tính phức tạp của quá trình nhận thức, sự phân đôi của nhận thức, tính khả năng của chủ nghĩa duy tâm tôn giáo có trong cái trừu tượng đầu tiên, và chỉ ra lợi ích của tưởng tượng, của ước mơ trong khoa học chính xác (Tr 394 - 395)
h) Ngoài các nội dung trên, phần I Lênin còn trình bày hai đoạn
trích “Dàn mục phép biện chứng (Lôgíc) của Heghen” và “Về vấn đề phép biện chứng” (Tr 355 - 360) Ở đây, Lênin đã chỉ ra đặc trưng của quá trình nhận thức,
vạch ra mối tương quan giữa lôgíc học, phép biện chứng và lý luận nhận thức Người chỉ rõ sự đối lập của quan niệm biện chứng và quan niệm siêu hình về sự phát triển; phân tích các quy luật và các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng; các quy luật phát triển lịch sử; và lôgíc của nhận thức, chỉ rõ về nguồn gốc giai cấp (xã hội) và nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy tâm
Ở đoạn trích “về vấn đề phép biện chứng” (Tr 359 - 360) tuy không lớn, nhưng là sự khái quát có một không hai về chiều sâu và sự phong phú của tư tưởng đối với toàn bộ cái chủ yếu và cái cơ bản tạo nên nội dung của phép biện chứng duy vật: Lôgíc, Phép biện chứng và lý luận nhận thức là thống nhất ở C.Mac trong chủ nghĩa duy vật khoa học nhất Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã lấy ở Heghen tất cả những gì có giá trị và phát triển thêm lên
2 Phần II Những ghi chú về các sách, các bài báo và các bài phê bình (401 - 436).
Trong phần này, Lênin coi khoa học tự nhiên là lĩnh vực quan trọng nhất trong nhận thức của loài người, sự phát triển của nhận thức phụ thuộc vào thực
Trang 8tiễn và kỹ thuật Lênin cũng chỉ ra tính chất biện chứng của sự phát triển nhận thức (Tr 381 - 382) Lênin cũng giải thích quá trình phức tạp của sự nhận thức các quy luật tự nhiên chứa đựng những nguồn gốc của việc giải thích chúng một cách duy tâm; Lênin cũng đề cập đến một số nhà khoa học tự nhiên đã từ bỏ chủ nghĩa duy vật
Về nguồn gốc, nguyên nhân của chủ nghĩa duy tâm hiện đại trong vật lý
và khoa học tự nhiên (Tr 423), Lênin cho rằng vì các nhà khoa học tự nhiên không nắm, không hiểu biết chủ nghĩa duy vật biện chứng hiện đại, không hiểu biết phép biện chứng duy vật
Ở đây, Lênin cũng nghiên cứu những vấn đề riêng lẻ của sự phát triển của nhận thức khoa học tự nhiên: Tính vô hạn của vật chất; bản chất của không gian, thời gian; Ý nghĩa của những trừu tượng toán học; Vai trò của các ký hiệu trong toán học
3 Phần III Những ý kiến và bút tích ghi trong các sách (437-503).
Phần này gồm những đoạn trích từ các sách của Đítxơghen, Plêkhanốp, Suliaticốp, Arây, Xtêclốp và Đêbôrin với những ý kiến của Lênin
- Thông qua việc đánh giá các tác giả trên, Lênin đề cập đến nhiều vấn đề của phép biện chứng về xã hội, lịch sử triết học, triết học của khoa học tự nhiên
và chủ nghĩa vô thần khoa học
- Trong “Tập văn ngắn về triết học” (Tr 437 - 546), Lênin đánh giá cao tính đảng của nhà triết học tự học Đitxơghen độc lập đi đến chủ nghĩa duy vật biện chứng Lênin đánh giá cao quan niệm của ông về đối tượng nghiên cứu của triết học, lý luận phản ánh, cuộc đấu tranh chống tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm của ông Đitxơghen (1828 - 1888) là một thợ thuộc da và là một trong những nhà trước tác triết học dân chủ xã hội lỗi lạc của Đức (Xem Lênin toàn tập -tập 23 - trang 148) Bằng con đường tự học, ông đã trở thành một nhà triết học
Tư tưởng của ông chịu ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa duy vật của Ludwig Feuerbach và tự phát đi đến biện chứng duy vật Ông đã từng sống ở Đức, Nga,
Mỹ Ông chủ yếu bàn về nhận thức luận nhưng không đầy đủ mà chỉ dừng ở nhận thức cảm tính, nhận thức trừu tượng Ông tuyên truyền hăng say cho học thuyết Mác-Ăngghen nhưng do không phát hiện hết phép biện chứng duy vật với tư cách là phương pháp nhận thức nên đã đi đến nhượng bộ chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa duy vật tầm thường Lênin cũng chỉ ra những sai lầm của ông là chưa có một học vấn triết học đầy đủ nên có sự lầm lẫn giữa các khái niệm triết học; sử dụng thuật ngữ của các đối thủ triết học của mình mà không phê phán Tuy nhiên, Lênin rất quý Đitxơghen, sử dụng các tác phẩm của ông vào chống chủ nghĩa Makhơ
- Lênin phê phán kịch liệt đối với chủ nghĩa duy vật tầm thường thô sơ của Suliaticốp Suliaticốp (1872 - 1912) là một nhà dân chủ - xã hội, nhà phê bình văn học Nga Các tác phẩm của ông đã đơn giản hoá, tầm thường hoá một cách thô bạo đối với chủ nghĩa Mác Ông ta đã quy các quá trình phát triển của
Trang 9triết học, nghệ thuật, văn học và khoa học tự nhiên trong xã hội có giai cấp thành
sự biểu thị đơn giản “lợi ích giai cấp”, coi mọi hệ thống triết học chỉ là sự biện
hộ về lý luận cho các lợi ích cuỉa giai cấp tư sản Từ đó coi chủ nghĩa Mác không liên quan gì đến họ, phủ nhận những tư tưởng triết học trước Mác không
có yếu tố nào là chân lý khách quan, phủ nhận tính độc lập tương đối của các khoa học với triết học Lênin phản đối kịch liệt đối với chủ nghĩa Suliaticốp Lênin cho rằng, tác giả là một người xuyên tạc sự phát triển lịch sử của triết học Tây Âu, tác giả đã hoà các trào lưu triết học vào nhau, quy toàn bộ triết học tư sản là biện hộ cho chủ nghĩa tư bản mà không phê phán (Tr 566) [Sự biện hộ cho chủ nghĩa tư bản trong triết học Tây Âu Tr 551 - 569]
- Đối với tác phẩm “Triết học hiện đại” của Arây (Tr 579 - 632), Lênin phê phán tác giả theo chủ nghĩa thực chứng và đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật xấu hổ để xem xét một số vấn đề cụ thể của khoa học tự nhiên (tr
622, 623, 624, 627, 628, 630)
- Khi nhận xét các sách của Plêkhanốp và Xtêclốp viết về Tsecnưsepxky, Lênin rất chú ý đến lịch sử tư tưởng, lịch sử triết học Nga
+ Ghêoócgi Valentinôvích Plêkhanốp (1856 - 1918) là nhà cách mạng và nhà tư tưởng Nga, sáng lập ra phong trào dân chủ xã hội Nga Thế giới quan của ông rất phức tạp: Ban đầu là lãnh đạo của tổ chức dân tuý, sau đó thành người trung thành bảo vệ và tuyên truyền cho chủ nghĩa Mác, đấu tranh chống lại chủ nghĩa dân tuý ở Nga và ở Thuỵ Sỹ Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ I ông đứng về bọn sô vanh-xã hội không tán thành cách mạng Tháng Mười Trong các tác phẩm của mình ông đánh giá cao triết học Mác, coi chủ nghĩa Mác là bước phát triển mới về chất so với các triết thuyết về xã hội trước đó, nhưng ông phạm phải sai lầm là đánh giá thấp nhân tố chủ quan trong sự phát triển lịch sử,
đã nhượng bộ với thuyết văn tự tượng hình Tuy có sai lầm nhưng các tác phẩm của ông ngày nay vẫn được coi là những cuốn sách giáo khoa có giá trị trong nghiên cứu triết học Mác
+ Nicôlai Gavrilivich Tsecnưsépxky (1828 - 1889) là nhà dân chủ cách mạng, nhà triết học duy vật, nhà phê bình và nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng Nga Ông là lãnh tụ của phong trào dân chủ cách mạng Nga những năm 60 của thế kỷ XIX, là tiền bối xuất sắc của p-hái dân chủ xã hội Nga Ông chịu ảnh hưởng những tư tưởng của Ghestxen, Belinxky và Ludwig Feuerbach nhưng ông
đi xa hơn Feuerbach trong quan niệm vai trò xã hội của triết học Ông bắt những quan niệm lý luận của mình phải hoàn toàn phục tùng sự nghiệp đấu tranh giải phóng những người lao động khỏi chế độ nông nô và chế độ nô lệ tư sản Ông kịch liệt phê phán chủ nghĩa bất khả tri của Cant Ông coi thực tiễn là cục đá thử vàng của mọi lý luận, cố gắng xây dựng phép biện chứng của Hêghen theo hướng duy vật Hạn chế của ông là chưa nhận thức đầy đủ về thực tiễn, về quá trình nhận thức và vẫn là chủ nghĩa duy vật nhân bản, nhưng các tác phẩm của ông trong nhiều vấn đề đã đi gần đến quan niệm duy vật trong giải thích đời sống xã hội Thời cải cách nông dân, ông mơ ước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trang 10thông qua công xã nông dân, ông là một trong những cha đẻ của chủ nghĩa dân tuý nhưng là người tiến gần đến chủ nghĩa xã hội khoa học nhất vì ông đặt niềm tin và hy vọng của mình vào cách mạng Ông cho rằng chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thiết lập trên cơ sở của kinh tế phát triển và chỉ có quần chúng nhân dân mới
có thể sáng tạo ra chủ nghĩa xã hội
+ Alếch-xan-đờ-rơ I-va-nô-vích Ghenxten (1812 -1870) là nhà dân chủ cách mạng Nga, nhà văn và nhà triết học duy vật Nga Ông cũng là một trong những người sáng lập ra chủ nghĩa dân tuý Nga Ông hai lần bị Sa Hoàng đưa đi đày Từ 1847 sống lưu vong ở Pháp, Ý, Anh Ông mất tại Pari Theo Lênin thì ông đã tiến gần đến chủ nghĩa duy vật biện chứng khi ông tìm ra và chứng minh
sự thống nhất của tồn tại và tư duy, của thực tiễn và lý luận, của xã hội và cá nhân Trong lĩnh vực triết học của lịch sử ông đã quan niệm xét đến cùng quy luật xã hội là sự kết hợp của tiến trình tự phát triển của lịch sử (siêu hình không
có ý thức của các dân tộc) và hoạt động có ý thức của cá nhân Cách mang 1848
- 1849 ở Pháp và Ý thất bại ông sin ra chán nản, bi quan, hoài nghi với những triển vọng cách mạng xã hội có thể có ở phương Tây mà trước đó ông đã đấu tranh nhằm giáo dục cách mạng cho quần chung nhân dân, chuẩn bị cho họ đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Sau cùng ông là người sáng lập ra chủ nghĩa dân tuý Nga
+ Vitxariôn Grigôriêvich Bêlinsky (1811 - 1848) là nhà dân chủ cách mạng Nga, nhà phê phán văn học, người sáng lập mỹ học hiện thực Nga Ban đầu ông theo phái Hêghen trẻ, từ những năm 40 ông chuyển sang lập trường duy vật tiìm thấy trong biện chứng duy tâm của Hêghen những nguyên tắc cơ bản của phương pháp nghiên cứu khoa học và hành động cách mạng Ong tin vào một xã hội mới ra đời nhờ những cuộc cách mạng bạo lực nhưng lại không lý giải được tính tất yếu của cách mạng xã hội Ông cũng là người đấu tranh chống tôn giáo tích cực của Nga Sau cùng ông là người sáng lập ra chủ nghĩa dân chủ cách mạng Nga bằng những tư tưởng cơ bản về mỹ học hiện thực của mình Ông coi bản chất và đặc điểm của nghệ thuật là tái hiện hiện thực bằng hình tượng với những nét điển hình của nó Ông chống chủ nghĩa lãng mạn phản động và tuyên truyền những nguyên lý của chủ nghĩa hiện thực trong nghệ thuật Ông coi trọng sự phụ thuộc của ý nghĩa xã hội của văn học vào việc khắc phục một
hố sâu ngăn cách giữa giới có học vấn với quần chúng nhân dân Ông nhấn mạnh tính đồng cảm hiện đại “tức là sự tiến bộ - một phẩm chất không thể không có ở người nghệ sỹ chân chính”
- Lênin đánh giá cao truyền thống duy vật, tiên tiến của tư tưởng xã hội Nga Người nhấn mạnh chủ nghĩa duy vật cách mạng và chủ nghĩa duy vật của Tsecnưsépxky và cuộc đấu tranh kiên quyết của ông chống chủ nghĩa tự do vì cách mạng nông dân Người cũng chỉ ra quan điểm mensêvích của Plêkhanốp, khi ông ta đánh giá sai lầm nội dung giai cấp trong hoạt động của Tsecnưsépxky Plêkhanốp đã không thấy được sự khác nhau giữa lý luận duy