MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐÂU 1 PHẦN NỘI DUNG 4 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN 4 1.1. Sự hình thành triều Nguyễn 4 1.2. Lược sử triều Nguyễn 5 CHƯƠNG 2. LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHÀ NGUYỄN 9 2.1. Bối cảnh lịch sử Việt nam 9 2.2. Các tư tưởng chính trị chủ yếu 9 2.2.1. Tư tưởng canh tân đất nước 9 2.2.2. Lựa chọn con đường cách mạng 13 2.2.3. Lấy dân làm gốc 15 CHƯƠNG 3. NHỮNG GIÁ TRỊ TRONG TƯ TƯỞNGCHÍNH TRỊ NHÀ NGUYỄN 17 3.1. Các giá trị 17 3.2. Ứng dụng những giá trị tư tưởng chính trị trong thực tiễn 20 PHẦN KẾT LUẬN 23 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24 PHẦN MỞ ĐÂU 1. Lý do chọn đề tài và tình hình nghiên cứu: Dựng nước và giữ nước, chống thiên tai, địch họa là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên và trực tiếp đối với dân tộc Việt Nam. Trong quá trình vừa tranh đấu vừa xây dựng, tư tưởng chính trị Việt Nam đã hình thành, nảy nở và phát triển không ngừng. Những tư tưởng đó là khởi nguồn cho những chiến công oanh liệt, thắng lợi vẻ vang chống giặc ngoại xâm, là nền tảng cố kết cộng đồng, nâng cao ý thức dân tọc để tạo nên sức mạnh trong xây dựng đất nước và bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Tư tưởng chính trị Việt Nam trải qua các thời kỳ như Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc, thời kỳ đấu tranh chống Bắc thuộc, thời kỳ phục hưng dân tộc (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV), giai đoạn chia cắt đất nước và suy thoái của chế độ quân chủ phong kiến (thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX). Đầu thế kỷ XVI, nhà Lê Sơ đổ. Đất nước rơi vào tình trạng chia cắt, chiến tranh liên miên, kéo dài (nhà Mạc, Lê – Trịnh ở Đàng ngoài, chúa Nguyễn Đàng trong). Lãnh thổ Đại Việt được mở rộng xuống phía nam. Các tập đoàn phong kiến vì quyền lợi của mình mà phân chia đất nước, gây ra một cuộc nội chiến triền miên, hao người tốn của. Giai đoạn chia cắt Nam – Bắc triều và Đàng trong – Đàng ngoài kéo dài hơn 250 năm, phá hoại, kìm hãm sức sản xuất, làm suy yếu đất nước. Chế độ phong kiến rơi vào khủng hoảng trầm trọng, toàn diện. Thành quả vĩ đại của nhân dân đấu tranh dựng nước và giữ nước bị thủ tiêu.Trước chính sách bóc lột hà khắc, phản động của các tập đoàn phong kiến, nhân dân liên tục đứng lên khởi nghĩa, các cuộc chiến tranh nông dân đần dần lan rộng ra trên cả hai miền đất nước. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn – đỉnh cao của phong trào nông dân đã đánh đổ các triều đại đang thống trị, lập triều Tây sơn. Nhà Thanh lấy cớ giúp Lê Chiêu Thống khôi phục nhà Lê, huy động 20 vạn quân xâm lược nước ta. Nguyễn Huệ được tin làm lễ lên ngôi Hoàng đế, truyền lệnh đánh để cho “dài tóc, đen răng”, “đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” và lập tức kéo quân ra Bắc, trong 5 ngày đêm đã đánh tan tác quân Thanh, giải phóng hoàn toàn đất nước. Ý thức về quốc gia dân tộc và ý thức bảo vệ Tổ quốc được phục hồi. Triều Tây Sơn sau khi thống nhất đất nước đã thực hiện được một số cải cách chính trị tiến bộ. Nhưng không bao lâu sau (năm 1802), nhà Nguyễn đánh đổ Tây Sơn, thống trị toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, thiết lập nhà nước quân chủ chuyên chế, khước từ cải cách, mở cửa nên đất nước vẫn trong tình trạng trì trệ đầy mâu thuẫn. Đường lỗi chính chị bảo thủ, lạc hậu và đầu hàng Pháp của nhà Nguyễn là nguyên nhân đưa nước nhà lâm vào khủng hoàng, suy yếu, trì trệ. Chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc, đi theo một đường lỗi chính trị phản động: chính trị vong quốc. Sự thoái hoá của tập đoàn vua quan nhà Nguyễn từ thôn xã đến triều đình ngày càng phổ biến. Nhà Nguyễn vẫn mù quáng bám theo chế độ chuyên chế nhà Thanh đã lỗi thời và coi đó là khuôn mẫu. Đó là chính sách giam hãm nền kinh tế và xã hội trong vòng lạc hậu giữa lúc phương Tây bước vào thời đại công nghệ tư bản chủ nghĩa. Chế độ phong kiến Việt Nam đã khủng hoảng trầm trọng đến mức không thể gượng dậy được nữa, hệ tư tưởng chính thống mà nòng cốt là Nho giáo đã bất lực trong việc xoay chuyển tình thế. Với chính sách “trọng nông, ức thương” đối nội thì cấm bán lúa gạo từ tỉnh này sang tỉnh khác, lại thường trưng dụng thuyền buôn của tư nhân, đối ngoại thì cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài, triều đình nhà Nguyễn giữ độc quyền ngoại thương và thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng”. Toàn bộ nền kinh tế xã hội cần đến một cuộc cách mạng xã hội, nhưng trong lòng chế độ phong kiến vốn đình trệ lâu dài và khủng hoảng sâu sắc, lại không có tiền đề kinh tế xã hội cần thiết cho một cuộc cách mạng như thế. Trong đề tài này, lịch sử tư tưởng nhà Nguyễn sẽ được nghiên cứu trên một số phương diện nhất định. 2. Đối tượng nghiên cứu Lịch sử tư tưởng chính trị của Nhà Nguyễn. 3. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu lịch sử tư tưởng nhà Nguyễn trong triều đại phong kiến Việt Nam. 4. Phương pháp nghiên cứu Tiểu luận sử dụng các phương pháp cụ thể như: lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn.... 5. Cấu trúc Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, tiểu luận gồm 03 chương.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐÂU 1
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN 4
1.1 Sự hình thành triều Nguyễn 4
1.2 Lược sử triều Nguyễn 5
CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHÀ NGUYỄN 9
2.1 Bối cảnh lịch sử Việt nam 9
2.2 Các tư tưởng chính trị chủ yếu 9
2.2.1 Tư tưởng canh tân đất nước 9
2.2.2 Lựa chọn con đường cách mạng 13
2.2.3 Lấy dân làm gốc 15
CHƯƠNG 3 NHỮNG GIÁ TRỊ TRONG TƯ TƯỞNGCHÍNH TRỊ
NHÀ NGUYỄN 17
3.1 Các giá trị 17
3.2 Ứng dụng những giá trị tư tưởng chính trị trong thực tiễn 20
PHẦN KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 2PHẦN MỞ ĐÂU
1 Lý do chọn đề tài và tình hình nghiên cứu:
Dựng nước và giữ nước, chống thiên tai, địch họa là nhiệm vụ chiến lược,thường xuyên và trực tiếp đối với dân tộc Việt Nam Trong quá trình vừa tranh đấuvừa xây dựng, tư tưởng chính trị Việt Nam đã hình thành, nảy nở và phát triểnkhông ngừng Những tư tưởng đó là khởi nguồn cho những chiến công oanh liệt,thắng lợi vẻ vang chống giặc ngoại xâm, là nền tảng cố kết cộng đồng, nâng cao ýthức dân tọc để tạo nên sức mạnh trong xây dựng đất nước và bảo vệ độc lập dântộc và chủ quyền quốc gia
Tư tưởng chính trị Việt Nam trải qua các thời kỳ như Thời kỳ Văn Lang –
Âu Lạc, thời kỳ đấu tranh chống Bắc thuộc, thời kỳ phục hưng dân tộc (từ thế kỷ Xđến thế kỷ XV), giai đoạn chia cắt đất nước và suy thoái của chế độ quân chủphong kiến (thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX)
Đầu thế kỷ XVI, nhà Lê Sơ đổ Đất nước rơi vào tình trạng chia cắt, chiếntranh liên miên, kéo dài (nhà Mạc, Lê – Trịnh ở Đàng ngoài, chúa Nguyễn Đàngtrong) Lãnh thổ Đại Việt được mở rộng xuống phía nam Các tập đoàn phong kiến
vì quyền lợi của mình mà phân chia đất nước, gây ra một cuộc nội chiến triền miên,hao người tốn của Giai đoạn chia cắt Nam – Bắc triều và Đàng trong – Đàng ngoàikéo dài hơn 250 năm, phá hoại, kìm hãm sức sản xuất, làm suy yếu đất nước Chế
độ phong kiến rơi vào khủng hoảng trầm trọng, toàn diện Thành quả vĩ đại củanhân dân đấu tranh dựng nước và giữ nước bị thủ tiêu.Trước chính sách bóc lột hàkhắc, phản động của các tập đoàn phong kiến, nhân dân liên tục đứng lên khởinghĩa, các cuộc chiến tranh nông dân đần dần lan rộng ra trên cả hai miền đất nước.Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn – đỉnh cao của phong trào nông dân đã đánh đổ các triềuđại đang thống trị, lập triều Tây sơn Nhà Thanh lấy cớ giúp Lê Chiêu Thống khôi
Trang 3phục nhà Lê, huy động 20 vạn quân xâm lược nước ta Nguyễn Huệ được tin làm lễlên ngôi Hoàng đế, truyền lệnh đánh để cho “dài tóc, đen răng”, “đánh cho sử triNam quốc anh hùng chi hữu chủ” và lập tức kéo quân ra Bắc, trong 5 ngày đêm đãđánh tan tác quân Thanh, giải phóng hoàn toàn đất nước Ý thức về quốc gia dântộc và ý thức bảo vệ Tổ quốc được phục hồi Triều Tây Sơn sau khi thống nhất đấtnước đã thực hiện được một số cải cách chính trị tiến bộ Nhưng không bao lâu sau(năm 1802), nhà Nguyễn đánh đổ Tây Sơn, thống trị toàn bộ lãnh thổ Việt Nam,thiết lập nhà nước quân chủ chuyên chế, khước từ cải cách, mở cửa nên đất nướcvẫn trong tình trạng trì trệ đầy mâu thuẫn.
Đường lỗi chính chị bảo thủ, lạc hậu và đầu hàng Pháp của nhà Nguyễn lànguyên nhân đưa nước nhà lâm vào khủng hoàng, suy yếu, trì trệ Chính quyền nhàNguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc, đi theo một đường lỗi chính trịphản động: chính trị vong quốc Sự thoái hoá của tập đoàn vua quan nhà Nguyễn từthôn xã đến triều đình ngày càng phổ biến Nhà Nguyễn vẫn mù quáng bám theochế độ chuyên chế nhà Thanh đã lỗi thời và coi đó là khuôn mẫu Đó là chính sáchgiam hãm nền kinh tế và xã hội trong vòng lạc hậu giữa lúc phương Tây bước vàothời đại công nghệ tư bản chủ nghĩa Chế độ phong kiến Việt Nam đã khủng hoảngtrầm trọng đến mức không thể gượng dậy được nữa, hệ tư tưởng chính thống mànòng cốt là Nho giáo đã bất lực trong việc xoay chuyển tình thế Với chính sách
“trọng nông, ức thương” đối nội thì cấm bán lúa gạo từ tỉnh này sang tỉnh khác, lạithường trưng dụng thuyền buôn của tư nhân, đối ngoại thì cấm tư nhân buôn bánvới nước ngoài, triều đình nhà Nguyễn giữ độc quyền ngoại thương và thi hànhchính sách “bế quan tỏa cảng” Toàn bộ nền kinh tế - xã hội cần đến một cuộc cáchmạng xã hội, nhưng trong lòng chế độ phong kiến vốn đình trệ lâu dài và khủnghoảng sâu sắc, lại không có tiền đề kinh tế - xã hội cần thiết cho một cuộc cáchmạng như thế
Trang 4Trong đề tài này, lịch sử tư tưởng nhà Nguyễn sẽ được nghiên cứu trên một
số phương diện nhất định
2 Đối tượng nghiên cứu
Lịch sử tư tưởng chính trị của Nhà Nguyễn
3 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu lịch sử tư tưởng nhà Nguyễn trong triều đại phong kiếnViệt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng các phương pháp cụ thể như: lịch sử, phân tích - tổng hợp,
so sánh, tổng kết thực tiễn
5 Cấu trúc
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, tiểuluận gồm 03 chương
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN 1.1 Sự hình thành triều Nguyễn
Nhà Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng cai trị Việt Nam trong lịch sửViệt Nam từ năm 1802 đến 1945, được thành lập sau khi hoàng đế Gia Long lênngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và chấm dứt hoàn toàn khi hoàng
đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 – tổng cộng là 143 năm Triều đại Nhà Nguyễn
là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lượccủa người Pháp giữa thế kỷ 19
Triều nhà Nguyễn có thể được chia ra hai giai đoạn riêng biệt: Giai đoạn Độclập và Giai đoạn bị đế quốc Pháp xâm lăng và đô hộ Giai đoạn độc lập (1802-1858) là giai đoạn mà các vua nhà Nguyễn đang nắm toàn quyền quản lý đất nước,kéo dài 56 năm và trải qua 4 đời vua, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, TựĐức.Gia Long và con trai Minh Mạng (1820-1841) đã cố gắng xây dựng Việt Namtheo khái niệm kiểu Nho giáo
Từ thập niên 1830, giới trí thức Việt Nam (đại diện tiêu biểu là NguyễnTrường Tộ) đã đặt ra yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp -thương mại, nhưng họ chỉ là thiểu số Đáp lại, vua Minh Mạng và những người kếtục Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1847-1883) chọn chính sách đã lỗi thời làcoi trọng phát triển nông nghiệp (dĩ nông vi bản) và ngăn cản Công giáo, tôn giáo
từ phương Tây
Giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ (1858-1945) là giai đoạn kể từ việcquân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị Tháng 8năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâmchiếm Sài Gòn.Tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền
Trang 6Đông cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thànhmột lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam kỳ) Sau khi củng cố vị trí vững chắc ởNam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại củaViệt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ Giai đoạn này kết thúckhi Bảo Đại tuyên bố thoái vị năm 1945.
1.2 Lịch sử tóm tắt của triều đại Nguyễn
Vương triều Nguyễn (1802-1945) được tính từ vua Gia Long - người sánglập nên triều Nguyễn, đến vua Bảo Đại - vị hoàng đế cuối cùng ở Việt Nam
Để xác định thời gian cho một dữ kiện đã xảy ra, dân ta dùng niên hiệu củaông vua đương thời
- Niên hiệu : Khi một ông vua lên ngôi đều tự lấy cho mình một niên hiệu để đánhdấu cái giai đoạn mà mình trị vì và tất cả những dữ kiện xảy ra sẽ được ghi lại sovới cái niên hiệu của mình
- Miếu hiệu : Tên hiệu của ông vua đã chết Khi một ông vua đã mất, ông vua saulên kế vị và đặt miếu hiệu cho vị vua trước như là phong chức tước hay tôn vinhngười quá cố
- Tên Húy: Tên thật do cha mẹ đặt khi mới sanh, một người có thể có nhiều tên húy,thường được người ta kiêng không gọi đến
Trang 7Tên Húy Nguyễn Phúc Ánh
Tên Húy Nguyễn Phúc Tuyền, Nguyễn Phúc Miên Tông
Trang 8Năm sanh, năm mất 1829 -1883
Tên Húy Nguyễn Phúc Thì, Nguyễn Phúc Hồng Nhậm
Miếu hiệu
Trang 9
Tên Húy Nguyễn Phúc Thăng, Nguyễn Phúc Hường Dật
Tên Húy Nguyễn Phúc Hạo, Nguyễn Phúc Ưng Ðăng
Tên Húy Nguyễn Phúc Minh, Nguyễn Phúc Ưng Lịch
Trang 10Niên hiệu Ðồng Khánh
Tên Húy Nguyễn Phúc Biện, Nguyễn Phúc Chánh Mông
Tên Húy Nguyễn Phúc Chiêu, Nguyễn Phúc Bửu Lân
Giai đoạn trị vì
1907-1916
Trang 11Miếu hiệu
Tên Húy Nguyễn Phúc Hoảng, Nguyễn Phúc Vĩnh San
Tên Húy Nguyễn Phúc Tuấn, Nguyễn Phúc Bửu Ðảo
Tên Húy Nguyễn Phúc Thiển, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy
Trang 12Tuy nhiên, khi nói đến vương triều Nguyễn, người ta không thể không nóiđến 9 đời chúa Nguyễn - tổ tiên của các vị vua Nguyễn sau này, và cũng là nhữngngười đã có công khai phá, mở mang bờ cõi về phương Nam
Chín đời chúa Nguyễn bao gồm: (Chúa Tiên) Nguyễn Hoàng (1558-1613); (Chúa Sãi) Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635); (Chúa Thượng) Nguyễn Phúc Lan(1635-1648); (Chúa Hiền) Nguyễn Phúc Tần (1648-1687); (Chúa Nghĩa) NguyễnPhúc Thái (1687-1691); (Quốc Chúa) Nguyễn Phúc Chu (1691-1725); (Ninh Vương) Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738); (Vũ Vương) Nguyễn Phúc Khoát(1738-1765); (Định Vương) Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777)
Trang 13CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHÀ NGUYỄN
2.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử Việt Nam cónhững biến đổi hết sức to lớn.Thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta thành xãhội thuộc địa, nửa phong kiến.Chế độ phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư tưởngNho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm vìnền độc lập dân tộc Trong bối cảnh đó, một số nhà tư tưởng tiêu biểu, từ Phạm PhúThứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đến Phan Bội Châu,Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh,… đã thực hiện một bước chuyển tư tưởngchính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn
Từ sự phê phán hệ tư tưởng phong kiến, các ông đã đề xuất tư tưởng canh tânvào cuối thế kỷ XIX và sau đó, khởi xướng tư tưởng dân chủ tư sản vào đầu thế kỷ
XX, tạo nên ảnh hưởng lớn đối với xã hội Việt Nam Hồ Chí Minh viết: “Năm
1926 có một sự thức tỉnh trong toàn quốc tiếp theo sau cái chết của một nhà quốcgia chủ nghĩa Phan Châu Trinh”
Phong trào cách mạng dân chủ tư sản tuy thất bại, nhưng con người, tư tưởngđổi mới của nó vẫn có ý nghĩa nhất định đối với sự nghiệp cứu nước, cứu dân saunày.Trên mảnh đất ấy, Nguyễn Ái Quốc đã gieo mầm chủ nghĩa Mác – Lênin và làngười hoàn thành bước chuyển tư tưởng chính trị trong giai đoạn lịch sử đặc biệtnày vào những năm 30 của thế kỷ XX Cho nên, có thể nói, tư tưởng chính trị cuốithế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là một bước chuyển, là khâu trung gian để chuyển từ
hệ tư tưởng phong kiến sang hệ tư tưởng vô sản
2.2 Các tư tưởng chính trị chủ yếu
2.2.1 Tư tưởng canh tân đất nước
Trong trào lưu tư tưởng canh tân, Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), NguyễnTrường Tộ (1830 - 1871) là những nhà tư tưởng tiêu biểu nhất.Nguyễn Trường Tộ
Trang 14toàn diện đất nước.Theo ông, phải có sự canh tân đất nước, bởi “Thời đại nào cóchế độ ấy Con người sinh ra thời đại nào cũng chỉ đủ làm công việc của thời đại ấy
mà thôi
Vậy thì người sinh vào thời xưa làm xong công việc của thời xưa.Rồi dầndần thời thế đổi dời, làm sao có thể mãi mãi ôm giữ phép xưa mãi được” Về tưtưởng, Nguyễn Trường Tộ là một nhà cải cách, ông coi ngôi vua là quý, chức quan
là trọng, không muốn thay đổi chế độ quân chủ mà muốn có một người cầm quyền
đủ khả năng dẫn dắt muôn dân tiến hành canh tân đất nước Tuy nhiên, bên cạnhviệc đề cao chế độ quân chủ, kêu gọi thực hiện “chính danh”, Nguyễn Trường Tộcũng nhận thấy vai trò của pháp luật và cho rằng, vua cũng nên tự hạ mình để ghépvào vòng pháp luật Ông viết: “Bề trên lo giữ pháp độ, lo việc nước thì chỉ dùngngười hiền, đã theo công lý giữ pháp luật thì trên sẽ hợp điển chế không ai dị nghị,
sự nghiệp không suy đốn”
Như vậy, trong quan điểm của Nguyễn Trường Tộ, những yếu tố của tưtưởng dân chủ đã xuất hiện, đan xen tồn tại với quan điểm Nho giáo, phản ánh sựdao động tư tưởng khi hệ tư tưởng cũ lung lay, hệ tư tưởng mới chưa được xác lập
Với tư cách một nhà hoạt động chính trị, cũng như Nguyễn Trường Tộ, ĐặngHuy Trứ đã đề xuất tư tưởng canh tân đất nước Trước thực trạng đất nước suy vi,ông và nhiều nhà tư tưởng canh tân khác cho rằng, cần phải bỏ lối học tầm chươngtrích cú của Nho học, không thể chỉ dùng văn chương lý lẽ mà phải tiếp thu khoahọc - kỹ thuật của phương Tây để thúc đẩy sản xuất, làm cho dân giàu, nước mạnh.Ông viết: “Làm cho dân giàu nước mạnh đâu phải là một việc chẳng cần lo toannhiều” và “Làm ra của cải, cái đạo lý lớn ấy là việc không thể coi nhẹ được” Theoông, muốn tự cường đánh Pháp phải nhanh chóng thay đổi cách nghĩ, từ chỗ xemđạo đức, lễ nghĩa là cái duy nhất, tối cao, bất biến đến phải thấy sản xuất của cảivật chất cũng là “đạo lý lớn” vậy! Ông kịch liệt phản đối việc dùng lời lẽ, đạo lý
Trang 15nhà Nho để xin giặc rủ lòng thương của phái cầu hòa, bởi nếu “chỉ dựa vào đối đáp,
ai là người có thể làm nguội lạnh được tim gan giặc”
Bên cạnh việc phát triển kinh tế, Đặng Huy Trứ còn cho rằng, phải xâydựng nền quân sự vững mạnh, bởi kinh tế và quân sự có mối quan hệ hữu cơ vớinhau trong vấn đề giữ vững độc lập dân tộc Ông viết: “Cấy cày và canh cửi là gốccủa cơm áo Nhưng nếu không hiểu việc binh để giữ lấy thì dù có thừa thóc trongkho, thừa vải trên khung cửi cũng bị kẻ địch lấy đi”
Trong tư tưởng Đặng Huy Trứ, quan niệm về dân là một nét mới khá nổi bậttrong tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX.Ông coi “dân là gốc của nước,
là chủ của thần”; “Khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc.Bồi bổ cái gốc đó mới làthầy thuốc giỏi.Những quan niệm đó đánh dấu sự đổi mới trong suy tư của dân tộc
ta cuối thế kỷ XIX.Có thể nói, xu hướng cải cách xã hội là xu thế tất yếu đặt ra chodân tộc Việt Nam trong giai đoạn này Các nhà tư tưởng, như Đặng Huy Trứ, PhạmPhú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đã nắm bắt được xu thế đó vàbước đầu tạo ra một bước chuyển trong tư tưởng chính trị, từ tư tưởng quân chủsang tư tưởng dân chủ, từ vương quyền sang dân quyền Nhưng do hạn chế bởi điềukiện lịch sử, lập trường và tầm nhìn, cũng như ảnh hưởng khá sâu nặng của ý thức
hệ phong kiến nên tư tưởng cải biến xã hội của các ông chỉ mang tính chất cách tân,trong khuôn khổ trật tự của xã hội cũ
Tiếp thu tư tưởng của các nhà canh tân cuối thế kỷ XIX, một số nhà tư tưởngđầu thế kỷ XX, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,Nguyễn An Ninh,… tiếp tục phát triển tư tưởng đó lên trình độ mới, cao hơn vềchất Các ông đã từ bỏ dần hệ tư tưởng phong kiến, mạnh dạn đi tìm hệ tư tưởngmới cho dân tộc.Theo Phan Bội Châu, hệ tư tưởng Nho giáo đã hết vai trò lịch sử
và chỉ làm cho dân tộc ta mất dần sức sống Ông viết: “… nước Việt Nam mơmàng đôi mắt ngủ, uể oải một thân bệnh, tôn quân quyền, ức dân quyền, trọng hư
Trang 16văn, khinh võ sĩ, trộm cướp rình mò ở sân, mà vợ con say hát trong nhà, chủ nhânnằm dài trên giường luôn luôn ngáp mỏi mệt Than ôi! Nguy ngập lắm thay”(9)!Còn nền Nho học thì không thiết thực, tạo nên tầng lớp văn sĩ chẳng có mấy tácdụng đối với xã hội: “Các triều đình chuyên chế đã dùng khoa cử làm cái bẫy ràngbuộc hào kiệt, tai mắt xóm làng cũng chỉ chuyên chú đến trường thi, làm cho người
ta sinh ra từ tám tuổi trở lên đã vùi đầu, mờ mắt vì cái ngục tù bát cổ thi phú Tiếngnói là văn sĩ, chứ thực ra chỉ là một vật chết không biết cái gì, cũng không làmđược trò gì
Phan Châu Trinh cũng cho rằng, do chế độ phong kiến đã thực sự thối nát,mục ruỗng, nhu nhược, nên đã để cho quyền lực chính trị rơi vào thực dân Pháp
Bộ máy của chế độ phong kiến là bù nhìn, như quân trên bàn cờ tướng: “Một ôngtướng lác đứng trong cung, Sĩ tượng khoanh tay chẳng vẫy vùng” Tầng lớp Nho sĩvẫn chìm đắm trong hư văn, chưa kịp chuyển biến theo thời thế: “Việc đời nhìn lạithấy chẳng còn gì, sông núi không còn nước mắt để khóc các bậc anh hùng Muônnhà làm tôi tớ dưới ách cường quyền, nhiều người đang ngủ mê trong giấc mộngvăn chương bát cổ”
Là trí thức Tây học, Nguyễn An Ninh cũng coi sai lầm lớn nhất là quá đề cao
tư tưởng Nho giáo, dẫn đến sự cản trở quá trình phát triển của lịch sử Ông nói: “…suy tôn học thuyết của Khổng Tử lên tới giá trị cao nhất về tinh thần, thì lại là mộtbước khác, khó cho ta dấn tới được” Không chỉ có vậy, việc nhào nặn tư tưởngKhổng Tử theo quan điểm của các nhà Nho phong kiến cũng rất tai hại
Nhiều nhà tư tưởng tiến bộ khác, như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng,Lương Văn Can,… cũng đã kịch liệt phê phán Nho giáo và chế độ phong kiến, thểhiện trong tư tưởng và sự bất hợp tác với chế độ phong kiến