1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ biện pháp tạm giam trong xét xử vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam

53 107 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 98,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ: biện pháp tạm giam trong xét xử vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam Giới thiệu: Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền với nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quan điểm của Đảng ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm theo hướng xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật là nòng cốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội có ý nghĩa quan trọng, định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), chế định biện pháp ngăn chặn (BPNC) nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng trong TTHS Việt Nam.

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 4

7 Cơ cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 1 6

1.1 Quy định của luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm 6

1.1.1 Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 8

1.1.2 Quy định về thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 13

1.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và nguyên nhân của hạn chế 16

1.2.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 16

1.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 21

Nguyên nhân khách quan 21

1.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 23

Kết luận Chương 1 26

CHƯƠNG 2 27

2.1 Quy định của luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm 27

2.1.1 Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 29

Trang 3

2.2.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ

án hình sự 34

2.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 39

2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 40

Kết luận Chương 2 45

KẾT LUẬN 46

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền với nền tư pháp trong sạch, vữngmạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quan điểm củaĐảng ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa vàđấu tranh chống tội phạm theo hướng xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật là nòngcốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội có ý nghĩa quan trọng, định hướng cho việc xâydựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), chế định biện pháp ngăn chặn(BPNC) nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng trong TTHS Việt Nam

Tạm giam là một trong những BPNC quan trọng và nghiêm khắc nhất Việc ápdụng biện pháp tạm giam nhằm bảo đảm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn

cứ chứng minh bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽtiếp tục phạm tội nhằm bảo đảm và có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ án hình sự,đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, bảo đảm thi hành án và nâng cao hiệuquả đấu tranh phòng chống tội phạm Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp tạm giam luônluôn gắn liền với những hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của công dân như: hạn chếquyền tự do của cá nhân, quyền tự do đi lại…do người bị áp dụng biện pháp tạm giam

sẽ bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định Trong thực tiễn cũng cònkhông ít trường hợp áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp tạm giam chịu sự tác động củatiêu cực Vấn đề này làm giảm uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) vàgiảm sút lòng tin của nhân dân vào chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước Đây là vấn đề nhạy cảm mà thế lực thù địch lợi dụng để kích động “vi phạmnhân quyền” Để thi hành được biện pháp này, Nhà nước đã bỏ ra những chi phí khôngnhỏ cho bộ máy hoạt động, cơ sở vật chất nhà tạm giữ, trại tạm giam và nhiều khoảnbồi thường thiệt hại cho người bị oan Bởi vậy BPNC tạm giam và việc thi hành nóluôn gắn liền với chính trị, pháp luật, xã hội, kinh tế mà nhà nước, tổ chức và cá nhânđều đặc biệt quan tâm

Trong khoa học luật TTHS, tuy biện pháp tạm giam đã được rất nhiều nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu nhưng vẫn chưa thỏa đáng đối với tầm quan trọng của nótheo định hướng của Đảng ta về việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phòngngừa và đấu tranh chống tội phạm Nhiều vấn đề cần phải được làm sáng tỏ để có quan

Trang 5

điểm thống nhất, đầy đủ và toàn diện như bản chất pháp lý, mục đích, thay thế, hủy bỏbiện pháp tạm giam; còn thiếu những đánh giá, tổng kết thực tiễn áp dụng, thay thế,hủy bỏ chúng, hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận đối vớibiện pháp ngăn chặn tạm giam và thực tiễn áp dụng, nhằm đánh giá những mặt tíchcực, hạn chế, xác định những nguyên nhân, tồn tại của chúng, trên cơ sở đó đưa raphương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn tạmgiam nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong giai đoạn xét xử hiện nay không những có

ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng, mà còn là vấn đề cấp thiết mang tính thời sự Đây

là lý do giải thích cho việc học viên chọn đề tài: “Biện pháp tạm giam trong xét xử vụ

án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian vừa qua, BPNC nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng là vấn

đề được nhiều người quan tâm nghiên cứu ở những mức độ, phạm vi khác nhau, có thể

kể đến như:

* Sách chuyên khảo:

- Luận án tiến sĩ: Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng

hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của Nguyễn Văn Điệp, Đại

học Luật Hà Nội, năm 2005

- Luận văn thạc sĩ: Biện pháp tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực

tiễn tỉnh Quảng Ngãi của Nguyễn Công Thành, Học viện khoa học xã hội Việt Nam,

năm 2016

- Luận văn thạc sĩ: Biện pháp tạm giam trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam của

Triệu Văn Mẫn, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2015

- Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học của GS.TS Võ

Khánh Vinh (Chủ biên), NXB Khoa học xã hội năm 2010

- Tài liệu tập huấn công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và thi hành

án hình sự của Viện KSNDTC, năm 2013.

- Tài liệu Hội thảo quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự: Hoàn thiện

quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của PGS.TS Trần Văn Độ, năm 2010.

Trang 6

- Các đề tài khoa học, chuyên đề của Viện kiểm sát nhân dân tối cao:

- Đề tài khoa học cấp Bộ: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tạm

giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo yêu cầu cải cách

tư pháp hiện nay của VKSNDTC, do Ngô Quang Liễn và các thành viên thực hiện, năm 2007.

- Chuyên đề: Tổng kết 50 năm công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý

và giáo dục người chấp hành án phạt tù của VKSNDTC, do Bùi Đức Long và các thành viên thực hiện, năm 2010.

Ngoài ra, còn có các bài viết liên quan đến đề tài của nhiều tác giả đăng trên cáctạp chí như: Tạp chí Tòa án, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học

Qua nghiên cứu những công trình khoa học trên, có nhiều quan điểm mang tính lýluận mà trong quá trình thực hiện luận văn tác giả có kế thừa và phát triển Tuy nhiên,xuất phát từ thực tiễn một số tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, thông qua việcnguyên cứu những hạn chế tồn tại, để từ đó góp phần làm hoàn thiện hơn về lý luận; đề

ra quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dụng có hiệu quả biện pháp tạm giam trong giaiđoạn xét xử các vụ án hình sự

Do đó, đề tài “Biện pháp tạm giam trong xét xử vụ án hình sự theo luật tố tụng

hình sự Việt Nam” là công trình nghiên cứu có ý nghĩa lý luận thực tiễn và không có

sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về biện pháp tạm giamtrong giai đoạn xét xử và thực trạng áp dụng, tác giả luận văn đưa ra các kiến nghị cụthể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam tronggiai đoạn xét xử các vụ án hình sự ở nước ta

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếusau:

- Hệ thống những vấn đề lý luận về tạm giam trong TTHS;

- Phân tích làm rõ quy định của pháp luật TTHS hiện hành về tạm giam trong giaiđoạn xét xử;

Trang 7

- Làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật TTHS về tạm giam;

- Nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả áp dụngpháp luật TTHS về tạm giam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành về biệnpháp tạm giam trong giai đoạn xét xử và thực tiễn áp dụng

Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho việc nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụthể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyêngia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 8

quyền tiến hành tố tụng, qua đó hạn chế trường hợp áp dụng tùy tiện, bảo vệ tốt hơnquyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu vàgiảng dạy pháp luật TTHS Việt Nam, đặc biệt là về biện pháp tạm giam trong giaiđoạn xét xử vụ án hình sự

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungluận văn được bố cục như sau:

Chương 1 Biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Chương 2 Biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Trang 9

CHƯƠNG 1 BIỆN PHÁP TẠM GIAM TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Quy định của luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

- Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm và biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm:

Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một trong bốn giai đoạn tố tụng hình

sự, được xem là giai đoạn trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự Trong giaiđoạn này, Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS, trongthời hạn được TTHS quy định, tiến hành áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét

xử, đưa vụ án ra xét xử, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai của bên buộctội và bên bị buộc tội, nhân danh Nhà nước, phán xét các vấn đề về tính chất của tộiphạm, có hay không có hành vi có tội của bị cáo và cuối cùng, tuyên bản án đúngngười, đúng tội một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sứcthuyết phục

Căn cứ Điều 244 Bộ luật TTHS năm 2015 thì thời điểm bắt đầu giai đoạn xét xửcủa Tòa án là được tính từ thời điểm Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc viện kiểmsát nhân dân cấp trên chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng cho Tòa án nhân dân cóthẩm quyền thụ lý, xét xử vụ án Thời điểm kết thúc quá trình thụ lý, xét xử sơ thẩm làlúc Hội đồng xét xử tuyên án và tuyên bố kết thúc phiên tòa sơ thẩm hoặc kể từ thờiđiểm Tòa án có quyết định đình chỉ vụ án

Kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, một vụ án hình sự đượcphân thành 02 giai đoạn:

+ Giai đoạn chuẩn bị xét xử: “Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm

trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.

Trang 10

Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.” 1

Như vậy, tùy từng trường hợp mà thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm của từng vụ

án là khác nhau Đến ngày cuối cùng của ngày chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán đượcphân công Chủ tọa phiên tòa phải ban hành một trong các quyết định được nêu tạikhoản 1 Điều 277 Bộ luật TTHS năm 2015

+ Giai đoạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm: giai đoạn mở phiên tòa xét xử là thờigian được ấn định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử

Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sựđược quy định các Điều 119, 278, 329 của Bộ luật TTHS năm 20152 Trong đó, Điều

119 quy định về những vấn đề xung quanh biện pháp tạm giam nói chung như: trườnghợp, thẩm quyền, đối tượng, thủ tục áp dụng Điều 278 quy định về việc áp dụng, thayđổi, hủy bỏ BPNC (trong đó có biện pháp tạm giam), biện pháp cưỡng chế Điều 329quy định về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án Trong phần này của luận văn, tác giảtập trung phân tích hai vấn đề bao gồm thẩm quyền và thời hạn áp dụng biện pháp tạmgiam

- Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:

+ Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam là bịcan3 (cá nhân) bị truy tố về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc về tộinghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 nămkhi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: đã bị áp dụng biệnpháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác địnhđược lý lịch của bị can; bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏtrốn; tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; có hành vi mua chuộc,cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy,giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa,

1 Quy định tại khoản 1 Điều 277 Bộ luật TTHS năm 2015.

2 Bộ luật TTHS năm 2003 được quy định tại Điều 120, Điều 177, Điều 228, Điều 243 và Điều 303.

3 Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự (theo khoản 1 Điều 60 Bộ luật TTHS năm 2015)

Trang 11

khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thíchcủa những người này Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêmtrọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tộihoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặcđang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cưtrú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ cáctrường hợp: bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; tiếp tục phạm tội; có hành vi muachuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụán; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặcngười thân thích của những người này4.

+ Trong giai đoạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm: đối tượng áp dụng biện pháp tạmgiam là bị cáo5 (cá nhân) thuộc những trường hợp như trong giai đoạn chuẩn bị xét xửnêu trên hoặc bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đãhết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử

ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa6

- Mục đích áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:

+ Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: mục đích của việc áp dụng biện pháp tạmgiam đối với bị can để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án

+ Trong giai đoạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm: mục đích của việc áp dụng biệnpháp tạm giam đối với bị cáo để bảo đảm hoàn thành việc xét xử sơ thẩm hoặc bảođảm cho việc thi hành án

1.1.1 Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự

Theo quy định tại khoản 5 Điều 119 Bộ luật TTHS năm 2015, thẩm quyền ralệnh, quyết định tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm thuộc về Chánh án, PhóChánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hộiđồng xét xử Thẩm quyền này sau đó được khẳng định bởi Điều 278 và Điều 329 Bộ

4 Điều 119 Bộ luật TTHS năm 2015.

5 Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử (theo khoản 1 Điều 61 Bộ luật TTHS năm 2015).

6 Khoản 3 Điều 278 Bộ luật TTHS năm 2015.

Trang 12

luật TTHS năm 2015 Theo đó, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa (cấp sơ thẩm) đượcquyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừviệc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa ánquyết định

Về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam, vẫn còn các quan điểm khác nhau7

Cụ thể:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 278 Bộ

luật TTHS năm 2015: “Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa

thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa” Bên cạnh đó, tại

mẫu số 07-HS về Quyết định tạm giam (ban hành kèm theo Nghị quyết số05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao) xác địnhHội đồng xét xử có thẩm quyền tạm giam để hoàn thành việc xét xử Do vậy, khi vụ án

đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thẩm quyền tạm giam bị cáo là của Hội đồngxét xử và do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký quyết định tạmgiam cho đến khi kết thúc phiên tòa

Quan điểm thứ hai cho rằng: Quy định tại khoản 3 Điều 278 BLTTHS năm

2015 không rõ ràng, cụm từ “đến ngày mở phiên tòa” cũng có nhiều cách giải thíchkhác nhau, có thể hiểu là cùng ngày diễn ra phiên tòa hoặc trước thời điểm mở phiêntòa, hiện nay pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể Do đó, dẫn đến một số Tòa án cũng

có cách áp dụng khác nhau Tuy nhiên, đối với trường hợp này, Nghị quyết số04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướngdẫn cụ thể như sau:

“Đối với bị can đang tạm giam mà thời hạn tạm giam đang còn, thì khi thời hạn tạm giam gần hết (thời hạn tạm giam còn lại không quá 05 ngày) cần phải xem xét có cần thiết tiếp tục tạm giam nữa hay không Nếu xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị can (hoặc bị cáo, nếu đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử) thì đề nghị Chánh án hoặc Phó chánh án Tòa án ra lệnh tạm giam.

Đối với bị cáo đang bị tạm giam, nếu đến ngày mở phiên tòa hoặc trong quá trình xét xử thời hạn tạm giam đã hết thì trước khi thời hạn tạm giam gần hết (thời hạn

7 Tham khảo bài viết “Bất cập trong quy định về thời hạn và thẩm quyền tạm giam ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm trong Bộ luật TTHS năm 2015” của Võ Văn Tuấn Khanh, Tap chí Tòa án số 02/2019, trang 23-27.

Trang 13

tạm giam còn lại không quá 05 ngày), Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa

đề nghị Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án ra lệnh tạm giam Thời hạn tạm giam được tính kể từ ngày tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng của lệnh tạm giam trước đó và cho đến khi kết thúc phiên tòa”.

Như vậy, với quy định nêu trên thì khi thời hạn tạm giam đã hết thì Chánh án,Phó chánh án có thẩm quyền ra Quyết định tạm giam cả trong trường hợp có quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử và trong quá trình xét xử cho đến khi kết thúc phiên tòa

Quan điểm thứ ba cho rằng: Quy định tại khoản 3 Điều 278 Bộ luật TTHS năm

2015 và mẫu số 04-HS, 05-HS, 07-HS về Quyết định tạm giam theo Nghị quyết số05/2017/NQ-HĐTP có thể hiểu trong thời hạn chuẩn bị xét xử thì Chánh án, PhóChánh án có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam; đối với trường hợp sau khi cóquyết định đưa vụ án ra xét xử và chưa đến ngày mở phiên tòa mà thời hạn tạm giam

đã hết thì Chánh án, Phó Chánh án ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiêntòa; trường hợp tại phiên tòa hoặc trong quá trình xét xử (đối với trường hợp vụ án xét

xử nhiều ngày) mà thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử quyết định tạm giamcho đến khi kết thúc phiên tòa Tác giả thống nhất với quan điểm thứ ba Bởi lẽ, Nghịquyết số 04/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng đối với Bộ luật TTHS năm 2003

Theo Điều 177 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định: “Đối với bị cáo đang bị tạm giam

mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm

giam để hoàn thành việc xét xử, thì Tòa án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc

phiên tòa” Do điều luật chỉ nói chung chung “Tòa án” ra lệnh tạm giam nên Nghị

quyết số 04/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn “Tòa án” ở đây được hiểu là Chánh án hoặcPhó Chánh án có thẩm quyền ra lệnh tạm giam trong trường hợp này Tuy nhiên,khoản 3 Điều 278 Bộ luật TTHS năm 2015 (tương ứng với Điều 177 Bộ luật TTHSnăm 2003) đã quy định cụ thể trường hợp này thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giamcho đến khi kết thúc phiên tòa Mặt khác, cụm từ “đến ngày mở phiên tòa” phải đượchiểu là ngày mở phiên tòa được ấn định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử Từ khi

có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến ngày mở phiên tòa thì cần thời gian tối thiểu là

10 ngày8 và tối đa là 30 ngày9 (trừ vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn) Trong thời

8 Khoản 1 Điều 286 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: Quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị cáo hoặc người đại diện của họ; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa.

9 Khoản 3 Điều 277 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ

Trang 14

gian này, nếu thời hạn tạm giam đã hết thì Chánh án, Phó Chánh án có thẩm quyền ápdụng biện pháp tạm giam, đến ngày mở phiên tòa và trong quá trình xét xử thì Hộiđồng xét xử có thẩm quyền quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến việc giải quyết

vụ án (trong đó có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam) Bên cạnh vấn đề đã phân tích thì còn có vấn đề thẩm quyền áp dụng biện pháptạm giam sau đây có thể đã xảy ra trong thực tiễn Đối với trường hợp bị can, bị cáođược cho tại ngoại (bị áp dụng BPNC khác không phải biện pháp tạm giam) sau đó bỏtrốn và bị truy nã Tại Điều 9 Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 của Bộ Công An, Bộ Tư pháp, VKSND tốicao, TAND tối cao quy định:

“1 Trường hợp Viện kiểm sát đã ra quyết định truy tố bị can và đã giao bản cáo trạng cho bị can nhưng chưa chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án mà nhận được thông tin

về việc bị can bỏ trốn, thì Viện kiểm sát vẫn chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án để thụ lý, xét xử và thông báo cho Tòa án biết việc bị can đã bỏ trốn để Tòa án yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can.

2 Trong trường hợp nhận được thông báo của Viện kiểm sát về việc bị can bỏ trốn sau khi đã được giao bản cáo trạng (không phân biệt hồ sơ vụ án đã được chuyển giao cho Tòa án hay chưa) cũng như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu bị can bỏ trốn thì Tòa án yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can và vẫn tiến hành các công việc theo thủ tục chung.

Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 176 Bộ luật tố tụng hình

sự mà việc truy nã bị can vẫn chưa có kết quả, thì Tòa án áp dụng Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm đình chỉ vụ án.

Trường hợp đã mở phiên tòa mà bị cáo bỏ trốn, thì Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo.

3 Đối với các trường hợp được hướng dẫn tại khoản 2 Điều này mà trong vụ án

có nhiều bị can, bị cáo, trong đó có bị can, bị cáo bỏ trốn, có bị can, bị cáo không bỏ trốn, thì Tòa án vẫn ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với tất cả các bị can, bị cáo Đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam không bỏ trốn, mà thời hạn tạm giam đã hết

án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án

có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.

Trang 15

và nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Tòa án áp dụng Điều 177 Bộ luật tố tụng hình sự ra lệnh tạm giam.

Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà việc truy nã vẫn chưa có kết quả, thì Tòa án phải ra ngay quyết định đưa vụ án ra xét xử và Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo bỏ trốn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự.

4 Khi nhận được văn bản của Tòa án yêu cầu truy nã bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra ra ngay quyết định truy nã và gửi thông báo quyết định truy nã theo đúng quy định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại Điều 6 Thông tư liên tịch này.

Nếu hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có công văn yêu cầu mà việc truy nã vẫn chưa có kết quả thì Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã phải thông báo cho Tòa án biết để Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt người bị truy nã theo điểm a khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự.

5 Trường hợp Tòa án đã yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, bị cáo thì khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Tòa án không phải yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục ra quyết định truy nã mới”.

Như vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc đến ngày mở phiên tòa mà bị can,

bị cáo bỏ trốn thì Tòa án yêu cầu cơ quan điều tra truy nã Nếu hết thời hạn chuẩn bịxét xử hoặc hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có công văn yêu cầu (đối với trường hợpđến ngày mở phiên tòa bị cáo bỏ trốn) mà việc truy nã chưa có kết quả thì Tòa án raquyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo Vấn đề đặt ra ở đây là sau khi xét xử,bản án tuyên bị cáo hình phạt tù giam, trong thời gian chờ bản án có hiệu lực thì Công

an bắt được bị cáo theo Quyết định truy nã hoặc bị cáo ra đầu thú, trường hợp này nếuxét thấy cần phải tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc xét xử phúc thẩm hoặc đảmbảo cho việc thi hành án thì thẩm quyền quyết định tạm giam là của ai? Chánh án, PhóChánh án hay Hội đồng xét xử Về vấn đề này, Luật TTHS vẫn chưa có hướng dẫn cụthể nên đã xảy ra trường hợp thực tế không xác định được thẩm quyền tạm giam của

ai Nhất là trong tình hình hiện nay, do chính sách khoan hồng của Nhà nước, tỷ lệ bịcan, bị cáo bị áp dụng BPNC khác không phải là biện pháp tạm giam tăng cao, songsong với đó dẫn đến trường hợp bị can, bị cáo bỏ trốn cũng tăng theo Vì vậy, đề nghị

cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản bổ sung, hướng dẫn cụ thể đối với

Trang 16

trường hợp này Theo tác giả, trong trường hợp này nên quy định Chánh án, PhóChánh án có thẩm quyền tạm giam Bởi lẽ, sau khi tuyên án Hội đồng xét xử quyếtđịnh tạm giam là không phù hợp do không thể xác định được thời điểm bắt được bị cáotheo quyết định truy nã để xác định thời hạn tạm giam Mặt khác, sau khi kết thúcphiên tòa thì Hội đồng xét xử cũng tự giải tán nên không còn thẩm quyền quyết định

- Về thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử:

+ Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thời hạn tạm giam không quá 30 ngày kể từngày thụ lý vụ án, trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì thời hạn tạm giamđược gia hạn không quá 15 ngày

+ Đối với tội phạm nghiêm trọng thời hạn tạm giam không quá 45 ngày kể từngày thụ lý vụ án, trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì thời hạn tạm giamđược gia hạn không quá 15 ngày

+ Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thời hạn tạm giam không quá 02 tháng kể từngày thụ lý vụ án, trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì thời hạn tạm giamđược gia hạn không quá 30 ngày

+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thời hạn tạm giam không quá 03 tháng

kể từ ngày thụ lý vụ án, trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì thời hạn tạmgiam được gia hạn không quá 30 ngày

+ Đối với vụ án đã có quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, sau khi Tòa ánnhận và thụ lý lại vụ án thì thời hạn tạm giam không quá 15 ngày kể từ ngày thụ lý lại

vụ án

+ Đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi thì thời hạn tạm giam bằng haiphần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi10

- Về thời hạn tạm giam trong giai đoạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm: được tính

kể từ ngày hết thời hạn tạm giam theo Quyết định tạm giam trước đó cho đến khi kết

10 Theo khoản 1 Điều 419 Bộ luật TTHS năm 2015.

Trang 17

thúc phiên tòa sơ thẩm.

- Về thời hạn tạm giam sau khi tuyên án sơ thẩm: là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Qua phân tích tác giả thấy rằng, thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

là khá thống nhất và hợp lý Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng thời hạn tạm giam trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm còn một số vướng mắc, bất cập, cụ thể như sau:

Một là, về thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử sơ thẩm Theo khoản 2 Điều 278

Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không

được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 của Bộ luật này”.

Theo quy định trên, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử sơ thẩm không quá 30ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng kể từ ngày thụ lý vụ án Nếu như hết thời hạn trên mà vụ án chưa đưa ra xét xửthì Tòa án gia hạn tạm giam như gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, cụ thể: gia hạn thờihạn tạm giam không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng,không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng” Tuynhiên, cũng có ý kiến cho rằng, Tòa án có thể ra Quyết định tạm giam thời hạn 45 ngàyđối với ít nghiêm trọng, 60 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 90 ngày đối với tộiphạm rất nghiêm trọng và 120 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tức là tính

cả thời gian gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử), vì Tòa án có quyền gia hạn thời hạnchuẩn bị xét xử nhưng điều luật không quy định cho Tòa án gia hạn thời hạn tạm giam

để chuẩn bị xét xử Theo ý kiến tác giả, khoản 2 Điều 278 Bộ luật TTHS năm 2015 đãquy định cụ thể thời hạn tạm giam không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy địnhtại khoản 1 Điều 277 Bộ luật TTHS năm 2015 Như vậy, quy định trên đã bao gồm cảthời gian gia hạn của thời hạn chuẩn bị xét xử, nếu vụ án có việc gia hạn thời hạnchuẩn bị xét xử thì mới có việc gia hạn tạm giam, vì theo khoản 1 Điều 277 Bộ luậtTTHS năm 2015 quy định chỉ có các vụ án phức tạp Chánh án mới có thể gia hạn thờihạn chuẩn bị xét xử Do đó, Tòa án chỉ ra Quyết định tạm giam với thời hạn tạm giamtheo thời hạn chuẩn bị xét xử (tức là 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngàyđối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 thángđối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án), còn nếu vụ án phải giahạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì Tòa án tiếp tục ra Quyết định tạm giam với thời hạn

Trang 18

tạm giam không được quá thời hạn gia hạn chuẩn bị xét xử

Hai là, về trường hợp Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa

mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo được tính đến khi kết thúc phiên tòa Khi Hộiđồng xét xử quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung tại phiên tòa tức là đã kết thúc phiêntòa nên thời hạn tạm giam cũng kết thúc tại thời điểm Hội đồng xét xử trả hồ sơ điềutra bổ sung Vấn đề đặt ra ở đây là, nếu cần tiếp tục tạm giam bị cáo thì ai có thẩmquyền ra lệnh tạm giam tiếp theo Bởi lẽ, khoản 3 Điều 280 Bộ luật TTHS năm 2015

quy định: “Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều

tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 kể từ ngày ra quyết định” Như vậy, nếu trong trường hợp đến ngày thứ 03 sau khi kết thúc

phiên tòa thì Tòa án mới chuyển quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và hồ sơ vụ

án cho Viện kiểm sát thì trong khoảng thời gian đó, bị cáo bị tạm giam mà không cóQuyết định tạm giam Trường hợp này quy định pháp luật còn bỏ ngỏ

Cũng cần phải nói thêm, quy định Tòa án quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung

và kèm theo hồ sơ cho Viện kiểm sát trong thời 03 ngày kể từ ngày ra quyết định làhoàn toàn phù hợp Bởi vì, có những hồ sơ vụ án phức tạp, nhiều bị cáo hoặc bị hại cầnthời gian sắp xếp hồ sơ, hoặc phiên tòa kết thúc vào cuối giờ chiều nên không thể gửiliền hồ sơ cho Viện kiểm sát khi kết thúc phiên tòa

Ba là, về thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi Khoản 1

Điều 419 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Thời hạn tạm giam đối với người bị

buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ

18 tuổi trở lên theo quy định tại Bộ luật này” Trong khi đó, thời hạn chuẩn bị xét xử

trong giai đoạn sơ thẩm đối với người phạm tội dưới 18 tuổi và người từ đủ 18 tuổi trởlên là như nhau Vì vậy, trong một số trường hợp, khi thời hạn chuẩn bị xét xử vẫn cònnhưng thời hạn tạm giam đối với bị can dưới 18 tuổi đã hết mà Thẩm phán chủ tọaphiên tòa chưa ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Chánh án, Phó Chánh ánkhông có thẩm quyền ban hành Quyết định tạm giam tiếp theo, trong khi Hội đồng xét

xử là chủ thể có thẩm quyền thì lại chưa được thành lập Những trường hợp này bắtbuộc phải cho bị can được tại ngoại Theo tác giả, đây là điều bất hợp lý Bởi vì, mụcđích của việc áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đểđảm bảo cho việc giải quyết vụ án, ngăn chặn bị can phạm tội mới, bỏ trốn hoặc có

Trang 19

hành vi cản trở việc xét xử, nhất là đối với vụ án có nhiều bị can, bị cáo trong đó có bịcáo dưới 18 tuổi là người chủ mưu, cầm đầu.

Ngoài ra, thời hạn tạm giam bị cáo dưới 18 tuổi sau khi tuyên án nếu tính bằnghai phần ba thời hạn tạm giam đối với bị cáo đủ 18 tuổi trở lên thì Quyết định tạmgiam với thời hạn là 30 ngày, thời hạn tạm giam này không đảm bảo cho việc thi hành

án hoặc chuyển hồ sơ để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, bởi vì qua 30 ngày kể từngày xét xử sơ thẩm bản án mới có hiệu lực pháp luật và đối với trường hợp có khángcáo, kháng nghị thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, khángnghị (sau 30 ngày kể từ ngày tuyên án) thì Tòa án cấp sơ thẩm gửi hồ sơ vụ án cho Tòa

án cấp phúc thẩm thụ lý

1.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự và nguyên nhân của hạn chế

1.2.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự

Theo báo cáo tổng kết công tác của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng và

Cà Mau, từ năm 2015 đến năm 2019, tình hình thụ lý án hình sự sơ thẩm, số bị can, bịcáo bị tiếp tục tạm giam, thay đổi biện pháp ngăn chặn… ở cả hai cấp Tòa án như sau:

nhân dân tỉnh

cáo

Biện pháp ngăn chặn Bắt

(bị can, bị cáo để tạm giam )

Tạm giam

Thay đổi BPNC

Tại ngoạ i

Trang 20

Cụ thể hóa từng năm, số lượng bị can, bị cáo bị tạm giam có chiều hướng giảm;

số bị can, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày càng nhiều do chính sáchkhoan hồng của Nhà nước

Năm 2015:

Toàn tỉnh Bạc Liêu thụ lý 497 vụ với 896 bị cáo: trong đó áp dụng biện pháp tạmgiam là 700 bị can, bị cáo chiếm 78%; quá trình thụ lý có thay đổi biện pháp ngăn chặn

là 70 bị can, bị cáo chiếm 7,8%; tại ngoại 126 bị can, bị cáo chiếm 14,2%

Số bị can, bị cáo là người chưa thành niên bị tạm giam là 25 tương đương 3,5%

so với số bị can, bị cáo bị tạm giam Hầu hết, số bị can, bị cáo này đều phạm tội rấtnghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; có một số ít là trẻ lang thang, không có nghềnghiệp và nơi cư trú ổn định nên cần áp dụng biện pháp tạm giam

Tương tự như ở địa bàn Bạc Liêu, thì số lượng bị can, bị cáo bị tạm giam ở CàMau và Sóc Trăng là 80%; số bị can, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn ở SócTrăng là 7,9%, ở Cà Mau là 8%; số bị can, bị cáo được tại ngoại chỉ chiếm một tỷ lệnhỏ

Năm 2016: tương tự như trên, số liệu phân tích cho ta thấy số lượng bị can, bị

cáo bị tạm giam chiếm tỷ lệ cao (cả 3 tỉnh đều có tỷ lệ khoảng 70%), số bị can, bị cáođược tại ngoại chỉ chiếm một phần nhỏ

Bạc Liêu: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 69,95%; quá trình thụ lý có thay đổibiện pháp ngăn chặn là 33 bị can, bị cáo chiếm 3,4%; tại ngoại 256 bị can, bị cáochiếm 26,6% Số người chưa thành niên bị tạm giam chiếm 3,4% trên tổng số bị can, bịcáo bị tạm giam

Trang 21

Sóc Trăng: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 69,94%; quá trình thụ lý có thay đổibiện pháp ngăn chặn chiếm 3,49%; tại ngoại chiếm 26,55% Số người chưa thành niên

bị tạm giam chiếm 3,64% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Cà Mau: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 69,98%; quá trình thụ lý có thay đổi biệnpháp ngăn chặn chiếm 3,5%; tại ngoại chiếm 26,49% Số người chưa thành niên bị tạmgiam chiếm 3,61% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Năm 2017:

Bạc Liêu: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 59,93%; quá trình thụ lý có thay đổibiện pháp ngăn chặn chiếm 4,92%; tại ngoại chiếm 31,13% Số người chưa thành niên

bị tạm giam chiếm 5% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Sóc Trăng: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 60%; quá trình thụ lý có thay đổi biệnpháp ngăn chặn chiếm 5%; tại ngoại chiếm 35% Số người chưa thành niên bị tạmgiam chiếm 4,95% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Cà Mau: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 59,95%; quá trình thụ lý có thay đổi biệnpháp ngăn chặn chiếm 4,94%; tại ngoại chiếm 42,7% Số người chưa thành niên bị tạmgiam chiếm 5% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Năm 2018:

Bạc Liêu: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 59,9%; quá trình thụ lý có thay đổi biệnpháp ngăn chặn chiếm 4,9%; tại ngoại chiếm 35,2% Số người chưa thành niên bị tạmgiam chiếm 5,2% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Sóc Trăng: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 59,8%; quá trình thụ lý có thay đổibiện pháp ngăn chặn chiếm 5%; tại ngoại chiếm 35,2% Số người chưa thành niên bịtạm giam chiếm 4,9% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Cà Mau: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 59,9%; quá trình thụ lý có thay đổi biệnpháp ngăn chặn chiếm 4,95%; tại ngoại chiếm 35,15% Số người chưa thành niên bịtạm giam chiếm 4,9% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Năm 2019:

Bạc Liêu: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 54,9%; quá trình thụ lý có thay đổi biệnpháp ngăn chặn chiếm 2,9%; tại ngoại chiếm 42,2% Số người chưa thành niên bị tạmgiam chiếm 4,7% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Sóc Trăng: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 54,9%; quá trình thụ lý có thay đổi

Trang 22

biện pháp ngăn chặn chiếm 3%; tại ngoại chiếm 40,1% Số người chưa thành niên bịtạm giam chiếm 4,9% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam.

Cà Mau: số bị can, bị cáo bị tạm giam là 54,9%; quá trình thụ lý có thay đổi biệnpháp ngăn chặn chiếm 3,2%; tại ngoại chiếm 41,9% Số người chưa thành niên bị tạmgiam chiếm 5% trên tổng số bị can, bị cáo bị tạm giam

Như vậy, từ số liệu cho ta thấy rằng, kể từ khi BLTTHS năm 2015 được ban hànhcho đến nay, số lượng bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam có xu hướng giảmdần, không còn trường hợp tạm giam tràn lan như trước đây Bộ luật TTHS năm 2015

đã cụ thể hóa từng trường hợp phạm tội, xét tính chất, mức độ cũng như nhân thân củatừng bị can, bị cáo mà có biện pháp ngăn chặn khác nhau, không có trường hợp cứphạm tội là tạm giam

Theo kết quả khảo sát nêu trên thì tỉ lệ giải quyết các trường hợp bị áp dụng biệnpháp tạm giam ở 03 tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau tỷ lệ tạm giam tuy có giảmnhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng cao Thực tế từ năm 2015 đến năm 2019, theo báo cáotổng kết của 03 tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng và Cà Mau hầu hết các trường hợp áp dụngbiện pháp tạm giam đều tuân thủ theo quy định pháp luật, các Tòa án đã quan tâm đếnquyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp tạm giam Việc áp dụng biệnpháp tạm giam hiện nay đã có những tiến bộ đáng kể, bảo đảm dân chủ, pháp chế, bảođảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được, vẫn tồn tại một số hạn chế trong quá trình

áp dụng biện pháp tạm giam, thể hiện ở các vấn đề sau:

+ Lạm dụng Lệnh tạm giam đến khi kết thúc phiên tòa

Trên thực tế hiện nay, việc lạm dụng lệnh tạm giam trong giai đoạn xét xử sơthẩm được thể hiện đa phần ở việc ban hành lệnh giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.Thông thường Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ban hành Quyết định đưa ra xét xử vụ ánvào ngày cuối cùng của lệnh tạm giam, sau đó, căn cứ vào Quyết định đưa vụ án ra xét

xử trình Chánh án ký lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa

Cụ thể: ngày 17/5/2019, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu thụ

lý hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị can Phạm Thanh Cường, bị Viện kiểm sáttruy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sựnăm 2015, do bị can không có nơi cư trú rõ ràng nên bị tạm giam Căn cứ Điều 277,

Trang 23

Điều 278 Bộ luật TTHS năm 2015 thì thời hạn tạm giam đối với bị can Cường là 30ngày kể từ ngày thụ lý Đến ngày 14/6/2019, thẩm phán đề nghị gia hạn thời hạn chuẩn

bị xét xử cũng như đề nghị gia hạn thời hạn tạm giam đối với bị can thời hạn 15 ngày

kể từ ngày 16/6/2019 theo quy định tại Điều 277, Điều 278 Bộ luật TTHS năm 2015.Đến ngày 28/6/2019, Thẩm phán ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, ấn địnhngày 11/7/2019 mở phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật Đồng thời, căn cứ vàoQuyết định đưa vụ án ra xét xử đề nghị Chánh án ký Quyết định tạm giam cho đến khikết thúc phiên tòa theo biểu mẫu số 05-HS của Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày19/9/2017 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao Đến ngày 11/7/2019, do Kiểm sátviên vắng mặt và không có Kiểm sát viên dự khuyết thay thế nên Hội đồng xét xửquyết định hoãn phiên tòa thời hạn là 28 ngày, phiên tòa được mở lại vào ngày09/8/2019 Tuy nhiên, do ngày 09/8/2019 Hội thẩm nhân dân vắng mặt và không cóHội thẩm dự khuyết thay thế nên Hội đồng xét xử tiếp tục hoãn phiên tòa đến ngày06/9/2019 Trong quá trình xét xử vào ngày 06/9/2019, Hội đồng xét xử xét thấy cầnphải định giá lại tài sản chiếm đoạt nên quyết định hoãn phiên tòa đến ngày04/10/2019 Tuy nhiên, ngày 04/10/2019 do Kiểm sát viên vắng mặt nên Hội đồng xét

xử tiếp tục hoãn phiên tòa đến ngày 30/10/2019 mới xét xử xong Như vậy, 01 Quyếtđịnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa nêu trên có thời hạn tạm giam hơn 04tháng

Từ vụ án nêu trên đã chứng minh việc lạm dụng lệnh tạm giam cho đến khi kếtthúc phiên tòa Có nhiều trường hợp thực tế đã diễn ra như vụ án nêu trên là Tòa án địaphương đã sử dụng lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa một cách tùy tiện.Theo tác giả, cần quy định cụ thể là Lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa chỉđược sử dụng khi đã mở phiên tòa, do HĐXX ký ban hành và thời hạn tạm giam trongtrường hợp này không được quá 30 ngày

+ Áp dụng thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi bằng thời hạn tạm giam đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của

Trang 24

ngày 09/11/2016 Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã raQuyết định tạm giam trong thời hạn 02 tháng 22 ngày, kể từ ngày 17/11/2016 đối với

bị cáo Khả Theo quy định tại các Điều 277 và 278 Bộ luật TTHS năm 2015 thì thờihạn tạm giam để chuẩn bị xét xử đối với bị cáo phạm tội “Giết người”, quy định tạikhoản 1, Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 là không quá 90 ngày kể từ ngày thụ lý vụ

án Tuy nhiên, khi bị tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo NguyễnNhật Khả là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Cà Maukhông áp dụng Điều 419 Bộ luật TTHS năm 2015 để áp dụng thời hạn tạm giam bị cáoKhả bằng hai phần ba thời hạn tạm giam của người đủ 18 tuổi trở lên đã vi phạmnghiêm trọng Bộ luật TTHS năm 2015

+ Căn cứ để tạm giam chưa rõ ràng nhưng vẫn bị áp dụng biện pháp tạm giam.

Trên thực tế có nhiều trường hợp không cần thiết áp dụng biện pháp tạm giam,nhưng bị can, bị cáo vẫn bị tạm giam Có bị can, bị cáo chỉ bị truy tố về tội ít nghiêmtrọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, thành khẩn khai báo, không đối phó,không bỏ trốn nhưng vẫn bị áp dụng biện pháp tạm giam Nguyên nhân, do đa số các

vụ án có bị can đã bị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tạm giam, khi chuyển hồ sơ quaTòa án thì các Tòa án địa phương thường ra Quyết định tiếp tục tạm giam bị can, bị cáo(rất ít trường hợp thay đổi biện phạm tạm giam)

Cụ thể: hồ sơ vụ án của bị cáo Mã Mạnh Quốc, bị Viện kiểm sát nhân dân thànhphố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộluật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Bị cáo có nhân thân tốt, chưa

có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng,trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo, không thuộc trường hợp bị áp dụng biệnpháp tạm giam Tuy nhiên, do quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã bị tạm giam nên khichuyển hồ sơ sang Tòa án, ngày 17/8/2017 Tòa án thụ lý và ra Quyết định tiếp tục tạmgiam đối với bị cáo mà không thay đổi bằng BPNC khác

1.2.2 Nguyên nhân của hạn chế

Nguyên nhân khách quan

Qua khảo sát và trao đổi với một số Điều tra viên, Kiểm sát viên và Cán bộ Trạitạm giam, Nhà tạm giữ ở 03 tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng và Cà Mau; tác giả thấy rằngnguyên nhân dẫn đến hạn chế, sai sót, vi phạm trong áp dụng biện pháp tạm giam

Trang 25

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án có nhiều; tuy vậy các nguyên nhân chủ yếu là:

Thứ nhất, do biên chế thiếu và phân công chưa hợp lý nên nhiều Thẩm phán

trong một số Tòa án phải chịu áp lực công việc rất lớn, vì ít người, nhiều việc nênnhiều Thẩm phán phải cùng lúc thụ lý nhiều vụ án Điều này làm cho Thẩm phánkhông có thời gian để nghiên cứu kĩ hồ sơ, xác minh làm rõ các tình tiết của vụ án, dẫnđến tình trạng đề xuất tạm giam thiếu căn cứ, kéo dài thời gian giải quyết vụ án dẫnđến thời hạn tạm giam cũng bị kéo dài

Thứ hai, do hệ thống pháp luật về tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự chưa

đầy đủ Một số văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý chưa được sửa đổi, bổsung phù hợp với yêu cầu, tình hình mới và một số văn bản hướng dẫn thi hành còn bấtcập nên đã ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả của khâu công tác này Trong công tácgiam giữ để chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì hệ thống Tòa án nhân dân vẫn chưa có nhiềuvăn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện Chủ yếu là được quy định trong Bộ luật TTHSnăm 2015, chưa cụ thể hóa từng vấn đề, nội dung như trường hợp nào là người già yếu,người bị bệnh nặng; thế nào là có căn cứ để tiếp tục tạm giam, thế nào là có dấu hiệu

bỏ trốn, có dấu hiệu phạm tội mới…

Thứ ba, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với số lượng ngày càng tăng,

nhưng số lượng cán bộ trong các cơ quan THTT luôn luôn thiếu, nên không đáp ứngđược yêu cầu công tác Ngoài ra, do tâm lý nóng vội, mong muốn hoàn thành nhiệm

vụ được giao, do ảnh hưởng bởi bệnh thành tích nên dẫn đến tình trạng vi phạm phápluật TTHS về thời hạn tạm giam còn xảy ra tương đối nhiều ở các cơ quan THTT

Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ THTT hiện nay vừa thiếu về số lượng, yếu về trình độ

chuyên môn nghiệp vụ, chưa đáp ứng được yêu cầu công tác Việc nghiên cứu các căn

cứ pháp lý để áp dụng vào thực tiễn khâu công tác nghiệp vụ còn hạn chế, chưa sâunên chất lượng, hiệu quả việc áp dụng biện pháp tạm giam còn mức độ Một số cán bộcòn thiếu tinh thần trách nhiệm, lơ là sa sút về phẩm chất đạo đức Nhìn chung lựclượng Thẩm phán có trình độ chính trị, đạo đức vững vàng, là những người làm côngtác xét xử nhiều kinh nghiệm, giải quyết và xử lý án tốt Tuy nhiên, về trình độ thìchưa đồng đều, một lượng Thẩm phán chưa được đào tạo bài bản nghiệp vụ xét xử màchỉ là do kinh nghiệm tích lũy được qua nhiều năm công tác, đặc biệt, trình độ thẩm

Trang 26

phán ở cấp huyện còn yếu nên chất lượng nghiên cứu, xét xử còn hạn chế.

Thứ hai, đối với chức danh Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký, Tòa án đã thực

hiện nhiều biện pháp bảo đảm tuyển đủ số biên chế được giao, chú trọng công tác đàotạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ Tòa án về lý luận chính trị, chuyên mônnghiệp vụ, xây dựng chương trình khung về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Tuy nhiênvẫn còn một số cán bộ có ý thức trách nhiệm và năng lực, trình độ còn hạn chế, chưanhận thức được đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò, thẩm quyền của mình nên tinh thầntrách nhiệm trong công việc chưa cao

Thứ ba, lãnh đạo nhiều đơn vị chưa thực sự quan tâm đến công tác tạm giam, bố

trí cán bộ vừa thiếu về số lượng, yếu về chất lượng Nhiều đồng chí được điều động từ

bộ phận khác đến hoặc mới ra trường chưa có hiểu biết về lĩnh vực tạm giam nhưngvẫn được bố trí làm công tác tạm giam nên ảnh hưởng đến chất lượng công việcchuyên môn và hiệu quả công tác

Thứ tư, việc phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và các cơ

quan hữu quan trong việc kiểm sát, thanh tra việc tuân thủ pháp luật, kiểm sát giam giữ

và quản lý người bị tạm giam vẫn còn những thiếu sót Mối quan hệ giữa Cơ quan điềutra với VKSND và TAND các cấp đã có nhiều chuyển biến tích cực Cơ quan điều tra

đã chủ động phối hợp theo quy chế phối hợp trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ ánhình sự Định kỳ tổ chức họp giao ban, kiểm điểm đánh giá các mặt công tác, kịp thờitháo gỡ những khó khăn bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật, thống nhất đườnglối xử lý Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các cơ quan THTT trong việc áp dụng biện pháptạm giam còn chưa chặt chẽ, đồng bộ vẫn xảy ra tình trạng chồng chéo, chậm trễ

Thứ sáu, chế độ đãi ngộ cán bộ cũng như đề nghị tăng thẩm quyền tố tụng cho

những người tiến hành tố tụng, đặc biệt là Thẩm phán và Thư ký tòa án theo hướng

ưu tiên các thành tựu khoa học tiên tiến để phục vụ đắc lực cho hoạt động xét xử Tuynhiên, so với đời sống kinh tế - xã hội hiện nay thì chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phánvẫn chưa thỏa đáng, chưa tạo sự yên tâm trong công tác và là một nguyên nhân khiếnmột bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất

Thứ bảy, việc xử lý vi phạm đối với cán bộ còn mang tính hình thức, xử lý nội

bộ, không bảo đảm sự nghiêm minh

Ngày đăng: 11/06/2020, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (2015), Sách chuyên khảo Bộ luật TTHS năm 2015, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Bộ luật TTHS năm 2015
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hòa Bình
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2015
2. Nguyễn Mai Bộ (1997), Những biện pháp ngăn chặn trong TTHS, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biện pháp ngăn chặn trong TTHS
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia Hà Nội
Năm: 1997
3. Trần Văn Độ (2010), “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ” , Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bịcáo trong TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ” , "Bảo đảm quyền con ngườitrong tư pháp hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Độ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
4. Võ Khánh Vinh (2012), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2012
9. HĐTPTANDTC (2005), Nghị quyết số 05/2005/NQ - HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của Bộ luật TTHS năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HĐTPTANDTC (2005), "Nghị quyết số 05/2005/NQ - HĐTP hướng dẫn thi hànhmột số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm
Tác giả: HĐTPTANDTC
Năm: 2005
10. 21 HĐTPTANDTC(2005), Nghị quyết số 04/2005/NQ - HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm ” của Bộ luật TTHS năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 21 "HĐTPTANDTC(2005), "Nghị quyết số 04/2005/NQ - HĐTP hướng dẫn thihành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm
Tác giả: 21 HĐTPTANDTC
Năm: 2005
21. Báo cáo công tác xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau các năm 2014 – 2018 22. Báo cáo công tác xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu các năm 2014 – 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau các năm 2014 – 2018"22
5. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 08 ngày 02/01/2002, về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới Khác
6. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
7. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005, về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật VN đến 2020 Khác
11. Quốc Hội Nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự 1999 Khác
12. Quốc Hội Nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam (2003), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Khác
13. Quốc Hội Nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam (2015), Bộ luật hình sự 2015,sửa đổi bổ sung năm 2017 Khác
14. Quốc Hội Nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam (2015), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đã được Quốc Hội thông qua ngày 27/11/2015 Khác
15. Quốc Hội Nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam (2013), Hiến pháp năm 2013 Khác
16. Quốc Hội Nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam (2009), Luật người cao tuổi năm 2015 Khác
17. Quốc Hội Nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam (2009), Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 Khác
20. Báo cáo công tác xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng các năm 2014 – 2018 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w