1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư vấn học tập cho sinh viên các trường cao đẳng kỹ thuật miền núi

183 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 8,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XI Nghị quyết 29 – NQ/TW với nội dung: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đảm bảo đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường, định hướng xã hộ

Trang 1

LÊ THỊ THU

TƯ VẤN HỌC TẬP CHO SINH VIÊN

CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT MIỀN NÚI

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn KTCN

Mã số: 9.14.01.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Kim Thành

GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lờicam đoan trên

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Lê Thị Thu

Trang 3

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:

Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm Thông tin - Thư viện,các Thầy, Cô ở khoa Sư phạm kỹ thuật - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vàcác nhà khoa học đã quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong quá trìnhhọc tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án của mình

Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc GS.TSKH Nguyễn Văn HộTrường Đại học Sư phạm Thái Nguyên – Đại học Thái Nguyên, TS NguyễnKim Thành – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫntác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận án này

Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô ở một số trường đại học,cao đẳng đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tác giả hoàn thiện luận áncủa mình

Xin cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp

đỡ, động viên tác giả

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Lê Thị Thu

Trang 4

MỤC LỤC 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 1

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HỌC TẬP 6 1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 9

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 14

1.2.1 Tư vấn 14

1.2.2 Tư vấn học tập 16

1.3.1.1 Đặc điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ 23

1.3.1.4 Điều kiện học tập của sinh viên 30

1.3.2 Quy trình tư vấn học tập 31

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động TVHT có thể do chính GV đứng lớp thực hiện hoặc do đồng nghiệp trong bộ môn, cơ sở đào tạo thực hiện 36

BIỆN PHÁP TƯ VẤN HỌC TẬP CHO SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO 47

NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT ĐIỆN, ĐIỆN TỬ 47

2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 53

2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc điểm của người học 54

Chương 3 105

KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 105

3.1.1 Mục đích kiểm nghiệm 105

3.1.2 Đối tượng kiểm nghiệm 105

3.1.3 Phương pháp kiểm nghiệm 106

3.2 KIỂM NGHIỆM BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN GIA 106

3.2.1 Nội dung và tiến trình thực hiện 106

3.2.2 Kết quả kiểm nghiệm 107

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Trang

Trang 7

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Với xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, đứng trước công cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ, giáodục và đào tạo được coi là một khâu quan trọng, là quốc sách hàng đầu Giáodục và đào tạo có ảnh hưởng lớn đến khoa học và công nghệ, làm thay đổi đờisống, kinh tế trong xã hội Xu hướng hội nhập quốc tế trong lĩnh vực đào tạonguồn nhân lực đòi hỏi những yêu cầu khắt khe về trình độ, năng lực Để đápứng được những yêu cầu đó đòi hỏi giáo dục và đào tạo Việt Nam phải đổimới, phải “chuẩn hoá”, “hiện đại hoá”, “chuyên môn hoá” và “quốc tế hoá”

Trong “Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020”, ban hànhkèm theo Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chínhphủ đã xác định: “Thực hiện đổi mới cơ bản, mạnh mẽ quản lý nhà nước vềdạy nghề, nhằm tạo động lực phát triển dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiệnđại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” [4]

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XI (Nghị quyết 29 – NQ/TW) với nội

dung: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đảm bảo đáp ứng yêu

cầu kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã xác định: “Tiếp tục đổi

mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắcphục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung cách học;cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mớitri thức, kỹ năng phát triển năng lực” [27]

Tại Hội nghị Giáo dục Đại học (từ 1/10 đến 3/10/2001), Cố Thủ tướngPhan Văn Khải đã nói: “Trường đại học cần giúp sinh viên thu nhận những

Trang 8

kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất và chủ yếu dạy cho sinh viên biết cách học,cách tư duy sáng tạo thì mới có thể thích ứng với mọi tình huống trong thịtrường lao động và trong đời sống xã hội khi ra trường…” [18].

Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 đã khẳng định rõ mục tiêu giáo dụcnghề nghiệp là: “Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực giải quyếtđược các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năngsáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn vàgiám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc” [24]

Hiện nay, nhiều trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) ở nước ta đang ápdụng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ do phương thức này có nhiều ưuđiểm nổi bật Để áp dụng phương thức đào tạo này có hiệu quả thì một trongnhững việc quan trọng, cấp thiết là phải đổi mới phương pháp dạy học sao chophù hợp với phương thức đào tạo Trong phương thức đào tạo theo học chế tínchỉ, điểm khác biệt cơ bản nhất là có cố vấn học tập (CVHT), một trong nhữngnhiệm vụ của CVHT là tư vấn học tập (TVHT) cho sinh viên (SV) Tuy nhiên,

so với phương thức đào tạo theo học chế niên chế, phương thức đào tạo theohọc chế tín chỉ giảm đáng kể thời lượng học trên lớp, tăng thời lượng tự học ởnhà SV phải tự học tự nghiên cứu nhiều, hoạt động này đóng vai trò rất quantrọng là yếu tố trực tiếp tác động đến chất lượng đào tạo và được đặt ra nhưmột nhu cầu bức thiết đối với người học Điều đó đặt ra yêu cầu đối với ngườihọc là phải biết cách tự học, tự nghiên cứu, nghĩa là phải có năng lực nhận thứcđạt ở mức nhất định Khi đó, người thầy không chỉ là người cung cấp thông tin

mà còn là người hướng dẫn, tư vấn cách học cho người học; tổ chức, giám sát,đánh giá quá trình tự học của người học nhằm hình thành ở người học kỹ nănghọc tập và năng lực chuyên môn

Thực tế cho thấy khi các trường ĐH, CĐ thực hiện phương thức đàotạo theo học chế tín chỉ, SV vẫn giữ thói quen học tập cũ, chưa tích cực tự

Trang 9

học, tự nghiên cứu mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do họ chưa

có được phương pháp tự học, tự nghiên cứu khoa học và phù hợp

Qua khảo sát quá trình đào tạo tại một số trường cao đẳng kỹ thuật(CĐKT) ở một số tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía bắc nước ta (sauđây gọi tắt là “trường CĐKT miền núi”) cho thấy phần lớn SV đều chưa tích cực

tự học, tự nghiên cứu; còn thiếu điều kiện để tự học và đặc biệt là thiếu phương

pháp tự học, tự nghiên cứu Đó chính là lý do tác giả chọn vấn đề “Tư vấn học tập cho sinh viên các trường cao đẳng kỹ thuật miền núi” làm đề tài luận án

của mình

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu lý luận về tư vấn học tập kỹ thuật, bao gồm hướng dẫn tự học,

tự nghiên cứu trong dạy học kỹ thuật cho SV CĐKT, đề xuất biện pháp nhằmnâng cao kĩ năng học tập của SV, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo ở cáctrường CĐKT khi thực hiện phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ

III KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Khách thể nghiên cứu:

Quá trình tư vấn học tập trong giáo dục nghề nghiệp tại các trườngCĐKT

2 Đối tượng nghiên cứu:

Biện pháp TVHT trong đó chủ yếu là tư vấn phương pháp tự học, tựnghiên cứu trong dạy học kỹ thuật tại các trường CĐKT

3 Phạm vi nghiên cứu:

Nội dung nghiên cứu được giới hạn trong dạy học môn Trang bị điệnthuộc khối kiến thức các môn học chuyên môn ngành Công nghệ Kỹ thuậtđiện, điện tử trình độ cao đẳng Thực nghiệm được tiến hành tại trường Caođẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thái Nguyên

Trang 10

IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu xây dựng được các biện pháp tư vấn học tập trong dạy học dựa trênthiết kế quy trình tư vấn học tập trong dạy học kỹ thuật và vận dụng chúngtrong quá trình đào tạo ngành Công nghệ Kỹ thuật điện, điện tử ở các trườngCĐKT miền núi một cách khoa học và phù hợp với phương thức đào tạo theohọc chế tín chỉ thì sẽ nâng cao kỹ năng học tập cho SV, qua đó góp phần nângcao chất lượng đào tạo ở các trường CĐKT

V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động TVHT trong dạy học và vậndụng trong dạy học cho SV CĐKT nhằm nâng cao kỹ năng học tập cho SV,qua đó nâng cao chất lượng đào tạo

- Nghiên cứu quá trình đào tạo ngành Công nghệ Kỹ thuật điện, điện tử

ở các trường CĐKT miền núi Đặc biệt là nghiên cứu phương pháp tự học, tựnghiên cứu của SV

- Đề xuất quy trình TVHT trong dạy học kỹ thuật.

- Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động TVHT

- Nghiên cứu xây dựng các biện pháp TVHT trong dạy học kỹ thuật vàvận dụng trong quá trình dạy học cho SV trường CĐKT

- Kiểm nghiệm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp thựchiện TVHT đã xây dựng và những giáo án có sử dụng biện pháp này

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phân tích, tổng hợp, phân

loại, hệ thống hóa, sơ đồ,… nhằm nghiên cứu các công trình có liên quan vềTVHT để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Tổng quan tình hình nghiên cứu

về hoạt động TVHT

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: điều tra, thực nghiệm,

phương pháp chuyên gia nhằm khảo sát thực tế, kiểm nghiệm và đánh giá cácbiện pháp đã đề xuất và giáo án đã biên soạn

Trang 11

- Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu trong khảo sát thực

trạng và kiểm nghiệm, đánh giá các biện pháp đã đề xuất

VII ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

1 Về lí luận

- Xây dựng được hệ thống lý luận về TVHT trong dạy học kỹ thuật

- Xác định được các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động TVHT trongdạy học kỹ thuật của SV CĐKT

2 Về thực tiễn

- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng TVHT trong dạy học kỹ thuậtcho SV CĐKT các tỉnh vùng trung du và miền núi phía bắc làm căn cứ đềxuất các biện pháp

- Xây dựng được quy trình TVHT trong dạy học kỹ thuật

- Đề xuất được ba biện pháp TVHT trong dạy học kỹ thuật cho SV CĐKT.

- Kiểm chứng, khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đềxuất thông qua lấy ý kiến chuyên gia và tổ chức thực nghiệm sư phạm

VIII CẤU TRÚC LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụlục, nội dung chính của luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tư vấn học tập cho sinh viêntrong đào tạo ở trường cao đẳng kỹ thuật

Chương 2: Biện pháp tư vấn học tập cho sinh viên trong đào tạo ngànhCông nghệ Kỹ thuật điện, điện tử ở trường cao đẳng kỹ thuật

Chương 3: Kiểm nghiệm và đánh giá

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ TƯ VẤN HỌC TẬP CHO SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HỌC TẬP

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới có khá nhiều loại hình tư vấn như: tư vấn pháp luật, tưvấn sức khỏe, tư vấn tài chính, Riêng trong lĩnh vực giáo dục cũng có nhiềuloại hình tư vấn như: tư vấn học tập, tư vấn học đường, tư vấn nghề nghiệp, tưvấn hướng nghiệp, Nhìn chung, các loại hình tư vấn khác nhau đều cóchung mục đích là giải đáp băn khoăn, thắc mắc, cung cấp thông tin để giúpngười cần tư vấn tìm ra giải pháp, biện pháp giải quyết vấn đề, nâng cao hiệuquả công việc, giúp người được tư vấn tự tin hơn trong hành động theo quyếtđịnh của mình đã lựa chọn Ở đây tập trung đề cập tới các công trình nghiêncứu về TVHT hoặc tương tự như vậy

Năm 1964, công trình nghiên cứu của tác giả Iallberg E C về TVHTcho thấy, quá trình TVHT được thông qua CVHT, họ gặp gỡ trao đổi thông tinvới sinh viên (SV) và sẽ cung cấp những thông tin trọng tâm, quan trọngtrong học tập mà SV cần biết [62]

Với cùng quan điểm nêu trên, tác giả R Robbins cho rằng, có rất nhiềuyếu tố góp phần vào quá trình TVHT để đạt được kết quả tốt Tuy nhiên, tácgiả nhấn mạnh về sự cần thiết của cố vấn tâm lý trong quá trình tương tác, bởi

nó có tác động đến SV và CVHT cùng nhau chia sẻ những quan điểm củariêng mình [67]

TVHT được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu và đánh giá nhiều ởbậc giáo dục ĐH Nghiên cứu về “Sự năng động của TVHT bậc ĐH”, năm

Trang 13

1975 người ta đã tiến hành khảo sát 452 GV và nhân viên làm công tác TVHTtại trường ĐH Minnesota Trong đó khảo sát cả một số vấn đề liên quan đếntrợ giúp SV Hướng khảo sát chủ yếu là: 1) Các vấn đề về học tập, xã hội 2)Các vấn đề về cảm xúc hoặc tâm lý 3) Các vấn đề về học tập liên quan đến sựnghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy các CVHT đã dành phần lớn thời giancho việc cung cấp các thông tin về học tập khi SV có nhu cầu Các CVHT đềucho rằng họ là người trợ giúp thích hợp nhất đối với SV trong các lĩnh vựchọc tập và hướng nghiệp [60]

Trong một nghiên cứu và khảo sát tại trường CĐ kỹ thuật và một sốtrường ĐH, tác giả M Balilah cùng các cộng sự đã đưa ra kết luận và khẳngđịnh: “TVHT có vai trò rất quan trọng trong giáo dục ĐH”, và “CVHT gầnnhư một xương sống của hệ thống giáo dục ĐH” nghiên cứu đã đề xuất cáchtiếp cận toàn diện cho hệ thống TVHT nhằm đạt được hiệu quả cao nhất [65]

Với cuộc khảo sát 1.033 SV năm thứ nhất tại một trường ĐH, kết quảkhảo sát cho thấy sự ảnh hưởng của TVHT đến chất lượng đào tạo Cụ thể lànếu SV được TVHT có chất lượng cao thì số lượng SV bỏ học ít, và ngược lạinếu SV được TVHT có chất lượng thấp sẽ đồng nghĩa với số lượng SV bỏ họcnhiều Đây cũng được coi như một chiến lược trong sự nỗ lực giảm số lượng

SV bỏ học do không được TVHT tốt ở các trường ĐH [57]

Đối với SV, trao đổi thông tin với CVHT là công việc khó, bởi CVHTkhông phải là người luôn túc trực các cuộc hẹn đối với mỗi SV Để giải quyết

vấn đề đó A Y Noaman and F F Ahmed có bài viết nhằm cung cấp một giải

pháp tư vấn toàn diện cho SV, làm cho SV tiếp cận với CVHT thật đơn giản vàthuận tiện thông qua công nghệ trực tuyến với cố vấn, đây là công cụ để giúp

SV thành công hơn trong học tập bởi họ có thể truy cập, kết nối với cố vấn bất

kỳ lúc nào và quan trọng hơn là được liên lạc trực tiếp mà không cần sự giápmặt giữa cố vấn với SV [55].Cùng hướng nghiên cứu sử dụng hệ thống thông

Trang 14

tin để tìm sự trợ giúp của C, P Amador and J Amador có bài viết “Tư vấn

học tập qua Facebook: Xem xét trợ giúp SV [71] Nghiên cứu TVHT cho SVqua hệ thống công nghệ thông tin, N Mattei và các cộng sự đã có bài viếtchia sẻ bài học kinh nghiệm về một công cụ hỗ trợ TVHT cho SV Trong giaiđoạn 2009 đến 2011 nhóm nghiên cứu đã khảo sát trên 500 SV bằng các câuhỏi chi tiết về những lợi thế mà SV có được trong suốt quá trình học tập Kếtquả cho thấy TVHT bằng công cụ phần mềm sẽ hỗ trợ, cải thiện mối quan hệ

và sự tương tác giữa CVHT với SV rất nhiều, đặc biệt trong quá trình học tập

và lập kế hoạch học tập cho cả khóa học của SV Song, bên cạnh đó, hình thức

tư vấn trực tiếp giữa CVHT với SV cũng không thể thiếu vì hiệu quả tích cựccủa nó [66] Edward “Chip” Anderson (1997) cho rằng, CVHT tư vấn cho SVnhằm giúp họ tiếp cận học một cách có hệ thống, đây là động lực quan trọngthúc đẩy quá trình học”[61]

Năm 2007, theo Sindabi, A.M thì CVHT là người đưa ra lời khuyên vàgiải đáp những câu hỏi liên quan đến học tập, tạo điều kiện để SV tiếp cậnnguồn tài liệu nhằm phát triển tri thức cho người học [68]

Năm 2010, tác giả M J Martínez-argüelles và các cộng sự có côngtrình nghiên cứu TVHT trong môi trường ĐH ảo (học tập trên mạng hoặc ĐH

từ xa, ĐH trực tuyến), với hình thức TVHT trực tuyến Yếu tố chính của hìnhthức này chủ yếu tập trung vào chức năng của CVHT, cách thức tổ chức cáchoạt động TVHT [64]

Năm 2013, A D Young-Jones và các cộng sự có công trình nghiên cứu

“TVHT: nó có thực sự ảnh hưởng đến thành công của SV”, nghiên cứu đánhgiá kết quả TVHT của SV dựa trên nhu cầu tư vấn của họ Công trình sử dụngmột số phương pháp để nghiên cứu: phương pháp luận, cách tiếp cận, thiết kếchương trình để khảo sát 611 SV, về nhu cầu TVHT và những kinh nghiệmcủa SV khi được tư vấn Qua phân tích các phản hồi của SV, kết quả thu được

Trang 15

có 6 yếu tố cơ bản ảnh hưởng rõ rệt đến sự thành công trong học tập của SVthông qua TVHT: cố vấn trách nhiệm, cố vấn trao quyền, trách nhiệm của SV,học sinh tự định hiệu quả, kỹ năng học tập của SV và hỗ trợ nhận thức [56].

Tại hội thảo quốc tế lần thứ 4 tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Thụy Vân đãđánh giá cao hiệu quả TVHT bằng việc chứng minh các công trình đã được cáctác giả nước ngoài nghiên cứu như: “Nhiều nghiên cứu cho thấy một TVHThiệu quả đóng một vai trò trong phát triển SV (Light, 2001; Pizzolato, 2008;Reinarz & Ehrlich, 2002), gắn liền với thành công học tập của học sinh (Bahr,2008; Campbell & Nutt, 2008; Museus & Ravello, 2 (10), ảnh hưởng đến cácquyết định và thái độ đối với việc học suốt đời (Hunter & White, 2004; Smith

& Allen, 2006; Stickle, 1982), và liên quan đến sự hài lòng, tuyển dụng và duytrì của học sinh (E l lio tt) & Healy, 2001; Freeman, 2108; Peterson, Wagner, &Lamb, 2001)” [72]

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Cùng bàn về vấn đề TVHT, một số tác giả đã có những nghiên cứu tạicác cơ sở giáo dục ĐH, các bài viết đều được tập trung nghiên cứu dưới vaitrò CVHT Điểm lại các công trình đó có thể thấy có một số công trình nghiêncứu nổi bật sau:

Tìm hiểu về nhu cầu TVHT, năm 2016, luận án tiến sĩ của tác giả TrầnVăn Chương đã khảo sát và cho thấy hoạt động TVHT cho SV ở các trườngnày còn nhiều hạn chế mặc dù nhu cầu của SV rất cao Qua đó tác giả đã đềxuất một số giải pháp quản lý đào tạo cho các trường ĐH địa phương nhằmnâng cao hiệu quả quản lý quá trình dạy học, trong đó có giải pháp: Xây dựngđội ngũ CVHT với chức năng chủ yếu là tư vấn và hỗ trợ SV trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu khóa học [5]

Tác giả Nguyễn Thị Út Sáu đã chỉ ra một số nhu cầu cần thiết vềTVHT theo học chế tín chỉ của SV ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên Thứ

Trang 16

nhất, nhu cầu nội dung TVHT bao gồm: (1) Hoạt động đăng ký học tập, (2)Hoạt động học tập lý thuyết, (3) Hoạt động tự học, tự nghiên cứu, (4) Hoạtđộng thảo luận, seminar Thứ hai, nhu cầu về tổ chức, cá nhân Thứ 3, nhu cầu

về hình thức TVHT Tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tìm hiểu nhucầu TVHT của SV ở một số góc độ như: ngoài giờ học lý thuyết trên lớp, SVcòn phải học qua hình thức trải nghiệm thực tế, qua tham quan dã ngoại, quacách khai thác tài liệu, Tuy nhiên, tác giả cũng chưa đề cập đến các biệnpháp và hình thức tư vấn các nội dung đó như thế nào, mà quá trình TVHTnày hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố của người thầy thông qua nhu cầu tư vấncủa SV [34]

Trong cuốn Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ của tácgiả Đặng Xuân Hải (2011) đã nêu rõ vai trò của CVHT là giúp đỡ SV tronghọc tập [13] Cùng bàn về vai trò của CVHT trong TVHT tác giả Lâm QuangThiệp (2007) có bài viết “Học chế tín chỉ và việc áp dụng ở Việt Nam” tác giảcho rằng SV phải được gắn chặt với CVHT để tư vấn hướng dẫn cho SV lựachọn môn học và thiết kế quy trình học tập cho mình một cách cụ thể [39]

Với cách nhìn xuyên suốt, tổng thể những hạn chế, khó khăn trongTVHT, đề xuất giải pháp khắc phục, tác giả Trần Thị Minh Đức có bài viết đisâu tìm hiểu nhu cầu TVHT của SV và thực trạng việc CVHT tại Việt Nam

Từ khía cạnh trách nhiệm của CVHT và nhu cầu TVHT của SV, tác giả đãthống kê, phân tích cho thấy bốn nhóm nội dung công việc chính mà CVHTthường làm, trong đó nhóm đầu tiên được xác định là: phương pháp học tập,nghiên cứu khoa học, Với kết quả thu được về công tác TVHT cho SV hiệnnay, tác giả nhận định công tác TVHT còn gặp những khó khăn, hạn chế nhấtđịnh do những yếu tố khách quan, chủ quan từ cách nhìn nhận, đánh giánhiệm vụ CVHT của SV Với những suy nghĩ, băn khoăn, mong muốn CVHT

sẽ là người TVHT cho SV một cách tốt nhất, tác giả Nguyễn Duy Mộng Hà

Trang 17

có bài viết tập trung phân tích những thuận lợi của SV khi được CVHT tưvấn, sự cần thiết trong việc phát triển đội ngũ CVHT là tư vấn trong cáctrường ĐH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Để giải quyết được những khókhăn ở các trường ĐH hiện nay đang gặp phải trong công tác TVHT, một sốtác giả đã đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cốvấn học tập trong việc xây dựng và cải tiến công tác tư vấn cho SV [10], [11],[12] [22][43]

Tại Trường ĐH Tiền Giang, hoạt động TVHT được tác giả Lê ThịThanh Thảo đề cập đến kết quả khảo sát thông qua đội ngũ những người làmcông tác tư vấn SV cho thấy, chất lượng hoạt động TVHT tại nhà trường chưađược đánh giá cao do một số nguyên nhân sau: đội ngũ TVHT còn trẻ chưa cókinh nghiệm, cơ sở vật chất và điều kiện làm việc chưa đáp ứng yêu cầu, cáchthức tổ chức hoạt động TVHT còn bất cập Với những bất cập trên tác giả đã

đề xuất một số kiến nghị với nhà trường nhằm nâng cao chất lượng hoạt độngTVHT: Trang bị kỹ năng TVHT cho đội ngũ là công tác tư vấn, đánh giá định

kỳ chất lượng hoạt động TVHT [36]

Công tác TVHT thông qua CVHT cũng được nhà trường đặc biệt quantâm, tác giả Phạm Thị Lụa có bài viết chỉ rõ nhiệm vụ của CVHT Trong đócông tác tư vấn và hướng dẫn về học tập đã được đặt ra với nhiều nội dung:

Tư vấn cho SV về chương trình học tập, tư vấn và hướng dẫn phương pháphọc tập và nghiên cứu khoa học, Qua nghiên cứu, tác giả chỉ ra thực trạngcông tác TVHT với kỹ năng sử dụng phần mềm quản lý đào tạo còn yếuchiếm tới 73,9% Công tác CVHT trong nhà trường được nhiều tác giả nhậnđịnh vẫn còn nhiều hạn chế [37] [17] [23];[52],[20][9]

Một số tác giả nghiên cứu kết quả TVHT của CVHT về cách rèn luyện

kỹ năng tự học sau khi được TVHT Năm 2015, tác giả Ngô Thị Thanh Loan

và các công sự có bài viết: “Kết quả TVHT của CVHT tại trường ĐH Y Dược

Trang 18

– ĐH Thái Nguyên”, từ góc nhìn thực tế hoạt động TVHT của SV Trường ĐH

Y Dược, tác giả đã có những nhận định nhất định: SV chưa được tư vấn tốt vềphương pháp học tập, kỹ năng cơ bản học tập ngoài giờ lên lớp còn ở mứcthấp Công tác TVHT của CVHT đòi hỏi mất nhiều công sức nhiều thời gian,

do đó TVHT của nhà trường còn hạn chế chưa đạt kết quả cao [21]

Trong bài viết “Một số ý kiến đóng góp xung quanh hoạt động củaCVHT” tác giả Hồ Phương Thùy cho rằng: “CVHT là người đại diện cho nhàtrường hướng dẫn, tư vấn cho SV đến công tác quản lý, chương trình trìnhđào tạo, nghiên cứu khoa học…”[42]. Công tác tư vấn học đường cho họcsinh, SV cũng được tác giả Ngô Thị Thu Dung và Nguyễn Thị Hồng Nga quantâm, với mong muốn cung cấp cho học sinh những sản phẩm dịch vụ tốt nhấttrong học đường để nâng cao chất lượng giáo dục, tác giả đã đề xuất xây dựngthử nghiệm mô hình tư vấn học đường, nội dung tư vấn, phương thức hoạtđộng nhằm trợ giúp cho hoạt động tư vấn trong nhà trường đạt được hiệu quảhơn Tuy nhiên đây mới chỉ là hoạt động mang tính thử nghiệm, kết quả thuđược còn hạn chế, chưa đưa ra được nguyên tắc, cũng như hình thức tư vấn cụthể các nội dung trên như thế nào [6] Cùng quan điểm trên, tác giả Trịnh ThịPhan Lan cũng cho rằng: “CVHT người tư vấn định hướng, giám sát quá trìnhhọc tập, lựa chọn nghề nghiệp của SV, và tham mưu các vấn đề quản lý đàotạo, nghiên cứu khoa học, nhu cầu của xã hội về đào tạo cho nhà trường” [21]

Tại hội thảo “Vai trò của CVHT trong đào tạo theo học chế tín chỉ tạicác trường cao đẳng - đại học Việt Nam” được tổ chức tại trường ĐH sưphạm thành phồ Hồ Chí Minh năm 2014 đã có nhiều bài viết quan tâm cácgiải pháp nâng cao vai trò của CVHT

Tác giả Ngô Minh Oanh chỉ rõ bản chất của đào tạo theo hệ thống tínchỉ là tùy theo khả năng và năng lực của SV mà họ hoàn toàn chủ động trong

kế hoạch học tập của mình, bên cạnh đó phương pháp đào tạo này cần tăng

Trang 19

cường khả năng tự học, tự nghiên cứu của SV nhiều hơn nữa Tuy nhiên thựctrạng hiện nay ở nhiều cơ sở giáo dục khả năng chủ động trong kế hoạch vàphương pháp học tập của SV còn nhiều hạn chế, nhất là khả năng tự học gặprất nhiều khó khăn [29] Trong bài viết “Phương thức đào tạo theo hệ thốngtín chỉ và những yêu cầu đối với CVHT” tác giả Nguyễn Thị Hà Lan đã nêu

rõ CVHT cần phải nắm vững và hướng dẫn cho SV phương pháp tự học, tựnghiên cứu, tìm kiếm tra khảo tài liệu, phương pháp học trên lớp sao cho hiệuquả nhất [19] Tác giả Võ Xuân Đàn cũng nhận định, một trong những nhiệm

vụ quan trọng của CVHT là tư vấn phương pháp tự học, kỹ năng thu thập và

xử lý thông tin và kỹ năng nghiên cứu khoa học, [8]

cả đều chỉ ra được vai trò quan trọng của TVHT cho SV

- Các công trình cũng xác định được bản chất, các yếu tố ảnh hưởng củaTVHT, nhu cầu tư vấn của người học, một cách chung nhất trong đào tạo tínchỉ, để từ đó đưa ra một số biện pháp có tác động trực tiếp đến quá trình họctập của người học

Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập sâu tới TVHT với trọng tâm làhướng dẫn tự học, tự nghiên cứu trong quá trình đào tạo theo học chế tín chỉvới các ngành học kỹ thuật Ngoài ra, cũng cần xét đến yếu tố điều kiện tự học,

tự nghiên cứu của người học Đây là một yếu tố không thể bỏ qua khi bàn đếnbiện pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho người học Đề tài này

sẽ tiến hành nghiên cứu hoạt động TVHT trong dạy học cho SV ở các trường

Trang 20

CĐKT miền núi với trọng tâm là tư vấn phương pháp tự học, tự nghiên cứucho SV.

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Tư vấn

Theo từ điển Hán Việt thì tư vấn có nghĩa “Góp ý kiến về những vấn đề

hỏi đến nhưng không có quyền quyết định” [30].

Tư vấn cũng được nhiều tác giả trên thế giới và Việt Nam quan tâmnhưng mỗi người phân tích, đánh giá vấn đề dưới cách nhìn nhận khác nhau.Một số tác giả cho rằng, người tư vấn đóng vai trò là người chịu trách nhiệmphải tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề (R.chein, 1996), hoặc là người thuthập thông tin, chẩn đoán và đề xuất giải pháp (D.J Kuroius & J.C Brukbaker,1976).Theo Larry Greiner và Robert Metzger thì tư vấn là một dịch vụ cho lờikhuyên theo hợp đồng, nhà tư vấn chịu trách nhiệm về chất lượng và sự đúngđắn trong lời khuyên [38]

Để đạt được hiệu quả của sự trợ giúp, mối quan hệ trong tư vấn phải là

tự nguyện và bình đẳng, người cần được tư vấn là hoàn toàn tự nguyện khôngchịu sự ép buộc của người tư vấn Người tư vấn, cũng không đứng ra giảiquyết vấn đề thay cho người được tư vấn mà chỉ có vai trò hỗ trợ khách hànggiải quyết vấn đề Người được tư vấn có thể căn cứ vào điều kiện và hoàncảnh mà chấp nhận hay từ chối ý kiến của người tư vấn, có những lựa chọncho mình phù hợp với hoàn cảnh [2]

Tác giả Trần Thị Minh Đức, Trương Phúc Hưng, Trần Tuấn Lộ, ĐặngDanh Ánh cho rằng tư vấn là quá trình cung cấp kiến thức của một chuyên gia

có kinh nghiệm, hiểu biết về vấn đề mà khách hàng đang gặp phải [38; tr17]

Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền: “Tư vấn là một hoạt độngthông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của một cá nhân hay của một nhóm ngườimuốn hiểu biết về một đối tượng hoạt động nghề mà họ chưa có điều kiện tiếpcận một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh” [19; tr36]

Trang 21

Theo tác giả Chu Liên Anh “Tư vấn là sự trợ giúp, trong đó người tưvấn thông qua mối quan hệ tin cậy, tự nguyện, trao đổi thông tin để cung cấpgiải pháp nhằm giúp khách hàng tìm ra phương án tốt nhất giải quyết vấn đềcủa họ” [2].

“Tư vấn là tiến trình tương tác giữa nhà tư vấn và thân chủ, trong đóngười tư vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của mình giúp thân chủthấu hiểu hoàn cảnh của mình và tự giải quyết vấn đề của mình” [7]

Từ một số quan niệm trên có thể hiểu tư vấn như là một hoạt động trợgiúp thông tin tri thức về một vấn đề nào đó của những chủ thể có sự hiểu biếtcặn kẽ về vấn đề được đặt ra theo nhu cầu của một người hoặc nhóm người chưa

có sự hiểu biết đầy đủ chuẩn xác về vấn đề đó Chủ thể tư vấn là những người cókinh nghiệm chuyên sâu, có sự hiểu biết cần thiết có thể cung cấp, chia sẻ nhữngthông tin hữu ích cho người cần được tư vấn Bằng cách này người cần tư vấn sẽ

có cơ hội được tiếp cận với những chuyên gia giỏi chuyên môn ở lĩnh vực màngười cần tư vấn đang cần đề cập tới Quá trình cung cấp thông tin và các giảipháp không chỉ là việc của chủ thể tư vấn mà là cả quá trình người được tư vấnchấp nhận, lĩnh hội để sử dụng vào giải quyết vấn đề đang gặp khó khăn Chính

vì vậy muốn tư vấn trở thành quá trình trợ giúp thật hoàn chỉnh thì chủ thể tư vấncần tìm hiểu vấn đề sâu sắc, có sự đánh giá và cung cấp, phân tích thông tin thật

kỹ trước khi đưa ra quyết định tư vấn của mình

Tư vấn không chỉ giúp một cá nhân, một nhóm người giải quyết đượcvấn đề nào đó mà họ cần có nhu cầu giải quyết, tư vấn còn có tác dụng làmgiảm bớt những lo ngại, hoang mang mà họ đang phải đối mặt Tư vấn giúpcho người được tư vấn bình tĩnh, có suy nghĩ tích cực hơn, cân nhắc và tự raquyết định đúng cho bản thân mình, hay nói cách khác, tư vấn là một hoạtđộng nhằm đáp ứng những nhu cầu của một bộ phận người chưa hoặc chưa cóđiều kiện hiểu biết đầy đủ về một vấn đề nảy sinh trong học tập và đời sống

Trang 22

để từ đó có sự tính toán cân nhắc và đưa ra phương án tốt nhất cho bản thânmình Để tư vấn thật sự đạt được hiệu quả như mong muốn thì tư vấn cầnđược diễn ra như là quá trình trao đổi thông tin, tìm kiếm những giải pháp đểgiúp người được tư vấn lựa chọn và đưa ra quyết định đúng nhất.

Tư vấn không chỉ là hoạt động thông tin mà phải dựa trên cơ sở cungcấp thông tin và phân tích để đưa ra lời gợi ý hay lời khuyên

Như vậy, từ cách nhìn nhận nêu trên, có thể hiểu rằng: Tư vấn là hoạt động hợp tác và tự nguyện giữa người tư vấn và người cần được tư vấn Trong đó người tư vấn đưa ra lời gợi ý hay lời khuyên có cơ sở khoa học để giúp cho người cần được tư vấn tự giải quyết một vấn đề mà họ cần giải quyết nhưng chưa biết cách giải quyết, hoặc giúp họ lựa chọn một giải pháp tối ưu trong các giải pháp có thể để giải quyết một vấn đề.

1.2.2 Tư vấn học tập

TVHT được nhiều người quan tâm và xem xét dưới nhiều góc độ khácnhau, khái niệm TVHT được đưa ra cũng khác nhau Cho đến nay, có rấtnhiều quan niệm, cách phát biểu khác nhau về TVHT

Theo William G Hendey: “TVHT là một quy trình được dựa trên sựtrao đổi giữa CVHT với SV nhằm hỗ trợ SV đạt được mục tiêu đào tạo, nghềnghiệp của cá nhân thông qua việc sử dụng các nguồn lực của nhàtrường”[75]

“TVHT là một quá trình ra quyết định, qua đó SV nhận ra tiềm nănggiáo dục tối đa của mình thông qua trao đổi thông tin và trao đổi với một số

cố vấn” [78]

“TVHT là một quá trình tương tác, trong đó cố vấn giúp học sinh đặt ra

và đạt được các mục tiêu học tập, có được thông tin và dịch vụ liên quan vàđưa ra các quyết định có trách nhiệm phù hợp với sở thích, mục tiêu, khảnăng và yêu cầu bằng cấp” [64]

Trang 23

Theo Winston, Jr.R.B: “TVHT là một quá trình phát triển, hỗ trợ vàgiúp SV làm rõ các mục tiêu cuộc sống, mục tiêu nghề nghiệp của họ và ngay

cả trong việc phát triển các kế hoạch trong giáo dục, thông qua trao đổi thôngtin với CVHT, SV có thể nhận ra năng lực của mình và họ tự đưa ra quyếtđịnh để đạt được mục tiêu này CVHT như một người tuyên truyền, điều phốikinh nghiệm học tập cho SV thông qua khóa học” [74]

Cùng quan điểm TVHT sẽ giúp SV hiểu rõ năng lực học tập của mình,trong bài viết được trích từ hội nghị từ xa về TVHT, PBS năm 1999 “TVHT

là một quá trình trao đổi thông tin, SV được quyền quyết định và SV nhận ranăng lực học tập tối đa của mình Quá trình tư vấn này dựa trên quan điểm lấy

SV làm trung tâm và sẽ giúp họ hiểu rõ về bản thân mình và những kinhnghiệm trong học tập” [70]

Tác giả Noel-Levitz cho rằng “TVHT là một quá trình giúp SV giảmbớt sự lúng túng, nhầm lẫn khi làm việc trong một môi trường mới, và làm rõcác mục tiêu của họ và giúp họ tiếp nhận giáo dục một cách tốt nhất” [69]

David S Crockettvà các tác giả của ĐH Michigan – Dearborn nhậnđịnh: “TVHT là mối quan hệ hợp tác giữa một SV và một CVHT Mục đíchcủa sự hợp tác này là để hỗ trợ SV phát triển các mục tiêu giáo dục có ý nghĩaphù hợp với lợi ích, giá trị và khả năng cá nhân” [59]

Theo Juliet Kaufmann,“TVHT là một quá trình dạy học sinh làm thếnào để trở thành người có trách nhiệm trong giáo dục của chính họ Đây cũng

là một quá trình liên quan đến việc dạy học sinh cách đưa ra quyết định họctập khả thi” [63]

Một số tác giả cho rằng “Khi tư vấn cho SV, GV sẽ nhận được nhữngyêu cầu đề xuất kinh nghiệm làm việc, hướng dẫn kỹ năng nghề mà họ đangtheo học với mục tiêu chính là giúp họ hướng tới sự chủ động, độc lập và tựchủ hơn trong quá trình học tập và làm việc” [54]

Trang 24

Với cách nhìn nhận của Edward "Chip" Anderson cho rằng, “TVHT làmột quá trình thiết lập kế hoạch học tập, giúp SV tiếp cận với kế hoạch họctập đó một cách có tổ chức, khoa học.” [61].

“TVHT là một quá trình giáo dục có chủ ý đòi hỏi phải quan tâm vàxem xét tất cả các mục tiêu cơ bản này Đặc biệt quan trọng đối với TVHT là:dạy SV hiểu ý nghĩa của giáo dục ĐH; dạy SV hiểu mục đích của chươngtrình giảng dạy; và thúc đẩy sự phát triển trí tuệ và cá nhân của SV hướng tớithành công trong học tập và học tập suốt đời” [76]

“TVHT là quá trình giúp SV phù hợp với các nguồn lực của trường,giải quyết các vấn đề học thuật và đưa ra lời khuyên học tập giáo dục” [77]

TVHT giúp người học tích cực hóa hoạt động học tập, nghiên cứu, qua

đó vừa hoàn thành nhiệm vụ học tập vừa nâng cao năng lực tự học, tự nghiêncứu để có thể học suốt đời TVHT quan trọng trong việc kết nối giữa nhàtrường với SV, hướng SV đến mục tiêu đào tạo đáp ứng được chuẩn nghềnghiệp đặt ra [14]

Theo Quy chế công tác SV đối với chương trình đào tạo đại học hệ

chính quy, TVHT được hiểu “Tư vấn, hỗ trợ sinh viên xây dựng kế hoạch,

phương pháp học tập phù hợp với mục tiêu và năng lực; cung cấp thông tin vềchương trình đào tạo, hướng dẫn sinh viên tiếp cận các nguồn lực (về họcthuật, tài chính, kỹ thuật ) nhằm nâng cao khả năng, học tập hiệu quả.” [40]

Như vậy, qua các quan niệm trên đây về TVHT có thể khái quát: TVHT theo nghĩa rộng, là một dạng hoạt động trong đào tạo hoặc dạy học mà người

tư vấn đưa ra lời khuyên cho người được tư vấn về các vấn đề liên quan đến học tập, thông tin về nghề mình đã chọn trong suốt quá trình học tập.

1.2.3 Tự học

Theo tác giả Alexander Alimov và các cộng sự cho rằng “Tự học là một

khả năng hành động theo kinh nghiệm trước đó”[54]

Trang 25

Cũng theo tác giả Khan Academy “Tự học là việc học mà diễn ra mộtcách độc lập” [58]

Vấn đề tự học đã được đề cập trong các văn bản của Nhà nước, củangành Giáo dục đào tạo Nghị quyết TW 4 – khóa 7 chỉ rõ: “Phải khuyếnkhích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồidưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề” [28]

Ở Việt Nam, tự học đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu,điển hình nghiên cứu về tổ chức hoạt động tự học có tác giả Nguyễn CảnhToàn, theo tác giả “ Tự học là một hoạt động độc lập được diễn ra không hoặc

ít có sự điều khiển của người thầy”[44],[45],[46] Tác giả Nguyễn Ngọc Bảocho rằng “Tự học là hoạt động của người học, người học đóng vai trò chủđạo, tích cực, tự giác dưới vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của ngườithầy”[3], Trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” tác giảThái Duy Tuyên đã đi sâu bàn đến vấn đề bồi dưỡng năng lực tự học cho họcsinh và việc tổ chức, cách vận dụng cụ thể trong dạy học trên lớp Theo tácgiả, “Tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà nhà trườnghiện đại cần trang bị cho người học, vì nó có ích không chỉ khi các em cònngồi trên ghế nhà trường mà cả khi đã bước vào cuộc sống”[51, tr302] Ngoài

ra còn có các nhà nghiên cứu quan tâm với các công trình nghiên cứu dướinhiều góc độ và khía cạnh khác nhau xoay quanh việc tự học của sinh viên,như: Trần Thị Minh Hằng Đinh Văn Viễn, Lương Duy Quyền, Nguyễn ThanhThủy, Văn Kim Tế, Đặng Thành Hưng [15],[53],[47],[34] [16]…

Theo tác giả Lê Khánh Bằng : “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng cácnăng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhấtđịnh” [3; tr3] Tác giả Đặng Thị Thanh Mai, Nông Thị Hà với bài “Tăngcường khả năng tự học của SV qua hướng dẫn SV cách học” cho rằng hoạtđộng dạy tự học đóng vai trò quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào

Trang 26

tạo cũng như chất lượng học tập của mỗi SV [25] Tác giả Phạm Văn Tuân đisâu nghiên cứu về hoạt động dạy cách tự học cho người học Tác giả cho rằngmuốn nâng cao hiệu quả tự học không những phụ thuộc vào ý chí vươn lêncủa người học mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ hoạt động dạy tự học [50].

Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn nghiên cứu sâu về vấn đề tự học, ông chorằng học cốt lõi là tự học mà ở đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình: “Tựhọc là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quansát, phân tích, tổng hợp , ) và có khi cả cơ bắp (khi phải dùng công cụ) cùngcác phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan(như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ) để chiếmlĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sởhữu của mình” [47; tr 80]

Theo quan niệm về tự học của một số nhà tâm lý học ở nước ngoài, tácgiả M.A Rubakin: “ Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hộilịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệcải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnhthực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng,

kỹ xảo của bản thân chủ thể” [68; tr35] Tác giả N.D Levitov: “Tự học làhoạt động tích cực của cá nhân với các thành phần tâm lý của sự lĩnh hội, đó

là thái độ tích cực của người học, trong tự học các quá trình tư duy, các quátrình ghi nhớ,… các quá trình tâm lý có liên quan mật thiết với nhau để hoạtđộng tự học đạt kết quả”[62; tr 140]

Trong giáo dục và đào tạo hiện nay, tự học trong các bối cảnh điều kiệnkhác nhau nên có những đặc điểm và phương pháp khác nhau Có thể chia racác loại tự học sau:

- Tự học hoàn toàn: người học tự xác định mục đích, kế hoạch, chuẩn

Trang 27

bị phương tiện, tự thực hiện và tự đánh giá Loại tự học này đòi hỏi người họcphải có quyết tâm, nghị lực rất lớn, có thể tự tìm cách học phù hợp và biếtđiều chỉnh cách học.

- Tự học có hướng dẫn: người học tự học dưới sự tư vấn, hướng dẫncủa người khác Trong giáo dục và đào tạo, người tư vấn, hướng dẫn có thể làCVHT nhưng chủ yếu và hiệu quả nhất chính là các GV Tự học dưới sự tưvấn, hướng dẫn của GV lại có thể được chia ra 2 loại nhỏ là: tự học trên lớp

và tự học ngoài giờ lên lớp

+ Tự học trên lớp: Thay vì cách dạy thông thường, GV giao nhiệm vụ,nêu yêu cầu và hướng dẫn cách thực hiện Nếu cần, GV giao phương tiện,thiết bị hỗ trợ cho người học thực hiện Trong khoảng thời gian nhất định,người học tự học, tự nghiên cứu, tự làm để thực hiện nhiệm vụ và có thể thảoluận nhóm trước khi báo cáo kết quả, sản phẩm trước toàn lớp hoặc cho GV.Đặc điểm của loại tự học trên lớp là thời gian có hạn, người học thực hiệndưới sự giám sát, hướng dẫn và nếu cần thiết sẽ có sự hỗ trợ, hợp tác của bạnhọc và đặc biệt là có sự can thiệp, hỗ trợ, giảng giải của GV

+ Tự học ngoài giờ lên lớp: Trong giờ học trên lớp, người học được GVgiao nhiệm vụ, nêu yêu cầu và hướng dẫn cách thực hiện Thời gian ngoài giờlên lớp người học thường phải thực hiện độc lập, có thể trao đổi với bạn bè,

người thân hoặc học hỏi người khác được coi là “chuyên gia” trong lĩnh vực

của nhiệm vụ đó Ở buổi học sau, người học báo cáo kết quả, có thể báo cáobằng lời, bằng văn bản hoặc nộp sản phẩm

So với loại tự học hoàn toàn, tự học có hướng dẫn có hiệu quả cao hơn,người học không chỉ lĩnh hội được kiến thức mới, hình thành hoặc rèn luyện

kĩ năng mới mà còn hình thành và phát triển phương pháp tự học, tự nghiêncứu Loại tự học này rất phù hợp với quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Như vậy có thể hiểu: Tự học là một hoạt động học tập mà người học tự

Trang 28

mình học tập, nghiên cứu, rèn luyện để lĩnh hội kiến thức, hình thành và phát triển kỹ năng, qua đó hình thành năng lực và phẩm chất Kết quả của tự học không chỉ là kiến thức mới, kỹ năng mới mà người học còn hình thành và phát triển phương pháp tự học, tự nghiên cứu.

1.2.4 Tư vấn tự học

Theo Quy chế 43, quy chế về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quytheo hệ thống tín chỉ, ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 15/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong độingũ tổ chức đào tạo có chức danh “cố vấn học tập” Nhiệm vụ chủ yếu CVHT

là tư vấn cho SV hiểu rõ quy chế đào tạo và lập kế hoạch học tập cá nhân phùhợp với kế hoạch đào tạo, sức học và điều kiện của cá nhân SV Có thể thấycông việc của CVHT như là thực hiện các nội dung hoạt động TVHT đã nêutrên [32]

Một đặc điểm rõ nhất trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ hay theophương thức học chế tín chỉ là tổng thời lượng SV học trên lớp giảm khoảngmột phần ba so với phương thức học chế niên chế Việc chuyển đổi chươngtrình đào tạo từ phương thức niên chế sang tín chỉ dựa theo hai nguyên tắc cơbản: Giảm giờ nhưng không được cắt xén nội dung chương trình môn học vàgiảm giờ học trên lớp sẽ tăng giờ tự học của SV Thời lượng tự học của SVtăng lên đáng kể, mỗi tiết học trên lớp, SV phải dành khoảng 2 tiết để tự học

“ Một tín chỉ được quy định tối thiểu bằng 15 giờ học lý thuyết và 30 giờ tựhọc, chuẩn bị cá nhân có hướng dẫn” [41] Có thể nói, việc giảm giờ lên lớpnhưng không được cắt xén nội dung giảng dạy là một điều vô cùng khó đốivới mỗi GV, đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian, công sức cho bài giảng.Song song với đó, việc tăng giờ tự học của SV cũng vô cùng quan trọng đểlàm sao chất lượng đào tạo không bị giảm khi giảm giờ học trên lớp Với đặcđiểm này, nếu việc tự học của SV không được thực hiện đúng mức sẽ ảnh

Trang 29

hưởng lớn tới kết quả học tập của SV, kiến thức SV có được rất sơ sài, chấtlượng đào tạo sẽ giảm Tuy nhiên cho đến nay, SV còn lúng túng và gặp nhiềukhó khăn trong việc tự học, GV cũng chưa chú trọng đến việc hướng dẫn SV

tự học và cũng chưa chú trọng nghiên cứu phương pháp hướng dẫn tự họcmột cách khoa học, thiết thực và hiệu quả

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, với quan niệm về tự học như trên,

có thể hiểu: Tư vấn tự học (tư vấn học tập theo nghĩa hẹp) là một phương pháp dạy học, trong đó GV đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn, thực hiện các việc: giao nhiệm vụ, nêu yêu cầu, hướng dẫn cách thực hiện; người học tự học, tự nghiên cứu theo hướng dẫn của GV để thực hiện nhiệm vụ theo đúng yêu cầu và báo cáo kết quả.

1.3 LÝ LUẬN VỀ TƯ VẤN HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC KỸ THUẬT ỞTRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.3.1 Cơ sở khoa học của việc xây dựng lý luận về tư vấn học tập trong dạy học kỹ thuật

1.3.1.1 Đặc điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ hay đào tạo theo phương thức học chế tínchỉ đã được áp dụng từ lâu và phổ biến trên thế giới Ở Việt Nam, các trường

ĐH, CĐ cũng đã áp dụng phương thức đào tạo này trong thời gian gần đây

Sau khi triển khai thí điểm từ năm 2001, ngày 15/08/2007, Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ban hành

“Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”

Ngày 01/03/2017 Bộ Lao động và Thương binh Xã hội ban hành thông

tư 03/2017/TT-BLĐTBXH có quy định về đào tạo theo phương thức tín chỉ

“Thời gian khóa học theo tích lũy mô đun hoặc tín chỉ: là thời gian người họctích lũy đủ số lượng mô đun hoặc tín chỉ quy định cho từng chương trình đàotạo cụ thể” [81]

Trang 30

Thực hiện Quyết định này, các trường ĐH, CĐ hệ chính quy đã chuyểnphương thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ Phương thức đào tạo theo hệthống tín chỉ có một số đặc điểm nổi bật sau:

- Chương trình đào tạo có tính mềm dẻo, linh hoạt.

Hoạt động dạy học được tổ chức dưới ba hình thức: lên lớp, thực hành

và tự học SV có thể học vượt, học cải thiện nâng điểm, hoặc dừng tiến độ học

do điều kiện và hoàn cảnh của mình Tổ chức mềm dẻo, linh hoạt như vậygiúp SV chủ động trong việc xây dựng kế hoạch học tập như: tự xây dựngmục tiêu, kế hoạch học tập, lựa chọn phương pháp và thời gian học tập Quychế 43 quy định chức danh “cố vấn học tập” để giúp SV lập kế hoạch học tập,đăng ký học phần, Đào tạo theo phương thức tín chỉ sẽ tạo điều kiện tốtnhất cho sự phát triển tính tự chủ của người học Tuy nhiên, phương thức đàotạo này cũng đòi hỏi ở SV sự tự giác, tích cực, chủ động và phải có phươngpháp tự học đúng

- Thời lượng học tập trên lớp của sinh viên giảm đáng kể.

Theo quy chế đào tạo, chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ giảmthời lượng học trên lớp, tăng thời lượng tự học Giả sử một chương trình đàotạo trình độ CĐ theo niên chế có tổng thời lượng 165 đơn vị học trình, mỗiđơn vị học trình có 15 tiết và mỗi tiết có 45 phút thì tổng thời lượng củachương trình sẽ là: 165 x 15 x 45/60 = 1856 giờ Khi chuyển sang đào tạotheo tín chỉ với thời lượng 110 tín chỉ, mỗi tín chỉ có 15 tiết và mỗi tiết có 50phút thì tổng thời lượng của chương trình sẽ là: 110 x 15 x 50/60 = 1375 giờ.Như vậy, khi sang chuyển phương thức đào tạo tín chỉ, thời lượng học trênlớp của SV giảm 481 giờ, tương đương giảm 26%

Để khắc phục sự giảm thời lượng này, chương trình đào tạo theo tín chỉchú trọng tới hoạt động tự học của SV, quy định một giờ học trên lớp sẽ có 2giờ tự học Như vậy, để đảm bảo chất lượng đào tạo khi thời lượng học của

SV trên lớp giảm nhiều, điều quan trọng nhất là phải nâng cao được chất

Trang 31

lượng và hiệu quả tự học của SV, “Việc tăng giờ tự học của SV tối quan trọng

để chất lượng đào tạo không bị giảm sút khi giảm giờ học trên lớp Để SV tựhọc có hiệu quả cần phải giúp họ xây dựng thói quyen tự học và quyen dầnvới học tập tích cực” [1]

- Học tập theo học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải tích cực, chủ động

và có phương pháp tự học, tự nghiên cứu khoa học.

Phương thức đào tạo tín chỉ đòi hỏi SV tăng cường tính tự giác, chủđộng, phải tự học, tự nghiên cứu nhiều hơn Các đặc tính này sẽ có được nếunhư giáo dục phổ thông thực hiện được phương thức dạy học lấy việc học củahọc sinh làm trọng tâm Mặc dù quan điểm này đã được nói đến và thực hiện

ở giáo dục phổ thông từ lâu nhưng thực tế lối truyền thụ một chiều vẫn cònkhá phổ biến Vì thế, khi bước chân vào trường ĐH, CĐ, cách nghĩ và cáchhọc của SV vẫn khá thụ động, hầu như còn lúng túng và gặp nhiều khó khăntrong việc tự học, tự nghiên cứu Đây cũng là lý do chủ yếu mà ở trường ĐH,

CĐ cần làm tốt công tác TVHT cho SV, giúp SV có được tinh thần và phươngpháp tự học, tự nghiên cứu, phù hợp với phương thức đào tạo theo học chế tínchỉ Việc TVHT này không ai làm tốt hơn là chính người GV đang trực tiếpgiảng dạy Vai trò của người GV lúc này sẽ chuyển từ việc chủ yếu truyền thụkiến thức sang việc tổ chức, hướng dẫn, giám sát, trọng tài và đánh giá SV tựhọc, tự nghiên cứu Trong quá trình giảng dạy, GV cần tăng cường tư vấnphương pháp học tập cho SV để họ có thể lựa chọn và tự tìm cho mìnhphương pháp học phù hợp nhất, hiệu quả nhất

- Dạy học theo học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên phát triển kỹ năng hợp tác.

Phương thức đào tạo theo tín chỉ đặt người học vào vị trí trung tâm củaquá trình dạy học, hình thành cho SV thói quen tự học, tự khám phá kiếnthức, rèn luyện kỹ năng, phát triển tính chủ động và sáng tạo Bên cạnh đó,đào tạo theo học chế tín chỉ cũng đòi hỏi SV phát huy tính hợp tác với GV và

Trang 32

với các bạn học Câu ngạn ngữ “Học thầy không tày học bạn” càng có ý nghĩatrong phương thức đào tạo theo tín chỉ Nhiều nhiệm vụ học tập không thểhoàn thành nếu thiếu tính hợp tác với bạn học, thiếu sự mạnh dạn trao đổi,làm việc với GV.

Có thể nói, phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi người họcphải có phương pháp tự học, tự nghiên cứu và để người học có được phươngpháp đó thì cần thiết phải có sự tư vấn, hướng dẫn của người GV

1.3.1.2 Hoạt động của cố vấn học tập trong tư vấn học tập

- Hoạt động của cố vấn học tập

CVHT trong đào tạo theo tín chỉ, có ảnh hưởng rất lớn đến sự thànhcông trong quá trình rèn luyện, học tập và đặc biệt còn đóng vai trò quantrọng của mỗi SV Hầu hết các trường đều có CVHT, song chức năng vànhiệm vụ của CVHT được xác định: Tư vấn, hỗ trợ, trợ giúp SV trong quátrình học tập và nghiên cứu khoa học, định hướng nghề, tư vấn hướng dẫn SVthực hiện quyền và nghĩa vụ của họ trong suốt quá trình đào tạo [6], [26],

[24]

Người CVHT có vai trò tư vấn, định hướng quá trình học tập, địnhhướng nghề nghiệp, tư vấn cho SV giám sát quá trình học của SV Giúp SVhiểu rõ chương trình đào tạo, phương pháp học tập, nhận thức rõ được tầmquan trọng của quy chế đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo phù hợp vớitrình độ nhận thức, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh cá nhân, và từ đó SV tự tìm

ra biện pháp khắc phục các khó khăn ngay từ khi bước chân vào giảng đườngđến khi kết thúc học tập CVHT sẽ tư vấn giúp SV tiếp cận được nguồn lực về

cơ sở vật chất sẵn có của nhà trường từ đó thúc đẩy khả năng của SV để đi tớithành công trong học tập

Ngoài ra CVHT cũng tư vấn cách giải quyết khó khăn vướng mắctrong đời sống sinh hoạt, bàn bạc góp ý các vấn đề xã hội: rèn luyện bản thân,góp ý về sự phát triển nhân cách của SV, hành vi đạo đức, kỹ năng sống, tư

Trang 33

vấn các vấn đề nghề nghiệp sau khi ra trường

- Hoạt động tư vấn học tập của cố vấn học tập

Khi SV tham gia theo học chế tín chỉ, họ có thể nhận được sự trợ giúpcủa CVHT của GV giảng dạy để TVHT cho mình về kế hoạch học tập cũngnhư lựa chọn phương pháp học tập cho mình một cách hiệu quả nhất Đào tạotheo hình thức tín chỉ sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển năng lực củangười học [15]

Phương thức đào tạo theo tín chỉ nhằm tăng cường tính tích cực, chủđộng, sáng tạo cho người học Chính vì vậy, cần phải thay đổi phương pháphọc tập của SV theo hướng phát huy tính chủ động Một trong những hoạtđộng quan trọng của CVHT trong học chế tín chỉ là TVHT

Tư vấn học tập gồm một số nội dung cơ bản sau:

+ Tư vấn phương pháp học tập

Tư vấn phương pháp học tập là một nội dung tư vấn quan trọng nhấtcủa TVHT Người CVHT cần tìm hiểu để biết được năng lực nhận thức,điều kiện học tập của SV; biết được phương thức đào tạo theo học chế tínchỉ; biết được những khó khăn mà SV thường gặp phải trong quá trình họctập Đặc biệt, đối với học tập các môn học, học phần, mô đun thuộc chuyênngành kỹ thuật đòi hỏi kỹ năng thực hành nhiều thì phương pháp học tập cónhững đặc điểm riêng mà người CVHT cần biết để có những tư vấn phùhợp, hiệu quả

Trong dạy học kỹ thuật, tự học của người học bao gồm cả tự học lýthuyết và tự học thực hành Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, việc đàotạo theo tín chỉ rút ngắn khoảng 1/3 thời gian học trên lớp và đòi hỏi ngườihọc tự học nhiều hơn Nhưng với những bài thực hành đòi hỏi phải có máymóc, thiết bị, dụng cụ để thực hành thì người học không thể tự học ở nhàđược mà phải được tự học thực hành ở phòng thực hành, thí nghiệm của nhàtrường Để SV tự học được, người CVHT mà thường chính là các GV dạythực hành phải có sự chuẩn bị, hướng dẫn rất khoa học, cụ thể, đầy đủ để đảm

Trang 34

bảo chất lượng và an toàn Trường hợp tự học này của SV được gọi là “tự họcthực hành có hướng dẫn”

Quá trình dạy học một bài thực hành kỹ thuật thường chia ra 3 giaiđoạn: hướng dẫn ban đầu, hướng dẫn thường xuyên và hướng dẫn kết thúc.Khi đó, có thể tổ chức cho SV “tự học thực hành có hướng dẫn” trong giaiđoạn hướng dẫn thường xuyên Khi đó, sự tư vấn, hướng dẫn của GV với vaitrò như là CVHT sẽ được thực hiện ở cuối giai đoạn hướng dẫn ban đầu vàphải làm kỹ lưỡng, đầy đủ hơn so với dạy học bình thường

Như vậy, trong tư vấn phương pháp học tập, ngoài các tư vấn phươngpháp học thông thường, áp dụng đối với các bài học lý thuyết, các chủ đềmang tính lý thuyết thì đối với các bài học thực hành, bài tích hợp sẽ có đặcđiểm riêng Với đặc điểm riêng đó mà phương pháp tư vấn của CVHT cũngphải có những điều chỉnh cho phù hợp để vừa đảm bảo chất lượng và hiệu quảcủa tự học, vừa đảm bảo an toàn lao động và an toàn máy móc, thiết bị

+ Tư vấn chương trình đào tạo và xây dựng kế hoạch học tập

CVHT sẽ tư vấn cho SV hiểu rõ mục tiêu, nội dung chương trình đàotạo, lộ trình và giai đoạn học CVHT sẽ tư vấn cho SV điều kiện tiên quyếttrước khi lựa chọn môn học, nên chọn môn học nào trước, môn học nào sau

Xây dựng kế hoạch học tập là xây dựng một thời gian biểu cụ thể, SV

có thể xây dựng kế hoạch cho một kỳ học hay cả một năm học CVHT tư vấncho SV nên xây dựng cho mình một kế hoạch hợp lý phù hợp với năng lực nhậnthức, nhu cầu và điều kiện học tập, tiềm năng kinh tế của mỗi cá nhân SV để cóthể đạt được một kết quả học tập hiệu quả nhất trong khoảng thời gian nhất định

mà SV dự định Kế hoạch học tập được xây dựng hợp lý sẽ giúp SV chủ độngthời gian, sử dụng quỹ thời gian một cách hiệu quả và hợp lý Ngoài ra CVHTcũng tư vấn cho SV cách đăng ký khối lượng số tín chỉ, môn tự chọn, GV giảngdạy, học cải thiện điểm, đăng ký bổ sung hoặc rút bớt các học phần, tư vấn giúp

SV tháo gỡ những vướng mắc v.v.v

1.3.1.3 Đặc điểm của dạy học kỹ thuật

Trang 35

Trong dạy học kỹ thuật, ngoài các đặc điểm chung như các quá trìnhdạy học khác, dạy học kỹ thuật còn có một số đặc điểm đặc trưng sau:

- Nội dung học tập thường bao gồm cả lý thuyết và thực hành, thínghiệm Vì vậy trong chương trình đào tạo ngành kỹ thuật thường có nhiềuhọc phần, mô đun, môn học thực hành, thí nghiệm; có nhiều thời lượng dànhcho thăm quan, ngoại khóa, thực tập sản xuất, “Thời gian học lý thuyết vàthời gian thực hành, thực tập, thí nghiệm tùy theo từng ngành, nghề đào tạophải đảm bảo tỷ lệ sau: Đối với trình độ cao đẳng, thực hành, thực tập, thínghiệm từ 50% - 70%” [81] Đặc điểm này tạo một khó khăn khi thực hiệnphương thức đào tạo theo học chế tín chỉ vì thời lượng thực hành, thí nghiệmgiảm mà SV rất khó hoặc không thể tự học thực hành, thí nghiệm ở nhà được

- Các môn học, mô đun, học phần thuộc chuyên ngành kỹ thuật có nộidung phản ánh khoa học công nghệ, kỹ thuật, vì thế một trong những đặcđiểm của nội dung kiến thức là có tính thực tiễn cao Mặt khác trong dạy học

kỹ thuật cần đảm bảo sự thống nhất giữa năng lực nhận thức của SV và tínhkhoa học của nội dung dạy học Với đặc điểm này, trong dạy học và tư vấn,hướng dẫn học tập, GV có thể chỉ cho SV cách khai thác, tìm hiểu, quan sátcác máy móc, thiết bị, quy trình kỹ thuật có trong thực tiễn để hỗ trợ cho quátrình tự học

- Nội dung học tập thường lạc hậu so với sự phát triển của khoa học,công nghệ Đặc điểm này là một tất yếu và ngày càng rõ nét khi khoa học,công nghệ phát triển nhanh, mạnh mẽ và sâu rộng như hiện nay Đây là mộtkhó khăn trong dạy học kỹ thuật nhưng cũng là điểm mà GV có thể khai thác

để hướng dẫn, động viên, khích lệ SV tích cực tự tìm hiểu, vận dụng kiếnthức, kỹ năng đã học để giải quyết vấn đề thực tiễn Cũng nhờ đó mà SV cóđộng lực tự học, tự nghiên cứu

Trang 36

1.3.1.4 Điều kiện học tập của sinh viên

Như đã nêu trong phạm vi nghiên cứu, đề tài nghiên cứu về TVHTtrong đào tạo ngành Công nghệ Kỹ thuật điện, điện tử tại một số trườngCĐKT miền núi Người học tại các cơ sở đào tạo này có đặc điểm là nhiềudân tộc khác nhau và có điều kiện sống khác nhau Tính đa dạng này đòi hỏi

GV phải căn cứ vào điều kiện cụ thể để có những tư vấn, hướng dẫn tự họckhác nhau Tính cá thể trong dạy học cần được chú trọng, với những trườnghợp khó khăn về năng lực nhận thức và điều kiện học tập, GV có thể phải hỗtrợ, tạo điều kiện để SV được tự học, tự nghiên cứu ở trường nhiều hơn Nhất

là với những nội dung học tập mà chỉ có các phòng thực hành, thí nghiệm ởnhà trường mới có đủ phương tiện, thiết bị dạy học

Bên cạnh đó, đào tạo theo hệ thống tín chỉ cơ sở vật chất là một trongnhững yếu tố quan trọng quyết định đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo,nhu cầu về cơ sở vật chất (phòng học, thiết bị dạy học, tài liệu nghiên cứu, hệthống thư viện….) là rất cao Những năm gần đây các trường đã chú trọngnhiều đến trang thiết bị phục vụ dạy học, song đối với các trường CĐKT miềnnúi còn nhiều khó khăn Phòng thí nghiệm, xưởng thực hành trang thiết bị cònlạc hậu, phòng học còn thiếu nhiều thiết bị phục vụ dạy học như máy chiếu,

hệ thống máy tính, phần mềm hỗ trợ giảng dạy, do vậy rất khó để nâng caochất lượng đào tạo, và nghiên cứu khoa học

Trong khi đó, các thiết bị phục vụ cho đào tạo ngành KT đòi hỏi côngnghệ hiện đại thì giá thành lại cao, nguồn kinh phí đầu tư mua trang thiết bịphục vụ cho hoạt động dạy học eo hẹp Thiết bị dạy học trong một số nhàtrường phần lớn đã cũ, một số lỗi thời không còn phù hợp yêu cầu công nghệsản xuất cũng như dạy học hiện đại hiện nay

Không chỉ thiếu máy móc, thiết bị thực hành lạc hậu, một số ngành họccần phải thực hiện qua nhiều công đoạn phân tích các chỉ tiêu về tiêu chuẩn

Trang 37

chất lượng sản phẩm nhưng thiết bị không được đồng bộ có những công đoạnbuộc phải bỏ qua hoặc làm tắt và thực hiện mang tính thủ công không đúngquy trình công nghệ dẫn đến độ chính xác không cao, không đáp ứng được nhucầu thực tập của SV và yêu cầu của xã hội, SV ra trường rất khó có thể làmviệc được ngay Ngoài ra một số nghề như công nghệ ô tô, cơ khí hoặc côngnghệ KT điện – điện tử cũng đòi hỏi thiết bị thực hành, thí nghiệm có tính côngnghệ hiện đại tự động hóa cao, song phần lớn các trường đều không có hoặcnếu có cũng chỉ có một thiết bị đơn lẻ Chính vì vậy trong quá trình dạy học SVchỉ được học qua hệ thống mô phỏng hình vẽ, nếu muốn được tiếp cận với thiết

bị thì nhà trường sẽ gửi SV đến các công ty, doanh nghiệp đi học trải nghiệmthực tế nhưng thời gian để SV trải nghiệm rất ít, không có sự hướng dẫn sâu sátcủa GV, trong điều kiện như vậy SV học sẽ khó đảm bảo chất lượng đào tạo

1.3.2 Quy trình tư vấn học tập

Để thực hiện tư vấn, hướng dẫn tự học cho SV, cần phải thực hiện đầy

đủ các nội dung sau:

* Bước 1: Chuẩn bị

Chuẩn bị là một khâu tất yếu trong mọi hoạt động và là yếu tố ảnhhưởng lớn tới chất lượng và hiệu quả của hoạt động Với đặc điểm của đàotạo theo học chế tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu trước bài học là rất quantrọng Do vậy, việc chuẩn bị cần được triển khai sớm hơn so với việc chuẩn bịdạy học thông thường Công việc chuẩn bị bao gồm:

- Phân tích mục tiêu và nội dung của bài học: Phân tích mục tiêu bài học

là công việc tất yếu khi soạn bài, còn phân tích nội dung là nhằm xác định nộidung nào là trọng tâm và nội dung nào có thể cho SV tự đọc, tự học, tự nghiêncứu trước khi GV giảng bài (tự học trên lớp) hoặc trước khi đến lớp (tự họcngoài giờ lên lớp)

- Xác định những phương tiện, thiết bị phục vụ dạy học: Việc xác địnhphương tiện, thiết bị dạy học cũng là một công việc tất yếu khi soạn bài Tuy

Trang 38

nhiên, việc xác định ở đây còn giúp GV quyết định lựa chọn nội dung nào sẽgiao cho SV tự học, tự nghiên cứu ở nhà Từ những nội dung đã xác định ởtrên, GV chỉ chọn những nội dung không cần phương tiện, thiết bị dạy học hỗtrợ để giao nhiệm vụ cho SV tự học ngoài giờ lên lớp.

- Xác định nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu của SV: Sau khi đã xác định

rõ những nội dung để giao cho SV tự học, tự nghiên cứu, GV biên soạn nộidung nhiệm vụ để giao cho SV Nội dung nhiệm vụ cần được diễn đạt ngắngọn, súc tích, đơn nghĩa và dễ hiểu

- Xác định những yêu cầu về sản phẩm, nội dung và cách thức báo cáo:

Để SV hiểu rõ hơn nhiệm vụ, GV cần nêu rõ yêu cầu cần đạt về sản phẩm (vậtphẩm, nếu có) và cách trình bày nội dung báo cáo, cách thức báo cáo (nộp cho

GV, báo cáo trước nhóm, trước lớp) và thời lượng báo cáo

- Xây dựng nội dung hướng dẫn hoàn chỉnh: Sau khi hoàn thành cáccông việc trên, GV biên soạn toàn bộ nội dung hướng dẫn SV tự học, tựnghiên cứu, cần lưu ý đối với những nhiệm vụ giao cho SV chuẩn bị ở nhà vìtrong quá trình SV thực hiện không có sự hỗ trợ của GV

* Bước 2: Tổ chức thực hiện

- Giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách thực hiện: Tùy theo hướng dẫn SV

tự học ngoài giờ lên lớp hoặc trên lớp mà GV thực hiện giao nhiệm vụ vàhướng dẫn khác nhau Cũng tùy theo tự học lý thuyết hay thực hành mà GVlưu ý SV những điểm khác nhau Khi hướng dẫn SV tự học thực hành, ngoàinhững điểm lưu ý về học tập, cần đặc biệt chú trọng lưu ý tới khâu an toàn laođộng

Bước 1: Chuẩn bị

1 Phân tích mục tiêu và nội dung bài học

2 Xác định phương tiện, thiết bị phục vụ dạy học

3 Xác định nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu của SV

4 Xác định yêu cầu về sản phẩm, nội dung báo cáo

5 Xây dựng nội dung hướng dẫn

Bước 2: Tổ chức thực hiện

1 Giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách thực hiện

2 Tổ chức SV báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ

3 Tổ chức lớp thảo luận về kết quả của các báo cáo

4 Nhận xét, đánh giá và chốt nội dung học tập

Bước 3: Hoàn thiện

1 Rút kinh nghiệm

2 Bổ sung, điều chỉnh những nội dung cần thiết

3 Hoàn thiện toàn bộ nội dung công việc

Hình 1.1 Quy trình tư vấn học tập trong dạy học kỹ thuật

Trang 39

- Tổ chức cho SV báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ: Tùy theo từngnhiệm vụ mà GV có thể yêu cầu một số SV báo cáo kết quả tự học, tự nghiêncứu của mình nhưng cũng có thể cho mỗi SV báo cáo một phần kết quả côngviệc trong nhiệm vụ đó.

- Tổ chức lớp thảo luận về kết quả của các báo cáo: Sau khi SV báo cáoxong, GV tổ chức, hướng dẫn SV thảo luận, nhận xét, đánh giá kết quả củabạn học GV cho phép SV phát biểu ý kiến có thể nêu kết quả của mình khikết quả đó đúng hơn, hay hơn, sáng tạo hơn

- Nhận xét, đánh giá, giảng giải và chốt nội dung học tập: Sau phầnthảo luận, GV nêu nhận xét về tinh thần, thái độ học tập, về phương pháp thựchiện và báo cáo của SV; nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu của SV; phântích kỹ những nội dung mà SV làm sai, hiểu sai; bổ sung những nội dung cònthiếu và cuối cùng là chốt lại những nội dung mà SV cần lĩnh hội

* Bước 3: Hoàn thiện

Trang 40

Sau khi đã tiến hành xong bài dạy trên lớp, GV xem xét toàn bộ nộidung và kết quả 2 bước trên để rút kinh nghiệm, bổ sung, điều chỉnh nhữngnội dung cần thiết và hoàn thiện toàn bộ nội dung công việc Nội dung này sẽtiếp tục được sử dụng ở các lớp khác hoặc khóa sau Đồng thời, các kinhnghiệm này cũng được sử dụng khi triển khai ở bài mới.

Có thể tóm tắt quy trình tư vấn học tập qua sơ đồ trên hình 1.1

1.3.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động tư vấn học tập

Để đánh giá hiệu quả của hoạt động TVHT, cần căn cứ theo một số tiêuchí sau:

a Nội dung tư vấn Thể hiện:

- Nội dung hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu

- SV hiểu được nhiệm vụ, biết được kết quả cần đạt

- Nhiệm vụ có tính vừa sức để SV có thể hoàn thành và đạt được mụctiêu của bài học

b Phương pháp tư vấn Thể hiện:

- Phù hợp với từng đối tượng SV

- Phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của SV

- SV biết được phương pháp thực hiện nhiệm vụ

- SV tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau trong quá trình học tập

c Hiệu quả của hoạt động tư vấn Thể hiện:

- SV có được phương pháp học tập và rèn luyện

- SV biết được phương pháp tìm tư liệu và nghiên cứu

- SV hình thành tác phong làm việc tự giác, nghiêm túc và hợp tác

- Kết quả học tập của SV đạt được mục tiêu dạy học

Bảng 1.1 Phiếu kiểm tư vấn học tập cho sinh viên

Ngày đăng: 11/06/2020, 17:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w