1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu cơ chế hợp tác giữa công ty cổ phần CP việt nam và trang trại nuôi lợn của ông dương công tuấn xã cát nê, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên

81 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế hiện nay, nhiều mô hình liên kết hợp tác trong sản xuất nông nghiệp nói chung và của ngành chăn nuôi nói riêng đã được hình thành, một số công ty đã có liên kết hợp tác hiệu quả

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––

LÒ VĂN PHÁI

TÌM HIỂU CƠ CHẾ HỢP TÁC GIỮA CÔNG TY CỔ PHẦN CP VIỆT NAM VÀ TRANG TRẠI NUÔI LỢN CỦA ÔNG DƯƠNG CÔNG TUẤN – XÃ CÁT NÊ – HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : PTNT

Khóa học : 2015 - 2019

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––

LÒ VĂN PHÁI

TÌM HIỂU CƠ CHẾ HỢP TÁC GIỮA CÔNG TY CỔ PHẦN CP VIỆT NAM VÀ TRANG TRẠI NUÔI LỢN CỦA ÔNG DƯƠNG CÔNG TUẤN – XÃ CÁT NÊ – HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : PTNT

Khóa học : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hiền Thương Cán bộ cơ sở hướng dẫn: Dương Công Hoàng

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ

nhiệm khoa Kinh Tế & PTNT tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu cơ chế hợp tác giữa Công ty Cổ phần CP Việt Nam và trang trại nuôi lợn của ông Dương Công Tuấn xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo ThS Nguyễn Thị Hiền Thương và cán bộ hướng dẫn tại cơ sở: Dương Công Hoàng đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa cùng quý Thầy, Cô trong khoa Kinh Tế & PTNT Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến chủ trang trại và các anh chị cô chú tại trang trại ông Dương Công Tuấn đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình thực tập tại trang trại

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, bản thân tôi đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn để hoàn thiện khóa luận Tuy nhiên, với thời gian ngắn và hạn chế, kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trình thực hiện đề tài tôi còn gặp không ít những khó khăn, do vậy mà đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên

để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 04 tháng 06 năm 2019

Sinh viên

Lò Văn Phái

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Chi phí trả công lao động của trang trại trong 1 năm 40

Bảng 3.2: Lịch làm vaccine đối với đàn lợn 43

Bảng 3.3: Bảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của lợn 44

Bảng 3.4: Quy định về đánh dấu 46

Bảng 3.5: Các loại cám trang trại dùng trong chăn nuôi 47

Bảng 3.6: Tỷ lệ trộn cám 47

Bảng 3.7: Chi phí đầu tư xây dựng ban đầu của trang trại Dương Công Tuấn 52

Bảng 3.8: Chi phí đầu tư trang thiết bị ban đầu của trang trại 53

Bảng 3.9: Tình hình nguồn vốn của trang trại Dương công Tuấn 53

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Sơ đồ cơ chế tổ chức sản xuất của trang trại 39

Hình 3.2: Sơ đồ trang trại 41

Hình 3.3: Sơ đồ nguyên lý xử lý chất thải của trang trại 49

Hình 3.4: Quy trình chăn nuôi gia công của trang trại 49

Hình 3.5: Chuỗi giá trị của các sản phẩm chăn nuôi lợn gia công tại trang trại Dương Công Tuấn 50

Trang 6

: (Gross Output) Giá trị sản xuất : Hiệu quả kinh tế

: (Intermediate Cost) Chi phí trung gian : Kinh tế trang trại

: Nghị định – Chính phủ : Nông nghiệp – Phát triển nông thôn : Nghị quyết – Chính phủ

: Quyết định – Thủ tướng : Số thứ tự

: Thức ăn chăn nuôi : Trung học cơ sở : Trung học phổ thông : Trách nhiệm hữu hạn : Tài sản cố định : Trang trại : Ủy ban nhân dân : (Value Added) Giá trị gia tăng

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH iv

DANH MỤC BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập 1

1.2 Yêu cầu 2

1.2.1 Về chuyên môn 2

1.2.2 Về thái độ và ý thức trách nhiệm 2

1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc 3

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện 3

1.3.1 Nội dung thực tập 3

1.3.2 Phương pháp thực hiện 4

1.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 4

1.3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 5

1.4 Nhiệm vụ của sinh viên tại cơ sở thực tập 5

1.5 Thời gian và địa điểm thực tập 6

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7

2.1 Về cơ sở lý luận 7

2.1.1 Các khái niệm có liên quan 7

2.1.1.1 Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại 7

2.1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi 7

2.1.1.3 Bản chất của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng 8

2.1.1.4 Vai trò, đặc trưng của kinh tế trang trại 9

2.1.1.5 Tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại 12

2.1.2 Liên kết, hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản 12

Trang 8

2.2 Cơ sở thực tiễn 15

2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 15

2.2.2 Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho phát triển kinh tế trang trại 18

2.2.3 Kinh nghiệm sản xuất theo cơ chế hợp tác ở một số nước 19

2.2.3.1 Kinh nghiệm ở Thái Lan 19

2.2.3.2 Kinh nghiệm ở Trung Quốc 21

2.2.3.3 Kinh nghiệm Hoa Kỳ 23

2.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 24

Phần 3: KẾT QUẢ THỰC TẬP 27

3.1 Khái quát về trang trại chăn nuôi lợn thịt gia công Dương Công Tuấn 27

3.1.1 Sự hình thành và phát triển của trang trại Dương Công Tuấn 27

3.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất tại trang trại chăn nuôi lợn thịt gia công Dương Công Tuấn 28

3.1.2.1 Thuận lợi 28

3.1.2.2 Khó khăn 29

3.2 Kết quả hoạt động thực tập 29

3.2.1.Nội dung và những công việc cụ thể tại trang trại 29

3.2.1.1 Tìm hiểu thông tin về Công ty TNHH Đầu tư phát triển chăn nuôi lợn C.P và cơ chế hợp tác tổ chức của trang trại Dương Công Tuấn 29

3.2.1.2 Tìm hiểu quy trình phòng dịch và thức ăn cho lợn của trang trại 29

3.2.1.3 Tìm hiểu hệ thống xử lý môi trường của trang trại 30

3.2.1.4 Tìm hiểu quy trình chăn nuôi gia công, hệ thống đầu vào của trang trại 30

3.2.1.5 Tìm hiểu hệ thống đầu ra của trang trại 30

3.2.1.6 Tìm hiểu chi phí xây dựng chuồng trại, chi phí trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại 30

3.2.1.7 Tìm hiểu nguồn vốn của trang trại 30

3.3 Tóm tắt kết quả thực tập 30

3.3.1 Tìm hiểu thông tin về Công ty TNHH Đầu tư phát triển chăn nuôi lợn C.P và cơ chế hợp tác tổ chức của trang trại Dương Công Tuấn 30

Trang 9

3.3.1.1 Khái quát về Công ty chăn nuôi C.P Việt Nam 30

3.3.2.1 Tìm hiểu cơ chế hợp tác giữa Công ty Cổ phần CP Việt Nam và trang trại nuôi lợn của ông Dương Công Tuấn 33

3.3.2.2 Những điều kiện của trang trại chăn nuôi lợn thịt gia công 33

3.3.2.3 Những điều khoản chính trong Hợp đồng 35

3.3.2.4 Những vấn đề tồn tại phát sinh trong cơ chế hợp tác sản xuất 37

3.3.2.5 Bộ máy cơ chế tổ chức sản xuất của trang trại 39

3.3.2.6 Quy trình phòng dịch của trang trại 41

3.3.2.7 Quy trình xử lý chất thải bảo vệ môi trường của trang trại 48

3.3.2.8 Quy trình chăn nuôi gia công 49

3.3.2.9 Hệ thống đầu ra của trang trại 50

3.3.3.1 Chi phí xây dựng chuồng trại và mua trang thiết bị máy móc ban đầu của trang trại 52

3.3.3.3 Phân tích SWOT 54

3.4 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế 55

3.4.1 Những điều kiện cần có để có thể phát triển trang trại 56

3.4.2 Yêu cầu cần có của một chủ trang trại 57

3.4.3 Kỹ thuật cần chú ý nắm vững khi phát triển trang trại 57

3.4.4 Quản lý tài chính, lao động 58

3.5 Một số giải pháp đề xuất cho phát triển trang trại 59

3.5.1 Giải pháp chung 59

3.5.2 Giải pháp đối với Công ty và trang trại 60

3.5.3 Giải pháp về liên kết hợp tác giữa trang trại và công ty CP 61

Phần 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

4.1 Kết luận 62

4.2 Kiến nghị 63

4.2.1.Kiến nghị đối với Công ty 63

4.2.2 Kiến nghị đối với chủ trang trại chăn nuôi 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập

Trong giai đoạn hiện nay, liên kết kinh tế được xem là một trong những hình thức hợp tác ở trình độ cao của con người trong quá trình sản xuất kinh doanh Có thể nói rằng, đối với mỗi thành viên tham gia trong nền kinh tế thị trường, liên kết kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu tạo ra sự thành công

Thực tế hiện nay, nhiều mô hình liên kết hợp tác trong sản xuất nông nghiệp nói chung và của ngành chăn nuôi nói riêng đã được hình thành, một số công ty đã có liên kết hợp tác hiệu quả với các trang trại, các hộ nông dân

Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc thực hiện liên kết trong sản xuất kinh doanh thông qua hợp đồng bao tiêu nông sản cho nông dân còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Hiện tượng phá vỡ hợp đồng hay lạm dụng hợp đồng vẫn xảy ra Một số doanh nghiệp đổ lỗi cho nông dân khi nông dân không thực hiện hợp đồng và ngược lại Chính vì vậy, cả nông dân và doanh nghiệp không mặn mà lắm đối với phương thức ký hợp đồng tiêu thụ nông sản Nhiều hội nghị, hội thảo cũng đã bàn đến nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của phương thức ký hợp đồng bao tiêu nông sản Việc sản xuất và tiêu thụ nông sản qua hợp đồng là xu hướng tất yếu và là định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhưng việc tổ chức thực hiện phương thức này có phần chủ quan và duy ý chí Chúng ta đang chạy theo số lượng hợp đồng được ký kết hơn là đi vào chất lượng của việc thực hiện hợp đồng, chúng ta cần hiểu rõ các khái niệm liên quan đến tổ chức thị trường tiêu thụ nông sản mà sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng

Thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất ngành chăn nuôi nói riêng tại Việt Nam nếu có hợp tác liên kết tốt giữa doanh nghiệp và các trang trại,

hộ gia đình sẽ hạn chế những rủi ro Những câu chuyện “được mùa mất giá”, những cuộc “giải cứu” nông sản, hay những cảnh báo của nông dân “làm lớn thua đau” không còn diễn ra Việc nghiên cứu tìm hiểu thực tế sản xuất của các trang trại có hợp tác liên kết với doanh nghiệp hiệu quả, thông qua đó người học được cùng trải nghiệm với

Trang 11

nông dân, được tiếp xúc và học hỏi cán bộ của các công ty, hiểu rõ về cơ chế hợp tác giữa các bên là rất quan trọng và cấp thiết

Nghiên cứu thực tiễn để củng cố kiến thức đã học, học hỏi những kinh nghiệm làm kinh tế Ngoài ra, trao đổi và trải nghiệm qua thực tập tại trang trại còn giúp sinh viên có được nghị lực, quyết tâm và sự tự tin trong phát triển nghề nghiệp sau này Cùng với chủ trang trại tìm ra những yếu điểm hạn chế và đưa ra những hướng khắc phục cho phát triển bền vững trang trại là vô cùng cần thiết Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên tôi chọn

đề tài: “Tìm hiểu cơ chế hợp tác giữa Công ty Cổ phần CP Việt Nam và trang trại nuôi lợn của ông Dương Công Tuấn xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”

1.2.2 Về thái độ và ý thức trách nhiệm

- Về thái độ

+ Tạo mối quan hệ thân thiện, hòa nhã với mọi người trong trang trại

+ Tôn trọng người trên kính trọng người dưới, giao lưu trò chuyện và lắng nghe ý kiến của nhau

- Về trách nhiệm

- Có trách nhiệm và nghĩa vụ hoàn thành tốt mọi công việc được giao

Trang 12

- Chủ động trong các công việc, sẵn sàng trợ giúp, hỗ trợ mọi người trong trang trại để hoàn thành tốt các công việc chung bên cạnh đó cũng tự khẳng định được năng lực của mình là một sinh viên đại học

1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc

- Kỹ năng sống

+ Sống vui vẻ, hòa nhã với mọi người xung quanh tại trang trại, tại địa phương nơi mình tham gia thực tập

+ Xây dựng mối quan hệ tình cảm tốt đẹp với chủ trang trại, người lao động

và những người trong gia đình chủ trang trại nơi thực tập

+ Biết lắng nghe và học hỏi từ những lời phê bình của người khác

+ Giao tiếp ứng xử trung thực, lịch sự nhã nhặn, luôn giữ thái độ khiêm nhường và cầu thị

+ Có khả năng quản lý công việc và làm việc nhóm hiệu quả

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện

1.3.1 Nội dung thực tập

- Tìm hiểu quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của trang trại

- Tìm hiểu cơ chế hợp tác giữa Công ty Cổ phần CP Việt Nam và trang trại nuôi lợn của ông Dương Công Tuấn

Trang 13

- Phân tích những khó khăn, thuận lợi và các yếu tố ảnh hưởng tới tổ chức sản xuất kinh doanh của trang trại

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường cơ chế hợp tác và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trang trại chăn nuôi lợn gia công của ông Tuấn

* Thu thập số liệu sơ cấp

- Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ trang trại Long Thơm trên địa bàn nghiên cứu thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn trang trại chăn nuôi

Phương pháp PRA: PRA là một loạt các biện pháp tiếp cận và phương pháp

khuyến khích lôi cuốn người dân tham gia cùng chia sẻ thảo luận, phân tích kiến thức của họ về đời sống, điều kiện nông thôn để họ lập kế hoạch thảo luận cũng như thực hiện và giám sát, đánh giá Đề tài này tôi sử dụng các công cụ PRA sau: + Phương pháp điều phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại:

Phiếu điều tra có đủ thông tin về trang trại, những thông tin về tình hình cơ bản của chủ trang trại như: họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, số điện thoại, trình độ văn hóa, loại hình trang trại, số khẩu, số lao động, diện tích đất đai, vốn sản xuất Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại như: tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị Những thông tin về ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu, thuận lợi, khó khăn của trang trại Các yếu tố sản xuất như: vốn, kỹ thuật, giá cả thị trường

+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp cán bộ Công ty CP:

Phiếu điều tra có đủ những thông tin cơ bản như: họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, số điện thoại liên hệ, trình độ văn hóa, thời gian công tác tại Công ty Những

Trang 14

thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty CP như: yếu tố đầu vào, đầu

ra Công ty cung cấp, hỗ trợ cho trang trại

+ Phương pháp quan sát trực tiếp:

Tiến hành quan sát trực tiếp khi tham gia các hoạt động sản xuất chăn cho lợn, phòng dịch của trang trại, điều tra trang trại, nhằm có cái nhìn tổng quát về trang trại, đồng thời cũng là những tư liệu để đánh giá độ chính xác các thông tin mà chủ trang trại cung cấp

+ Phương pháp thảo luận:

Cùng với chủ trang trại, cán bộ kỹ thuật thảo luận về những vấn đề khó khăn, tồn tại trang trại đang gặp phải như: vốn, lao động, thị trường, chính sách của nhà nước từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tổ chức sản xuất của trang trại

trong những năm tới

1.3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

* Phương pháp xử lý thông tin: Những thông tin, số liệu thu thập được tổng

hợp, đồng thời được xử lý thông qua chương trình Excel Việc xử lý thông tin là cơ sở cho việc phân tích

* Phương pháp phân tích thông tin: Toàn bộ số liệu thu thập được tổng hợp,

tính toán từ đó phân tích hiệu quả, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại (vốn, đất đai, lao động, trình độ quản lý) Hạch toán các khoản chi, các khoản thu của trang trại làm cơ sở cho định hướng đưa ra các giải pháp cho sự phát triển của kinh tế trang trại

1.4 Nhiệm vụ của sinh viên tại cơ sở thực tập

- Tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với trang trại có thể đứng 1 chuồng theo ý kiến của chủ trang trại giao, tham gia trực tiếp vào các quá trình phòng dịch như: tiêm lợn bằng xi lanh, tự điều chỉnh quạt thông gió, cho lợn ăn cám,

- Làm đúng giờ, đúng những quy định của trang trại, không tự ý làm sai trái quy định của trang trại

Trang 15

1.5 Thời gian và địa điểm thực tập

- Thời gian: Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/05/2019

- Địa điểm: Trang trại lợn thịt gia công Dương Công Tuấn - xã Cát Nê – huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên

Trang 16

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Về cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm có liên quan

2.1.1.1 Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại

* Khái niệm trang trại

Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập Sản xuất được tiến hành với quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn cùng phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ để sản xuất ra các loại sản phẩm hàng hoá phù hợp với yêu cầu đặt ra của cơ chế thị trường

* Khái niệm kinh tế trang trại

Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại của

Chính phủ, “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông

nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản ”

Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản

2.1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi

Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền sản xuất kinh tế trong nông nghiệp với nông sản hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia súc, gia cầm… Đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau

Trang 17

Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hoá, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất, quy mô và năng lực sản xuất đáp ứng được nhu cầu sản phẩm hàng hoá như thịt, trứng, sữa… trên thị trường, phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay

Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền tảng lớn của một hệ thống kinh tế trang trại nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp, khác với các ngành sản xuất khác: lâm nghiệp hay thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện đất đai, khí tượng và thời tiết nhưng đối với chăn nuôi đó chỉ là những ảnh hưởng tác động đến vật nuôi, nó phụ thuộc chính vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của trang trại Sản phẩm của chăn nuôi phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của đại đa số người dân trong cả nước

2.1.1.3 Bản chất của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng

* Bản chất của trang trại nói chung

Kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất trồng trọt trên đồng ruộng và chăn nuôi trong chuồng trại với quy mô lớn, trình độ sản xuất và quản lý tiến bộ… Là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm nghiệp và thuỷ sản với mục đích chính là sản xuất ra hàng hoá để cung ứng ra thị trường KTTT Là hình thức sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm: Nông - Lâm - Thủy sản có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của một chủ trang trại sản xuất được tiến hành trên quy

mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất chung đủ lớn, trình độ kỹ thuật cao hơn, phương thức tổ chức sản xuất tiến bộ gắn với thị trường có hạch toán kinh tế theo

kiểu doanh nghiệp

* Bản chất của kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng

Kinh tế trang trại chăn nuôi là một đơn vị kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất về chăn nuôi trong chuồng trại với quy mô lớn, trình độ sản xuất và quản lý tiến bộ, là hình thức sản xuất với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá là các sản phẩm chăn nuôi để

Trang 18

cung ứng ra thị trường, tỷ trọng hàng hoá chiếm từ 70 đến 80% trở lên, đáp ứng được sản phẩm hàng hoá ra thị trường trong và ngoài nước

2.1.1.4 Vai trò, đặc trưng của kinh tế trang trại

* Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại

Ở các nước phát triển, trang trại gia đình là loại hình tổ chức sản xuất trang trại chủ yếu, có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống kinh tế nông nghiệp, có vai trò to lớn

và quyết định trong sản xuất nông nghiệp, là lực lượng sản xuất ra phần lớn sản phẩm nông nghiệp trong xã hội, tiêu thụ sản phẩm cho các ngành công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho chế biến và thương nghiệp

Trong điều kiện nước ta, vai trò và hiệu quả phát triển kinh tế của trang trại được đánh giá, nhìn nhận trên cả ba mặt đó là: hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường

Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại có vai trò cực kỳ to lớn được biểu hiện:

- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm năng

và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phương thức sản xuất chủ yếu Vì vậy, nó cho phép huy động khai thác, đất đai sức lao động và nguồn lực khác một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả Nhờ vậy nó góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong nông nghiệp nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung

- Trang trại với kết quả và hiệu quả sản xuất cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng manh mún tạo vùng chuyên môn hoá cao, đẩy nhanh nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại tạo ra nhiều nông sản, nhất là các nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp Vì vậy trang trại góp phần thúc đẩy công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn phát triển

- Kinh tế trang trại là đơn vị sản xuất có quy mô lớn hơn kinh tế hộ, vì vậy có khả năng áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực

Trang 19

- Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh tiên tiến, trang trại là nơi tiếp nhận và truyền tải các tiến bộ khoa học công nghệ đến hộ nông dân thông qua chính hoạt động sản xuất của mình

- Về mặt kinh tế: Kinh tế trang trại đã tạo ra bước chuyển biến về giá trị sản phẩm hàng hóa và thu nhập của trang trại vượt trội hẳn so với kinh tế hộ, khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, manh mún tạo nên những vùng chuyên môn hóa, tập trung hàng hóa và thâm canh cao Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn

- Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu ở nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động và dân cư ở nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn là tấm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến và có hiệu quả Tất cả những vấn đề đó góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở nông thôn

- Về mặt môi trường: Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái Thực hiện phát triển kinh tế trang trại nước ta đã đem lại nhiều kết quả về kinh tế xã hội và môi trường Nhưng phát triển kinh tế trang trại ở nước ta phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế từng vùng và từng địa phương Nhất là những vùng địa phư-ơng có điều kiện đất đai và điều kiện sản xuất hàng hoá

* Đặc trưng của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng

- Đặc trưng của kinh tế trang trại nói chung

Trong điều kiện kinh tế thị trường, trang trại là một đơn vị kinh tế tự chủ với đặc trưng chủ yếu sau:

+ Tư liệu sản xuất mà trước hết là ruộng đất và vốn được tập chung theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa

+ Người chủ trang trại có ý chí, có hiểu biết chuyên môn kỹ thuật và có khả năng nhất định về tổ chức quản lí sản xuất kinh doanh nông nghiệp

Trang 20

+ Các trang trại đều có thể thuê mướn lao động Có 2 hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại đó là lao động thường xuyên và lao động thời vụ Trong hình thức thuê lao động thường xuyên, trang trại thuê người lao động ổn định quanh năm, còn hình thức thuê lao động thời vụ, trang trại chỉ thuê người lao động làm việc theo thời vụ sản xuất

- Đặc trưng của kinh tế trang trại chăn nuôi:

+ Kinh tế trang trại chăn nuôi có đặc trưng là sản xuất sản phẩm hàng hóa,

mà sản phẩm của nó là các loại thịt, trứng, sữa,… đáp ứng nhu cầu của thị trường, như vậy để đáp ứng được nhu cầu thị trường thì quy mô trang trại chăn nuôi phải ở mức độ tương đối lớn, khác biệt với hộ gia đình

+ Kinh tế trang trại chăn nuôi sản xuất các sản phẩm thịt, trứng, sữa… trong điều kiện kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá nên mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều xuất phát từ nhu cầu thị trường Chính vì vậy tất cả các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, giống, khoa học công nghệ… cũng như các yếu tố đầu ra như sản phẩm thịt, trứng, sữa… đều là sản phẩm hàng hoá

+ Do đặc trưng sản xuất hàng hoá ngành chăn nuôi chi phối mà phải đòi hỏi tạo ra ưu thế cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, để thực hiện yêu cầu tái sản xuất mở rộng, hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi theo xu thế tích tụ, tập trung sản xuất kinh tế ngày càng cao, tạo ra tỷ xuất hàng hoá cao, khối lượng hàng hoá ngày càng nhiều, chất lượng tốt Đi đôi với việc tập trung, nâng cao năng lực sản xuất của từng trang trại còn diễn ra xu thế tập trung các trang trại thành các vùng chuyên môn hoá về từng loại như vùng chuyên canh nuôi đại gia súc như: trâu, bò… vùng thì chuyên môn hoá nuôi lợn nái sinh sản, lợn thịt, với mục đích tạo ra khối lượng hàng hoá lớn

+ Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng có nhiều loại hình khác nhau trong đó trang trại gia đình vẫn là phổ biến, có đặc trưng rất linh hoạt trong từng hoạt động,

vì có thể dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn hoá Dung nạp các quy mô sản xuất trang trại chăn nuôi khác nhau như các trang trại chăn nuôi nhỏ, vừa và lớn và thậm chí đến cực lớn Dung nạp các cấp độ công nghệ

Trang 21

sản xuất khác nhau từ thô sơ đến hiện đại, riêng biệt hoặc đan xen Liên kết các loại hình kinh tế khác nhau cá thể, tư nhân, hợp tác quốc doanh…Với các hình thức hợp tác sản xuất kinh doanh đa dạng Chính vì vậy mà kinh tế trang trại chăn nuôi có

khả năng thích ứng với các nước đang phát triển và ở các nước công nghiệp phát triển

+ Kinh tế trang trại chăn nuôi có đặc trưng là tạo ra năng lực sản xuất cao về nông sản hàng hoá mà chủ yếu là sản phẩm thịt, trứng, sữa… do đặc điểm về tính chất quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại quyết định Chủ trang trại lŕ ngýời

có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và có kinh nghiệm trong sản xuất chăn nuôi, cũng như kinh doanh trong cơ chế thị trường

2.1.1.5 Tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại

Theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 27/2011/TT - BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ NN - PTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại

Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại thỏa mãn điều kiện sau:

* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp

- Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

+ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL

+ 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

* Đối với cơ sở chăn nuôi

Giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên

* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp

Diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

2.1.2 Liên kết, hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản

Trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân có thể ký kết một số hợp đồng với người cung cấp để mua các yếu tố đầu vào sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu hay nước tưới v.v… Bên cạnh đó, để tiêu thụ nông sản hàng hóa,

Trang 22

người nông dân có thể ký kết hợp đồng với người mua Người mua có thể là nhà bán buôn, bán lẻ, nhà chế biến Tuy nhiên, những hợp đồng mua và bán này không phải tất cả đều có nghĩa là “Sản xuất theo hợp đồng” hay còn gọi là hợp đồng sản xuất

Để tiêu thụ nông sản hàng hóa, giữa người nông dân và người mua có 4 phương thức giao dịch như sau:

+ Thị trường giao ngay: Thị trường giao ngay là phương thức giao dịch hàng hóa truyền thống Nông dân có thể bán nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng với người mua hoặc bán trực tiếp đến người mua tại chợ hoặc sàn đấu giá Việc mua bán này được thực hiện ngay tại thời điểm diễn ra giao dịch, theo giá cả của thị trường hiện tại Nông dân kiểm soát và quyết định toàn bộ quá trình sản xuất như sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu như thế nào, cũng như họ phải tự bỏ vốn đầu tư cho hoạt động của mình Sau khi thu hoạch thì người nông dân phải tự tìm kiếm thị trường và thương lượng với người mua để bán nông sản mình sản xuất ra Trong trường hợp này nếu giá cả thị trường tại thời điểm giao dịch cao hơn chi phí mà người nông dân bỏ ra để sản xuất thì nông dân có lời và ngược lại thì nông dân thua

lỗ Phương thức này tương đối đơn giản vì người mua và người bán nắm được thông tin về giá cả và chất lượng sản phẩm tại thời điểm giao dịch

+ Hợp đồng sản xuất “Sản xuất theo hợp đồng” hoặc hợp đồng sản xuất là hợp đồng giữa nông dân và người mua theo những thoả thuận triển hạn Đây là phương thức giao dịch của thị trường giao sau khác với thị trường giao ngay Hợp đồng sản xuất được ký kết trước khi người nông dân tiến hành sản xuất Hợp đồng này quy định chi tiết về trách nhiệm của nông dân và người ký kết hợp đồng Trong loại hợp đồng này, người nông dân ít có quyền quyết định vấn đề sản xuất mặc dù

họ là vẫn là người trực tiếp sản xuất Người ký kết hợp đồng với nông dân sẽ quy định cụ thể về các yếu tố đầu vào cần sử dụng và phương thức canh tác, kể cả người

ký hợp đồng chịu trách nhiệm công tác hướng dẫn kỹ thuật canh tác và thường xuyên kiểm tra thực tế trên đồng ruộng Hợp đồng sản xuất thường xuất hiện dưới hai hình thức Thứ nhất, hợp đồng gia công, điều này có nghĩa người mua đầu tư toàn bộ từ cơ sở vật chất đến các yếu tố đầu vào và nhận lại toàn bộ sản phẩm

Trang 23

Trong trường hợp này người nông dân được trả công chăm sóc và một số chi phí khác được thoả thuận trong hợp đồng Hình thức hợp đồng này đang được Công ty

CP Việt Nam áp dụng Thứ hai, người mua đầu tư ứng trước vốn, vật tư, hướng dẫn

kỹ thuật và cũng thu lại toàn bộ sản phẩm theo giá đã được thoả thuận tại thời điểm

ký kết hợp đồng Hình thức hợp đồng này đang được áp dụng tại Công ty Bông Việt Nam Trong hợp đồng sản xuất, thì nông sản do người sản xuất ra thuộc quyền sở hữu của người đầu tư, là người ký kết hợp đồng với nông dân

+ Hợp đồng tiêu thụ: Đây cũng là hình thức hợp đồng triển hạn Người sản xuất và người mua đồng ý ký kết hợp đồng mua một số lượng hàng hóa nhất định với giá cả được quy định trước trong thời gian trước khi nông sản được thu hoạch Người sản xuất hoàn toàn kiểm soát vấn đế sản xuất nông sản của mình và phải đảm bảo việc giao hàng đúng số lượng, chất lượng và giá cả theo hợp đồng Trong trường hợp đến khi thu hoạch, do rủi ro về thới tiết hay các yếu tố khác người sản xuất không đủ hàng giao cho người mua thì họ có trách nhiệm đi thương lượng với nông trại khác để đảm bảo cung cấp đủ hàng cho người mua Việc giao dịch này giúp cho người sản xuất định hướng được thị trường, nắm bắt được giá cả và triển vọng tiêu thụ nông sản Tuy nhiên, trách nhiệm cam kết chưa cao, việc chế tài giữa các bên gặp rất nhiều khó khăn Chính vì vậy, ở các nước người ta nâng cấp thành hợp đồng kỳ hạn (Future contract) và được giao dịch thông qua Sở giao dịch hàng hóa, như Sở giao dịch hàng hóa Luân Đôn hoặc NewYork Về sau người ta gọi thị trường tiêu thụ nông sản qua sở giao dịch hàng hóa là thị trường kỳ hạn Thị trường

kỳ hạn đã giải quyết được vấn để tiêu thụ hàng hóa trước khi thu hoạch một cách ổn định và vững chắc Tuy nhiên, thị trường nông sản đầy biến động, rủi ro lớn, nên với các hợp đồng kỳ hạn, giá hàng hóa vẫn còn bấp bênh, chênh lệch lớn với giá thực tế Vì vậy xuất hiện một nghiệp vụ thị trường mới là hợp đồng quyền chọn Hợp đồng quyền chọn trong đó người mua mua của người bán một cái quyền được mua hay quyền được bán nông sản trong thời gian nhất định với mức giá thỏa thuận Người mua phải trả cho người bán một số tiền gọi là phí hay tiền cược là giá quyền chọn Có hai loại quyền là quyền tự chọn mua và quyền tự chọn bán Quyền này có thời hạn, nếu hết thời hạn hợp đồng người mua không tiến hành mua hoặc

Trang 24

bán thì quyền tự chọn không còn hiệu lực Trong thực tế, các nhà chế biến lo sợ giá

cả nguyên liệu tăng nên thường mua quyền chọn mua để bảo hiểm giá nguyên liệu Người sản xuất lo sợ giá sản phẩm sẽ giảm mạnh nên mua quyền tự chọn bán để bảo hiểm cho việc tiêu thụ nông sản Các hợp đồng quyền chọn, việc mua bán quyền chọn đều diễn ra tại sàn giao dịch của Sở giao dịch hàng hóa

+ Hội nhập dọc: Hội nhập dọc là hình thức liên kết giữa nông trại và người

sử dụng Người sử dụng ở đây thường là các nhà máy chế biến Đối với hình thức này, các nhà máy chế biến tự đầu tư nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy mình thông qua việc mua đất hoặc thuê đất để tự sản xuất Người nông dân chỉ là người làm thuê cho nhà máy chế biến Một cách khác người chế biến và nông dân cùng tham gia góp vốn dưới dạng cổ đông để hình thành mối liên kết giữa sản xuất và chế biến Nông dân có thể góp vốn vào nhà máy chế biến bằng quyền sử dụng đất của mình và nhà máy chế biến có thể tham gia góp vốn với nông dân trong đầu tư vùng nguyên liệu Người nông dân và người chế biến cùng chia sẻ rủi ro trong sản xuất nguyên liệu và tiêu thụ nông sản đã qua chế biến Ngoài ra, trong hội nhập dọc còn có một hình thức khá phổ biến ở Việt Nam là “Sự tái lập trang trại gia đình trong lòng doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước” Hình thức này có hai chủ thể kinh doanh, người mua nông sản là chủ thể kinh doanh thứ nhất đồng thời là chủ thể pháp lý; người sản xuất là chủ thể kinh doanh thứ hai, nông dân nhận khoán đất để

tự tổ chức sản xuất và bán lại nông sản cho chủ thể kinh doanh thứ nhất theo hợp đồng ký kết Điển hình ở Việt Nam cho phương thức giao dịch này là “Nông Trường Sông Hậu”

Tóm lại, sản xuất theo hợp đồng là phương thức sản xuất tiến tiến nhưng để phương thức này vận hành được tốt chúng ta cần nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn để từ đó có những bước đi phù hợp trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Khu vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu hộ nông dân, chủ yếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, giá trị sản xuất thấp và có nhiều rủi ro Tuy nhiên trong số đó có một số hộ nông dân tổ chức phát triển sản xuất với quy mô lớn

Trang 25

hơn theo hướng sản xuất tập trung, áp dụng khoa học công nghệ và mang lại giá trị kinh tế cao, ít rủi ro hơn Đây chính là các hộ gia đình, cá nhân phát triển theo hướng kinh tế trang trại Trong thực tiễn sản xuất, các mô hình kinh tế trang trại làm

ăn có hiệu quả, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp của đất nước Do đó Đảng và Nhà nước có chủ trương khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế trang trại trong trong thời gian tới

Theo báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.500 trang trại Trong đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%), 10.974 trang trại chăn nuôi (chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,46%), 5.268 trang trại thủy sản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp (chiếm 13,66%) Số lượng trang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011 Tuy nhiên các địa phương mới chỉ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 6.247 trang trại

Các trang trại phân bố nhiều ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (6.911 trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sản xuất thủy sản và trái cây, Đông Nam Bộ (6.115 trang trại, chiếm 21%) chủ yếu là chăn nuôi, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (5.693 trang trại, chiếm 20%) chủ yếu kinh doanh tổng hợp, Đồng bằng Sông Hồng (5.775 trang trại, chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn nuôi, Trung du và miền núi phía Bắc (2.063 trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là chăn nuôi và lâm nghiệp

Quy mô diện tích đất bình quân của các trang trại hiện nay về trồng trọt là 12 ha/trang trại, chăn nuôi là 2 ha/trang trại, tổng hợp là 8 ha/trang trại, lâm nghiệp là 33 ha/trang trại, thủy sản là 6 ha/trang trại Trong quá trình tổ chức sản xuất cho thấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng đất nên quy mô diện tích lớn, đặc biệt có trang trại có tới trên 100 ha Nhiều trang trại đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công nghệ cao, nên tạo ra năng suất và chất lượng cao và hiệu quả kinh tế Theo báo cáo của các địa phương, thu nhập bình quân của trang trại đạt 02 tỷ đồng/năm, đã tạo thêm công ăn việc làm cho lao động ở địa phương, mỗi trang trại bình quân giải quyết được khoảng 8 lao động, có nhiều trang trại thu hút được hàng trăm lao động

Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến của kinh

tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần có chính sách phát triển

Trang 26

Tuy nhiên kinh tế trang trại ở nước ta vẫn còn một số tồn tại và hạn chế cần được giải quyết sau:

- Về quy mô và số lượng: Số lượng trang trại hiện nay tăng chậm và phân bố không đều giữa các vùng trong cả nước Khu vực Trung du miền núi phía Bắc là nơi

có diện tích đất đai rộng nhưng số lượng trang trại ít, trong khi đó khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ lại tập trung nhiều trang trại thì quy mô diện tích lại thấp, việc phân bố này cũng không đồng đều ở các vùng và các lĩnh vực

- Về giá trị sản xuất: Mặc dù giá trị sản xuất hàng hóa bình quân một trang trại tương đối lớn (trung bình 02 tỷ đồng/trang trại) nhưng số có thu nhập cao chỉ tập trung ở một số loại hình trang trại chăn nuôi, thủy sản còn các loại hình trang trại trồng trọt, lâm nghiệp, kinh doanh tổng hợp giá trị sản xuất thấp, do chất lượng sản phẩm chưa cao, sản phẩm bán ra chủ yếu dưới dạng thô hoặc tươi sống, chưa qua chế biến nên giá bán thấp, sức cạnh tranh yếu, nhiều chủ trang trại chưa nắm bắt được nhu cầu thị trường nên sản xuất thụ động

- Về khoa học công nghệ: Số lượng trang trại ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chế biến bảo quản còn hạn chế mới chỉ tập trung ở một số lĩnh vực và khu vực nhất định

- Sản xuất của các trang trại chưa thật sự bền vững: phần lớn chất lượng sản phẩm chưa được quản lý chặt chẽ Ô nhiễm môi trường do nước thải, chất thải không được xử lý Quy mô sản xuất càng lớn nguy cơ ô nhiễm càng tăng, nhất là đối với các trang trại chăn nuôi và thủy sản

- Trình độ quản lý và sản xuất của các chủ trang trại: Chủ trang trại chủ yếu

là nông dân, không được đào tạo chuyên môn về quản lý, kỹ thuật nên khả năng quản lý sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, liên kết tiêu thụ nông sản còn nhiều hạn chế, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm thực tế Lực lượng lao động của các trang trại cơ bản chưa được đào tạo nghề, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn

- Việc cơ giới hóa trong nông nghiệp: Chưa được chú trọng do trang trại chủ yếu quy mô nhỏ, dẫn đến sử dụng nhiều lao động, hiệu quả thấp

Trang 27

2.2.2 Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho phát triển kinh tế trang trại

Trong quá trình phát triển, các trang trại đã nhận được nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển, như các chính sách về đất đai, chính sách giao rừng, cho thuê rừng trồng là rừng sản xuất, chính sách về thuế, chính sách khuyến nông, tín dụng, lao động - đào tạo, thị trường, vệ sinh môi trường Từ khi có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, các trang trại đã chủ động tiếp cận được các chính sách để củng cố, phát triển kinh tế trang trại

Trong năm 2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã soạn thảo Quyết định về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trình Thủ tướng Chính phủ ban hành:

Tại dự thảo Quyết định về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất nhiều chính sách hỗ trợ trang trại như: Hỗ trợ thành lập khu trang trại, hỗ trợ về đất đai, hỗ trợ xây dựng hạ tầng

Cụ thể, đối với việc hỗ trợ thành lập khu trang trại, tùy theo điều kiện của địa phương, UBND xã quy hoạch khu phát triển kinh tế trang trại và cho thuê đất làm kinh tế trang trại theo quy định hiện hành Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng đường, hệ thống cấp thoát nước tới khu trang trại

Dự thảo nêu rõ, UBND cấp xã lập dự án, báo cáo dự án lên UBND cấp huyện phê duyệt và hỗ trợ từ nguồn ngân sách địa phương

Về đất đai, theo dự thảo, chủ trang trại được cấp có thẩm quyền cho thuê đất

ổn định lâu dài từ quỹ đất của địa phương hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành

Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần theo dự án 50% chi phí làm đường, xây dựng hệ thống điện đến chân hàng rào trang trại Mức hỗ trợ tối đa không quá 2 tỷ đồng/trang trại

Chủ trang trại cũng được ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần theo hợp đồng 50% tiền thuê cán bộ hướng dẫn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến, tư vấn xây dựng dự án/phương án kinh doanh Mức hỗ trợ không quá

100 triệu đồng/trang trại/2 năm đầu

Trang 28

Ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần, 100% chi phí cấp giấy chứng nhận và chi phí áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) hoặc quy trình thực hành nông nghiệp tốt khác đối với từng trang trại hoặc hợp tác xã của các chủ trang trại

Theo dự thảo, Nhà nước khuyến khích trang trại xây dựng thương hiệu riêng hoặc tham gia xây dựng thương hiệu của hợp tác xã của các chủ trang trại Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% chi phí tham gia hội trợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm nông nghiệp đối với các trang trại hoặc hợp tác xã trang trại

Ngoài ra, theo dự thảo, trang trại trồng rừng sản xuất được Ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần chi phí cấp giấy chứng chỉ rừng bền vững, với mức 200.000 đồng/ha nếu trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn Trang trại nuôi trồng thủy sản được ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần đến 30% kinh phí xây dựng các hạng mục công trình xử lý nước thải, ao lắng Mức hỗ trợ không quá 300 triệu đồng/trang trại; hỗ trợ 50% chi phí lồng bè của trang trại nuôi thủy sản trên biển

Dự thảo nêu rõ, UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương ban hành chính sách hỗ trợ bổ sung cho trang trại trên địa bàn Nhà nước khuyến khích thành lập các hiệp hội, hợp tác xã của các chủ trang trại

Hai trong số nhiều chính sách quan trọng đã ban hành có tác động ảnh hưởng lớn đến kinh tế trang trại cần đặc biệt quan tâm:

+ Thông tư số BNN&PTNT: Thông tư số BNN&PTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Thông tư có hiệu lực từ ngày 28/05/2011

27/2011/TT-+ Nghị định số 55/2015/NĐ-CP: Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Nghị định có hiệu lực từ ngày 25/7/2015

2.2.3 Kinh nghiệm sản xuất theo cơ chế hợp tác ở một số nước

2.2.3.1 Kinh nghiệm ở Thái Lan

Mô hình sản xuất theo hợp đồng đầu tiên ở Thái Lan do Tập đoàn CP (Charoen Pokphand) thực hiện CP bắt đầu ký hợp đồng với nông dân để chăn nuôi

Trang 29

gà gia công vào đầu thập niên 1970 Đây là mô hình thành công và được nhân rộng khắp Thái Lan Đến cuối thập niên 1990, gần 100% hộ chăn nuôi gà ở Thái Lan đều sản xuất gia công cho các doanh nghiệp chế biến Ngoài ra, CP cũng triển khai nhiều mô hình khác nhưng đều thất bại như giữa thập niên 1980, được sự hỗ trợ của Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp, CP ký hợp đồng nuôi tôm và sản xuất lúa nhưng đều thất bại do nông dân không chấp nhận giá cố định do CP đưa ra Ngoài ra, các tổ chức của chính phủ, các ngân hàng, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hỗ trợ tích cực việc thực hiện sản xuất theo hợp đồng, nên mô hình sản xuất theo hợp đồng đã lan tỏa sang nhiều sản phẩm khác như đường, rau quả Hiện nay, sản xuất rau an toàn theo quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (GAP)

để xuất khẩu sang Hà Lan và Nhật Bản đều dưới hình thức sản xuất theo hợp đồng

Việc sản xuất theo hợp đồng ở Thái Lan phần lớn xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp chế biến Cấu trúc sản xuất theo hợp đồng của Thái Lan chủ yếu theo

mô hình tập trung, giữa một bên là doanh nghiệp chế biến và một bên là các trang trại Trong mô hình này người nông dân chủ yếu sản xuất gia công cho doanh nghiệp chế biến Các doanh nghiệp chế biến đầu tư giống cây trồng, vật nuôi, cung cấp đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật và kiểm soát chất lượng Mô hình này được Công

ty CP áp dụng đầu tiên ở Thái Lan Năm 1985 Công ty Frito-lay International Co, Ltd (một công ty con của Pepsi Cola) mở rộng thị trường khoai tây chiên (Potato chips) ở Thái Lan nên họ cũng đẩy mạnh việc sản xuất khoai tây theo hợp đồng Công ty Frito-lay cũng cung cấp giống, kỹ thuật, đầu vào và nhận lại sản phẩm từ nông dân Hiện nay 4 nhà chế biến khoai tây chiên lớn ở Thái Lan (Frito-lay, Testo, Kob và Pringle) đều thực hiện sản xuất theo hợp đồng với nông dân

Năm 1995, Frito-Lay mua lại Công ty TNHH Trang trại NS (NS Farm Co., Ltd) của Tập đoàn United Foods ở San Sai Họ tiếp nhận các nhóm nông dân của NS Farm và thành lập thêm nhóm nông dân khác để thực hiện sản xuất theo hợp đồng dưới

mô hình trang trại hạt nhân [8] Mô hình trang trại hạt nhân cũng phổ biến ở các doanh nghiệp kinh doanh trang trại ở Thái Lan như Công ty CP trong sản xuất giống lúa và bắp; Euro Asian Seeds Co Ltd., Saha Farm Co Ltd

Trang 30

Hợp đồng miệng giữa nông dân và người mua gom, hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp ở địa phương cũng khá phổ biến ở Thái Lan Nông dân trồng rau, hoa

ở Đông Bắc Thái Lan chủ yếu dựa trên thỏa thuận miệng với người mua để thực hiện sản xuất

Đối với mô hình trung gian, hai công ty chế biến rau quả ở Miền Bắc Thái Lan ký hợp đồng trực tiếp với người mua gom và mỗi người mua gom chịu trách nhiệm giám sát 200-250 nông dân và được hưởng hoa hồng

Để phát triển hình thức sản xuất theo hợp đồng, nhiều tổ chức của nhà nước

đã tham gia vào xúc tiến việc sản xuất theo hợp đồng như Ủy ban Đầu tư (BOI - Board of Investment), Ủy ban Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia (NESDB – National Economic and Social Development Board),… Tuy nhiên, có hai tổ chức

hỗ trợ phát triển mạnh sản xuất theo hợp đồng là Cục khuyến nông (DOAE – Department of Agricultural Extension) thuộc Bộ Nông nghiệp và HTX và BAAC thuộc Bộ Tài chính Hai cơ quan này xúc tiến phát triển mô hình lồng ghép giữa mô hình đa chủ thể, mô hình trung gian và mô hình phi chính thức Để đảm bảo công bằng cho các bên, năm 1999, Cục Nội thương đã ban hành quy định về các điều khoản trong thỏa thuận sản xuất theo hợp đồng

Theo kinh nghiệm của Thái Lan, sản xuất theo hợp đồng – mô hình tập trung chỉ thực hiện đối với sản phẩm có yêu cầu về chất lượng cao và sản phẩm có tính độc quyền của người mua Mô hình trang trại hạt nhân cũng giống như mô hình tập trung Mô hình phi chính thức, mô hình đa chủ thể và mô hình trung gian là những

mô hình phù hợp với nền sản xuất nông nghiệp phân tán, lạc hậu; việc kinh doanh những sản phẩm này không có tính chuyên biệt hóa Đối với mô hình đa thành phần, nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy, phối hợp, tín dụng và khuyến nông

2.2.3.2 Kinh nghiệm ở Trung Quốc

Sản xuất theo hợp đồng là hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản khá mới ở Trung Quốc Trong chương trình hiện đại hóa nông nghiệp, Chính phủ Trung Quốc

đã xây dựng chính sách hỗ trợ và khuyến khích sản xuất theo hợp đồng nhằm mục

Trang 31

đích giúp cho ngành sản xuất nông nghiệp thu được nhiều lợi nhuận và có sức cạnh tranh Sản xuất theo hợp đồng được xem là hình thức hiệu quả để liên kết nông dân sản xuất nhỏ với các doanh nghiệp chế biến lớn Chính quyền địa phương cũng nhận thấy tiềm năng của sản xuất theo hợp đồng trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho trang trại Do đó, chính quyền địa phương thực hiện nhiều chính sách khuyến khích như hỗ trợ tín dụng, giảm thuế nếu thực hiện sản xuất theo hợp đồng Theo Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, diện tích trồng trọt thực hiện sản xuất theo hợp đồng năm 2001 là 18,6 triệu ha, tăng 40% so với năm 2000

Sản xuất theo hợp đồng ở Trung Quốc theo các hình thức: hợp đồng trực tiếp giữa nông dân và "doanh nghiệp đầu rồng" (Dragon-head-firms), giữa nông dân và người mua gom; giữa nông dân và chính quyền địa phương và một số hình thức khác Để thúc đẩy sản xuất theo hợp đồng, Chính phủ Trung Quốc đã lựa chọn và chỉ định các doanh nghiệp trung ương hoặc địa phương có tiềm lực kinh tế, quy mô lớn, có kỹ thuật và công nghệ ký kết hợp đồng trực tiếp với nông dân Ủy ban phối hợp phát triển công nghiệp hóa nông nghiệp quốc gia (The National Agricultural Industrialisation Development Joint Committee) đưa ra tiêu chuẩn và giám sát việc thực hiện của các doanh nghiệp này Nhờ đó việc sản xuất theo hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao Tuy nhiên, hình thức hợp đồng giữa nông dân và người mua gom trung gian cũng chiếm tỷ lệ tương đối lớn Các hình thức khác là tổ chức hợp tác của nông dân (Village cooperative organization) và HTX

Sản xuất theo hợp đồng giữa nông dân với người mua gom trung gian, chính quyền địa phương, tổ chức hợp tác và HTX chủ yếu là hợp đồng miệng Giá cả thỏa thuận có 3 hình thức: giá cố định, giá sàn và giá theo thị trường Các ngành hàng thực hiện sản xuất theo hợp đồng là chế biến rau, chế biến thịt, nuôi trồng thủy sản, chế biến dầu ăn, tơ tằm, bông vải, nấm và sữa Tuy nhiên tỷ lệ ký hợp đồng nhiều nhất là ngành chế biến thịt, nuôi trồng thủy sản và chế biến sữa

Nhìn chung, sản xuất theo hợp đồng ở Trung Quốc thực hiện nhờ vào chính sách công nghiệp hóa nông nghiệp Nông dân và doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng sản xuất theo hợp đồng nên ngày càng có nhiều doanh nghiệp và nông

Trang 32

dân tham gia sản xuất theo hợp đồng Sản xuất theo hợp đồng thành công còn tùy thuộc vào loại sản phẩm Các sản phẩm đòi hỏi chế biến ngay và yêu cầu vệ sinh thực phẩm dễ dàng thực hiện sản xuất theo hợp đồng hơn những sản phẩm khác

2.2.3.3 Kinh nghiệm Hoa Kỳ

Sản xuất theo hợp đồng xuất hiện ở Hoa Kỳ từ rất sớm và đây cũng là nền tảng phát triển giao dịch giao sau Trước khi hình thành Sở giao dịch hàng hóa Chicago thì những nông dân ở Chicago đã áp dụng sản xuất theo hợp đồng đối với mặt hàng lúa mỳ và bắp Sản xuất theo hợp đồng (contract farming/production contract) ngày càng phổ biến ở Hoa Kỳ Năm 1969, sản xuất theo hợp đồng chỉ chiếm 11% tổng giá trị sản xuất; năm 1991, 28%; năm 2001, 36% và đến năm 2003 tăng lên 39% Sản xuất theo hợp đồng chủ yếu là hợp đồng trực tiếp giữa trang trại

và nhà chế biến (processor) Ở Hoa Kỳ cũng có mô hình hợp đồng giữa trang trại và HTX, nhưng HTX của Hoa Kỳ thực hiện chức năng chế biến và tiêu thụ trực tiếp, không phải là chủ thể trung gian giữa doanh nghiệp và nông dân HTX đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ nông sản Năm 1998, HTX tiêu thụ 86% giá trị sản xuất của trang trại đối với sản phẩm sữa; 41% bông vải; 40% ngũ cốc và hạt có dầu

và 20% rau quả Đối với trang trại lớn sản xuất hàng hóa thì tỷ trọng trang trại ký hợp đồng trên tổng số trang trại năm 2001 chiếm 41,7% và năm 2003 chiếm 46,7% Đối với trang trại có quy mô doanh số hơn 1 triệu USD, tỷ trọng trang trại ký hợp đồng là 64,2% (2003) và giá trị sản xuất 53,4% (2003) Tỷ trọng giá trị sản xuất theo loại hợp đồng và loại hàng hóa có khác nhau Ví dụ, ngành chăn nuôi gia cầm và trứng, giá trị sản phẩm được sản xuất theo hợp đồng chiếm 87,2% (2003) trong tổng giá trị sản xuất của ngành, nhưng ngành rau củ thấp nhất chỉ chiếm 1,1% (2003)

Khác với nhiều quốc gia đang phát triển, việc sản xuất theo hợp đồng đều do người mua và người bán quyết định theo cơ chế thị trường Nhà nước không có chính sách hỗ trợ để người mua và người bán ký kết hợp đồng

Mặc dù thị trường nông sản dựa trên giao dịch giao ngay còn chiếm tỷ lệ đáng kể khoảng 50% giá trị sản xuất nông nghiệp nhưng xu hướng sản xuất theo hợp đồng ở Hoa Kỳ đang tăng lên Kết cấu hạ tầng giao thông đã quyết định sự thay

Trang 33

đổi của hệ thống phân phối thúc đẩy chuyển giao dịch giao ngay sang sản xuất theo hợp đồng và tiêu thụ sản phẩm Các tập đoàn bán lẻ xây dựng các "siêu trung tâm" (supercenter) cũng thúc đẩy việc sản xuất theo hợp đồng Ngoài ra, quy mô trang trại và nhà máy chế biến lớn nên các nhà sản xuất và chế biến phải thực hiện sản xuất theo hợp đồng để đảm bảo nông sản sản xuất ra tiêu thụ được và đảm bảo nguồn nguyên liệu cho chế biến

2.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài học thứ nhất, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ đóng vai trò hạt nhân

quyết định sự thành công của hình thức sản xuất theo hợp đồng

Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp nên dù trang trại lớn như Hoa Kỳ thì nông sản cũng do rất nhiều chủ thể sản xuất để cung ứng cho một chủ thể chế biến, tiêu thụ Kinh nghiệm các nước cho chúng ta thấy sản xuất theo hợp đồng chỉ có thể thành công khi các doanh nghiệp đủ khả năng tiêu thụ hết nông sản cho nông dân

Họ đóng vai trò hạt nhân trong mối quan hệ với nhà nước, các tổ chức tín dụng, nhà khoa học và nhà sản xuất Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tiêu thụ nông sản nên họ định hướng cho người sản xuất quyết định sản xuất nông sản nào, chất lượng ra sao và sản xuất như thế nào để có hiệu quả

Bài học thứ hai, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ và thúc đẩy trong nền sản

xuất nông nghiệp phân tán, lạc hậu

Ở các nước đang phát triển vai trò nhà nước quan trọng hơn các nước phát triển Ở Hoa Kỳ, pháp luật về hợp đồng hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do, tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng Nhà nước không có bất kỳ chính sách nào khuyến khích hoặc hỗ trợ để trang trại hoặc doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo hợp đồng Đạo luật nông nghiệp năm 2002 của Hoa Kỳ chỉ quy định hợp đồng với chính phủ nhằm bảo hộ cho người sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, hình thức sản xuất theo hợp đồng cũng được phát triển ở Hoa Kỳ và việc sản xuất theo hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện giữa nông dân và doanh nghiệp Sở dĩ như vậy là vì các trang trại sản xuất hàng hóa lớn cần phải có người tiêu thụ ổn định và doanh nghiệp chế biến cần có nguồn nguyên liệu ổn định Do đó vì lợi ích hai bên

Trang 34

mà sản xuất theo hợp đồng phát triển Tuy nhiên, đối với Trung Quốc và Thái Lan, vai trò nhà nước rất quan trọng trong việc sản xuất theo hợp đồng Ở Thái Lan nhà nước hỗ trợ cho nông dân về tín dụng và khuyến nông và hỗ trợ thúc đẩy cho doanh nghiệp ký hợp đồng với nông dân Nguyên nhân là do sản xuất nông nghiệp còn kém phát triển, nông dân sản xuất hàng hóa chưa nhiều nên họ dễ dàng bán trên thị trường, còn doanh nghiệp nếu ký kết từng hộ nông dân sản xuất nhỏ thì sẽ làm chi phí giao dịch gia tăng nên không hấp dẫn họ thực hiện sản xuất theo hợp đồng Trường hợp ở Trung Quốc, chính mô hình "Dragon-head firms" do chính phủ khởi xướng đã thúc đẩy mô hình sản xuất theo hợp đồng

Ở Việt Nam, nền sản xuất nông nghiệp phân tán lạc hậu hơn cả Thái Lan và Trung Quốc thì đây là bài học mà chúng ta cần vận dụng để thực hiện sản xuất theo hợp đồng

Bài học thứ ba, sự thành công của các mô hình sản xuất theo hợp đồng tùy thuộc

vào những điều kiện vật chất nhất định và đặc điểm của chủng loại hàng hóa Không có

mô hình sản xuất theo hợp đồng nào phù hợp cho tất cả Kinh nghiệm sản xuất theo hợp đồng của Tập đoàn CP là một bài học có giá trị CP rất thành công trong mô hình chăn nuôi gia công, nhưng thất bại khi áp dụng cho lúa và tôm Nguyên nhân ở đây là do CP

có đủ tiềm lực trong việc cung cấp con giống, thức ăn, chế biến và xuất khẩu gia cầm nhưng không đủ tiềm lực để cho lúa và tôm Đối với các ngành chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi heo thường mức độ sản xuất theo hợp đồng thành công hơn Ví dụ, ở Hoa Kỳ trừ những trang trại có cơ sở giết mổ, chế biến còn lại gần như 100% các trang trại chăn nuôi heo đều sản xuất theo hợp đồng Điều này cũng dễ hiểu là vì đầu tư cho trang trại chăn nuôi heo đòi hỏi vốn lớn cho nên để đảm bảo sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ được, các trang trại ở Hoa Kỳ phải tìm kiếm các doanh nghiệp chế biến để thỏa thuận hợp đồng trước Các mô hình tập trung của hình thức sản xuất theo hợp đồng vừa nêu chỉ thành công khi quan hệ hợp đồng có liên quan đến "tính đặc thù về tài sản"

Sản xuất theo hợp đồng – mô hình trung gian, kết hợp quan hệ hợp đồng chính thức và phi chính thức như ở Thái Lan và Trung Quốc là mô hình phù hợp trong điều kiện sản xuất nông nghiệp phân tán, lạc hậu Những người trung gian

Trang 35

như HTX, người mua gom, ngay cả doanh nghiệp thương mại ở địa phương chính

là lực lượng quan trọng làm cầu nối trung gian giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu Mối quan hệ hợp đồng giữa người trung gian và nông dân chỉ là hợp đồng miệng vì trình độ của nông dân thấp và sản xuất ở quy mô nhỏ Người trung gian làm đại lý cho doanh nghiệp trong việc mua gom nông sản từ nông dân

và hưởng hoa hồng cho công việc do doanh nghiệp ủy thác Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay thì mô hình này là bài học kinh nghiệm để vận dụng

Trang 36

Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP 3.1 Khái quát về trang trại chăn nuôi lợn thịt gia công Dương Công Tuấn

3.1.1 Sự hình thành và phát triển của trang trại Dương Công Tuấn

Trang trại chăn nuôi của ông Dương Công Tuấn bắt đầu hoạt động từ năm

2015 với quy mô ban đầu 600 con/lứa.Trang trại được xây dựng trên diện tích đất gần 3ha với điều kiện phù hợp thuộc xóm Tân Lập, xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Vị trí này tiện đường giao thông đi lại cách xa khu dân cư, xunh quanh trang trại dân cư thưa thớt, tiếp giáp phía Bắc trang trại có một hệ thống suối

tự nhiên thuận lợi cho thoát nước và thải nước, địa hình đất đồi phù hợp cho việc thi công xây dựng

Trong giai đoạn thi công xây dựng từ năm 2015, hộ ông Dương Công Tuấn

đã san gạt mặt bằng, trồng các loại cây lâm nghiệp lâu năm Vì vậy rất thuận tiện cho việc mở rộng quy mô chăn nuôi trang trại

Nhận thức được các vấn đề về môi trường trong quá trình chăn nuôi, hộ kinh doanh ông Dương Công Tuấn đã thực hiện lập báo cáo kế hoạch bảo vệ môi trường

và được xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường qua thông báo số 16/UBND-TNMT ngày 21/7/2015 của UBND huyện Đại Từ

Trại lợn kinh doanh ông Dương Công Tuấn hoạt động theo hình thức nuôi gia công cho Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam (công ty) Toàn bộ con giống, thức

ăn chăn nuôi, thuốc thú y, vaccine và cán bộ kỹ thuật trực tiếp được phía Công ty cung cấp và hỗ trợ Vai trò của ông Dương Công Tuấn là xây dựng các hạng mục công trình theo đúng quy hoạch, đúng quy định bên Công ty đã phê duyệt

Thường xuyên kiểm tra vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y Theo hợp đồng đã ký số 0204/HB/SWB/CPVN-2015 ký ngày 02/4/2015 giữa

hộ kinh doanh ông Dương Công Tuấn và Công ty C.P Việt Nam, sau quá trình hoạt động ổn định với quy mô ban đầu 600 con lợn thịt sẽ thực hiện nâng cấp dần lên theo điều kiện thực tế giữa hai bên

Đến nay do tình hình nhu cầu về thị trường, nhận định xu hướng phát triển của ngành chăn nuôi và đánh giá các lợi thế và khả năng đáp ứng của trang trại Hộ

Trang 37

kinh doanh ông Dương Công Tuấn đã mạnh dạn đầu tư nâng quy mô từ 600 con/lứa nuôi lợn lên 3000 con/lứa nuôi Dự kiến trong năm tới, trang trại sẽ đầu tư mở rộng quy mô lên 6000 con/lứa nuôi Khi nâng công suất sẽ giữ nguyên các công trình đã

có, thực hiện xây thêm chuồng trại để đáp ứng khả năng chăn nuôi với quy mô 6000 con lợn thương phẩm

Dự án được thiết kế có tổng diện tích gần 3ha tại xóm Tân Lập, xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tổng vốn đầu tư hiện tại là 12.000.000.000 đồng, dự kiến trong tương lai là 20.108.000.000 đồng, nâng quy mô 6000 con lợn thương phẩm

3.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất tại trang trại chăn nuôi lợn thịt gia công Dương Công Tuấn

3.1.2.1 Thuận lợi

- Khi tham gia vào hợp đồng chăn nuôi gia công với Công ty TNHH Đầu

tư phát triển chăn nuôi lợn C.P Việt Nam cung cấp con giống đầu vào, thức ăn, vaccine và cả hỗ trợ về mặt kỹ thuật Những hộ tham gia mô hình đều được doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm sau khi đạt cân nặng hoặc thời gian dự kiến Việc này giúp người chăn nuôi an tâm hơn trong quá trình chăn nuôi, sản phẩm chất lượng hơn, đầu ra dễ dàng và ít rủi ro hơn

- Trang trại được công ty hỗ trợ nhân viên kỹ thuật riêng, thức ăn, thuốc thú

y nên dịch bệnh cũng được chữa trị kịp thời và các rủi do về dịch bệnh cũng ít hơn

- Nguồn giống của trang trại là giống lợn nai siêu nạc do Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp luôn mang lại hiệu quả kinh tế cao và không phải

Trang 38

3.2.1.Nội dung và những công việc cụ thể tại trang trại

3.2.1.1 Tìm hiểu thông tin về Công ty TNHH Đầu tư phát triển chăn nuôi lợn C.P

và cơ chế hợp tác tổ chức của trang trại Dương Công Tuấn

- Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của công ty chăn nuôi CP Việt Nam

- Tìm hiểu cơ chế hợp tác giữa công ty và trang trại:

+ Những điều kiện của trang trại chăn nuôi lợn thịt gia công

+ Những điều khoản chính trong Hợp đồng

+ Những vấn đề tồn tại phát sinh trong cơ chế hợp tác sản xuất

- Cơ chế tổ chức sản xuất của trang trại

+ Bộ máy cơ chế tổ chức sản xuất của trang trại

+ Nguồn lao động của trang trại

+ Sơ đồ trang trại Dương Công Tuấn

3.2.1.2 Tìm hiểu quy trình phòng dịch và thức ăn cho lợn của trang trại

- Tìm hiểu hệ thống phòng dịch bằng hệ thống sát trùng, bằng vaccine của trang trại

- Tìm hiểu, học tập và tham gia vào quá trình vệ sinh chuồng trại, chăm sóc lợn tại trang trại

Trang 39

3.2.1.3 Tìm hiểu hệ thống xử lý môi trường của trang trại

+ Tìm hiểu công tác xử lý nước, chất thải trước khi đưa ra môi trường

+ Tìm hiểu các loại hóa chất đưa vào xử lý chất thải chăn nuôi

3.2.1.4 Tìm hiểu quy trình chăn nuôi gia công, hệ thống đầu vào của trang trại

+ Tìm hiểu quy trình chăn nuôi gia công của trang trại

+ Điều tra chủ trang trại và kỹ sư Công ty CP Việt Nam về hệ thống đầu vào của trang trại

3.2.1.5 Tìm hiểu hệ thống đầu ra của trang trại

+ Điều tra chủ trang trại và kỹ sư Công ty về đầu ra của trang trại

+ Tìm hiểu về chuỗi giá trị của các sản phẩm chăn nuôi lợn theo hình thức chăn nuôi gia công tại trang trại

+ Trao đổi, thảo luận với chủ trang trại về các kênh tiêu thụ của trang trại + Phân tích các kênh tiêu thụ của trang trại

3.2.1.6 Tìm hiểu chi phí xây dựng chuồng trại, chi phí trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại

+ Liệt kê các hạng mục công trình tại trang trại

+ Liệt kê các trang thiết bị có trong trang trại và chuồng nuôi

+ Tìm hiểu chi phí xây dựng, trang thiết bị ban đầu của trang trại

3.2.1.7 Tìm hiểu nguồn vốn của trang trại

+ Điều tra chủ trang trại về tình hình vốn cho SXKD của trang trại

+ Xác định được tổng số vốn trang trại đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại

+ Xác định được nguồn gốc vốn vay, lãi suất và thời hạn cho vay

3.2.1.8 Phân tích SWOT

Phân tích được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của trang trại khi tham gia hợp đồng với công ty CP Việt Nam

3.3 Tóm tắt kết quả thực tập

3.3.1 Tìm hiểu thông tin về Công ty TNHH Đầu tư phát triển chăn nuôi lợn C.P và

cơ chế hợp tác tổ chức của trang trại Dương Công Tuấn

3.3.1.1 Khái quát về Công ty chăn nuôi C.P Việt Nam

Trang 40

Công ty C.P (Charoen Pokphand) là một tập đoàn sản xuất kinh doanh đa ngành nghề và là một trong những tập đoàn mạnh nhất của Thái Lan trong lĩnh vực Công - Nông nghiệp, điển hình là lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi, hoạt động chăn nuôi, sản xuất lương thực, thực phẩm chất lượng cao và an toàn đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Tập đoàn C.P (Thái Lan) đầu tư vào Việt Nam từ năm 1988, sau khi Việt Nam mở cửa năm 1986 theo chủ trương đổi mới, với hình thức mở văn phòng kinh doanh tại TP Hồ Chí Minh Đến năm 1993 thành lập Công ty TNHH Chăn nuôi C.P Việt Nam, tên tiếng Anh là C.P Việt Nam Livestock Co.,Ltd và xây nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi tại tỉnh Đồng Nai, miền Nam Việt Nam, đồng thời là trụ

sở chính của Công ty cho tới ngày nay Năm 2009 Công ty TNHH Chăn Nuôi C.P Việt Nam hợp nhất với Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam trở thành Công ty C.P Vietnam Livestock Corporation và sau đó vào năm 2011 đổi tên thành C.P Vietnam Corporation (Công ty Cổ Phần Chăn Nuôi C.P Việt Nam )

Công ty C.P Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực Nông - Công nghiệp, ngành thực phẩm khép kín: chăn nuôi, chế biến gia súc, gia cầm và thủy sản Từ đó cho đến nay, C.P Việt Nam không ngừng mở rộng sản xuất và hoạt động trong 3 lĩnh vực chính như: thức ăn chăn nuôi (feed), trang trại (farm) và thực phẩm (Food), được thể hiện sau đây:

- Ngành Feed: hiện nay, C.P Việt Nam có 8 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi kèm với các hoạt động tiếp theo, trong đó được chia thành 4 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm, 3 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi thủy sản

và 1 nhà máy sấy ngô Thức ăn chăn nuôi do Công ty sản xuất được cung cấp cho mọi miền đất nước Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm C.P tỉnh Bình Dương là nhà máy mới nhất, được xây dựng và bắt đầu hoạt động từ năm

2009 và được đánh giá là nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện đại nhất châu Á

- Ngành Farm: hiện nay, C.P Việt Nam tiến hành chăn nuôi theo hệ thống chăn nuôi hiện đại, thân thiện với môi trường: bắt đầu từ con giống có chất lượng cho đến hệ thống chăn nuôi hiện đại được trang bị những dụng cụ, thiết bị chăn nuôi tiên tiến, chăn nuôi các loại lợn, gà thịt, gà đẻ, tôm và cá với diện tích trang trại phù

Ngày đăng: 11/06/2020, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w