1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất xoài tại xã chiềng lao, huyện mường la, tỉnh sơn la

75 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Cây xoài là một trong bốn loại cây ăn quả nhiệt đới lâu năm.. cây xoài đã nằm trong cơ cấu cây trồng của địa phương, thực sự mang lại hiệu quả k

Trang 1

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––

LƯỜNG VĂN ĐỨC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT XOÀI

TẠI XÃ CHIỀNG LAO, HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế và PTNT Khóa học : 2015 – 2019 Giáo viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Mạnh Hùng

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt này, trước hết em xin chân thành gửi lời

cám ơn tới lãnh đạo, tập thể các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho em thực hiện thành công đề tài

- Thầy giáo: ThS NGUYỄN MẠNH HÙNG, người đã trực tiếp hướng

dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình thực tập, nghiên cứu và hoàn tất khóa luận tốt nghiệp

- Ban lãnh đạo trường Đại học Nông lâm Thái nguyên và các thầy cô khoa Kinh tế và PTNT đã tận tình dạy em trong suốt thời gian học, trang bị cho em những kiến thức cần thiết, tạo điều kiện giúp đỡ về mặt tư liệu để có thể hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp và nghề nghiệp trong tương lai

- UBND xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

- Cám ơn các anh, chị đã tạo cho em có cơ hội làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp và năng động đầy sáng tạo, cũng như đã giúp đỡ và bố trí công việc cho em trong thời gian thực tập tại cơ quan

- Cuối cùng em xin bày tỏ lòng cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân đã chia sẻ, động viên em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Do thời gian thực tập, kiến thức và khả năng còn hạn chế nên nội dung đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy cô trong khoa giúp đỡ, góp ý đề tài này được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 01 năm 2019

Sinh viên

Lường Văn Đức

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Tổng hợp giá trị sản xuất từ các ngành kinh tế năm 2017 28

Bảng 4.2 : Hiện trạng dân số xã Chiềng Lao năm 2017 32

Bảng 4.3: Hiện trạng lao động của xã Chiềng Lao năm 2017 33

Bảng 4.4: Hiện trạng hệ thống giao thông trên địa bàn xã 34

Bảng 4.5: Diện tích, cơ cấu, hiện trạng của giáo dục xã năm 2017 36

Bảng 4.6: Diện tích, năng xuất và sản lượng xoài của xã Chiềng Lao giai đoạn 2015 - 2017 40

Bảng 4.7: Diện tích, năng suất xoài của các hộ điều tra trên địa bàn xã Chiềng Lao giai đoạn 2015-2017 41

Bảng 4.8 : Tình hình nhân lực của các hộ nông dân trồng xoài năm 2017 43

Bảng 4.9: Tình hình sản suất xoài của các hộ điều tra giai đoạn 2015-2017 ( n= 50) 44

Bảng 4.10: Chi phí sản xuất xoài của các hộ điều tra trên 1 ha năm 2017 45

Bảng 4.11 Thu nhập từ xoài của các hộ điều tra năm 2017 48

Bảng 4.12 Kết quả sản xuất xoài của các hộ điều tra năm 2017 49

Bảng 4.13: Hiệu quả sản xuất xoài của hộ điều tra năm 2017 50

Bảng 4.14: Chi phí trên 1ha trồng nhãn năm 2017 51

Bảng 4.15: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế của sản suất cây xoài với cây nhãn /1ha/1 năm (năm 2017) 52

Trang 5

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

KHTSCĐ Khấu hao tài sản cố định

NN và PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

1.4 Bố cục của khóa luận 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở lí luận của đề tài 4

2.1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 4

2.1.2 Các khái niệm về hiệu quả kinh tế 5

2.1.3 Nội dung, bản chất của hiệu quả kinh tế 6

2.1.4 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế 8

2.1.5 Khái niệm về năng suất và sản lượng 10

2.1.6 Khái niệm về lợi nhuận 10

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc sản xuất xoài hiện nay 11

2.2.1 Đất đai 11

2.2.2 Khí hậu 11

2.2.3 Giống xoài 11

Trang 7

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng và nâng cao HQKT sản xuất cây xoài 12

2.3.1 Nhóm nhân tố về kỹ thuật 12

2.3.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội 17

2.3.3 Các chỉ tiêu đánh gia năng suất cây xoài 18

2.4 Tình hình sản xuất xoài trên thế giới và Việt nam 18

2.4.1 Tình hình sản xuất xoài trên thế giới 18

2.4.2 Tình hình sản xuất xoài ở Việt nam 19

2.4.3 Cơ hội cho ngành xoài Việt Nam 19

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 21

3.2 Nội dung nghiên cứu 21

3.3 Phương pháp nghiên cứu 22

3.3.1 Phương pháp thu tập bảng tin 22

3.3.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 23

3.3.3 Phương pháp chọn mẫu 23

3.3.4 Phương pháp tổng hợp, so sánh 23

3.3.5 Phương pháp thống kê mô tả 24

3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 24

3.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 24

3.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất cây xoài của hộ 24

3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây xoài 25

Trang 8

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La 26

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26

4.2.1 Điều kiện kinh tế xã hội 28

4.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội 38

4.3.1 Thuận lợi 38

4.3.2 Khó khăn 39

4.2 Thực trạng sản xuất cây xoài tại xã Chiềng Lao, huyện Mường la, tỉnh Sơn La 40

4.2.1 Khái quát diện tích, năng suất cây xoài tại xã Chiềng Lao 40

4.2.2 Tình hình của các nhóm hộ nghiên cứu 42

4.3 Phân tích hiệu quả kinh tế của cây xoài trên địa bàn xã Chiềng Lao 44

4.3.1 Hiệu quả kinh tế từ sản xuất cây xoài 45

4.3.2 Hiệu quả sản xuất xoài của hộ điều tra 48

4.4 Phân tích SWOT và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế 54

4.4.1 Phân tích SWOT 54

4.4.2 Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế 55

PHẦN 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 59

1 Kết luận 59

2 Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC

Trang 9

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây xoài là một trong bốn loại cây ăn quả nhiệt đới lâu năm Xoài chiếm vai trò quan trọng trong đời sống hiện nay của chúng ta mà vai trò thứ nhất và thiết yếu nhất đó chính là một cây ăn quả ngon hấp dẫn Xoài là một mặt hàng có tính đặc thù, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt trong công tác xóa đói giảm nghèo của người dân Cây xoài rất thích hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của tất cả các vùng trên cả nước Đây là cây mang lại giá trị kinh tế cao, sử dụng hiệu quả đất đai, góp phần tạo công ăn việc làm, tận dụng được nguồn lao động của địa phương và tăng thu nhập cho người lao động

So với các cây trồng khác như: nhãn, vải, bưởi thì cây xoài đem lại hiệu quả kinh tế hơn hẳn Chính vì lợi nhuận cao nên việc sản xuất xoài đã được sự quan tâm của nhiều cấp chính quyền trong cả nước Tại một số tỉnh miền núi phía Tây Bắc như Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình cây xoài đã nằm trong cơ cấu cây trồng của địa phương, thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Hiện nay nhiều khu vực đã được đầu tư mạnh như địa điểm bán phân bón dân khu dân cư, địa điểm thu mua xoài đề người dân yên tâm vào sản xuất xoài

Chiềng Lao là một xã thuộc huyện Mường La, tỉnh Sơn La, người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, là vùng có điều kiện phù hợp với một số loại cây trồng như: lúa, nhãn, vải, nhãn So với các loại cây khác thì cây xoài là cây có thế mạnh nhất

Những năm gần đây cây xoài đã trở thành cây trồng phổ biến tại xã Chiềng Lao và thực tế cho thấy nhiều hộ nông dân đã có cuộc sống khá hơn Tuy nhiên trồng xoài ở xã Chiềng Lao vẫn mang tính nhỏ lẻ, kỹ thuật trồng dựa vào kinh nghiệm là chính, người dân chưa mạnh dạn đầu tư, khâu

Trang 10

chăm sóc chưa hiệu quả dẫn đến năng suất và hiệu quả kinh tế chưa được cao, nên cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền và các nghành liên

quan Xuất phát từ những thực tế đó tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất xoài tại xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La ” Góp phần đánh giá đúng thực trạng, hiệu quả kinh tế và đưa ra

một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây xoài trên địa bàn xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La Qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất xoài, mở rộng diện tích trồng, nhằm nâng cao thu nhập và đời sống cho hộ nông dân, của toàn xã cũng như trên địa bàn huyện

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về sản xuất cây xoài và hiệu quả kinh tế nói chung, của cây xoài nói riêng trong phát triển sản xuất

- Đánh giá thực trạng sản xuất xoài tại xã Chiềng Lao

- Đánh giá hiệu qủa kinh tế sản xuất cây xoài của các hộ tại xã Chiềng Lao

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn mà người nông dân gặp phải khi trồng cây xoài

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây xoài

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Có những cái nhìn tổng thể về thực trạng sản xuất và hiệu quả sản

xuất xoài của xã Chiềng Lao

- Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế

Trang 11

- Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên làm quen với một số phương pháp nghiên cứu một đề tài khoa học cụ thể

- Bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học

- Góp phần thu thập giữ liệu về thực tiễn sản xuất, là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp một phần nào vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây xoài, từ đó giúp cho người nông dân có cơ sở để tiếp tục mở rộng sản xuất xoài và đề ra phương hướng để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây xoài đem lại cho người dân trên địa bàn

1.4 Bố cục của khóa luận

- Phần 1: Mở đầu

- Phần 2: Tổng quan tài liệu

- Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

- Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

- Phần 5: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả sản xuất của

cây xoài trên địa bàn xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lí luận của đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất, mặt lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục

vụ cho lợi ích của con người có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng

Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế

Theo Nhãn Đình Giao: Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất cho mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước[11]

Hiệu quả kinh tế theo quan điểm của Mác, đó là “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động và lao động vật hóa giữa các nghành’’ và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động hay tăng hiệu quả” Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt qua nhu cầu của người lao động là cơ sở hết thảy mọi xã hội”[12]

Khi bàn về khái niệm hiệu quả, cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế[13]

Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên chi phí đầu vào Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xét tình hình sử dụng nguồn nhân lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu sản phẩm

Trang 13

Hiệu quả phân bổ các nguồn lực: Là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm vào đầu vào hay nguồn lực

Hiệu quả kinh tế: Là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả

kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp

2.1.2 Các khái niệm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế được hiểu theo nhiều cách khác nhau, một số khái niệm về hiệu quả kinh tế được đưa ra như sau:

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thị trường, đứng đầu là Paul A.samuelson và Wiliam D.Nordhalls cho rằng một nền kinh tế có hiệu quả thì các điểm tựa lựa chọn đều nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó và “ hiệu quả có ý nghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu qủa sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một số loại hàng hóa này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”[1][7]

- Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh mặt chất, mặt lượng của các hoạt động kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của nền sản xuất lao động vượt quá nhu cầu cuộc sống gia tăng nhu cầu công tác quản lý, tổ chức[8]

- Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó không phải mục đích cuối cùng của sản xuất Mục đích cuối cùng của sản xuất là đáp ứng nhu cầu vật chất văn hóa xã hội Vì thế việc nghiên cứu xem xét không chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá mà bảng qua đó tìm ra các giải pháp phát triển sản xuất Như vậy phạm trù hiệu qủa kinh tế đóng vai trò rất

Trang 14

quan trọng trong việc đánh giá sản xuất và phân tích kinh tế nhằm tìm ra những giải pháp có lợi nhất[8]

2.1.3 Nội dung, bản chất của hiệu quả kinh tế

Nội dung của hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể được hiểu như sau:

- Hiệu quả kinh tế gắn liền với kết quả của từng hoạt động cụ thể trong sản xuất kinh doanh ở những điều kiện cụ thể Kết quả và hiệu quả kinh tế là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau Đây là mối quan hệ mật thiết giữa mặt chất và mặt lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả thể hiện khối lượng, quy mô của một sản phẩm cụ thể và được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, tùy thuộc vào từng trường hợp, hiệu quả là đại lượng được dùng để đánh giá kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bao nhiêu? Mức chi phí cho một kết quả có chấp nhận được không? Song hiệu quả kinh tế và kết quả phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, thị trường do đó, khi đánh giá hiệu quả cần xem xét các yếu tố đó để có thể đưa ra kết luận phù hợp

- Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh đo lường cụ thể quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (vốn, lao động, đất đai, khoa học, kĩ thuật ) để tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất lượng cao hơn

Trong sản xuất kinh doanh luôn có mối quan hệ giữa sử dụng yếu tố đầu vào (chi phí) và đầu ra (sản phẩm), từ đó chúng ta mới hiểu được hao phí cho sản xuất là bao nhiêu? Loại chi phí nào? Mức chi phí như vậy có chấp nhận được không?

- Tính toán hiệu quả kinh tế gắn liền với việc lượng hàng hóa các yếu tố đầu vào(chi phí) và các yếu tố đầu ra(sản phẩm) của từng sản phẩm dịch vụ, công nghệ trong điều kiện nhất định

Trang 15

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của nhà sản xuất là thu được lợi nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực hạn chế Do đó hiệu quả kinh tế có liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quy trình sản xuất kinh doanh Việc xác định các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất sẽ gặp phải những khó khăn nhất định, chẳng hạn:

+ Đối với yếu tố đầu vào

Do các tư liệu sản xuất tham gia vào quy trình sản xuất không đồng nhất và trong nhiều năm có thể rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa lớn nên việc tính toán khấu hao và phân bổ chi phí để xác định

Do sự biến động không ngừng của cả thị trường nên việc xác định chi phí cố định là không chính xác mà chỉ có tính tương đối

Một số yếu tố đầu vào rất khó lượng hóa như: Bảng tin, tuyên truyền,

cơ sở hạ tầng nên không thể tính toán được một cách chính xác

+ Đối với yếu tố đầu ra

Phần lớn những kết quả sản xuất đầu ra có thể lượng hóa được một cách cụ thể nhưng cũng có những yếu tố không thể lượng hóa được như: Bảo vệ môi trường, năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất khả năng tạo việc làm

Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó lại không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất Mục đích cuối cùng của sản xuất xã hội là đáp ứng yêu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội

Vì vậy, nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế không dừng lại ở mức độ đánh giá mà còn bảng qua đó tìm ra các giải pháp để phát triển một cách tốt hơn[10]

Bản chất của hiệu quả kinh tế

Theo quan điểm của Mác thì bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ các yêu cầu của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội Đó là sự đáp ứng ngày càng cao nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Hiệu

Trang 16

quả kinh tế là một phạm trù kinh tế - xã hội với những đặc trưng phức tạp nên việc xác định và so sánh hiệu quả kinh tế là vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn và mang tính tương đối Hiệu quả là chỉ tiêu phản ánh có ý nghĩa khác nhau với từng loại nông hộ Đối với những hộ nông dân nghèo, đặt biệt là vùng kinh tế tự cung cấp thì việc tạo ra nhiều sản phẩm là quan trọng Nhưng khi đi vào hạch toán kinh tế trong điều kiện lấ công làm lãi thì người nông dân chú ý tới thu nhập, còn đối với những hộ nông dân sản xuất hàng hóa, trong điều kiện thuê lao động thì lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng, đó là vấn đề hiệu quả

Phân loại hiệu quả kinh tế

Do HQKT là một phạm trù kinh tế chung nhất liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hóa với các phạm trù và các quy luật kinh tế Kết quả một hoạt động kinh tế không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế, mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị mà đồng thời nó tạo ra nhiều kết quả có ảnh hưởng chung và liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội của con người Để rút ra các nhận xét cụ thể chúng ta cần thiết phải phân định rõ các quan hệ về hiệu quả và hiệu quả kinh tế[9]

2.1.4 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế

Các quan điểm hiệu quả kinh tế khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế Hiện nay, có hai quan điểm về HQKT

- Quan điểm truyền thống: Khi nói đến HQKT là nói đến phần còn lại của kết quả sau khi đã trừ đi chi phí HQKT là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Quan điểm truyền thống chưa thật sự toàn diện khi xem xét HQKT Sự thiếu toàn diện được thể hiện:

Thứ nhất, HQKT được xem xét với quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, HQKT chỉ được phân tích sau khi đã kết thúc chu kỳ sản xuất Trong khi đó, HQKT không những cho chúng ta biết được kết quả của quá trình sản xuất mà còn giúp xem xét trước khi ra quyết định có nên tiếp tục đầu

Trang 17

tư hay không và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ[1]

Thứ hai, quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi tính toán các khoản thu và chi cho một hoạt động kinh doanh Do đó, thu và chi trong tính toán HQKT chưa đầy đủ và chính xác Đặc biệt những hoạt động có chu kỳ sản xuất dài thì việc tính đến yếu tố thời gian trong phân tích HQKT có ý nghĩa quan trọng

Thứ ba, HQKT được xác định bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Tuy nhiên, chỉ tiêu này trong một số trường hợp không phản ánh chính xác HQKT Ví dụ, những hộ nông dân có quy mô sản xuất khác nhau, hộ có quy mô nguồn lực lớn sẽ tạo ra lợi nhuận lớn hơn hộ có quy mô nguồn lực nhỏ, điều này không có nghĩa tất cả hộ có quy mô nguồn lực lớn đều hoạt động có hiệu quả hơn hộ có quy mô nhỏ Như vậy, HQKT không cho biết mức độ sử dụng có hiệu quả hay lãng phí các yếu tố nguồn lực

- Quan điểm hiện đại: Theo quan điểm hiện đại khi tính HQKT phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố Cụ thể là:

- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan hệ này, HQKT được thể hiện qua việc đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và HQKT của từng hoạt động sản xuất

- Yếu tố thời gian: được coi là một yếu tố quan trọng trong tính toán HQKT Cùng một lượng vốn đầu tư như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể HQKT khác nhau trong những thời điểm khác nhau Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, những hoạt động có chu kỳ sản xuất dài, việc tính đến yếu tố thời gian của dòng tiền là rất quan trọng

- Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường: hiệu quả về tài chính phải phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với chiến lược tăng trưởng và phát triển

Trang 18

bền vững của các quốc gia , Từ việc phân tích khái niệm và các quan điểm về hiệu quả kinh tế, trong phạm vi luận án, khái niệm HQKT được hiểu như sau: Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ năng lực quản lý điều hành của các tổ chức sản xuất nhằm đạt được kết quả đầu ra cao nhất với chi phí đầu vào thấp nhất.[1]

2.1.5 Khái niệm về năng suất và sản lượng

Năng suất: Là khối lượng thu được trên một đơn vị diện tích Ví dụ: tấn/ha; tạ/ha

Sản lượng: là tổng khối lượng thu được

Sản lượng = Năng suất x diện tích

2.1.6 Khái niệm về lợi nhuận

Lợi nhuận, trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí Lợi nhuận, trong kế toán, là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0 Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán

Lợi nhuận kinh tế lớn hơn 0 khi mà chi phí bình quân nhỏ hơn chi phí biên, cũng tức là nhỏ hơn giá bán Lợi nhuận kinh tế sẽ bằng 0 khi mà chi phí bình quân bằng chi phí biên, cũng tức là bằng giá bán Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo (xét trong dài hạn), lợi nhuận kinh tế thường bằng 0 Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán có thể lớn hơn 0 ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo

Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức sản lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên.Tức là doanh thu

Trang 19

có thêm khi bán thêm một đơn vị sản phẩm bằng phần chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản phẩm Trong cạnh cạnh tranh hoàn hảo, doanh thu biên bằng giá Ngay cả khi giá thấp hơn chi phí bình quân tối thiểu, lợi nhuận bị âm Tại điểm doanh thu biên bằng chi phí biên, doanh nghiệp lỗ ít nhất

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc sản xuất xoài hiện nay

2.2.1 Đất đai

- Xoài là cây ăn trái có tuổi thọ cao, sức sinh trưởng mạnh và cho năng suất cao Do đó, việc chuẩn bị đất trồng rất quan trọng cho cây phát triển từ giai đoạn đầu

Xoài là cây ăn quả thích hợp trồng trên nhiều loại đất: đất vàng, vàng đỏ, đất Feralit, đất phù sa cổ, đất phù sa mới ven sông Tuy nhiên, các loại đất trồng xoài đều phải có tầng dầy ít nhất 1,5 - 2 m Đất lý tưởng cho trồng xoài là đất phù sa cổ, phù sa mới ven sông giầu dinh dưỡng, độ pH từ 5,5 - 7,7 Ở những vùng đất thấp trước khi trồng cần phải lên líp cao sao cho mực nước tại thời điểm cao nhất cách gốc ít nhất 1 m

- Xoài cũng có thể trồng và phát triển bình thường trên nhiều loại đất khác nhau, như đất hơi phèn, mặn, nghèo dinh dưỡng nếu được chăm sóc tốt

2.2.2 Khí hậu

Cùng với địa hình, đất đai, các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ trong không khí, lượng mưa và sự thay đổi mùa đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và chất lượng của xoài Xoài là cây ăn quả nhiệt đới, thích hợp trồng ở những nơi

Trang 20

Trung tâm Giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản tỉnh Sơn La phối hợp với Viện Nghiên cứu rau quả tiến hành dự án ghép cải tạo giống xoài địa phương bước đầu mang lại hiệu quả

2 giống xoài được lựa chọn để ghép cải tạo là xoài Đài Loan (ĐL4) và xoài Úc (R2E2) Theo ông Lò Quang Ngọc, giám đốc Trung tâm Giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản Sơn La, đây là 2 giống xoài có khả năng chịu hạn và kháng sâu bệnh tốt; quả to, trọng lượng trung bình đạt từ 1 - 1,5 kg/quả; thịt quả dầy, rắn chắc, hạt mỏng, ăn ngọt đậm

Thời gian ra hoa, đậu quả của 2 giống xoài trên không khác nhiều so với các giống xoài đã được trồng ở địa phương; sức sinh trưởng vượt trội so với các giống xoài khác, thời gian thu hoạch khá muộn và kéo dài Qua theo dõi, trung bình mỗi cây sau ghép từ năm thứ 4 trở đi sẽ cho thu hoạch khoảng

70 kg quả trở lên

Từ kết quả dự án, Trung tâm Giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản Sơn

La tiếp tục triển khai ghép xoài Đài Loan (ĐL4) và xoài Úc (R2E2) ở một số vườn của nông dân các huyện Mường La, Yên Châu, Phù Yên, Mai Sơn

Đồng thời, trung tâm cũng sẵn sàng cung cấp giống và cử cán bộ đến tận nơi để ghép cũng như hướng dẫn bà con kỹ thuật chăm sóc cây xoài sau ghép

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng và nâng cao HQKT sản xuất cây xoài

2.3.1 Nhóm nhân tố về kỹ thuật

2.3.1.1 Tiêu chuẩn cây giống

Cây giống trồng theo tiêu chuẩn ngành 10TCN - 2001, cụ thể là: cây được ươm trong bầu nilon màu đen có chiều cao 20 - 22 cm, đường kính bầu

12 cm Bầu không bị dập, vỡ Cây ghép sinh trưởng tốt, thân cây mập, chiều cao cành ghép 40 - 50 cm, đường kính 1 cm (đo phía trên vết ghép khoảng 2 cm), có từ 2 - 3 đợt lộc Lá cây xanh đậm, không có vết sâu bệnh

Trang 21

2.3.1.2 Trồng đúng thời vụ

Ở miền Bắc xoài được trồng vào hai thời vụ chính, vụ Xuân trồng vào tháng 2, 3 và đầu tháng 4, vụ thu trồng vào tháng 8 - 9 Tuy nhiên, nếu trồng với lượng ít ta có thể trồng vào nhiều thời vụ khác miễn là phải tránh thời điểm nắng

nóng và rét đậm và sau khi trồng phải cung cấp đủ nước tưới cho cây

cây Sau đó mỗi năm đấp mô rộng thêm ra theo sự phát triển của rễ

2.3.1.5 Trồng đúng khoảng cách:

Vì xoài là cây đại thụ có khả năng sống rất lâu (từ 30 – 50 năm), đồng thời xoài ưa sáng và có trái ở ngoài tán cây nên không trồng quá dầy Bảng thường có thể trồng thưa (cách khoảng 8m x 8m, hoặc 10m x 10m), trong điều kiện thâm canh có thể trồng dày hơn với khoảng cách trồng 6 x 6m; tuy nhiên phải có biện pháp cắt tỉa, tạo hình ngay từ đầu để cây nhận được ánh sáng tốt nhất mới cho năng suất cao Việc trồng xen lấy ngắn nuôi dài: có thể

trồng xen các loại cây họ đầu như đậu xanh, đậu nành hoặc các loại rau màu 2.3.1.6 Bón phân đúng lượng và đúng thời gian

Phân bón là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc cho trái cách năm của xoài Sau năm đạt năng suất cao (năm trúng), thiếu phân bón và tưới nước

Trang 22

trong mùa khô, xoài sẽ ra hoa ít và rụng nhiều (năm thất mùa) Lượng phân bón tuỳ theo tuổi cây, đất đai và tình trạng sinh trưởng của cây Bảng thường

có thể bón phân như sau:

- 2 năm đầu: đào 4 – 5 lỗ xung quanh cách gốc theo hình chiếu của

tán, bón phân và lấp đất, số lần bón được chia làm 2 đợt/năm (tháng 4-5 và tháng 11 dl) Bón 150 – 300 g phân 16 – 16 – 8 và 100 – 200g Ure/cây/năm hoặc pha 01 muỗng canh phân 16 – 16 – 8 với ½ muỗng ure/thùng 10 lít, tưới vào gốc (5 – 6 gốc/thùng) định kỳ 30 ngày/lần

- Cây 6 – 8 năm tuổi cần nhiều phân để có sản lượng cao Bón theo công thức 1,09 – 0,9 – 0,96 kg N – P – K / cây/ năm Chia làm 3 đợt bón như sau:

+ Sau khi thu hoạch: bón 550 – 300 – 240 g N – P – K / cây/ năm (phân ure 1,2 kg/cây/năm, Lân Long Thành 2,3 kg/cây/năm, clorua kali 0,4 kg/cây/năm)

+ Trước khi xử lý ra hoa 30 ngày, bón theo công thức 180 – 300 – 240

g N – P – K / cây/ năm (phân ure 0,4 kg/cây/năm, Lân Long Thành 2,3 kg/cây/năm, clorua kali 0,4 kg/cây/năm)

+ Sau khi đậu trái 2 tuần bón 360 – 300 – 480 g N – P – K / cây/ năm (phân 20 – 20 – 15: 1,5 kg/cây/năm, phân ure 130 g/cây/năm, clorua kali 425 g/cây/năm)

2.3.1.7 Chăm sóc tốt ở các khâu tưới nước, phòng trừ sâu bệnh

- Tưới nước: mặc dù là cây chịu hạn nhưng nước có ảnh hưởng rất lớn

đến khả năng sinh trưởng và cho ra lá non Cây cần có thời gian khô hạn 2, 3 tháng, thời kỳ này gọi là giai đoạn nghỉ ngắn để phân hoá mầm hoa Sau thời

kỳ khô hạn cây cần nước để cho bông, trái phát triển, vào thời điểm này

- Phòng trừ sâu bệnh:

Rầy xanh: Phòng trị bằng cách dùng bẫy đèn khi rầy chưa đẻ trứng,

hoặc phun nước xà phòng 5 Gia Lai/l vào lúc cây ra hoa cách 2 – 4 ngày/lần

Trang 23

Tránh dùng nồng độ cao để không ảnh hưởng đến hoa Hoặc có thể dùng Bsssa, Mipcin, Applaud, Azodrin, Trebon, Sevin nồng độ 0,15 – 0,20% để phun 2- 3 lần, cách 5 – 7 ngày/lần

Rệp sáp, rệp dính: Rệp chích hút nhựa ở lọc non, các nhánh và cuống

quả xoài Đây cũng là hai loại rệp sáp chích hút trên cam quýt Dùng Supracid 0,1%, Dimecron, Bi58, Hostathion với nồng độ 0,2% hoặc polysulfua canxi 0,5o Bômê để phun

Sâu đục thân, đục cành: Phòng trừ, tránh tạo vết thương cơ giới trên

cây nhơ cách dùng dao băm gốc kích thích cho cây ra hoa; Dùng bẫy đèn để diệt sâu trưởng thành; Tiêm vào lỗ đục các loại thuốc có tính xông hơi mạnh như Methyl parathion, Thiodan, Diazinon và bịt các lỗ đục bằng đất sét để diệt sâu non Cần phát hiện các cành non bị sâu đục và đẻ trứng, cắt bỏ các cành cây này đem đốt để diệt sâu non ở bên trong

Ruồi đục quả: Ruồi cái đục vỏ quả đã già, đẻ trứng dưới lớp vỏ

Trứng trở thành sâu non, sâu non ăn thịt quả, gây thối và rụng quả Phòng trừ bằng cách không để quả chín trên cây; Phun Azodrin 0,1%, Bassa 0,25%, Bi58 0,1% hoặc dùng bả dẫn dụ ruồi như dứa, cam, quýt, chuối chín hay chất Methyleugienol trộn với thuốc sát trùng không có mùi hôi (Furadon, Azodrin, Malattion ) làm bẫy để diệt; Cũng có thể dùng phương pháp bao quả bằng bao giấy cũng ngừa được sự chích hại của ruồi vàng

2.3.1.8 Tỉa cành, tạo tán

Tỉa cành, tạo tán là khâu chăm sóc không thể thiếu được trong canh tác xoài hàng hoá; cần phải thực hiện sớm, ngay từ đầu Do ưu thế của chồi ngọn nên chồi bên phát triển kém Bấm ngọn cây sau 1 năm tuổi (khoảng 3 – 4 lần

ra đọt) ở vị trí cách mặt đất khoảng 0,6 – 1 m để có nhiều chồi bên Sau khi cắt ngọn, cây sẽ ra nhiều chồi, chỉ giữ lại từ 3 – 4 chồi theo hướng đều nhau Vị trí phân cành của 3 cành không ở cùng một điểm xuất phát từ thân chính là

Trang 24

tốt nhất Đối với một số giống có cành mọc thẳng đứng, buộc vật nặng treo trên cành, làm cho cành mọc ngang ra Khi cành ngang có khoảng 2 – 3 lần đọt, tiếp tục bấm ngọn cành này Chú ý giữ lại từ 3 - 4 chồi mọc theo các hướng tạo cân đối cho tán cây

Cắt tỉa phải được thực hiện thường xuyên hàng năm, sau mỗi kỳ thu hoạch trái để cây ra đọt non mới Cành nhỏ ốm yếu, cành vượt trong tán, cành bệnh và những cành đã rụng hết trái phải tỉa bỏ Cắt tỉa sẽ tạo ra nhánh ngắn lý tưởng, cho cây có nhánh thấp dễ điều khiển, và nhất là tán cây bảng thoáng

ít sâu bệnh Dùng kéo tỉa cành nhỏ, dùng cưa cắt cành lớn

2.3.1.9 Bảo vệ hoa và trái

Việc bảo vệ hoa và trái non là rất quan trọng Có thể phun thuốc (Pyrinex, Sago Super, Butyl) bảo vệ hoa lần 1 khi phát hoa dài 2-3cm để ngừa rầy chích hút Lần hai phun khi hoa đạt kích thước tối đa Sau đó, ngưng phun thuốc để bảo vệ côn trùng có ích giúp hoa thụ phấn Trong giai đoạn này, nếu mưa nhiều, nhất là mưa đêm, thì sáng hôm sau rung cành cho rụng bớt hoa không thụ phấn, kết hợp phun thuốc phòng trừ nấm gây bệnh thán thư (dùng thuốc Bendazol, Carbenzim, liều lượng theo hướng dẫn) Cứ hễ mưa xong là phun thuốc Khi trái non đạt kích thước đường kính 1-2mm (còn gọi là đậu trứng cá), phun thuốc ngừa bệnh thán thư Dùng các loại thuốc như Antracol, Viben-C, và phun Pyrinex, Fastac để ngừa sâu rầy

Sau khi xoài đậu trái thường phải qua thời kỳ rụng sinh lý, kéo dài khoảng 35-45 ngày Qua thời kỳ này thì xoài không rụng nữa Giai đoạn này, bao trái là hiệu quả nhất nhằm hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu mà vẫn bảo vệ được trái xoài khỏi sâu bệnh hại, vừa giúp cho vỏ xoài trắng đẹp

Trang 25

2.3.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội

2.3.2.1 Thị trường tiêu thụ

Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại của các hộ sản xuất xoài trong nền kinh tế thị trường Mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân đều phải trả lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, mang tính định hướng Để trả lời được câu hỏi này người sản xuất phải tìm kiếm thị trường, tức là xác định nhu cầu khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hóa mà họ sản xuất ra Thị trường

là khâu trung gian nối giữa sản xuất và tiêu dùng

Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được là tối đa Còn việc giải quyết vấn đề cho ai, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ thị trường, xác định rõ được khách hàng , giá cả và phương thức tiêu thụ

2.3.2.2 Giá cả

Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung, của người trồng xoài nói riêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá cả xoài trên thị trường; giá cả không

ổn định ảnh hưởng tới tâm lý người trồng xoài

Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người sản xuất nói chung, cũng như người trồng xoài nói riêng

Do đó việc ổn định giá cả, mở rộng thị trường tiêu thụ xoài là hết sức cần thiết cho sự phát triển lâu dài

2.3.2.3 Nguồn lao động

Lao động hiện nay hết sức dồi dào tại vùng nông thôn Việc tận dụng nguồn lao động tại địa phương có nhiều lợi ích do người lao động có nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất, thu hoạch Người dân lại chịu khó chăm làm

Trang 26

2.3.3 Các chỉ tiêu đánh gia năng suất cây xoài

2.3.3.1 Chỉ tiêu diện tích trồng cây xoài

Để xác định được tiềm năng phát triển sản xuất xoài ở địa phương trước hết phải xác định được chỉ tiêu về diện tích xoài Từ đó biết được thực

tế diện tích hiện có và diện tích có khả năng mở rộng

2.3.3.2 Chỉ tiêu về năng suất

Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu, bởi muốn đánh giá được thực trạng sản xuất của một địa phương hay một cơ sở sản xuất kinh doanh thì người ta xem xét đến năng suất cây trồng Như vậy, tìm hiểu được năng suất thực tế của cây xoài ở địa phương, bảng qua đó có biện pháp đầu tư thích hợp tăng năng suất

2.3.3.3 Chỉ tiêu về sản lượng

Sản lượng luôn là chỉ tiêu để xem xét, nó có vai trò khá quan trọng trong việc phản ánh về mặt lượng của quá trình sản xuất Sản lượng xoài là yếu tố quyết định để đánh giá được hiệu quả của việc sản xuất xoài của các hộ trồng xoài tại xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

2.4 Tình hình sản xuất xoài trên thế giới và Việt nam

2.4.1 Tình hình sản xuất xoài trên thế giới

Xoài là cây ăn quả nhiệt đới được trồng ở hơn 90 nước trên thế giới với diện tích khoảng 1,8-2,2 triệu ha Xoài được ưa chuộng, với lượng tiêu thụ nhiều thứ hai trong các loại hoa quả, chỉ đứng sau chuối Sản lượng xoài toàn cầu đã tăng gấp hai chỉ trong vòng 10 năm từ năm 2001 đến 2010 Năm 2014, sản lượng xoài đạt khoảng 28,8 triệu tấn, chiếm 35% sản lượng quả nhiệt đới toàn cầu, trong đó khoảng 69% tổng sản lượng đến từ châu Á – Thái Bình Dương (Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Philippines và Thái Lan), 14% ở Mỹ Latinh và Caribê (Brazil và Mexico) và 9% ở châu Phi Sản lượng xoài của các nước phát triển (Hoa Kỳ, Israel và Nam Phi) khoảng 158.000 tấn

Trang 27

Trong các nước châu Á, Ấn Độ, nơi xoài được coi là vua của các loại hoa quả, sản lượng xoài đạt khoảng từ 13 đến 17 triệu tấn/năm, tiếp theo sau là Trung Quốc, 4 triệu tấn, Thái Lan, 2,5 triệu tấn, và Pakistan, 1,7 triệu tấn

Ở châu Mỹ, Mexico đứng đầu với sản lượng khoảng 1,5 tấn/năm, tiếp theo là Brazil, 1,2 tấn Nigeria và Ai Cập là hai nước trồng xoài lớn nhất ở khu vực châu Phi

2.4.2 Tình hình sản xuất xoài ở Việt nam

Ở Việt Nam, xoài được trồng từ Nam chí Bắc, vùng trồng xoài tập trung từ Bình Định trở vào, và được trồng nhiều nhất ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long như Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre… Ngoài ra, xoài còn được trồng ở Khánh Hoà, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Sơn La, Lạng Sơn và khu vực đồng bằng Sông Hồng Diện tích trồng xoài của cả nước khoảng 87.000 ha, sản lượng hơn 969.000 tấn/năm Việt Nam đứng thứ 13 về sản xuất xoài trên thế giới nhưng số lượng xuất khẩu thì còn khiêm tốn và nằm ngoài tốp 10 nước xuất khẩu xoài

2.4.3 Cơ hội cho ngành xoài Việt Nam

Mặc dù có diện tích và sản lượng lớn, song đa số sản phẩm xoài Việt Nam chỉ được tiêu thụ trong thị trường nội địa Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính, một lượng rất nhỏ xuất sang các nước khác Do vậy, việc mở rộng xuất khẩu chính ngạch sang các nước là mong muốn của Chính phủ đối với ngành hàng xoài

Ông Nguyễn Thanh Hùng - phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, nhận định: thời gian qua, địa phương đã tập trung đầu tư nhiều nguồn lực cho ngành hàng xoài, từ việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hệ thống đê bao chống lũ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất như cải tạo giống, xử lý hóa chất để ra hoa rải vụ, áp dụng kỹ thuật bao trái đến việc sản xuất xoài theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GAP); công nghệ sau thu hoạch đã từng bước được áp dụng Từ đó, đã hình thành nên vùng nguyên liệu xoài tập trung chủ yếu ở huyện Cao Lãnh và TP Cao Lãnh

Trang 28

Cục sở hữu trí tuệ đã cấp chứng nhận nhãn hiệu “Xoài cát chu Cao Lãnh” và “Xoài Cao Lãnh” và việc xây dựng mã số vùng trồng cũng được quan tâm thực hiện Hiện nay, xoài Đồng Tháp đã xuất khẩu sang một số thị trường như: New Zealand, Nhật Bản, Hàn Quốc

Dưới góc nhìn của chuyên gia có trên 20 năm nghiên cứu về lĩnh vực xoài, ông Peter Johnson (chuyên gia của Tổ chức công nghiệp Liên hiệp quốc

- UNIDO) cho rằng: Việt Nam có thể sản xuất xoài trong các giai đoạn tiềm năng, ví dụ như trước mùa xoài ở Trung Quốc, nghịch vụ ở Úc; cơ hội tiếp cận đường bộ vào thị trường lớn nhất trên thế giới; cũng như vị trí thuận lợi đến các thị trường khác như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Canada, Úc

“Muốn vậy, Việt Nam cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký sản phẩm mới để kiểm soát nấm bệnh, xây dựng tiêu chuẩn xuất khẩu, kiểm soát chất lượng, tiếp cận toàn bộ chuỗi, kỹ thuật canh tác, quản lý nấm bệnh, hệ thống nhà đóng gói, chuỗi lạnh”, ông Peter Johnson nói

GS.TS Trần Văn Hâu, Trường đại học Cần Thơ đặt vấn đề về tính ổn định, liên tục khi đưa xoài vào bán tại các siêu thị; trong đó đề nghị quan tâm giải pháp về giống và xoài rải vụ, kết hợp sản xuất xoài với phát triển du lịch sinh thái tại vùng trồng xoài

Tại hội thảo, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn qua sự hỗ trợ của

Tổ chức công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) và Phân viện công nghệ sau thu hoạch đã chuyển giao dự án xây dựng “Trung tâm tiên tiến” về thu hoạch,

sơ chế, đóng gói, bảo quản và vận chuyển xoài cho Công ty Kim Nhung - Đồng Tháp

Ông Karl Shebesta, giám đốc dự án cho biết, trung tâm là mô hình kỹ thuật tiên tiến phù hợp cho việc cải tiến chất lượng nông sản, giảm tổn thất sau thu hoạch (khoảng 30%), nâng cao thu nhập cho nông dân và cải thiện cấu trúc tổ chức và quản lý ở khu vực nông thôn

Trang 29

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân trồng cây xoài trên địa bàn xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Bắt đầu từ ngày 13 tháng 08 năm 2018 đến hết ngày 25 tháng 12 năm 2018 Địa bàn xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng sản xuất xoài tại xã Chiềng Lao

+ Đặc điểm điều kiện tự nhiên;

+ Điều kiện kinh tế - xã hội xã Chiềng Lao;

+ Những thuận lợi, khó khăn trong phát triển sản xuất nông nghiệp ở xã Chiềng Lao

- Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất xoài của các hộ tại xã Chiềng Lao + Đặc điểm chung của các hộ trồng xoài;

+ Tình hình sản xuất xoài của hộ;

+ Phân tích hiệu qủa sản xuất xoài của hộ;

+ So sánh hiệu quả kinh tế cây xoài với cây nhãn vì cây nhãn cũng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế của xã Chiềng Lao

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn mà người nông dân gặp phải khi trồng cây xoài

Trang 30

- Đề suất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây xoài trong sản xuất

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu tập bảng tin

3.3.1.1 Thu thập bảng tin thứ cấp

Phương pháp thu thập bảng tin thứ cấp là phương pháp thu thập các bảng tin, số liệu có sẵn thường có trong các báo cáo khuyến nông hoặc các tài liệu đã công bố Các bảng tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng dự án…

Trong phạm vi đề tài này em đã thu thập bảng tin tại UBND xã Chiềng Lao, phương pháp thu thập bảng tin thứ cấp sử dụng để có được các số liệu về điều kiện kinh tế - xã hội của xã Chiềng Lao, diện tích, sản lượng và năng suất bình quân của cây xoài trên địa bàn xã

3.3.1.2 Thu thập bảng tin sơ cấp

Thu thập bảng tin sơ cấp là phương pháp thu thập các bảng tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất kỳ tài liệu nào, người thu thập có được bảng qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau như: tìm hiểu, quan sát thực tế Với bộ câu hỏi đã xây dựng tiến hành phỏng vấn các hộ dân trồng xoài trong xã Việc tiến hành điều tra với tổng số 50 hộ được tiến hành trong phạm vi của xã Chiềng Lao Các hộ dân phân bố tại 05 bản của xã Chiềng Lao đó là: Phiêng cại, Nà Cường, Tà Sài, Nà Nong, Nà Lếch III Các mẫu được chọn là điển hình cho các bản Từ bộ câu hỏi đã được xây dựng em đã tiến hành đi thu thập số liệu từ các hộ dân trong xã từ đó tổng hợp vào các bảng biểu, đưa ra những số liệu về hiệu quả kinh tế của việc sản xuất xoài tại xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

Trang 31

3.3.1.3 Phương pháp PRA

Là viết tắt của cụm từ tiếng anh Paraticipatory Rural Appraisal – Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân, PRA bao gồm một loạt cách tiếp cận giao lưu và phương pháp khuyến khích, lôi cuốn người dân cùng tham gia điều tra, trao đổi, chia sẻ, thảo luận, phân tích những khó khăn, thuận lợi của cộng đồng, những kiến thức kinh nghiệm trong đời sống và điều kiện trong nông thôn để họ xây dựng kế hoạch, thực hiện trong hiện tại và tương lai

3.3.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn

- Phỏng vấn trực tiếp: Linh hoạt với hộ nông dân, nói chuyện, tiếp cận

một cách nhanh nhẹn, linh hoạt, bảng qua các câu hỏi mở và phù hợp với tình hình thực tế, sử dụng thành thạo, ứng biến kịp thời với các câu hỏi: Ai? Cái gì?

Ở đâu? Khi nào? Tại sao? Như thế nào và bao nhiêu? Phỏng vấn các hộ điều tra đã chọn, kiểm tra tính thực tiễn của bảng tin bảng qua quan sát trực tiếp

- Phỏng vấn bán chính thức: căn cứ vào mục tiêu nội dung của đề tài

lập bản kiểm tra các nội dung chính cần điều tra, chọn mẫu điều tra Đối tượng phỏng vấn của cán bộ UBND xã phụ trách các vấn đề kinh tế và nông nghiệp

3.3.3 Phương pháp chọn mẫu

Tiến hành nghiên cứu trong 05 bản của xã Chiềng Lao đó là: Phiêng cại, Nà Cường, Tà Sài, Nà Nong, Nà Lếch III mỗi bản ngẫu nhiên 10 hộ nông dân có diện tích trồng xoài là đại diện để tiến hành phỏng vấn điều tra Vì đây là những bản sản xuất xoài tiêu biểu của xã, có diện tích trồng cây xoài và năng suất tương đối lớn trong toàn xã Với tổng số hộ điều tra là 50 hộ

3.3.4 Phương pháp tổng hợp, so sánh

Từ số liệu bảng tin thu thập được, ta tiến hành tổng hợp chúng lại sau đó đem so sánh rồi đem phân tích các chỉ tiêu có được trong quá trình so sánh, từ đó đưa ra nhận xét đánh giá rút ra kết luận hoặc nêu ra nguyên nhân của sự thay đổi

Trang 32

3.3.5 Phương pháp thống kê mô tả

- Thống kê mô tả: Là các phương pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu, giúp thu thập, phân tích, suy luận hoặc giải thích, biểu diễn các số liệu, đồng thời có thể mô tả dữ liệu đó

3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập trong quá trình điều tra tổng hợp, xử lý và tính toán trên phần mềm Microsoft Excel

3.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích

3.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất cây xoài của hộ

- Tổng giá trị sản xuất của hộ (GO – Gross Output): Là toàn bộ giá

trị sản phẩm do hộ làm ra, được tính bằng tổng các sản phẩm làm ra quy về

giá trị

+ Công thức tính: GO = ∑ Qi * Pi

Trong đó: Qi: Là khối lượng của sản phẩm thứ i

Pi: Là giá cả của sản phẩm thứ i

- Chi phí trung gian IC (Intermediate Cost) là toàn bộ những chi phí

phục vụ cho quá trình sản xuất của hộ (không bao gồm trong đó giá trị lao động, thuế, khấu hao) Trong NN, chi phí trung gian bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu như: giống, phân bón, thuốc BVTV, công làm đất, hệ thống cung cấp nước

+ Công thức tính: IC= ∑Ci

Trong đó: Ci là khoản chi phí thứ i trong vụ sản xuất

- Tổng giá trị gia tăng VA (Value added): là phần giá trị tăng thêm

của người lao động khi sản xuất một đơn vị diện tích trong năm

+ Công thức tính: VA = GO – IC

Trang 33

- Lợi nhuận : là phần lời thu được sau khi trừ tất cả các khoản chi phí

kể cả chi phí do gia đình đóng góp

+ Công thức tính : NL=DT-TC

Trong đó : NL : là lợi nhuận

TC : là tổng chi phí

3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây xoài

- Chỉ tiêu hiệu quả phản ánh sản xuất/ một đơn vị diện tích

+ Tổng giá trị sản xuất/ha (GO/ha)

+ Giá trị gia tăng/ha (VA/ha)

- Chỉ tiêu hiệu quả vốn

+ Tổng giá trị sản xuất/chi phí trung gian (GO/IC)

+ Giá trị gia tăng/chi phí trung gian (VA/IC)

- Chỉ tiêu hiệu quả lao động

+ Tổng giá trị sản xuất/lao động (GO/lđ)

+ Giá trị gia tăng/lao động (VA/lđ)

- Về giá cả sử dụng trong tính toán: sử dụng giá bình quân trên thị

trường trong thời gian nghiên cứu (giá năm 2017)

Trang 34

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Chiềng Lao nằm ở phía Tây Bắc của huyện Mường La, trải dài từ kinh độ 103o5600” đến vĩ độ 21o3416”, cách trung tâm thị trấn Ít Ong, huyện Mường La là 25 km và có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp với xã Khoen On (Huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu)

- Phía Đông giáp với xã Hua Trai (Huyện Mường La)

- Phía Nam giáp với xã Mường Trai (Huyện Mường La)

- Phía Tây giáp với xã Nậm Giôn (Huyện Mường La)

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Xã Chiềng Lao là một xã miền núi có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi

dãy núi và hệ thống các khe, suối Địa hình phức tạp đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình khai thác và sử dụng đất đai, đất nông nghiệp thường bị khô hạn vào mùa vụ đông xuân, khó khăn cho việc nâng cao hệ số sử dụng đất, mở rộng diện tích đất canh tác và chuyển dịch cơ cấu cây trồng cũng như cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp

Xã Chiềng Lao có độ cao trung bình với mặt 500 – 700 m so mực nước biển, đất nông nghiệp phân bố chủ yếu ở độ cao 380 – 449,2 m

4 1.1.3 Khí hậu - thủy văn

a Khí hậu

Chiềng Lao là xã mang những nét đặc trưng của vùng khí hậu ven Sông Đà Có nhiệt độ trung bình năm chỉ khoảng 24- 26oC, chịu ảnh hưởng của mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam

Tổng lượng mưa trung bình 1.347 mm/năm, mưa tập trung vào các tháng 6,7,8 với lượng mưa chiếm 76% tổng lượng mưa trong cả năm Mùa

Trang 35

đông lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 24% tổng lượng mưa hàng năm Độ ẩm trung bình là 85%

b Thủy văn

Xã Chiềng Lao có nguồn nước mặt dồi dào và tương đối đều, với nhiều các con suối chảy qua như suối Mu, suối Hâu, suối Păng và suối Xàm Các con suối này hợp lại với sông Đà, đây là nguồn nước chính phục cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của nhân dân trong xã, ngoài ra còn có tác dụng như là hệ thống thoát nước vào mùa mưa

4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên

a Tài nguyên đất

Theo số liệu điều tra khảo sát và kết quả tổng hợp, xã Chiềng Lao có

diện tích tự nhiên 12.882,51 ha, bao gồm 3 nhóm đất chính sau:

- Đất đỏ vàng trên đá biến chất 4.110 ha, chiếm 31,7% diện tích đất tự nhiên của xã

- Đất nâu đỏ đá vôi 5.440 ha, chiếm 42,0% diện tích tự nhiên

- Đất vàng nhạt trên đá cát 3.412 ha, chiếm 26,3% diện tích tự nhiên của xã

b Tài nguyên rừng

Chiềng Lao là xã có nguồn tài nguyên rừng khá lớn Diện tích rừng

hiện có 7.572,6 ha, độ che phủ rừng đạt gần 58.42%

Công tác tuyên truyền quản lý bảo vệ rừng tiếp tục được tăng cường, trong năm đã tổ chức 25 buổi tuyên truyền về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (Xây dựng quy ước bảo vệ rừng tại các địa bàn Tập trung tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản trên địa bàn)

c Tài nguyên nhân văn

Theo số liệu điều tra thống kê dân số của xã năm 2015 có 9.005 nhân khẩu và 1.924 hộ gia đình phân bổ ở 25 bản, bao gồm dân tộc thái, dân tộc La Ha và dân tộc H’mông Do có ít dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn nên phong tục tập quán không mới đa dạng và phong phú, hàng năm có các Lễ Hội theo

Trang 36

truyền thống riêng của mỗi dân tộc Tiêu biểu như dệt Thổ Cẩm với các loại hình văn hoá độc đáo như thêu khăn Piêu, làm chăn, đệm và các trò chơi truyền thống ném Kòn, ném Pao

4.1.1.5 Cảnh quan môi trường

Xã Chiềng Lao mang vẻ đẹp của vùng núi Tây Bắc hùng vĩ, trùng trùng điệp điệp Dưới trân đồi núi là các chân ruộng bậc thang trồng lúa, màu và hệ thống mặt hồ thuỷ điện Sơn La kết hợp một cách hài hoà tạo nên một bức tranh thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình, thơ mộng Tuy nhiên trong quá trình phát triển ngành du lịch trên mặt hồ mới diễn ra chưa thu hút được đông đảo du khách và cũng chưa được địa phương đăng truyền quảng bã để thu hút du khách

4.2.1 Điều kiện kinh tế xã hội

4.2.1.1 Thực trạng phát triển kinh tế

4.2.1.2 Tăng trường kinh tế

Bảng 4.1: Tổng hợp giá trị sản xuất từ các ngành kinh tế năm 2017

I Tổng giá trị sản phẩm Triệu đồng 72,200.9 100.00

1 Sản xuất nông nghiệp Triệu đồng 63,050.9 87,33

3 Công nghiệp – TTCN và dịch vụ,

II Một số chỉ tiêu đánh giá

3 Bình quân thu nhập theo khẩu

(Đã trừ chi phí sản xuất) Triệu đồng 8,06

(theo báo cáo tổng hợp giá trị sản xuất các ngành kinh tế của xã Chiềng Lao

năm 2017)

Trang 37

Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, AN-QP

năm 2017, phương hướng, nhiệm vụ năm 2018 của UBND xã Chiềng Lao

tình hình tăng trưởng kinh tế của xã đạt được như sau:

Tổng giá trị sản xuất cả năm đạt 108 tỷ đồng, đạt 111%KH, tăng

15,5% so với năm 2016, trong đó:

+ Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp đạt 41,8 tỷ đồng, bằng 110%KH,

tăng 9% so với năm 2016

+ Chăn nuôi đạt 14 tỷ đồng, bằng 116% KH, tăng 12,5% so với năm 2016

+ Dịch vụ kinh doanh đạt 27,1 tỷ đồng, bằng 108% KH, tăng 7,7% so

với năm 2016

+ Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đạt 7,6 tỷ đồng, bằng 152%KH, tăng

34,2% so với năm 2016

+ Dịch vụ khác (Thu nhập từ tiền công, tiền lương) đạt 17,5 tỷ đồng,

bằng 102% KH, tăng 2,8% so với năm 2016

Thu nhập bình quân đầu người đạt 11,6 triệu đồng/người, tăng 1,6

triệu đồng so với năm 2016

- Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2017 đạt 7,82 tỷ đồng, bằng

131,4% dự toán năm, tăng 0,6% so với năm 2016, trong đó thu trên địa bàn

đạt 472,44 triệu đồng, bằng 1.431%KH, tăng 1.352% so với năm 2016 Tổng

chi ngân sách nhà nước đạt 6,6 tỷ đồng, bằng 110,9% dự toán

- Tổng sản lượng lương thực (cây có hạt) đạt 6.183,5/4.974, 1tấn, bằng

124,3%KH, tăng 1.428,1 tấn so với năm 2016 4.2.1.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

a Khu vực kinh tế nông nghiệp

Trong những năm qua ngành nông nghiệp của xã có sự phát triển đáng

kể, bước đầu thực hiện có hiệu quả việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo

hướng sản xuất hàng hoá, chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm nông

Ngày đăng: 11/06/2020, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w