Trong bối cảnh các nghiên cứu về từ ngữ Công giáo tại Việt Nam còn rất ít ỏi, đề tài Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguy ện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam, không chỉ cho các k
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ VĂN KHƯƠNG
LU ẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ N ỘI, 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ VĂN KHƯƠNG
Ngành: Ngôn ng ữ Việt Nam
Mã s ố: 9.22.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Công Đức
HÀ NỘI, 2020
Trang 3MỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
1 Tính c ấp thiết của đề tài 1
2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
2.1 M ục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu 4
3.3 Ng ữ liệu nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 8
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 9
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án 10
6.1 Ý nghĩa lí luận: 10
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: 10
7 C ấu trúc luận án 11
Chương 1 T ỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 12
1.1 Đặt vấn đề 12
1.2 T ổng quan tình hình nghiên cứu 12
1.2.1 Các nghiên c ứu từ ngữ Công giáo trên thế giới 13
1.2.2 Các nghiên c ứu từ ngữ Công giáo trong nước 20
1.3 Cơ sở lí thuyết của việc nghiên cứu các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguy ện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam 24
1.3.1 M ối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo 24
1.3.2 Định vị lớp từ vựng Công giáo trong từ vựng tiếng Việt 26
Trang 41.3.3 Quan ni ệm về con đường hình thành và phát triển từ vựng tiếng Việt 28
1.3.4 Quan ni ệm về tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn trong ngôn ngữ 32
1.3.5 Quan ni ệm về từ và ngữ 33
1.3.6 Quan ni ệm về nghĩa của từ và sự phát triển nghĩa của từ 37
1.3.7 Lí thuy ết định danh 38
1.3.8 Sơ lược về Công giáo và Công giáo tại Việt Nam 39
1.3.9 Công giáo v ới văn hóa Việt 40
1.4 Ti ểu kết 42
Chương 2 CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH TỪ NGỮ CÔNG GIÁO TRONG CÁC B ẢN KINH NGUYỆN CỦA CÁC GIÁO PHẬN DÒNG TẠI VIỆT NAM 44
2.1 Đặt vấn đề 44
2.2 Con đường vay mượn từ ngữ Công giáo nước ngoài 45
2.2.1 Lí do c ủa việc vay mượn từ vựng Công giáo nước ngoài 45
2.2.2 Ngu ồn gốc các từ ngữ Công giáo vay mượn 46
2.2.3 Cách th ức tiếp nhận từ ngữ Công giáo vay mượn 60
2.3 Con đường tự tạo các từ ngữ mới 66
2.3.1 Cách dùng hình th ức mới để diễn đạt một nghĩa mới 66
2.3.2 Cách dùng hình th ức có sẵn để diễn đạt một nghĩa mới 70
2.4 Ti ểu kết 73
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CÔNG GIÁO TRONG CÁC B ẢN KINH NGUYỆN CỦA CÁC GIÁO PH ẬN DÒNG TẠI VIỆT NAM 75
3.1 Đặt vấn đề 75
3.2 Đặc điểm cấu trúc của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện c ủa các Giáo phận Dòng tại Việt Nam 75
3.2.1 Đặc điểm từ đơn Công giáo 77
Trang 53.2.2 Đặc điểm từ ghép Công giáo 82
3.2.3 Đặc điểm các tổ hợp định danh Công giáo 88
3.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam 93
3.3.1 Các đặc trưng cơ bản làm cơ sở định danh của từ ngữ Công giáo 94
3.3.2 Đặc điểm phân loại theo phạm trù ngữ nghĩa của từ ngữ Công giáo 103 3.4 Ti ểu kết 114
Chương 4 T Ừ NGỮ CÔNG GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG TIẾNG VIỆT 116
4.1 Đặt vấn đề 116
4.2 Các tác động Việt hóa lớp từ ngữ Công giáo vay mượn 116
4.2.1 Ảnh hưởng của cấu trúc tiếng Việt đến các từ ngữ Công giáo vay mượn v ề mặt ngữ âm và chữ viết 117
4.2.2 Ảnh hưởng của cấu trúc tiếng Việt đến các từ ngữ Công giáo vay mượn v ề mặt ngữ nghĩa 119
4.3 S ự tham gia vào tiếng Việt toàn dân của các từ ngữ Công giáo thể hiện qua văn học Việt Nam 121
4.3.1 S ự tham gia vào tiếng Việt toàn dân của các từ ngữ Công giáo thể hiện qua t ục ngữ, ca dao tiếng Việt 121
4.3.2 S ự tham gia vào tiếng Việt toàn dân của các từ ngữ Công giáo thể hiện qua văn học viết 128
4.4 Ti ểu kết 141
K ẾT LUẬN 143
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 151
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 152
PH Ụ LỤC 164
Trang 6DANH MỤC NGUỒN NGỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
(Các b ản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam)
KÍ HI ỆU SỐ LAMÃ
(trong các trích
dẫn của luận án)
1 B ản kinh tụng đọc toàn niên, 1865, tái bản 2007 I
2 Toàn Niên Kinh Nguyện Địa Phận Dòng Thánh
3 Toàn Niên Kinh Nguyện, Giáo phận Bùi Chu, 1956 III
4 Sách Kinh Địa Phận Hải Phòng, Hòn Gai, 1958 IV
5 Sách Kinh Địa Phận Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình,
6 Sách Kinh Giáo Phận Bùi Chu, Bùi Chu, 1983 VI
7 Kinh Bản Công Giáo Giáo Phận Bắc Ninh, Toà
8 Toàn Niên Kinh Nguyện Giáo Phận Hải Phòng, Hải
9 Sách Kinh, Giáo phận Lạng Sơn (không có năm xuất
Trang 7DANH M ỤC CÁC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG (Ng ữ liệu nghiên cứu trong chương 4) STT TÊN TÁC PH ẨM TÊN TÁC GI Ả VI ẾT TẮT
3 N ỗi truân chuyên của
Trang 8DANH M ỤC BẢNG BIỂU CỦA LUẬN ÁN
1 Bảng 2.1 Tỉ lệ các tương đương dịch từ ngữ Công giáo La Tinh – Việt 65
3 Bảng 3.2 Số lượng từ đơn một âm tiết và từ đơn đa âm tiết 79
81
6 Bảng 3.5 Đặc điểm chung của các từ ghép Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo
7 Bảng 3.6 Sphố lượng và tỉ lệ từ ngữ Công giáo theo ạm trù ngữ nghĩa 104
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngôn ngữ và tôn giáo là hai tính chất đặc trưng của xã hội loài người, có mối liên hệ hữu cơ mật thiết với nhau Tôn giáo nào cũng cần phải truyền bá các giáo thuyết, tư tưởng, nên ngôn ngữ trở thành công cụ không thể thiếu Ngược lại, nhờ tham gia vào công tác truyền bá giáo nghĩa mà ngôn ngữ được bảo tồn, phong phú
và phát triển Sự ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ và tôn giáo sâu đậm đến nỗi giới Ngôn ngữ học phương Tây cho rằng: “Nếu lựa chọn một nhân tố xã hội có thể làm nảy sinh ra những ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với lịch sử ngôn ngữ, và ngược lại cũng chịu ảnh hưởng nhất định của ngôn ngữ thì đó chính là tôn giáo.” [126, tr.303] Cho nên, việc nghiên cứu ngôn ngữ tôn giáo là cần thiết và luôn hứa hẹn những khám phá hữu ích
Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2009, Phật giáo và Công giáo là hai tôn giáo lớn nhất nước với số tín đồ lần lượt là 6.802.318 và 5.677.086 người [5, tr.281] Mỗi tôn giáo, theo cách thế của mình, đều có những đóng góp mang dấu ấn riêng cho văn hóa–xã hội Việt Nam Phật giáo phát sinh từ Ấn Độ rồi truyền vào
Việt Nam theo hai ngả: Nam Tông qua Thái Lan, Bắc Tông qua Trung Quốc, nên mang nhiều nét đặc trưng Á Đông Công giáo khởi phát từ Trung Á, phát triển
mạnh ở châu Âu rồi sau đó trở lại Á châu và vào Việt Nam, nên mang nhiều màu sắc của văn minh phương Tây Bên cạnh sự ảnh hưởng của Khổng giáo và Lão giáo trong một quá trình lịch sử lâu dài, Phật giáo và Công giáo là hai tôn giáo tác động vào xã hội-văn hóa Việt Nam đến tận thời hiện đại Sự tác động này góp phần làm giàu nền văn hóa bản địa và làm nên bộ mặt văn hóa-xã hội Việt Nam ngày nay vừa
có những giá trị Á Đông bền vững, vừa có khả năng dễ dàng tiếp cận, tiếp thu các giá trị văn hóa-văn minh phương Tây Hiện trạng này làm nên lí do quan trọng cho các nghiên cứu về tôn giáo tại Việt Nam nói chung, các giá trị ảnh hưởng đến văn hóa-xã hội của tôn giáo nói riêng, mà trong đó không thể không đề cập đến lĩnh vực
Trang 10ngôn ngữ tôn giáo Tuy nhiên, tình hình chung cho thấy, lĩnh vực nghiên cứu này
tại Việt Nam chưa được chú ý thỏa đáng, nhất là với Công giáo Trong khi đó, tôn giáo này có những đóng góp khả dĩ cho tiếng Việt, đặc biệt được coi là có công lớn trong việc tạo ra chữ Quốc ngữ Cho nên, việc nghiên cứu từ ngữ Công giáo tại Việt Nam chắc chắn sẽ mang lại những khám phá hữu ích, không chỉ để hiểu tôn giáo này hơn, nhưng còn thấy được sự phát triển của một bộ phận tiếng Việt, vì từ ngữ Công giáo tại Việt Nam cũng là một phần của từ ngữ Việt Nam
Tuy nhiên, từ ngữ Công giáo tại Việt Nam là một phạm trù lớn Chúng tôi lựa chọn phạm trù nhỏ hơn nhưng quan trọng trong đời sống tôn giáo, là từ ngữ trong kinh nguyện, cụ thể là trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam Qua khảo sát sơ bộ trước khi lựa chọn đề tài, chúng tôi nhận thấy các từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện vừa là các khái niệm giáo lí, thần học…có thể có vai trò như các thuật ngữ, vừa có những đơn vị từ ngữ sử dụng trong đời sống thông thường; vừa có những từ ngữ mang dấu vết lịch sử thời kì đầu chữ Quốc ngữ, vừa
có những từ ngữ hiện đại… Lớp từ ngữ này, có thể nói, là hình ảnh khá đầy đủ các đặc trưng của từ ngữ Công giáo tại Việt Nam Trong bối cảnh các nghiên cứu về từ
ngữ Công giáo tại Việt Nam còn rất ít ỏi, đề tài Từ ngữ Công giáo trong các bản
kinh nguy ện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam, không chỉ cho các kết quả
nghiên cứu về đặc điểm từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện giúp cho việc hiểu
biết và sử dụng kinh nguyện Công giáo; nhưng đồng thời có thể đạt được các kết quả nghiên cứu về đặc điểm của từ ngữ Công giáo tại Việt Nam nói chung, góp phần hướng tới việc chuẩn hóa từ ngữ Công giáo tiếng Việt, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, phát triển các tôn giáo phù hợp với chính sách tôn giáo tại Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng
t ại Việt Nam có mục đích xác định và làm rõ các từ ngữ Công giáo trong các bản
kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam với các mục tiêu cụ thể như:
Trang 11- Tìm hiểu con đường hình thành các từ ngữ Công giáo nghiên cứu, từ đó góp
phần xác lập con đường hình thành lớp từ ngữ Công giáo nói chung tại Việt Nam
- Mô tả các đặc điểm ngôn ngữ học của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam
- Tìm hiểu khả năng hội nhập vào tiếng Việt toàn dân của lớp từ ngữ Công giáo tại Việt Nam thông qua việc nghiên cứu hoạt động của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam trong một số tác phẩm văn học Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong và ngoài nước nói chung, tình hình nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện, nhất là trong kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam nói riêng
- Xác lập cơ sở lý luận cho luận án, gồm những vấn đề như: Mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và tôn giáo, từ ngữ và các đặc điểm về từ ngữ vay mượn ,…
- Khảo sát các đơn vị ngôn ngữ trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam và xác định các đơn vị từ vựng Công giáo
- Phân loại và mô tả các đặc điểm ngôn ngữ của các đơn vị từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam
- Tìm hiểu khả năng hoạt động của lớp từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam trong một số sáng tác văn học dân gian và một số tác phẩm văn chương Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Xuất phất từ quan điểm của ngành Từ vựng học truyền thống, luận án nghiên
cứu các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại
Việt Nam dưới các phương diện chính như: Sự hình thành và tiếp nhận, các đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và hoạt động của các từ ngữ Công giáo trong đời sống tiếng Việt… Cụ thể, luận án nghiên cứu con đường hình thành các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam Việc tiếp nhận các từ ngữ Công giáo gốc Ấn Âu diễn ra như thế nào, chịu những tác động biến đổi gì Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các từ ngữ Công giáo không chỉ cho thấy những đặc điểm chung của từ ngữ tiếng Việt, nhưng còn có những đặc trưng riêng của lớp từ này, qua đó làm nỗi bật sự khác biệt trong mối tương quan với tiếng Việt nói chung và với các biệt ngữ khác, cụ thể là biệt ngữ
Phật giáo nói riêng Dưới cái quan điểm về mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo, nghiên cứu hoạt động của từ ngữ Công giáo trong đời sống tiếng Việt thông qua các bản kinh nguyện Dòng tại Việt Nam, biểu thị qua một số sáng tác dân gian và văn chương Việt Nam, cho thấy mối tương quan qua lại giữa của nhóm
biệt ngữ Công giáo với tiếng Việt toàn dân trong đời sống tiếng Việt
3.3 Ngữ liệu nghiên cứu
Để có nhận xét cách đầy đủ tình hình ngôn ngữ trong một tôn giáo, người ta
cần nghiên cứu ngôn ngữ trong nhiều phạm vi khác nhau Cụ thể với Công giáo, người ta phải nghiên cứu ngôn ngữ của Thánh Kinh, ngôn ngữ của Thần học, ngôn ngữ của Phụng vụ, ngôn ngữ của kinh nguyện, ngôn ngữ của Triết học Công giáo… với khối tư liệu rất lớn Chúng tôi nhận thấy kinh nguyện chiếm vị trí quan trọng trong các tư liệu trên Kinh nguyện Công giáo không chỉ đơn thuần thực hiện chức năng cầu nguyện vốn có, nhưng thường hàm chứa nội dung Kinh Thánh, Giáo lý, Giáo luật nên còn mang giá trị giáo dục đức tin và đời sống tôn giáo Vì thế, kinh nguyện Công giáo vừa mang tính chất thánh thiêng khi khi thực hành chức năng
cầu nguyện, vừa mang tính chất thực tiễn khi thực hiện chức năng giáo dục Do đó,
Trang 13chúng rất gần gũi và thiết yếu trong đời sống tín hữu Xét về mặt ngôn ngữ, từ ngữ trong kinh nguyện Công giáo có thể phản ánh tương đối đầy đủ khuôn mặt ngôn
ngữ của cộng đồng tôn giáo này
Hiện nay, năm 2020, Việt Nam có 27 giáo phận Công giáo Do đặt dưới sự coi sóc của các linh mục dòng thánh Đa Minh từ năm 1757, nên các giáo phận: Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn được gọi là các giáo phận thuộc dòng thánh Đa Minh và gọi tắt là các Giáo phận Dòng Mảnh đất của các giáo phận này được coi là nôi khai sinh của Công giáo tại Việt Nam, phát triển rất mạnh trong những năm trước biến cố di cứ 1954, tạo nên những nét văn hoá Công giáo phong phú Các bản kinh nguyện hiện nay tại Việt Nam thường được hình thành trong cộng đồng Công giáo các giáo phận này
Chính vì thế, luận án lựa chọn các bản kinh nguyện của các giáo phận kể trên làm tư liệu nghiên cứu
Thuật ngữ “bản kinh” được sử dụng theo cách gọi của cuốn kinh nguyện xuất
bản đầu tiên (năm 1865) với tên gọi “Bản kinh tụng đọc toàn niên” tương đương
với cách gọi thuần Việt “Sách kinh đọc quanh năm” sau này Như thế, “bản kinh” được hiểu là “sách kinh” như từ ngữ các xuất bản sau đó sử dụng
Đặc điểm tư liệu các bản kinh nguyện được
chọn nghiên cứu như sau:
- Bản Kinh Tụng Đọc Toàn Niên xuất bản năm
1865, là cuốn sách kinh in bản gỗ cổ nhất, dày 413
trang, được Linh mục Nguyễn Hưng phục nguyên
năm 2007, mất vài trang không đáng kể Bản kinh
này rất quan trọng cho việc nghiên cứu các kinh cũ
trước khi có sự thống nhất và hiệu chỉnh kinh của
Hội Đồng Kinh năm 1924 Đây cũng là bản kinh có giá trị cho việc nghiên cứu các
từ ngữ lịch sử của lớp từ vựng Công giáo tại Việt Nam nói riêng và tiếng Việt nói chung
Trang 14- Bản Toàn Niên Kinh Nguyện
Địa Phận Dòng Thánh Đaminh, Nhà
Thiện bản Đaminh xuất bản năm 1953
tại Hà Nội Sách dày 442 trang
- Cuốn Toàn Niên Kinh Nguyện
của Giáo phận Bùi Chu xuất bản năm
Chu, Thái Bình, in năm
1970 tại Gia Định,dày
384 trang
- Sách Kinh Giáo
Phận Bùi Chu, dày 200
trang, được Đức giám
Trang 15mục J.M Vũ Duy Nhất chuẩn in (imprimatur) năm 1983, do Tòa giám mục Bùi Chu phát hành nội bộ
- Cuốn Kinh Bản Công Giáo Giáo Phận Bắc Ninh in năm 1992 dày 279 trang,
do Tòa giám mục Bắc Ninh xuất bản theo giấy phép xuất bản số 54/CXB cấp ngày 23/3/1992
- Bản Toàn Niên Kinh Nguyện Giáo Phận Hải Phòng, dày 308 trang, do Tòa
giám mục Hải Phòng in năm 2010
- Sách Kinh của Giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng dày 32 trang, là bản phôtô
lưu hành nội bộ, không có năm xuất bản
Tiêu chí lựa chọn những bản kinh làm tư liệu nghiên cứu là vừa phản ánh sự
phát triển của từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện về mặt lịch đại: Từ Bản kinh
tụng đọc toàn niên in năm 1865 là bản kinh được in đầu tiên sau khi có tên gọi
Giáo phận Dòng (năm 1757) mà chúng tôi hiện sưu tập được, cho đến bản Toàn
niên kinh nguyện xuất bản năm 2010 là bản mới nhất; vừa phản ánh cục diện từ ngữ
Công giáo trong kinh nguyện hiện nay của đủ các Giáo phận Dòng mà nay đã chia tách độc lập
Để nghiên cứu hoạt động của từ ngữ Công giáo trong đời sống tiếng Việt, (thông qua nghiên cứu các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam), tác giả lựa chọn các cứ liệu tục ngữ, ca dao và văn
Trang 16học viết để chứng minh luận điểm của luận án Về tư liệu văn học viết, đề cao tính
“phi biệt ngữ hoá” các từ ngữ Công giáo, tác giả cố gắng lựa chọn các sáng tác mà
từ ngữ Công giáo phải được sử dụng trong ngữ cảnh giao tiếp đời thường, không
trực tiếp nói đến đề tài Công giáo hoặc được viết dành riêng cho người Công giáo Trong khi các tác phẩm viết liên quan đến bối cảnh Công giáo tại Việt Nam không nhiều, chúng tôi chọn lựa được 12 sáng tác đáp ứng các tiêu chí đặt ra Số tác phẩm này chưa phải là nhiều nhưng có nội dung phản ánh trải dài từ trước Cách mạng tháng Tám đến thời kỳ Đổi mới; từ bối cảnh đời sống nông thôn ra đến thành thị; từ pham vi giao tiếp của người nông dân đến phạm vi giao tiếp của giới trí thức…Đó
là các tác phẩm Dì Hảo, Đời thừa, Nỗi truân chuyên của khách mà hồng, Tư cách
mõ của Nam Cao; Tiểu thuyết Bỉ vỏ, truyện ngắn Một tuổi thơ văn, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng; Truyện ngắn Cha và con và…, Thời gian của người,
Xung đột, Nằm vạ, tuỳ bút Đi tìm cái tôi đã mất của Nguyễn Khải
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Với đối tượng, giới hạn, phạm vi và mục đích như trên, công việc nghiên cứu
của đề tài Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng
tại Việt Nam được triển khai như sau:
Trước tiên, chúng tôi khảo sát, xác định các đơn vị từ vựng là từ ngữ Công giáo phân biệt với các lớp từ ngữ khác Sau đó, tác giả phân loại và mô tả các đặc điểm ngôn ngữ học của các đơn vị này Cuối cùng, luận án nghiên cứu sự hoạt động của lớp từ ngữ này trong tiếng Việt nói chung
Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chuyên biệt chủ yếu sau:
1) Phương pháp khảo sát văn bản: Phương pháp này có mục đích thu thập các
từ ngữ Công giáo được sử dụng trong các văn bản tư liệu, làm đối tượng nghiên
cứu của luận án
Trang 172) Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học để tìm hiểu, phân loại và miêu tả các từ
ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện Trong đó, chúng tôi chủ yếu sử dụng các thủ pháp sau:
+ Thủ pháp phân tích chức năng: Để xác định nghĩa của các đơn vị từ vựng trong bối cảnh / ngữ cảnh cụ thể
+ Thủ pháp phân tích cấu trúc: Để làm rõ vấn đề cấu tạo của các đơn vị từ ngữ Công giáo được nghiên cứu
+ Thủ pháp phân tích thành tố nghĩa: Để khảo sát ngữ nghĩa của các nhóm từtrong lớp từ ngữ Công giáo
+ Thủ pháp thống kê và phân loại: Nhằm phân loại các đơn vị có chung đặc điểm để nghiên cứu thành đặc điểm chung của từng nhóm từ ngữ, sau đó đưa ra tỉ
lệ thống kê để đánh giá khả năng tạo sinh từ ngữ Công giáo trong mối tương quan
với từ ngữ toàn dân.thống kê các đơn vị từ ngữ Công giáo và phân loại các đơn vị này theo các tiêu chí ngôn ngữ học
+ Thủ pháp phân tích quy chiếu: Để kết nối các biểu thức từ ngữ khác nhau cùng quy chiếu một thực thể
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Thông qua việc nghiên cứu các từ ngữ mang nội dung ý nghĩa có tính hệ
thống, được sử dụng trong cộng đồng Công giáo tại Việt Nam, luận án xác định có
tồn tại lớp từ ngữ Công giáo trong tiếng Việt; đồng thời, làm rõ hệ thống từ ngữ Công giáo so với từ ngữ tôn giáo khác
- Khảo sát, miêu tả và phân tích các đơn vị từ vựng được xác định là các từ ngữ Công giáo, luận án tìm ra các con đường hình thành, chỉ ra cơ chế tạo sinh (đặc điểm cấu trúc) của lớp từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam nói riêng và lớp từ ngữ Công giáo trong tiếng Việt nói chung Luận án cũng góp phần làm rõ các đặc điểm Việt hóa các từ ngữ Công giáo vay mượn trong tiếng Việt
Trang 18- Qua việc nghiên cứu hoạt động của từ ngữ Công giáo trong đời sống tiếng
Việt thông qua một số sáng tác dân gian và văn chương, luận án đánh giá mối tương quan hữu cơ giữa Công giáo với nền văn hóa – xã hội tại Việt Nam được
biểu hiện qua ngôn ngữ
- Cuối cùng, luận án đóng góp thêm một nghiên cứu cụ thể cho ngành Việt ngữ học, theo như chuyên ngành của luận án
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lí luận:
- Nghiên cứu đặc điểm từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam góp phần bổ sung những vấn đề mang tính lý luận của Ngôn ngữ học qua một ngữ liệu cụ thể; góp phần làm rõ các đặc điểm về con đường hình thành, cấu trúc, ngữ nghĩa của lớp từ ngữ Công giáo, cùng sự vận động
của chúng trong hệ thống từ vựng tiếng Việt
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
- Luận án là một nghiên cứu chuyên ngành về mặt ngôn ngữ trong lãnh vực tôn giáo, cụ thể là Công giáo tại Việt Nam
- Trên cơ sở khảo sát, miêu tả và phân tích lớp từ ngữ Công giáo trong tư cách
là biệt ngữ, luận án đóng góp thêm một nghiên cứu cụ thể về biệt ngữ nói chung và
biệt ngữ Công giáo nói riêng cho Việt ngữ học
- Các kết quả nghiên cứu của luận án có thể phục vụ cho công tác nghiên cứu tôn giáo nói chung và ngôn ngữ Công giáo nói riêng
- Dựa trên các kết quả nghiên cứu đạt được, luận án có thể hướng tới hình thành một tập ngữ vựng Công giáo góp phần phục vụ cho những ai có nhu cầu tìm hiểu tôn giáo này Tập ngữ vựng cũng giúp các tín hữu Công giáo hiểu chính xác hơn các từ ngữ trong kinh nguyện, hầu việc cầu nguyện và thực hành tôn giáo tích
cực hơn và có chiều sâu hơn
Trang 197 C ấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết liên quan đến
đề tài nghiên cứu
Chương 2: Con đường hình thành các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh
nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam
Chương 3: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các từ ngữ Công giáo trong
các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam
Chương 4: Từ ngữ Công giáo trong đời sống tiếng Việt
Trang 20Chương 1
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề
Lí thuyết là cơ sở lí luận cho các nghiên cứu khoa học Đề tài: Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam được xác định thuộc vào lĩnh vực Từ vựng học của chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam Vậy nên, chương đầu tiên của luận án sẽ đề cập đến những vấn đề lí luận cần thiết như: các đặc điểm của từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt và những vấn đề chung về từ ngữ
và tôn giáo
Tuy nhiên, trước khi trình bày vấn đề lí thuyết chính yếu nêu trên, chương thứ
nhất này của luận án sẽ khảo cứu tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ và tôn giáo nói chung, cùng phạm vi hẹp và hầu như chưa được nghiên cứu kỹ liên quan trực tiếp đến đề tài là lớp từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện tại Việt Nam
Cuối cùng, để cung cấp một cái nhìn tổng quát về đối tượng nghiên cứu, tác
giả sẽ giới thiệu sơ lược về Công giáo và lịch sử truyền giáo của Công giáo tại Việt Nam; mối tương quan giữa Công giáo với nền văn hóa Việt…như là bối cảnh của
vấn đề nghiên cứu
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu các vấn đề về ngôn ngữ và tôn giáo có lịch sử lâu đời, phạm
vi rộng và chuyên sâu, vì hai lĩnh vực này có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Đề tài nghiên cứu các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam là một phạm vi hẹp của việc nghiên cứu từ ngữ Công giáo Do đó, chúng tôi sẽ tổng quan trực tiếp tình hình nghiên cứu từ ngữ Công giáo để xác lập vị trí của đề tài nghiên cứu và kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, giúp ích cho việc triển khai đề tài nghiên cứu
Trang 211.2.1 Các nghiên c ứu từ ngữ Công giáo trên thế giới
Xem xét các công trình nghiên cứu về từ ngữ Công giáo trên thế giới, chúng tôi thấy đối tượng này được nghiên cứu dưới các góc độ ngôn ngữ sau:
1.2.1.1 Nghiên c ứu từ ngữ Công giáo dưới góc độ Từ vựng học truyền thống
Tôn giáo và ngôn ngữ là hai phạm trù có mối quan hệ gắn bó đặc biệt với nhau Thứ nhất, tôn giáo cần ngôn ngữ để truyền bá giáo nghĩa Thứ hai, khi truyền
bá giáo nghĩa, tôn giáo lại cần ngôn ngữ để giải thích giáo nghĩa Chính công việc giải thích giáo nghĩa là nguồn gốc đầu tiên hình thành nên lớp từ vựng tôn giáo riêng biệt Như thế, sự hình thành các từ ngữ tôn giáo xuất hiện rất sớm so với sự ra đời của tôn giáo Đây cũng là bối cảnh xuất hiện của lớp từ ngữ Công giáo trên thế giới Lí do cụ thể nữa cho sự xuất hiện việc nghiên cứu các từ ngữ Công giáo ngay
từ thời kì đầu của lịch sử tôn giáo này, là vì từ thế kỉ thứ nhất, Công giáo (Catholicism), đã trở thành một tôn giáo đa ngôn ngữ và đa dân tộc: Các tín hữu ở
Hi Lạp sử dụng tiếng Hi Lạp Các tín hữu ở Palestina, Syria, Mesopotania sử dụng
tiếng Aram (còn gọi là tiếng Syriaque hay tiếng Do Thái bình dân) Các tín hữu ở
vùng Bắc Phi sử dụng tiếng La Tinh Do đó, vấn đề dịch thuật các khái niệm Công giáo được đặt ra như một nhu cầu thiết yếu để đáp ứng việc truyền bá, giảng dạy và giao tiếp trong phạm vi tôn giáo Các tư liệu trong giai đoạn này chủ yếu đề cập đến lĩnh vựng từ vựng và ngữ nghĩa
Nguồn tư liệu đề cập đến phương diện từ ngữ Công giáo cổ xưa nhất và thường được kể đến là các tác phẩm của các Giáo phụ (père de l’Église), chẳng hạn tác phẩm “Chú giải Kinh Thánh” của Đức giám mục Ephrem xứ Syria (306 - 307); tập sách nổi tiếng “De Trinitate” (Bàn về Thiên Chúa Ba Ngôi) của Đức giám mục Hilario thành Poitiers (315 - 367); tập sách “Confessio” (Tự thuật) và “City of God” (Thành trì của Thiên Chúa) của Đức thánh giám mục Augustino Tác phẩm được coi là sớm nhất ghi chép và giải thích các từ ngữ Công giáo là tài liệu “Thư
gửi người Magnesie” của Đức giám mục Ignace phụ trách Tổng giáo khu Antioche, khoảng đầu thế kỉ thứ II, dưới thời hoàng đế Trajan Tài liệu này lần đầu ghi nhận
Trang 22và giải thích các thuật ngữ Công giáo như: Kitô hữu (Christophores): tức là người mang Đức Kitô; Giáo lý (Christomathie): giáo huấn của Đức Kitô; Kitô giáo (Christianisme): cuộc đời của người Ki-tô hữu (ngày nay hiểu là đạo Kitô hay hệ
th ống lý thuyết đạo Kitô)… [63, tr.47]
Tuy vậy, như nhận xét của tác giả Jeroen Darquennes (2011), sang thế kỷ XX, việc nghiên cứu từ ngữ tôn giáo thường đi liền với từ ngữ Công giáo là tôn giáo chiếm vị trị độc tôn ở lục địa châu Âu cho đến hết thời Trung cổ, mới thực sự được
đề cập dưới khía cạnh học thuật theo đường hướng của Ngôn ngữ học [138, tr.1-2]
Otto Jesperson (1912), ngay đầu thế kỉ XX, trong cuốn Sự tăng trưởng và cấu trúc
c ủa tiếng Anh, nghiên cứu về lịch sử phát triển của tiếng Anh, đã dành khá nhiều
trang cho phần liệt kê và phân tích nguồn gốc các từ ngữ có gốc Kitô giáo được du
nhập vào tiếng Anh qua ngôn ngữ La Tinh, Hy Lạp hay tiếng Pháp Qua đó, tác giả cho rằng từ vựng Công giáo là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sự
biến đổi nội tại của tiếng Anh hiện đại [139] Donald M Ayers cũng có công trình nghiên cứu về từ vựng Công giáo trong tiếng Anh hiện đại khi thống kê, đi tìm nguồn gốc La Tinh và Hy Lạp, cùng chú giải ngữ nghĩa lớp từ vựng này trong tác
phẩm English words from Latin and Greek elements [135]
Chu Văn Tuấn trong cuốn Nghiên cứu những vấn đề cơ bản Nhân loại học
ngôn ng ữ có các khảo cứu về nghĩa lớp từ vựng Công giáo gốc La Tinh trong tiếng
Anh Theo tác giả này, xét dưới góc độ biến đổi nghĩa, từ ngữ Công giáo khi du nhập vào các ngôn ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng, phân thành hai loại: không thay đổi về nghĩa và có thay đổi về nghĩa Chẳng hạn: Những từ ngữ Công giáo gốc
La Tinh vẫn giữ nguyên nghĩa tôn giáo khi vào tiếng Anh, như: temple (đền thờ), altar (bàn thờ), monastery (tu viện), preach (rao giảng)…; Những từ ngữ Công giáo gốc La Tinh bị thay đổi nghĩa khi vào tiếng Anh, như: dogma: vừa mang nghĩa gốc
là “giáo lí”, vừa mang nghĩa mới là “ý kiến”; Heresy: vừa mang nghĩa gốc là “dị giáo” (đối với Công giáo), vừa mang nét nghĩa mới là “các dị giáo, dị thuyết nói chung”; Infallibility: vừa mang nét nghĩa gốc là “tính bất khả ngộ” (của Giáo
Trang 23hoàng), vừa mang nét nghĩa mới là “sự hoàn hảo, không thể sai lầm nói chung”… [126, tr.308-315]
1.2.1.2 Nghiên c ứu từ ngữ Công giáo dưới góc độ Ngôn ngữ học nhân học
Thế kỉ XX là thế kỉ bùng nổ của nhiều ngành khoa học, trong đó có Ngôn ngữ học Vấn đề ngôn ngữ và tôn giáo không chỉ được nghiên cứu đơn thuần dưới góc
độ các đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa, nhưng được đặt dưới nhiều gốc độ để thấy được nhiều mặt của đối tượng Xuất phát từ quan điểm nhìn tôn giáo như là bản chất, là yếu tính của con người, một số nhà ngôn ngữ học nghiên cứu phạm trù ngôn ngữ và tôn giáo theo cái nhìn của Ngôn ngữ học nhân học (Anthropological
linguistics). Ngôn ngữ học nhân học còn gọi là Nhân học ngôn ngữ hay Ngôn ngữ học nhân chủng là một phân môn quan trọng của Nhân học (Anthropology), là một
hệ thống lý luận Ngôn ngữ học vĩ mô với sự giao thoa của nhiều ngành khoa học và
mới được chú ý nhiều vào những thập niên đầu thế kỷ XX [126, tr.4]
Theo Lý Tùng Hiếu, góp công đầu trong việc hình thành chuyên ngành Ngôn
ngữ học nhân học là Franz Boas, Edward Sapir và Benjamin Lee Whorf ở Mỹ và Claude Lévi-Strauss (1908), Emile Benveniste… ở Pháp [36, tr.6] Các tác giả này
đã đi sâu vào phân tích, chứng minh mối liên hệ nội tại giữa ý nghĩa cơ bản của từ
ngữ với các tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị, tôn giáo của nền văn hoá cổ đại hiện đang còn ảnh hưởng đến nền văn hoá hiện đại
Muộn hơn, chúng ta có thể kể đến các nhà Ngôn ngữ học nhân học có các công trình nghiên cứu từ ngữ Công giáo như Robert Mc Crum (1986), Chu Văn Tuấn (2000)…
Robert Mc Crum trong tác phẩm Lịch sử tiếng Anh (The Story of English)
nghiên cứu và đưa ra các nhận xét về tác động của ngôn ngữ thánh sự tiếng La Tinh của Giáo hội Công giáo đối với tiếng Anh Ông coi tác động này như là một trong
các yếu tố quan trọng biến tiếng Anh cổ (Old English) thành tiếng Anh hiện đại (Modern English) Theo ông, do sự phát triển mạnh mẽ của Công giáo tại Anh quốc
mà trong 500 năm đầu từ khi du nhập mà ngôn ngữ thánh sự bằng tiếng La Tinh
Trang 24từng bước thâm nhập vào dân gian, văn hóa… kéo theo từ ngữ La Tinh cũng từ đó
mà thâm nhập vào tiếng Anh Đây là một trong những yếu tố quan trọng làm nên cuộc cách mạng văn hóa trong lịch sử Anh ngữ Tác động này trong giai đoạn chuyển tiếp tiếng Anh cổ và tiếng Anh hiện đại, không chỉ không chỉ đơn thuần để các từ ngữ mới, hơn 400 trong số đó còn tồn tại đến ngày nay, mà còn cho tiếng Anh khả năng diễn đạt tư tưởng trừu tượng Tác giả viết: “The importance of this cultural revolution in the story of the English language is not merely that is strengthned and enriched Old English with new words, more than 400 of which sarvive to this day, but also that is gave English the capacity to express abstract thought.” (Sự quan trọng của cuộc cách mạng về văn hóa trong lịch sử tiếng Anh Tầm quan trọng của cuộc cách mạng văn hóa này trong câu chuyện về tiếng Anh không chỉ đơn thuần là củng cố và làm phong phú cho tiếng Anh cổ bằng những từ ngữ mới, hơn 400 trong số đó còn tồn tại đến ngày nay, mà còn cho tiếng Anh khả năng diễn đạt các tư tưởng trừu tượng.” [Dẫn theo 126, tr.308-309]
Chu Văn Tuấn (2000) dành một chương cho các vấn đề ngôn ngữ tôn giáo,
trong đó đặc biệt chú ý đến từ ngữ Kitô giáo, trong công trình mang tên Nghiên cứu
nh ững vấn đề cơ bản Nhân loại học ngôn ngữ Theo ông, ngôn ngữ và tôn giáo đã
tìm ra “mối lương duyên” đặc biệt, nhất là ở các tôn giáo độc thần thờ Thiên Chúa
lấy Thánh Kinh làm kinh điển Kinh Thánh coi ngôn ngữ chính là một “Ngôi vị”
của Thiên Chúa: “Ngay từ lúc tạo thành đã có Ngôi Lời (Ngôn ngữ), Ngôi Lời hằng tồn cùng Thiên Chúa, Ngôi Lời chính là Thiên Chúa.” (In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God) [126, tr.304]
Bên cạnh việc chứng minh ảnh hưởng nói chung của các tôn giáo vào ngôn ngữ trên thế giới qua quá trình sáng lập, truyền bá, tác giả cuốn Nghiên cứu những
vấn đề cơ bản Nhân loại học ngôn ngữ đặc biệt nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng của
Kitô giáo với các ngôn ngữ châu Âu Đặc biệt, việc ảnh hưởng qua lại giữa tiếng Hi Lạp và La Tinh là hai ngôn ngữ công cụ để truyền bá giáo nghĩa của Giáo Hội với các ngôn ngữ bản địa của các dân tộc tiếp nhận Kitô giáo đã trở thành “nguyên
Trang 25nhân quan trọng tạo nên sắc thái muôn hình muôn vẻ của các loại ngôn ngữ trên thế giới như hiện nay.” [126, tr.305]
Tuy vậy, Chu Văn Tuấn cũng cho rằng tôn giáo cũng có những ảnh hưởng không tốt đối với ngôn ngữ, cản trở sự phát triển của ngôn ngữ Trong thời kì này, tất cả các loại ngôn ngữ viết đều buộc phải lấy tiếng La Tinh của Giáo hội làm chuẩn, nếu sử dụng tiếng địa phươngthì bị coi là phạm giới, sẽ bị trừng phạt Cho nên, tiếng Hungari từ lâu đã có một hình thức khẩu ngữ, nhưng khó trở thành ngôn ngữ chung của cả nước [126, tr.306]
Cuối cùng, chủ yếu dựa trên các cứ liệu từ ngữ Công giáo, tác giả Chu Văn Tuấn đưa ra một sơ đồ nghiên cứu đối tượng này dưới góc độ Ngôn ngữ học nhân học gồm các khía cạnh: Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo; Sự ảnh hưởng của tôn giáo lên ngôn ngữ (cụ thể là tiếng Anh); và Tìm nguồn gốc văn hóa cho các từ ngữ tôn giáo [126, tr.303-333]
1.2.1.3 Nghiên c ứu từ ngữ Công giáo dưới góc độ Ngôn ngữ học xã hội
Cũng trong thế kỉ XX, nhiều nhà Ngôn ngữ học nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ
và tôn giáo dưới góc độ Ngôn ngữ học xã hội Khuynh hướng này được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ và nhanh chóng đạt được nhiều thành công Các từ ngữ Công giáo cũng được nhiều công trình chú ý nghiên cứu cách trực tiếp hoặc gián tiếp mà Einar Haugen được coi là một trong số những người tiên phong Trong nghiên cứu
có tên gọi: Tiếng Na Uy ở Hoa Kỳ (The Norwegian language in America: A study
in bilingual behavior, Philadelphia: University of Pennsylvania Press) xuất bản năm
1953, Einar Haugen trình bày các biến đổi trong tiếng Na Uy do tác động của các yếu tố mang tính tôn giáo, nhất là Kitô giáo, đối với cộng đồng nói thứ tiếng này tại Hoa Kỳ Đây là hướng tiếp cận điển hình của ngành Ngôn ngữ học xã hội
Tương tự, Joshua A Fishman (1966) sử dụng các phương pháp đa ngành để
tiếp cận con đường mà nhân tố tôn giáo can thiệp tới tiến trình chuyển biến hay ổn định, bền vững của một ngôn ngữ trong hoàn cảnh nhập cư tại Mỹ
Sau đó ít năm, năm 1968, W Stewart (1968) chính thức coi ngôn ngữ và tôn
Trang 26giáo là một thành phần của Ngôn ngữ học xã hội khi ông miêu tả tình trạng quốc gia đa ngữ bằng bảng phân loại ngôn ngữ học xã hội mà trong đó chức năng mang tính chất tôn giáo là một trong 10 chức năng của ngôn ngữ (theo W Stewart, người
ta thường chỉ cầu nguyện và cử hành nghi lễ bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình) [145] Cũng trong khoảng thời gian này, các nghiên cứu của David Crystal (1966) [134], William Samarin (1976) [144], Charles Ferguson (1982), … đã tạo ra một thúc đẩy mạnh mẽ cho việc nghiên cứu mối tương quan giữa ngôn ngữ và tôn giáo theo định hướng ngôn ngữ học xã hội
Bước sang đầu thế kỷ XXI, năm 2001, John F Swayer và J.M.Y Simpson đã đưa ra lược đồ nghiên cứu về ngôn ngữ và tôn giáo với 6 bình diện như sau:
- Nghiên cứu ngôn ngữ trong ngữ cảnh tôn giáo riêng biệt: Trình bày thông
tin khái quát về các tôn giáo, như: các tôn giáo truyền thống châu Phi, tôn giáo Úc
bản địa, Kitô giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo, Tân giáo và đạo Síc …, nhất là tập trung nghiên cứu vai trò của ngôn ngữ trong từng tôn giáo này
- Các Văn bản thánh và các bản dịch: Nghiên cứu tập trung vào các văn
bản thánh như: Thánh Kinh của Kitô giáo, kinh Coran của Hồi giáo, kinh Tamud
của Do Thái giáo…cùng các bản dịch quan trọng như: Bản Kinh Thánh Anh ngữ,
Bản Bảy Mươi, các bản dịch kinh Tạng…và các phát hiện khảo cổ như bản đá Rosetta, bản da Biển Chết…
- Các ngôn ngữ mang tính tôn giáo và các bản thảo: Bình diện này chú ý
đến các ngôn ngữ dành riêng hay việc bất đồng ngôn ngữ (tiếng Latinh của Giáo Hội Công giáo, tiếng Slavơ của Giáo Hội Chính Thống Nga, tiếng Aram của Do Thái giáo …) trong lịch sử và trong quá trình phát triển tôn giáo Nghiên cứu này đồng thời đưa ra được các đúc kết về sự phát triển của hệ mẫu tự Latinh, hệ cổ tự
và một lượng lớn các bản thảo thánh (ví dụ: Hệ chữ Devanagari Bàlamôn, chữ Runes của người Vinking)
- Sử dụng các ngôn ngữ đặc biệt trong các tôn giáo: Bình diện này nghiên
cứu chủ yếu về cách sử dụng đặc biệt của ngôn ngữ trong ngữ cảnh tế tự (ví dụ:
Trang 27Cách sử dụng ngôn ngữ hành vi mantra, lời thì thầm hay sự thinh lặng trong các nghi lễ tôn giáo), trong các luận thuyết thần học (ví dụ: cách sử dụng phép ẩn dụ,
thần thoại …), trong các khung cảnh chiêm nghiệm mang tính tôn giáo (thông hiệp
và chiêm nghiệm), thậm chí trong đời sống thường ngày (như: sự chúc tụng hay lời nguyền rủa)
- Các niềm tin về ngôn ngữ: Bình diện này bao trùm tất cả những tranh luận
triết học của ngôn ngữ tôn giáo trong Phật giáo, Kitô giáo, Ấn Độ giáo Nó cũng đề cập đến niềm tin vào sức mạnh thần bí của các tên gọi và lời nói, cùng niềm tin vào ngôn ngữ như được kể trong câu chuyện Thánh Kinh về Tháp Babel
- Tôn giáo và các nghiên cứu về ngôn ngữ: Bình diện này tổng hợp kết quả
nghiên cứu của các học giả mang tính cách cá nhân hay tập thể về ngôn ngữ trong
ngữ cảnh tôn giáo [138, tr.3-4]
Cho đến nay, có thể nói B Spolsky (2004) là người ủng hộ nhiệt thành nhất đối với khuynh hướng coi mối tương quan giữa ngôn ngữ và tôn giáo là một mảng nghiên cứu của Ngôn ngữ học xã hội Chúng ta thấy rõ ràng quan điểm này trong các công trình của ông như: Language Policy và Language Management [143]
Nhà nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào mối quan hệ hỗ tương mật thiết giữa tôn giáo và chính sách ngôn ngữ Năm 2006, ông đưa ra một sơ đồ nghiên cứu hai đối tượng này liên quan với 4 chiều kích:
1) Hiệu ứng của tôn giáo lên ngôn ngữ: Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng
của tôn giáo trong việc lựa chọn ngôn ngữ, bảo tồn ngôn ngữ, cùng sự vay mượn từ vựng trong ngôn ngữ
2) Sự tương hỗ giữa ngôn ngữ và tôn giáo: Nghiên cứu sự tương tác giữa
ngôn ngữ và tôn giáo trong các biến đổi xã hội thường diễn ra ở các thành phố đa ngữ hay sự tương tác giữa một tình trạng đa ngữ và tình trạng đa tôn giáo,…
3) Hiệu ứng của ngôn ngữ lên tôn giáo: Nghiên cứu các ấn phẩm (chẳng
hạn sử dụng trong cầu nguyện) tới việc xây dựng một cộng đồng tôn giáo
Trang 284) Ngôn ngữ, tôn giáo và giáo dục: Nghiên cứu sự ảnh hưởng của ngôn ngữ
và tôn giáo trên lãnh vực giáo dục [138, tr.4]
Tóm lại, nghiên cứu về từ ngữ Công giáo trên thế giới chủ yếu tập trung ở các nước châu Âu là các quốc gia mang nền văn minh Kitô giáo Ngay từ khi xuất hiện vào đầu Công nguyên, các từ ngữ Công giáo đã được quan tâm do liên quan đến nhu cầu truyền bá và giảng dạy giáo thuyết Từ ngữ Công giáo tiếp tục được đề cập đến trong hầu hết các nghiên cứu về lĩnh vực ngôn ngữ và tôn giáo nói chung, vì Công giáo là tôn giáo chính gần như độc tôn tại phương Tây từ đầu kỉ nguyên Kitô giáo cho đến hết thời Trung cổ Tôn giáo và từ vựng của tôn giáo này có những ảnh hưởng mạnh mẽ tới các ngôn ngữ châu Âu Vào đầu thế kỉ XX, từ châu Âu, vấn đề ngôn ngữ và tôn giáo, trong đó có từ ngữ Công giáo, lần đầu tiên được nghiên cứu như một đối tượng chính thức của Ngôn ngữ học theo nhiều hướng nghiên cứu Có các nghiên cứu truyền thống dưới góc độ từ vựng, từ nguyên, ngữ nghĩa; Có các nghiên cứu theo phương pháp luận của ngành Nhân chủng học, coi ngôn ngữ và tôn giáo, trong đó có từ ngữ Công giáo là đối tượng của bộ môn Nhân chủng học ngôn
ngữ; Có các nghiên cứu đặt vấn đề làm đối tượng của bộ môn Ngôn ngữ học xã
hội Các hướng nghiên cứu chính yếu này chắc chắn bổ sung cho nhau làm nên tính đa diện cho việc nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ và tôn giáo, trong đó có từ ngữ Công giáo Tuy nhiên, nhìn vào tình hình nghiên cứu, chúng ta nhận thấy vấn đề này còn nhiều khoảng trống cần lấp đầy
1.2.2 Các nghiên c ứu từ ngữ Công giáo trong nước
Việc nghiên cứu từ ngữ Công giáo tại Việt Nam cho đến nay là không nhiều
và thường ở dạng các bài nghiên cứu hoặc chỉ là một phần hay các kết quả mang tính gián tiếp của một đề tài mang phạm vi nghiên cứu lớn hơn Khía cạnh nghiên cứu chủ yếu liên quan đến từ ngữ Công giáo tại Việt Nam cũng thường chỉ ở dưới góc độ Từ vựng học truyền thống
Trước tiên, tổng quan chúng tôi nhắc đến các cuốn từ điển Ngôn ngữ tại Việt Nam Một cách nào đó, từ điển chính là kết quả nghiên cứu thực tiễn của ngành
Trang 29Ngôn ngữ học dưới góc độ từ vựng – ngữ nghĩa Các cuốn từ điển tiếng Việt như
Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus, Tân từ điển Việt Nam của Thanh
Nghị, Việt Nam từ điển của Hội Khai Tri Tiến Đức, Từ điển tiếng Việt của Hoàng
Phê … luôn có các mục từ Công giáo và thường được chú thích là từ ngữ đạo
Giatô, Công giáo, Cơ đốc hay Thiên Chúa, ví dụ: “Phép Rửa tội: Phép làm cho
kh ỏi tội tổ tông; Lễ Rửa chơn: Phép riêng trong đạo Thiên Chúa” [23, tr.268],
“Amen: tiếng Do Thái (Hebreu) dùng trong các sách đạo Gia-tô, đặt ở sau các câu
nguy ện, nghĩa là xin được như nguyện Trong sách Đạo dịch là “tin thực như vậy”
[31, tr.1]; “Thánh giá (tôn giáo): Giá hình chữ thập tượng trưng sự cứu rỗi của Đức Gia-tô đối với loài người Crucifix” [75, tr.1290-1291); hoặc không cần chú thích ph ạm vi sử dụng, như: “Thánh giá: giá hình chữ thập, tượng trưng cho sự hi sinh vì đạo của Jesus.” [132, tr.1159]
Các ngữ vựng Công giáo còn được tiếp nhận và giải thích trong các cuốn từ
điển song ngữ, đa ngữ, như: Từ điển Việt Bồ La của A de Rhodes rất nổi tiếng xuất
bản tại Rome năm 1651, nhà xuất bản Khoa học xã hội tái bản năm; Tiểu từ điển
Vi ệt – Pháp (còn gọi là Nam Ngữ Thích Tây tổng ước) của J.F.M Génibrel, xuất
bản năm 1906 [84]; Từ điển Việt–Hoa–Pháp (Dictionnaire
Annamite–Chinois-Francais) của Gustave Hue, Imprimerie Trung Hòa, 1937; Từ điển An Nam-La Tinh
(Dictionnarium Anamitico-Latinum, tên chữ Hán là Nam Việt Dương hiệp tự vị)
thường gọi là Từ điển Taberd của Đức Giám mục Jean-Baptiste Louis, in năm 1833
tại Ấn Độ Có thể do mục đích sử dụng và do kiến thức nền của người biên soạn
mà chúng tôi nhận thấy, lượng từ ngữ tôn giáo, nhất là từ ngữ Công giáo được thu thập nhiều trong các cuốn từ điển ngôn ngữ ở giai đoạn đầu lịch sử xuất bản từ điển
ở Việt Nam và giảm dần trong các xuất bản về sau
Do nhu cầu của việc nghiên cứu, tìm hiểu Công giáo, một số cuốn từ điển chuyên môn về từ ngữ Công giáo được xuất bản trong những năm gần đây cho thấy
sự nghiên cứu từ ngữ tôn giáo này tại Việt Nam được chú ý hơn Chẳng hạn như các công trình: Điển ngữ thần học Thánh Kinh của Phân khoa Thần học Giáo
Trang 30hoàng Học viện thánh Pio X – Đà Lạt xuất bản năm 1976 chú giải các mục từ chuyên về Thánh Kinh và Thần Học [80], Điển ngữ Đức Tin Công giáo của Linh
mục Hồng Phúc, xuất bản năm 2009, giải thích các thuật ngữ đức tin Công giáo
[81], T ừ điển Công giáo Anh Việt của Nguyễn Đình Diễn, xuất bản 2002, dịch đối
chiếu các mục từ Anh – Việt và có phần phụ lục là bảng từ ngữ Công giáo Việt – Anh vừa giúp cho việc dịch thuật, vừa giúp tri hiểu các từ ngữ Công giáo tiếng Việt trong điều kiện các Từ điển từ ngữ Công giáo chưa nhiều [24], Từ điển Công giáo phổ thông của Linh mục Đặc Xuân Thành và nhóm cộng sự dịch lại cuốn từ điển của tác giả Jonh A Hardon, S.J bảng từ vựng gồm trên 2000 từ, trực tiếp hay gián
tiếp trình bày đức tin, phụng tự, luận lý, lịch sử và tu đức Công Giáo [91]; Tìm hiểu
t ừ vựng Công giáo của linh mục Stêphanô Huỳnh Trụ xuất bản năm 2012 nghiêng
nhiều về hướng nghiên cứu từ nguyên của các từ ngữ Công giáo [122] Cuốn Từ
điển Công giáo của Hội đồng giám mục Việt Nam xuất bản năm 2016 có 2022 mục
từ, kế thừa và phát triển từ cuốn Từ điển Công giáo 500 mục từ xuất bản năm 2011
[44] và Từ điển Công giáo [45] Đây là hai cuốn từ điển chuyên ngành về ngữ vựng Công giáo mới nhất tại Việt Nam hiện nay
Những năm gần đây, trên một số ấn phẩm Công giáo (thường là lưu hành nội
bộ) và trên các trang mạng của Giáo hội Công giáo, xuất hiện nhiều bài viết nghiên
cứu chuyên biệt về từ ngữ Công giáo Chặng hạn tác giả nữ tu Minh Thùy với “Từ
điển Bồ-La giúp hiểu rõ ý nghĩa một số kinh đọc thường ngày”, “Từ điển
Việt-B ồ-La giúp hiểu kinh ngày Chúa nhật lễ trọng”, “Từ điển Việt-Bồ-La giúp hiểu rõ ý nghiã m ột số kinh đặc biệt” đã có những khảo sát công phu các từ ngữ cổ xuất hiện
trong các kinh nguyện trong sự đối chiếu với cuốn từ điển quý giá của linh mục thừa sai A de Rhodes để giải thích ý nghĩa từ vựng của chúng [154] Diễn đàn
“Nghĩa các từ cổ trong các kinh sách Công giáo Việt Nam” ông Nguyễn Kim Binh
tới nay đã thu nhận, chú giải được 171 đơn vị từ vựng cổ trong kinh nguyện Công giáo Tiếc rằng tư liệu khảo sát của diễn đàn này hầu hết nằm trong sách kinh toàn niên của giáo phận Quy Nhơn và diễn đàn này hiện giờ cũng đã ngưng hoạt động
Trang 31nên không còn cơ hội mở rộng hơn [155] Mục Từ ngữ Công giáo trên trang mạng
của báo Công giáo dân tộc xác định và chú giải lượng rất lớn các từ vựng Công giáo làm nền tảng cho cuốn Từ điển Công giáo xuất bản năm 2016 [157] Các bài
viết của tác giả Nguyễn Cung Thông về từ ngữ và đặc điểm tiếng Việt qua các tác phẩm của linh mục A de Rhodes và linh mục Jeronimo Maiorica [158] Các bài viết của các tác giả Nguyễn Long Thao [148], Phan Văn Phước [149], Hoàng Xuân Việt (2006) [133], An Chi (2005-2006), [14], Vũ Văn Khương (2001, 2005, 2006) [53], [54], [55], [56]…
Một hướng khác nghiên cứu từ ngữ Công giáo như là đối tượng gián tiếp của các công trình nghiên cứu về lịch sử chữ Nôm, lịch sử chữ Quốc ngữ, lịch sử tiếng
Việt dựa trên các văn bản Công giáo, như luận án tiến sĩ Chữ Nôm và tiếng Việt thế
k ỷ XVII qua Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông của Jeronimo Maiorica và khảo
cứu Dấu vết cổ trong văn bản Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông của Jeronimo
Maiorica của Nguyễn Thị Tú Mai (2012) [66], tham luận “Nguồn tư liệu từ vựng
th ế kỷ XVII qua khảo sát truyện ông thánh Inaxu” của Lã Minh Hằng (2013) [34];
L ịch sử chữ Quốc ngữ những năm 1620-1659 của Đỗ Quang Chính, Nguyễn Quốc
Dũng (2009) viết về khía cạnh từ vựng và ngữ pháp của từ ngữ trong “Truyện các thánh” của tác giả Maiorica Nguyễn Văn Ngoạn (2012) khảo cứu văn bản Nôm Kinh những lễ mùa phục sinh của Maiorica, Nguyễn Hai Tính, S.J với bài viết Sơ
lược về cha Jeronimo Maiorica [108], Nguyễn Văn Ngạn với Giới thiệu khái lược văn bản Nôm kinh những lễ mùa Phục sinh của Jeronimo Maiorica [74] … Các
công trình này, dù chỉ là gián tiếp, nhưng cung cấp thông tin về khá nhiều ngữ vựng Công giáo (có hoặc không có chú thích) như: “lâm bô” (luyện ngục), “sinh thì”
(ch ết), “Đức Chúa Chi Thu” (Đức Chúa Giê-su)….; hoặc ghi nhận các cách phiên
âm từ ngữ Công giáo mang hình thức khác và cổ hơn so với hiện nay, ví dụ: Phê-lỗ
(Phê-rô), B ảo-lộc (Phao-lô), câu luật, câu tốt, câu rút (ngày nay không sử dụng các phiên âm này, nhưng sử dụng cách dịch nghĩa là thánh giá), Chi-thu (Giê-su)…
Các kết quả nghiên cứu này giúp chúng tôi xác định được một số từ ngữ Công giáo
Trang 32và niên đại xuất hiện của nó, đồng thời lý giải được các hình thức tồn tại khác nhau theo thời gian của một số từ ngữ trong các kinh nguyện liên quan
Gần đây, từ lời mời gọi “Sống Tin Mừng giữa lòng dân tộc” của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980, một số nhà nghiên cứu đã chú ý đến phương diện
hội nhập văn hóa của Công giáo trong lòng dân tộc Việt Nam, trong đó ít nhiều đề
cập đến các từ ngữ hay ngôn từ Công giáo Chẳng hạn: F.As Lê Đình Bảng (2007) bàn về các sách kinh nguyện cầu hồn như một di sản đức tin Công giáo, dễ dàng đi vào tâm thức người Việt bởi phù hợp với văn hóa đạo Hiếu của người Việt [159] Linh mục Đỗ Quang Chính, S.J viết về mối ảnh hưởng của tôn giáo này với dân
tộc Việt Nam qua chữ việc xây dựng bộ chữ Quốc ngữ [17] Lê Đức Hạnh với bàn
về vấn đề thờ cũng tổ tiên của người Công giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ - Việt Nam [98], Phạm Huy Thông đi sâu về ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hóa
Vi ệt Nam [99]… Khi bàn về Công giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam, các tác
giả này đều đề cập đến khía cạnh Ngôn ngữ nhân học và Ngôn học xã hội của các ngôn từ Công giáo trong tiếng Việt
Xem xét tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề nghiên cứu từ ngữ Công giáo tại Việt Nam mặc dù đã được xem xét dưới nhiều góc
độ và trong nhiều phạm vi, tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam
Như vậy, luận án “Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các
Do đó, luận án có cơ hội đóng góp những điểm mới về mặt lí luận và thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu Đây chính là lí do và động lực của tác giả luận án
1.3 Cơ sở lí thuyết của việc nghiên cứu các từ ngữ Công giáo trong các
1.3.1 M ối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo
“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời (Ngôn ngữ), Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.” (In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God) Câu Kinh Thánh được viết trang trọng
Trang 33ngay phần Lời tựa của sách Tin Mừng theo thánh Gioan này là một dẫn chứng cụ
thể và chính xác về mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo Theo Kinh Thánh, tên gọi của Ngôi Hai của Thiên Chúa là “Ngôn Ngữ” (Lời) Thậm chí Lời
của Thiên Chúa là một ngôi vị và cũng chính là Thiên Chúa
Suy tư về mối quan hệ giữa tôn giáo và ngôn ngữ xuất phát từ câu Kinh Thánh trên trùng khớp với nhận định của các nhà ngữ học phương Tây cho rằng, nếu lựa chọn một nhân tố xã hội có thể làm nảy sinh ra những ảnh hưởng sâu sắc nhất tới ngôn ngữ thì đó chính là tôn giáo Ngược lại, nếu lựa chọn một nhân tố xã hội có thể làm nảy sinh ra những ảnh hưởng sâu sắc nhất tới tôn giáo thì đó lại chính là ngôn ngữ [50, tr.291] Điều này được chứng minh xét từ góc độ tôn giáo: Điều căn bản của tôn giáo, có lẽ trước hết, là hệ thống giáo lý phản ánh những khái niệm
niềm tin và lý thuyết đạo đức Cho dù đó là những “mạc khải” siêu nhiên thì cũng
phải được truyền tải bằng ngôn ngữ nhân loại, vì đối tượng lĩnh hội là con người Khoa chú giải Kinh Thánh Do Thái và Kitô giáo khẳng định: Thiên Chúa dùng ngôn ngữ của con người để nói cho con người biết ý định nhiệm màu (siêu nhiên)
của Thiên Chúa trong dòng lịch sử Lời ấy được ghi bằng ngôn ngữ của tác giả nhân loại theo thần ứng của Thiên Chúa Đó là Kinh Thánh Chính vì thế, tôn giáo
cần đến ngôn ngữ như là một phương tiện thiết yếu Cũng thế, xét từ góc độ ngôn
ngữ: Nhìn vào thực tế diện mạo ngôn ngữ trên thế giới với quan điểm so sánh lịch
sử, ai cũng dễ dàng nhận ra, đại đa số các kiểu ngôn ngữ trên thế giới, đặc biệt là tiếng Do Thái, Hán, Hy Lạp, La Tinh, Ả Rập cổ đại đều có kinh văn và kinh thư, hơn nữa đều xuất hiện rất sớm trong ghi chép văn tự Theo Chu Văn Tuấn (2000), hầu hết các tôn giáo trên thế giới trong quá trình sáng lập hoặc viết các văn thư thánh của mình thì đều hoặc sáng tạo ra một thứ ngôn ngữ mới, hoặc truyền bá mở rộng phương ngôn, thổ ngữ ban đầu của mình [126, tr.34]
Trong khi ngôn ngữ giúp truyền bá giáo nghĩa, duy trì và quảng bá tôn giáo, thì tôn giáo cũng giúp mở rộng và bảo vệ ngôn ngữ khỏi bị hủy diệt Chẳng hạn, sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, quân German trong công cuộc đồng hoá, luôn mong
Trang 34muốn xoá bỏ ngôn ngữ và văn hoá nước bại trận Thế nhưng lịch sử cho thấy, bị chinh phục trước những giá trị tinh thần của Công giáo, người German bắt đầu tòng Đạo và học tiếng La Tinh, ngôn ngữ lưu truyền giáo lý Công giáo Nhờ đó, tiếng
La Tinh được tồn tại Điều này cũng chứng minh rằng khi tôn thờ một tôn giáo nào
đó thì thường đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ gắn liền với tôn giáo đó
Tiếp theo, do việc dịch Kinh Thánh ra các ngôn ngữ địa phương mà nhiều ngôn ngữ châu Âu có được bộ văn hiến bằng chữ viết đầu cho mình Thế kỷ thứ IV, giáo chủ Ulfilas dịch Kinh Thánh sang tiếng Gothic làm cho ngôn ngữ này có hình thức chữ viết đầu tiên Trong khoảng thời gian từ năm 1462 – 1548, sự xuất hiện các bản dịch Kinh Thánh đã giúp từng bước định hình hóa, tiêu chuẩn hóa các ngôn ngữ châu Âu Bản dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức của Martin Luther quy chuẩn
nền tảng cho tiếng Đức hiện đại Bản dịch Kinh Thánh sang tiếng Anh năm 1611
có tác dụng quan trọng cho việc định chế và quy chuẩn hóa tiếng Anh ngày nay [103, tr.305 - 306]
Nhận thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ với tôn giáo, nhấ là trong công
cuộc truyền giáo, các thừa khi đến truyền giáo tại Việt Nam đã có những đấu tư thích đáng dẫn đến những kết quả đáng được ghi nhận đối với ngôn ngữ này Trong
đó phải kể đến linh mục thừa sai dòng Tên Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) cùng với các cộng sự có công hình thành hệ thống chữ Quốc ngữ hiện là chữ viết chính thức của Việt Nam
Tóm lại, mối quan hệ hữu cơ, tương tác qua lại giữa ngôn ngữ và tôn giáo là một quan niệm có tính thống nhất và lâu dài nơi các nghiên cứu Công giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới nên đã để lại những dấu ấn đáng kể nơi nhiều ngôn ngữ,
và ngược lại, tôn giáo này cũng mang dấu ấn của nhiều ngôn ngữ nơi mình
1.3.2 Định vị lớp từ vựng Công giáo trong từ vựng tiếng Việt
Đối tượng nghiên cứu của luận án: Các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam, được giả định là một lớp từ nằm trong hệ thống từ vựng tiếng Việt và được sử dụng chuyên biệt cho cộng đồng
Trang 35Công giáo Để định vị lớp từ ngữ này trong từ vựng tiếng Việt, chúng tôi xét dưới
hai góc độ nguồn gốc và phạm vi sử dụng mà các nhà ngôn ngữ học truyền thống thường đề cập:
Xét dưới góc độ nguồn gốc, các nhà nghiên cứu về Từ vựng tiếng Việt thường ghi nhận tiếng Việt có hai lớp từ ngữ là thuần Việt và ngoại lai Lớp từ ngoại lai được phân thành hai lớp nhỏ hơn: lớp các từ ngữ gốc Hán và lớp các từ ngữ gốc Ấn-Âu Thông thường, các nhà nghiên cứu chỉ ghi nhận các từ ngữ gốc Ấn Âu từ tiếng Pháp và tiếng Anh là bộ phận ảnh hưởng chủ yếu trong tiếng Việt với mốc du nhập từ thời Pháp thuộc Tuy nhiên, khi nghiên cứu các từ ngữ Công giáo, chúng tôi nhận thấy lớp từ ngoại lai gốc Ấn Âu trong bộ phận này rất phong phú về nguồn gốc như: tiếng Do Thái, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, La Tinh, Pháp, nhưng hầu như chưa có sự ảnh hưởng của tiếng Anh là ngôn ngữ thương mại sau này Thời điểm du nhập lớp từ ngữ này cũng sớm hơn nhiều mốc thế kỉ XIX, nhất là với các từ
ngữ được vay mượn thông qua tiếng Tây Ban Nhà và Bồ Đào Nha Bằng con đường thương mại và truyền giáo, các từ ngữ được vay mượn qua hai ngôn ngữ trên có mặt
ở Việt Nam từ khoảng thế kỉ XVI
Xét dưới góc độ phạm vi sử dụng, từ vựng tiếng Việt được phân chia ra các
lớp: Lớp từ toàn dân, từ địa phương, thuật ngữ, biệt ngữ…Trong đó, lớp từ toàn dân là vốn từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau, làm nòng cốt của từ vựng văn học và
là vốn từ cần thiết để diễn đạt tư tưởng trong một ngôn ngữ; làm cơ sở để cấu tạo từ mới và thường trung hòa về phong cách; Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương, là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của một dân tộc; Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người; Biệt
ngữ là các đơn vị từ vựng được sử dụng trong phạm vi một tập thể xã hội nhất định Có biệt ngữ của cộng đồng Phật giáo, có biệt ngữ của cộng đồng đạo Cao
Trang 36đài, có biệt ngữ của cộng đồng Công giáo… Đỗ Hữu Châu (1981) có các ví dụ
về các biệt ngữ của người theo đạo Thiên Chúa (Công giáo - VVK) như: lỡi, ơn
ích, Mình Thánh, l ễ Đầu Giòng (Dòng), lễ kiêng việc xác, kẻ liệt, kẻ lành, ông
qu ản, nữ tu, thầy già, vọng Mình Thánh, khấn lọn đời (khấn trọn đời), người nam, người nữ, quan thầy, chia trí, cứu rỗi, thả buộc [12, tr 236-237]
Hiện nay, các nhà nghiên cứu Ngôn ngữ học tại Việt Nam gọi các từ ngữ tôn giáo, cách riêng từ ngữ Công giáo, là thuật ngữ, “đặc ngữ” hoặc “biệt ngữ” Theo chúng tôi, tôn giáo (trong đó có Công giáo) trên bình diện nghiên cứu khoa học là một lĩnh vực khoa học, nên chắc chắn bao hàm một hệ thống thuật ngữ riêng biệt Tuy nhiên, luận án nghiên cứu các đơn vị ngôn ngữ trong các bản kinh nguyện là loại văn bản tôn giáo thông dụng nên không quan tâm đến khía
cạnh thuật ngữ Chúng tôi cũng tránh sử dụng tên gọi “đặc ngữ” để tránh hiểu
nhầm là số từ ngữ đặc biệt trong một chuyên ngành chuyên biệt Luận án gọi lớp
từ ngữ nghiên cứu là “biệt ngữ” vì phản ánh bản chất cụ thể của đối tượng là:
lớp từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại
Việt Nam
Tóm lại, từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam, đối tượng nghiên cứu của luận án, là các biệt ngữ nằm cạnh các lớp từ tiếng Việt khác như: thuật ngữ khoa học kỹ thuật, từ nghề nghiệp,
tiếng lóng, từ địa phương và từ vựng toàn dân ; đồng thời khác với các nhóm biệt ngữ của các tôn giáo khác, như: biệt ngữ Phật giáo, biệt ngữ đạo Cao Đài, biệt ngữ đạo Tin Lành…
1.3.3 Quan ni ệm về con đường hình thành và phát triển từ vựng tiếng Việt
Nhìn vào lịch sử du nhập và phát triển của Công giáo tại Việt Nam, chúng tôi giả định rằng lớp biệt ngữ của tôn giáo này tương tự, cũng có các con đường hình thành, phát triển và tồn tại trong nội bộ tiếng Việt, giống như sự xuất hiện các từ
ngữ mới trong tiếng Việt Lý do xuất hiện các từ ngữ mới thường để bù đắp những thiếu hụt với nhu cầu định danh hiện tại, hoặc để thay đổi những định danh không
Trang 37phù hợp Theo Nguyễn Thiện Giáp (1998), tiếng Việt hiện có các con đường làm giàu từ vựng là: Phát triển thêm ý nghĩa mới; Những sáng tạo mới; Biến dạng
những đơn vị đã có để tạo ra những biến thể mới; ghép các yếu tố có sẵn; Nói gộp; Rút gọn; Viết tắt; Và vay mượn từ ngữ [28] Cụ thể: Con đường Phát triển thêm ý nghĩa mới là trường hợp mặt ngữ âm của đơn vị từ vựng vốn có vẫn giữa nguyên, nhưng mặt ngữ nghĩa lại biến đổi, phát triển phong phú hơn Hiện tượng này chủ yếu xoay quanh hai quá trình: mở rộng hoặc thu hẹp ý nghĩa vốn có; và chuyển đổi tên gọi - ẩn dụ hoặc hoán dụ; Con đường mà Nguyễn Thiện Giáp gọi là những sáng
t ạo mới, tức là những từ mới được được cấu tạo bằng cách dùng những vỏ âm
thanh hoàn toàn mới Chẳng hạn, các từ tiếng lóng như cú đỉn (tồi tệ), tẩm (quê kệch)…; các từ tượng thanh mới xuất hiện như: tắc pọp, pằng chíu…; các từ ngữ
mới được cấu tạo trên cơ sở tổ hợp định danh tiếng nước ngoài vốn được chuyển
dịch từ một tổ hợp định danh tiếng Việt, như: HABUBANK (Ngân hàng Phát triển
nhà ở Hà Nội – Hanoi Building Bank), HAFA (Công ti Hội chợ Triển lãm Hải
Phòng – Haiphong Exhibition and Fair Company)…; Con đường biến dạng những đơn vị đã có để tạo ra những biến thể mới hoặc những đơn vị mới thường xảy ra
với hiện tượng cải biến một từ ngữ hay thành ngữ sẵn có để tạo ra những biến đổi
mới Ví dụ: anh hùng – yêng hùng, tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa – đạp vỏ dưa, tránh
v ỏ dừa…; Con đường ghép các yếu tố có sẵn là con đường tạo từ mới dựa trên
phương thức ghép giống như phương thức ghép cấu tạo từ của tiếng Việt Các yếu
tố có sẵn có thể là các hình vị, từ đơn, ngữ…có thể theo quan hệ đẳng lập, chính phụ hoặc trật tự ngược với cú pháp thông thường; Con đường tạo từ ngữ mới bằng phương thức phức hợp hay còn gọi là hiện tượng nói gộp Theo phương thức này, người ta giữ lại những yếu tố được coi là có giá trị nhất về mặt ngữ nghĩa để tạo nên một đơn vị hoàn chỉnh mới, ví dụ: giao thông, liên lạc – giao liên; quản lý,
giáo d ục – quản giáo…; Con đường tạo từ ngữ mới bằng phương thức rút gọn: Đơn
vị từ vựng mới được tạo ra bằng cách lược bớt một phần của đơn vị có sẵn, ví dụ:
c ử nhân – cử, đảm đang – đảm…; Con đường tạo từ ngữ mới bằng phương thức
Trang 38viết tắt là hiện tượng chỉ ghi chữ cái đầu của các từ trong một tên ghép để tạo ra
một đơn vị từ vựng mới, ví dụ: ĐHQGHN – Đại học Quốc gia Hà Nội, VPQH –
Văn phòng Quốc hội…; Con đường tiếp nhận từ các ngôn ngữ khác là cách thức
vay mượn từ ngữ để hình thành nên các đơn vị từ vựng mới cho tiếng Việt, ví dụ: xi
trước Ví dụ: Tiếng Việt vay mượn từ bidon và cresson của tiếng Pháp nhưng rồi đã
tân trang cấu trúc của chúng theo mẫu của một dãy từ mà người Việt tưởng rằng chúng thuộc cùng một dãy cấu tạo như nhau: bidon — bình tông (cùng dãy sau bình tích, bình trà…), cresson — cải xoong (cùng dãy sau cải xanh, cải bẹ…)
Tiếng Anh đã cấu tạo motoway (xa lộ) theo railway; và laundromat (hiệu giặt là tự động) theo automat; Phương phức hoà đúc hai từ có sẵn tạo thành từ mới Ví dụ:
Tiếng Anh: smog = smoke + fog; brunch = breakfast + lunch; motel = motor +
hotel Tiếng Nga: рабкор = рабоуий + корреспондент; зарплата =
заработная + плата.; Phương thức rút ngắn một cụm từ, hoặc từ dài hơn, tạo
thành một từ mới Ví dụ: Tiếng Việt: khiếu tố ← khi ếu nại + tố cáo; giao liên ←
giao thông + liên l ạc Tiếng Anh: public house→ pub (quán rượu, quán ăn); perambulator → pram (xe nôi); omnibus → bus (xe buýt); Phương thức hình thành
từ mới do cách ghép các con chữ (âm) ở đầu hoặc cuối từ trong một nhóm từ với nhau Ví dụ: Ở tiếng Anh, RADAR, AIDS, LASER… và một số tên gọi của các tổ
chức như FAO, UNICEF, UNESCO… đều đã hình thành bằng con đường như vậy;
Trang 39Phương thức hình thành từ mới bằng cách chuyển đổi từ loại của từ có sẵn Ví dụ:
Tiếng Anh: garage →to garage (cho ô tô ra vào); do one’s hair → hair-do (kiểu tóc; việc làm đầu) Trường hợp đầu: Chuyển danh từ sang động từ Trường hợp hai: Chuyển động từ sang danh từ
Con đường thứ hai làm xuất hiện từ ngữ mới là con đường vay mượn Trong ngôn ngữ nào cũng có hiện tượng vay mượn từ ngữ hoặc yếu tố cấu tạo từ từ một ngôn ngữ khác Người ta có thể vay mượn các từ, ví dụ như: Trong tiếng Việt: mít
tinh, b ốc, ten nít… (nguồn gốc Anh); ga, xăng, sơ mi, xà phòng… (nguồn gốc
Pháp); bôn sê vich, côm xô môn… (nguồn gốc Nga); câu lạc bộ, ngân phiếu, mậu
d ịch… (nguồn gốc Hán); shi, lượn, bản… (gốc Tày Nùng); Cũng có khi người ta
vay mượn yếu tố cấu tạo từ hoặc lấy từ của một ngôn ngữ khác làm yếu tố cấu tạo
từ trong ngôn ngữ của mình Chẳng hạn: tiếng Việt mượn các yếu tố: hoá, sinh,
-viên… (nguồn gốc Hán) hoặc mượn hẳn một từ trong ngôn ngữ khác, đem kết hợp
với một yếu tố có sẵn của mình để tạo ra từ mới Ví dụ: canh + gác (garde – gốc
Pháp)→canh gác; khăn + piêu (gốc Thái)→ khăn piêu; làng + bản (gốc Tày Nùng) → làng b ản; Căn ke lại từ ngữ của ngôn ngữ khác cũng là một hiện tượng
vay mượn ngoài ngôn ngữ Kết quả của hiện tượng này là người ta có một từ mới, được tạo nên bằng cách trực dịch từng yếu tố cấu tạo trong từ của ngôn ngữ khác
Ví dụ: Tiếng Việt có các từ vườn trẻ, nhà văn hoá… là căn ke từ các tên gọi
детский сад, дом кулвтуры… trong tiếng Nga Tiếng Tày Nùng có từ đin nựa là căn ke từ đất thịt trong tiếng Việt
Đối với các từ ngữ vay mượn, mỗi ngôn ngữ đều có cách xử lí khác nhau bên
cạnh những đường nét chung Người Việt khi vay mượn từ ngữ và đưa vào sử dụng trong ngôn ngữ của mình, thường có những điều chỉnh như sau: Cải tổ cấu trúc ngữ
âm của từ cho phù hợp với ngữ âm tiếng Việt và đồng thời có thể rút ngắn từ lại Nói chung, từ nào có dị biệt với ngữ âm tiếng Việt cũng được cải tạo ít nhiều Ví
dụ: beton – bê tông; garde – gác; boulon – bu lông, bù loong; essence – xăng; Cải
tổ nghĩa của từ, nghĩa là vay mượn từ nhưng lại cấp cho nó một nghĩa khác với
Trang 40nghĩa vốn có của nó Ví dụ: tử tế là từ gốc Hán vốn có nghĩa là cặn kẽ, chu đáo,
nhưng vào tiếng Việt, nó được cấp cho nghĩa tốt bụng; Vay mượn từ ngữ, nhưng
không sử dụng tất cả các nghĩa của chúng mà chỉ dùng một số trong các nghĩa đó Các từ: nhất, hạ, hủ hoá… của tiếng Việt vay mượn từ tiếng Hán là những ví dụ chứng minh cho trường hợp này
Căn cứ vào các lí thuyết về con đường hình thành từ vựng nói chung, con đường hình thành từ vựng trong tiếng Việt nói riêng, tác giả khảo sát các ngữ liệu
cụ thể trong phạm vi nghiên cứu, sau đó xác định các từ vựng Công giáo trong các ngữ liệu này được hình thành theo hai con đường, là: con đường tiếp nhận từ từ ngữ
từ các ngôn ngữ khác, còn gọi là con đường vay mượn; và con đường tự tạo từ ngữ mới Trong đó, phần lớn các từ vựng được hình thành theo con đường vay mượn dưới nhiều phương thức tiếp nhận
1.3.4 Quan ni ệm về tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn trong ngôn ngữ
1.3.4.1 Quan ni ệm về tiếp xúc ngôn ngữ
Truyền thống ngôn ngữ học cho rằng, tiếp xúc ngôn ngữ, về bản chất chính là
học ngôn ngữ Khi trong não bộ của con người tồn tại song ngữ thì xảy ra tiếp xúc ngôn ngữ Tiếp xúc ngôn ngữ trước hết xảy ra ở một số cá nhân đơn lẻ với tư cách
là thành viên cộng đồng, rồi dần mới mở rộng ra toàn xã hội
Dưới cái nhìn của ngôn ngữ học xã hội, tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng các ngôn ngữ cùng tồn tại trong một cộng đồng với các thành viên sử dụng chúng trong giao tiếp, nó là sự tiếp xúc xã hội mang tính chỉnh thể chứ không mang tính cá thể,
cá nhân
Quá trình tiếp xúc chịu sự tác động của hai nhân tố chính là xã hội và ngôn ngữ Nhân tố xã hội là nói đến cộng đồng xã hội sử dụng ngôn ngữ, bao gồm tất cả
cá yếu tố chính trị, văn hoá, kinh tế, tôn giáo… của cộng đồng ấy Nhân tố ngôn
ngữ tức là nói đến chính bản thân ngôn ngữ, bao gồm sức thẩm thấu ngôn ngữ, quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ…