Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 trong quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục về đổi mới nội dung, PPDH đã chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học t
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão về khoa học kĩ thuật, xu thế toàn cầu hóađang diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi các quốc gia phải đào tạo ra một nguồn nhân lực dồi dào,
có trình độ cao, nhạy bén với công nghệ mới Chính vì vậy, giáo dục đang trở thành nhân
tố quyết định đến sự phát triển nhanh và bền vững của mọi quốc gia Việt Nam là quốcgia đang phát triển, việc đầu tư cho giáo dục là sự đầu tư đúng đắn để tránh tụt hậu so vớicác nước trên Thế giới, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã định hướng “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược” Để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trước hết phải đẩy mạnh phát
triển giáo dục Nhận thức được việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong nhữngvấn đề bức thiết ở nước ta hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra nhiều nghị quyết,chỉ thị về đổi mới PPDH Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 trong quan điểm
chỉ đạo phát triển giáo dục về đổi mới nội dung, PPDH đã chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tính cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” Chính vì vậy,
đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng
Thực tiễn việc dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông hiện nay cho thấy giáoviên gặp nhiều khó khăn trong việc xác định PPDH phù hợp với đối tượng học viên, nộidung, mục tiêu và phương tiện kĩ thuật của nhà trường Tuy nhiên, một số GV bước đầu
đã mạnh dạn áp dụng một số PPDH theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS.Trong đó, GV giữ vai trò chủ đạo, còn HS chủ động khai thác kiến thức Chính vì vậy,
HS tiếp nhận bài giảng một cách khoa học, logic, khả năng vận dụng kiến thức vào thực
tế cao, đồng thời rèn luyện được nhiều kĩ năng địa lí cần thiết
Nội dung chương trình Địa lí 7, 8 đề cập chủ yếu đến các thành phần nhân văn củamôi trường, các môi trường địa lí, thiên nhiên và con người ở các châu lục và tim hiểu
về tự nhiên của Việt Nam … số lượng hình ảnh, bảng kiến thức, bản đồ, hệ thống câuhỏi giữa bài khá nhiều Học sinh lớp 7, 8 với sự phát triển mạnh mẽ của tư duy logic, tưduy trừu tượng, thích khám phá, tò mò để tìm ra cái mới, thích tranh luận, làm việc theonhóm để dần hoàn thiện về kiến thức và kĩ năng, có sự hiểu biết nhất định về các vấn đềtoàn cầu và khu vực Do đó, đây là cơ sở thuận lợi cho việc vận dụng nhiều PPDH theohướng phát huy tính tích cực học tập của HS trong dạy học Địa lí lớp 7, 8
Là giáo viên giảng dạy môn Địa lí, nghiên cứu việc xác định một số phương phápdạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS trong dạy học Địa lí 7, 8nhằm thấy được vai trò của vấn đề trên, giúp bản thân có định hướng trong quá trìnhnâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của bản thân, đồng thời tích lũy kiến thức phục
vụ cho công tác giảng dạy sau này
Với tất cả những lí do trên, Tôi quyết định chọn đề tài “Sử dụng một số phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học Địa lí 7, 8” làm đề tài của mình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Trang 23 Đối tượng nghiên cứu
HS trường THCS Nguyễn Trường Tộ
4 Giới hạn của đề tài
- Phạm vi: từ năm học 2016 – 2017 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
a Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
b Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này được tiến hành để thấy được thực tiễn việc xác định vàvận dụng các PPDH theo hướng phát huy tính tích cực học tâp của HS trong dạy học Địa
lí 7, 8 cũng như hiệu quả mang lại
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp dự giờ, quan sát
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
a Quá trình dạy học phổ thông
Quá trình dạy học: Đó là quá trình hoạt động nhận thức tự giác của HS được thựchiện dưới sự hướng dẫn về mặt sư phạm của GV, mục đích nhằm làm cho HS lĩnh hộiđược tư tưởng cũng như nội dung học vấn của chương trình nghĩa là nắm được kiến thức,
kĩ năng, kĩ xảo, hình thành được thế giới quan và phát triển được nhân cách cũng nhưnhững năng lực riêng về trí tuệ 2, tr 154
Quá trình dạy học gồm có các phương diện sau:
- Hoạt động giảng dạy của GV
+ Phương tiện dạy học
+ Môi trường dạy học
- Bản chất của quá trình dạy học: Là quá trình nhận thức và thực hành độc đáo của
HS do GV tổ chức, điều khiển, quản lí theo một chương trình, một mục tiêu đã xác định
b Hệ thống các phương pháp dạy học phổ thông
Trang 3Khái niệm
* Theo Phạm Viết Vượng
PPDH là tổng hợp cách thức hoạt động phối hợp, tương tác giữa GV và HS, nhằmgiúp HS chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo,thực hành sáng tạo và thái độ chuẩn mực theo mục tiêu của quá trình dạy học 14, tr.179
- Các nhóm PPDH của môn Địa lí (Nguyễn Đức Vũ) căn cứ vào mức độ hoạt động của GV và HS.
2 Nhóm PPDH trực quan Sử dụng bản đồ, quan sát địa lí, sử dụng phim ảnh, hình vẽ
của GV trên bảng, sử dụng sơ đồ, tranh ảnh, đồ dùng trựcquan khác…
a Đặc điểm tâm sinh lí học sinh lớp 7, 8
HS ở mỗi cấp, mỗi lớp lớp có những đặc điểm khác nhau về mặt tâm sinh lí, trình
độ, khả năng nhận thức và cả hứng thú học tập cũng không giống nhau Lứa tuổi HSTHCS là lứa tuổi có những chuyển biến quan trọng cả về sự phát triển thể lực lẫn sự pháttriển tâm lí Các em đều đang ở độ tuổi mới lớn, chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệmsống, ý thức thái độ đối với việc học tập, các em chưa làm quen được việc định hướng,lựa chọn việc học tập các môn học Do đó, thái độ và hứng thú học tập của các em cũngthường gắn liền với những môn học mà các em yêu thích.Vì vậy, sai lầm khá phổ biến ởnhiều em là rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng và yêu thích, còncác môn học khác lại sao nhãng, ít quan tâm và chỉ học để đạt yêu cầu, đủ điều kiện đểlên lớp mà chưa phát huy được tinh thần tự giác học tập
b Thuận lợi và khó khăn trong dạy học Địa lí 7, 8
- Thuận lợi:
+ Nội dung bài học trình bày một cách lôgic, mạch lạc
+ Kiến thức trong SGK được trình bày dưới nhiều kênh khác nhau: Kênh chữ (đoạnvăn ngắn tường minh, bảng số liệu, sơ đồ, câu hỏi giữa bài ), kênh hình (lược đồ, tranh
Trang 4ảnh, biểu đồ ) trong đó lượng thông tin chứa đựng trong các câu hỏi giữa bài và trongkênh hình chiếm tỉ lệ lớn.
+ Kênh hình nhiều, trung bình 2,45 hình/tiết Đặc biệt các lược đồ bên cạnh việcđảm bảo tính trực quan, tính sư phạm, còn có nội dung phong phú, là nguồn tri thức giúp
HS khai thác được nhiều kiến thức, rèn luyện kĩ năng
+ Hệ thống câu hỏi, bài tập giữa bài, cuối bài nhiều hơn giúp GV hướng dẫn HS tựnghiên cứu trả lời, giúp HS phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
+ Bài thực hành có hướng dẫn cụ thể, bên cạnh củng cố kiến thức đã học còn tạođiều kiện cho HS rèn luyện kĩ năng một cách tối đa
kĩ năng không được rèn luyện theo quy trình hợp lí, khoa học
+ Hơn nữa, chương trình Địa lí 7, 8 có kiến thức rất rộng, nội dung của môn Địa lí
7, 8 học về Địa lí thế giới, Địa lí tự nhiên Việt Nam Trong thời gian qua nền KT – XHthế giới nói chung và khu vực nói riêng có sự thay đổi mạnh mẽ, so với thực tiễn thì SGKkhông thể cập nhật được những thông tin đó Chính vì vậy, đòi hỏi GV phải thườngxuyên tự cập nhật, bổ sung những kiến thức mới trong quá trình dạy học HS phải có sựkhám phá, cập nhật và truyền tải thông tin nhanh chóng trong khi đó trình độ hiểu biếtcủa các em còn hạn chế, kiến thức nắm được còn sơ đẳng Nhiều HS sử dụng chưa thànhthạo các kĩ năng khai thác tri thức từ nhiều nguồn khác nhau và thường tỏ ra lúng túngkhi phải độc lập khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ, bảng số liệu thống kê và các tàiliệu tham khảo khác
c Về phía giáo viên
Bảng 1.1 Mức độ nhận thức, sự quan tâm và thái độ của GV về vai trò, khả năng củaviệc vận dụng các PPDH theo hướng tích cực trong dạy học Địa lí
Câu hỏi điều tra Phương án lựa chọn Số ý kiến Tỉ lệ (%)
Câu 1: Thầy (cô) vui lòng cho biết
quan niệm của mình về vai trò của
việc sử dụng PPDH theo hướng tích
cực hiện nay trong dạy học Địa lí
83.316.700
Câu 2: Theo thày (cô), việc vận
66.733.300Qua cách trả lời trực tiếp ( qua trao đổi) và trả lời gián tiếp (qua phiếu điều tra), tôi
có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Trang 5- Hầu hết GV đều cho rằng: Sử dụng PPDH theo hướng phát huy tính tích cực của
HS đóng vai trò rất quan trọng (83.3%) Chính vì vậy, việc vận dụng PPDH theo hướngphát huy tính tích cực của HS đóng vai trò rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay(66.7%).Các GV đều có thái độ nhận thức, quan tâm tích cực đến việc lựa chọn, xác định cácPPDH theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học Địa lí ở trường THCS,việc xác định các PPDH phù hợp có vai trò rất quan trọng trong dạy học Địa lí.GV cũngthấy được vai trò của mình trong việc làm thế nào để HS có thể tích cực hoạt động, chủđộng nắm vấn đề một cách logic, phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng địa lí một cáchtốt nhất
Bảng 1.2 Nhận xét của GV về tinh thần, thái độ học tập và mức độ giải quyết vấn đề của HS khi GV vận dụng các PPDH theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS trong dạy học Địa lí 7, 8 ở trường THCS.
Câu hỏi điều tra Phương án lựa chọn Số ý kiến Tỉ lệ (%)
Câu 1: Thái độ học tập của HS khi
Thầy (cô) sử dụng PPDH theo
16.733.3500Câu 2: Mức độ giải quyết vấn đề của
HS khi thầy (cô) sử dụng các PPDH
theo hướng phát huy tính tích cực
16.716.766.60
- Khi vận dụng PPDH theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS, GVnhận thấy: HS tích cực nhận thức, tham gia hoạt động rất tích cực (16.7%) và tích cực(33.3%) Mặc dù, còn gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ khi GV sử dụng đa dạng các phươngpháp nhưng đa số cảm thấy thích thú, say mê với tiết học Chính vì vậy, lớp học trở nênsôi nổi hẳn, HS được tham gia giải quyết bài học với kết quả rất tốt và tốt (33.4%) và HScũng nắm khá tốt nội dung bài học Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số HS quen vớicách học cũ nên chưa chủ động khai thác tri thức nên kết quả chưa cao
- Các GV cũng nhận thấy rằng khi sử dụng các PPDH theo hướng phát huy tínhtích cực của HS trong tiết học Địa lí, HS hiểu bài nhanh hơn, không khí lớp học sôi nổihơn và kích thích được sự hứng thú học tập của HS nhiều hơn so với tiết học sử dụng chủyếu là các PPDH truyền thống
d Về phía HS
Bảng 1.3 Mức độ nhận thức, sự quan tâm của HS đối với việc sử dụng các PPDH theo hướng phát huy tính tích cực của HS.
Câu hỏi điều tra Phương án lựa chọn Số ý kiến Tỉ lệ (%)
Câu 1: Các em cho biết quan niệm
của mình về vai trò của việc đổi mới
PPDH hiện nay trong dạy học Địa lí
45.850.24.00
Trang 63 Nội dung và hình thức của giải pháp
a Mục tiêu của giải pháp
Nhằm giúp HS tích cực, hứng thú hơn trong học tập bộ môn Địa lí cũng như rèn luyện các kĩ năng địa lí qua đó kích thích các em hoạt động tìm tòi, khám phá những tri thức mới
Dựa vào cơ sở để lựa chọn PPDH (mục tiêu, nội dung, phương tiện, GV, HS…), đặc
điểm PPDH, thực tiễn việc xác định và vận dụng các PPDH tích cực vào dạy học
Địa lí 7, 8, yêu cầu của việc đổi mới PPDH… việc xác định PPDH theo hướng pháthuy tính tích cực học tập của HS trong dạy học Địa lí 7, 8 cần dựa vào một số nguyên tắcsau:
Nguyên tắc 1: Trong dạy học Địa lí 7, 8 sử dụng tất cả PPDH nhằm mục đích tận
dụng tối đa các mặt tích cực của các phương pháp, đồng thời khắc phục các hạn chế, tồntại nếu có Mặc dù, trên cơ sở phối hợp đó song vẫn có sự ưu tiên áp dụng các phươngpháp theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS
Nguyên tắc 2: Địa lí 7, 8 bao gồm nhiều nội dung, trong mỗi nội dung có thể áp dụng
được nhiều PPDH nhưng vẫn ưu tiên cho các phương pháp phát huy tính sáng tạo củangười học, tạo điều kiện phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu và phát triển về kiếnthức, kĩ năng, thái độ của HS
Nguyên tắc 3: Các PPDH được xác định một mặt đáp ứng được yêu cầu đổi mới
PPDH hiện nay nhưng vẫn phải phù hợp với đối tượng dạy học, điều kiện thực tiễn cácvùng miền nói chung và ở từng trường THCS nói riêng
Nguyên tắc 4: PPDH được xác định trong dạy học Địa lí 7, 8 không những đáp ứng
yêu cầu cung cấp kiến thức mà còn đảm bảo phát triển, hoàn thiện các kĩ năng, kĩ xảo cầnthiết cho HS
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
b.1 Nội dung
b.1.1 Quan niệm
PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ phươngpháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngườihọc PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức củangười học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải làtập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy.Tuy nhiên, để dạy học theo phươngpháp tích cực thì GV phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động 4, tr.54
Tính tích cực là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng, biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết
một vấn đề nào đó
Tính tích cực học tâp – về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khátvọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính
tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động
cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu
tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát
Trang 7triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập Ta có thể khái quát thành sơ đồ sauđây:
Hình 1.1 Sơ đồ thể hiện tính tích cực học tập của HS 14, tr.114.
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: Hăng hái trả lời các câu hỏicủa GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêura; Hay thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; Chủ động vận dụngkiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; Tập trung chú ý vào vấn đề đang học;Kiên trì hoàn thành bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…
Tính tích cực thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: Gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
- Tìm tòi: Độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm cách giải quyết khác nhau về một số
vấn đề…
- Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
b.1.2 Bản chất và đặc điểm dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh
* Bản chất
Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS hay nói cách khác là dạyhọc theo hướng “lấy học sinh làm trung tâm” có bản chất là đề cao hoạt động tích cực, tựgiác, sáng tạo của HS trong quá trình nhận thức dưới sự tổ chức, điều khiển, chỉ đạo của
GV, dạy học bằng các “hoạt động thông qua hoạt động” nghĩa là dạy học bằng các hoạtđộng thông qua hoạt động tự học, tự nghiên cứu của HS
* Đặc điểm dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS 4, tr.83.
Trong PPDH tích cực, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủthể của hoạt động “học” – được lôi cuốn vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉđạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ độngtiếp thu nhũng tri thức đã được GV sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sốngthực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt racách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương
Nhu cầu Động cơ
Hứng thú Tích cực
Tự giác Tực
Sáng tạo Độc lập
Trang 8pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc
lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ làmột biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong xã hộihiện đại đang biến đổi nhanh – với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệphát triển như vũ bão – thì không thể nhồi nhét vào đầu óc HS khối lượng kiến thức ngàycàng nhiều Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyệncho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họlòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ đượcnhân lên gấp bội
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong học tập không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằngnhững hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp GV – HS, HS – HS.Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳngđịnh hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới, tính cách năng lựccủa mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thầntương trợ
- Kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng vàđiều chỉnh hoạt động học của HS mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng vàđiều chỉnh hoạt động dạy của GV
Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GV phảihướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan vớiđiều này, GV cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho HS được tham gia đánh giá lẫn nhau
Tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trongcuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
b.2 Cách thức thực hiện giải pháp
Sau khi xác định được các nội dung trọng tâm của quá trình nghiên cứu, GV lần lượt xây dựng, đưa ra các phương pháp cụ thể nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS như sau:
b.2.1 Phương pháp Đàm thoại gợi mở
b.2.1.1 Quan niệm
PP Đàm thoại gợi mở là phương pháp trong đó GV soạn ra câu hỏi lớn, thông báocho HS Sau đó, chia câu hỏi lớn thành những câu hỏi nhỏ hơn, có quan hệ logic vớinhau, tạo thành cái mốc trên con đường thực hiện câu hỏi lớn 12, tr.19
Đây là phương pháp sử dụng khá phổ biến trong dạy học Địa lí 7,8 bởi chính tínhlinh hoạt và dễ sử dụng Phương pháp này thường sử dụng với các nội dung tương đốikhó, HS gặp nhiều khó khăn khi giải quyết các vấn đề này một cách độc lập Đàm thoạithường được áp dụng với các nội dung mới, chính vì vậy phương pháp này được lựa chọn
để phục vụ cho việc dạy học Địa lí 7, 8
b.2.1.2 Đặc điểm
Trang 9* Tiến trình thực hiện
+ Bước 1: Xác định vấn đề cần tiến hành đàm thoại.
+ Bước 2: GV xác định câu hỏi lớn tập trung vào trọng tâm của vấn đề.
+ Bước 3: HS nghiên cứu câu hỏi lớn, GV chia câu hỏi lớn thành các câu hỏi nhỏ,
mỗi câu hỏi nhỏ là một khía cạnh để trả lời câu hỏi lớn
+ Bước 4: Tổng kết các kết quả trả lời từ các câu hỏi nhỏ, đó đồng thời cũng là đáp
án trả lời cho câu hỏi lớn
- Những yêu cầu đối với câu hỏi:
+ Câu hỏi phải có mục đích dứt khoát, rõ ràng, tránh những câu hỏi chung chung.+ Câu hỏi phải bám sát nội dung cơ bản của bài Chính vì vậy đòi hỏi GV phải lựachọn kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài để đặt câu hỏi
+ Câu hỏi phải bám sát trình độ HS (đối với HS nhỏ tuổi tăng cường những câu hỏi
sự kiện, HS lớp cao tăng cường câu hỏi đòi hỏi sự phân tích, so sánh)
+ Hệ thống câu hỏi trong đàm thoại gợi mở có thể dùng cho toàn bài, có thể dùngcho một mục cho một nội dung lớn Trong hệ thống đó, các câu hỏi có liên kết chặt chẽvới nhau, câu trước là tiền đề cho câu hỏi sau, câu hỏi sau là sự kế tục và phát triển kếtquả của câu hỏi trước
* Ưu, nhược điểm
+ Giúp HS biết giải quyết vấn đề một cách khoa học
- Nhược điểm:
+ Tốn nhiều thời gian
+ Phương pháp này phụ thuộc vào hệ thống câu hỏi, nếu hệ thống câu hỏi khôngđáp ứng đủ các điều kiện sẽ dẫn đến tình trạng câu hỏi quá dễ hoặc quá khó không thànhcông cho buổi đàm thoại
+ Phụ thuộc vào năng lực của GV, nếu khả năng giao tiếp không tốt sẽ làm khôngkhí của tiết học trầm lắng, không khai thác tối đa tư duy của HS
b.2.1.3 Ví dụ minh họa
Bài 2 Sự phân bố dân cư, các chủng tộc trên thế giới
Mục 1 Sự phân bố dân cư
Bước 1,2: GV đặt câu hỏi: Quan sát lược đồ hình 2.1, em có nhận xét gì về sự phân
bố dân cư trên thế giới?
Bước 3: GV có thể đưa ra một hệ thống câu hỏi nhỏ gợi ý như sau:
- Những khu vực tập trung đông dân
Trang 10- Những khu vực dân cư thưa thớt.
- Nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi
- Nơi có điều kiện tự nhiên khó khăn
Bước 4: GV tổng kết
- Đặc điểm:
+ Dân cư phân bố không đồng đều
+ Những nơi có điều kiện sinh sống và giao thông thuận tiện
+ Các vùng núi,vùng sâu, vùng xa , giao thông khó khăn, vùng cực giá lạnh hoặc hoang mạc
b.2.2 Phương pháp Nêu và giải quyết vấn đề
b.2.2.1 Quan niệm
Là phương pháp trong đó GV đặt ra trước HS một (hệ thống) vấn đề nhận thức, đưa
HS vào tình huống có vấn đề, sau đó GV phối hợp cùng HS (hoặc hướng dẫn, điều khiểnHS) giải quyết vấn đề đi đến kết luận cần thiết trong nội dung dạy học 12, tr 31
b.2.2.2 Đặc điểm
* Tiến trình thực hiện
+ Bước 1: Đặt vấn đề và đưa HS vào tình huống có vấn đề
Điều kiện của tình huống có vấn đề:
- Làm xuất hiện mâu thuẫn trước HS giúp họ xác định rõ nhiệm vụ nhận thức và tiếpnhận nó (tạo nhu cầu nhận thức ở HS)
- Kích thích được hứng thú nhận thức của HS, làm cho HS tích cực, tự giác tronghoạt động nhận thức
- Phù hợp với khả năng, trình độ nhận thức của HS
+ Bước 2: Giải quyết vấn đề
• Đề xuất các giả thuyết cho vấn đề đặt ra
• Thu thập và xử lí thông tin theo các giả thuyết đã đề xuất