MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bất kỳ hoạt động nào của một tổ chức luôn xuất hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát. Đó là hoạt động kiểm soát các vấn đề được triển khai thực hiện đã triển khai theo chương tình, kế hoạch mà tổ chức đã vạch ra. Kiểm tra, xem xét các vấn đề được thực hiện như thế nào, đánh giá tình hình hoạt động và dự đoán kết quả. Như vậy, bất kỳ cơ quan nào đều có hoạt động kiểm tra, giám sát về hoạt động của tổ chức mình. Đối với quyền lực chính trị, hầu hết các quốc gia đều xây dựng mô hình hệ thống chính trị theo thuyết tam quyền phân lập. Theo đó, ba cơ quan quyền lực Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp có chức năng, nhiệm vụ riêng. Quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhánh khác nhau, do các cơ quan khác nhau nắm giữ để không một cá nhân hay tổ chức nào nắm được trọn vẹn quyền lực nhà nước. Tuy vậy, trên thực tế, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước còn chồng lấn lên nhau, giữa chúng có mối quan hệ chồng chéo phức tạp và có sự mâu thuẫn nhất định chứ không tách rời khỏi nhau. Mức độ và hình thức phân lập thể hiện khác nhau giữa các quốc gia. Ở Cộng hòa Liên bang Đức, nguyên thủ quốc gia nắm giữ chức vụ hầu như chỉ mang tính nghi thức, Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao, Chính phủ và Thủ tướng là cơ quan được ủy quyền hành pháp, được Quốc hội bầu ra. Đây là nước có cơ chế kiểm soát quyền lực lưỡng tính. Chính vì vậy, em chọn đề tài “Vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị ở Liên bang Đức hiện nay” làm tiểu luận kết thúc học phần Quyền lực chính trị và cầm quyền. 2. Tình hình nghiên cứu Trong nền chính trị học các nước tư bản trên thế giới, vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị là vấn đề rõ ràng cả về lý luận và thực tiễn. Những nghiên cứu cụ thể nhằm tìm hiểu những phương thức kiểm soát cụ thể khác nhau. Cho đến nay, các nghiên cứu chuyên sâu về kiểm soát quyền lực chính trị được thâu tóm trong các chương trình tổng kết từ các hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các hoạt động thanh tra, kiểm tra, ... Một số đề tài nghiên cứu có đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước như: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay”, ... Các nghiên cứu này xuất phát từ cách tiếp cận và phương pháp luật học đã phân tích từng hoạt động cụ thể của các cơ quan kiểm soát. Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu đến vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị ở Liên bang Đức. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ sự kiểm soát quyền lực chính trị giữa các cơ quan kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị nước Đức. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: Làm rõ các khái niệm liên quan đến quyền lực chính trị, kiểm soát quyền lực chính trị. Khảo sát thực trạng kiểm soát quyền lực của các tổ chức chính trị ở Mỹ hiện nay. Rút ra một số ý nghĩa đối với hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị ở Việt Nam hiện nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vậy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, đánh giá, ... 5. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài bao gồm 2 chương, 6 tiết.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bất kỳ hoạt động nào của một tổ chức luôn xuất hiện công tácthanh tra, kiểm tra, giám sát Đó là hoạt động kiểm soát các vấn đề được triểnkhai thực hiện đã triển khai theo chương tình, kế hoạch mà tổ chức đã vạch ra.Kiểm tra, xem xét các vấn đề được thực hiện như thế nào, đánh giá tình hìnhhoạt động và dự đoán kết quả Như vậy, bất kỳ cơ quan nào đều có hoạt độngkiểm tra, giám sát về hoạt động của tổ chức mình
Đối với quyền lực chính trị, hầu hết các quốc gia đều xây dựng mô hình
hệ thống chính trị theo thuyết tam quyền phân lập Theo đó, ba cơ quan quyềnlực Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp có chức năng, nhiệm vụ riêng Quyềnlực nhà nước được phân chia thành ba nhánh khác nhau, do các cơ quan khácnhau nắm giữ để không một cá nhân hay tổ chức nào nắm được trọn vẹnquyền lực nhà nước Tuy vậy, trên thực tế, quyền hạn và trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước còn chồng lấn lên nhau, giữa chúng có mối quan hệ chồngchéo phức tạp và có sự mâu thuẫn nhất định chứ không tách rời khỏi nhau
Mức độ và hình thức phân lập thể hiện khác nhau giữa các quốc gia ỞCộng hòa Liên bang Đức, nguyên thủ quốc gia nắm giữ chức vụ hầu như chỉmang tính nghi thức, Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao, Chính phủ vàThủ tướng là cơ quan được ủy quyền hành pháp, được Quốc hội bầu ra Đây
là nước có cơ chế kiểm soát quyền lực lưỡng tính Chính vì vậy, em chọn đề
tài “Vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị ở Liên bang Đức hiện nay” làm tiểu
luận kết thúc học phần Quyền lực chính trị và cầm quyền
2 Tình hình nghiên cứu
Trong nền chính trị học các nước tư bản trên thế giới, vấn đề kiểm soátquyền lực chính trị là vấn đề rõ ràng cả về lý luận và thực tiễn Những nghiêncứu cụ thể nhằm tìm hiểu những phương thức kiểm soát cụ thể khác nhau
Trang 2Cho đến nay, các nghiên cứu chuyên sâu về kiểm soát quyền lực chínhtrị được thâu tóm trong các chương trình tổng kết từ các hoạt động giám sátcủa Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các hoạt động thanh tra, kiểm tra, Một
số đề tài nghiên cứu có đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước như:
“Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “Tăng cường hoạt động giám sátcủa Quốc hội nước ta hiện nay”, Các nghiên cứu này xuất phát từ cách tiếpcận và phương pháp luật học đã phân tích từng hoạt động cụ thể của các cơquan kiểm soát Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu đến vấn đề kiểmsoát quyền lực chính trị ở Liên bang Đức
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ sự kiểm soát quyền lực chínhtrị giữa các cơ quan kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị nước Đức
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
- Làm rõ các khái niệm liên quan đến quyền lực chính trị, kiểm soátquyền lực chính trị
- Khảo sát thực trạng kiểm soát quyền lực của các tổ chức chính trị ở
Mỹ hiện nay Rút ra một số ý nghĩa đối với hoạt động kiểm soát quyền lựcchính trị ở Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vậy biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp
so sánh, phân tích, đánh giá,
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
đề tài bao gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 3NỘI DUNG Chương 1
LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm quyền lực chính trị
Để hiểu được quyền lực chính trị, trước hết cần làm rõ nội hàm kháiniệm chính trị và quyền lực
Chính trị được hiểu là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn vớiquan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn
đề trung tâm đó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước
Chính trị theo nghĩa rộng hơn là hoạt động của con người nhằm làm ra,gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trựctiếp lên cuộc sống của những người góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnhnhững luật lệ chung đó Với cách hiểu như thế này thì dù trong xã hội cộngsản, chính trị vẫn còn tồn tại và vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng đối vớitừng con người cũng như toàn xã hội Trong bất kỳ xã hội nào thì cũng cầnnhững luật lệ chung để hoạt động nhịp nhàng và khoa học, tránh tình trạng vôtình hay cố ý xâm phạm quyền lợi, lợi ích, tài sản, sức khỏe hay thậm chí tínhmạng của người khác hay của cộng đồng Một ví dụ đơn giản, xã hội dù cóphát triển đến đâu thì cũng cần có luật giao thông để con người có thể lưuthông một cách trật tự và hiệu quả Hay, con người không thể sống trong một
xã hội mà tình trạng an ninh không đảm bảo (cướp bóc, khủng bố chẳng hạn)
do thiếu luật lệ Mặc dù phần lớn xã hội hiện nay trên thế giới không tránhkhỏi các hiện tượng cướp bóc và khủng bố nhưng phải thừa nhận rằng phápluật đã góp phần ngăn chặn đáng kể những hành vi bất lương đó
Quyền lực là một loại quan hệ xã hội ra đời và tồn tại cùng với sự pháttriển của xã hội loài người Con người sống trong cộng đồng, trong tổ chức cầnphối hợp hoạt động với nhau, cần có người chỉ huy và người phục tùng, nếu
Trang 4không, xã hội sẽ hỗn loạn Vì vậy, trong bất cứ cộng đồng nào cũng có hiệntượng người (hoặc nhóm người) này chi phối, quyết định hành vi của người(nhóm người) khác, buộc họ phải phục tùng ý chí của mình Quyền lực trởthành mục tiêu và động lực của con người Lịch sử loài người gắn liền với cáccuộc đấu tranh giành quyền lực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quyền lực là sự thống nhất giữa “quyền” và “lực”, và nóchỉ được hình thành khi có sự xuất hiện của cả hai yếu tố này.Trên thực tế, vẫn tồn tại hiện tượng có lực nhưng không cóquyền; hoặc có quyền nhưng không có lực Quan hệ quyền –lực có sự chuyển hóa biện chứng: quyền sinh ra hoặc triệt tiêulực, ngược lại lực tạo ra hoặc phủ định quyền Trong quan hệcộng đồng, quyền lực được xác lập với các điều kiện xã hộinhất định Đó là quyền được sử dụng sức mạnh phục vụ chonhu cầu, lợi ích của một người hay nhóm người nào đó; sựthừa nhận của người khác là yếu tố có vị trí đặc biệt trongquan hệ quyền lực Theo cách tiếp cận này, có thể hiểu quyềnlực là khả năng đucợ đảm bảo bằng sức mạnh để thực hiệnnhững hành vi nhất định theo ý chí của người có quyền hoặcđược trao quyền
Quyền lực còn được hiểu là những giá trị xã hội được sửdụng bởi các chủ thể trong quá trình phối hợp hành động củacác quan hệ xã hội, để tác động lên đối tượng nhằm thay đổi
ý chí, hành vi của đối tượng theo một mục đích nhất định.Quyền lực quan trọng trong xã hội nhưng rất phức tạp, baogồm những dấu hiệu: trước hết là một loại giá trị xã hội;những giá trị đó được chủ thể sử dụng trong phối hợp hànhđộng của đời sống xã hội; tác động vào đối tượng nhằm điềuchỉnh, thay đổi hành vi của đối tượng với mục đích cụ thể Giá
Trang 5cải, vũ khí, trí tuệ, uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng, tư liệu sảnxuất, thể chế xã hội, Đây là nguồn quyền lực chứ chưa phải
là quyền lực
Như vậy, quyền lực là khả năng thực hiện ý chí của mình,
có tác động đến hành vi, phẩm hạnh của người khác nhờ một
ưu thế nào đó như sức mạnh, địa vị xã hội
Cho đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền lực chính trị Tiêubiểu là các khái niệm sau:
- Quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh cho mục đích chính trị;
- Quyền lực chính trị là quyền lực xã hội nhằm giải quyết lợi ích giaicấp, dân tộc, nhân loại;
- Quyền lực chính trị là quyền lực của một hay liên minh giai cấp –Quyền lực chính trị là quyền lực của các giai cấp, các nhóm xã hội dùng đểchi phối, tác động đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằmtối đa hóa lợi ích của mình
- Quyền lực chính trị là quyền lực của nhà nước, các đảng chính trị, các
tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức bầu cử, các cơ quan tự quản địa phương;
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, quyền lực chính trị là quyền lực của mộthay liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội hoặc của nhân dân (trong điều kiệnchủ nghĩa xã hội); nó nói lên khả năng của một giai cấp nhằm thực hiện lợiích khách quan của mình Quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó, là bạolực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác
Từ những cách tiếp cận nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất,quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh của một hay liên minh giaicấp, tập đoàn xã hội nhằm thực hiện sự thống trị chính trị; là năng lực áp đặt
và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình – chủyếu thông qua đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước
Như vậy, quyền lực chính trị chỉ hình thành trong xã hội có giai cấp vànhà nước Trong xã hội đó, vị trí, vai trò của các giai cấp, các lực lượng xã hội
Trang 6rất khác nhau, nên nguồn lực của quyền lực chính trị cũng khác nhau và đó là
cơ sở để hình thành quyền lực chính trị
Quyền lực chính trị phụ thuộc vào sự phát triển của sản xuất, của sựphân công lao động trong xã hội và do đó phụ thuộc vào cơ cấu xã hội Khitrình độ phát triển của xã hội còn thấp, sự phân công lao động chưa rộng, cơcấu xã hội còn đơn giản thì quyền lực chính trị chỉ có từ vài ba giai cấp cơ bảncủa xã hội Khi trình độ phát triển cao hơn, sự phân công lao động xã hội trảirộng, cơ cấu xã hội phức tạp xuất hiện quyền lực chính trị của nhiều giai cấp,nhóm xã hội và các lực lượng chính trị xã hội khác nhau Trong xã hội khôngcòn giai cấp, quyền lực chính trị không còn nữa Khi phân công lao động xãhội còn ở trình độ thấp, cơ cấu xã hội còn đơn giản, quyền lực chính trị củagiai cấp thống trị về kinh tế cơ bản đã được tổ chức thành nhà nước Do vậy,khi nghiên cứu các giai đoạn này, nhiều tác giả đồng nhất quyền lực chính trịvới quyền lực nhà nước Trong các giai đoạn phát triển cao hơn, quyền lựcchính trị và quyền lực nhà nước có sự khác biệt rõ rệt Quyền lực chính trịphụ thuộc vào ba yếu tố sau:
Thứ nhất, về khách quan, quyền lực chính trị phụ thuộc vào sự phân
công lao động xã hội, vào vị trí, vai trò của các giai cấp trong cơ cấu xã hội
Thứ hai, về chủ quan, quyền lực chính trị phụ thuộc vào khả năng sử
dụng các nguồn lực của các giai cấp, các lực lượng xã hội, tức khả năng tậptrung quyền lực (tổ chức và tập hợp lực lượng)
Thứ ba, quyền lực chính trị phụ thuộc vào năng lực chi phối, ảnh hưởng
và sử dụng quyền lực nhà nước, nhằm đạt được mục đích của giai cấp mình
Từ những yếu tố trên, có thể thấy rằng một giai cấp có thể ở địa vịthống trị, nhưng do sự phát triển kinh tế - xã hội, vị trí, vai trò của giai cấp đótrong hệ thống sản xuất thay đổi, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan, vai tròthống trị của giai cấp đó có thể mất, chuyển vào tay giai cấp khác Sự thay đổikhách quan như vậy đã từng diễn ra qua sự thay đổi của các phương thức sản
Trang 7xuất Vai trò thống trị đã lần lượt nằm trong tay các giai cấp như: giai cấp chủ
nô, giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản,
Mặt khác, trong cùng một điều kiện khách quan như nhau, nhưngquyền lực chính trị của một giai cấp ở mỗi nước không giống nhau Tỏngcùng một quốc gia nhưng quyền lực chính trị của một giai cấp qua mỗi thời
kỳ khác nhau có thể khác nhau Sự khác biệt đó bị chi phối bởi năng lực chủquan của chủ thể quyền lực, tức khả năng sử dụng các giá trị xã hội, nhữngnguồn lực có được, sự tự tổ chức lực lượng cả về vật chất, tư tưởng, tinh thần, Nếu không có năng lực này, vị trí, vai trò khách quan của một giai cấp, mộtnhóm xã hội, một lực lượng xã hội dù thuận lợi về mặt lịch sử cũng chỉ mãimãi là nguồn lực, không thể trở thành giai cấp thống trị xã hội
1.1.2 Khái niệm kiểm soát quyền lực chính trị
Trên lĩnh vực chính trị - xã hội, khái niệm kiểm soát chứa đựng nộihàm khá phong phú gồm: xem xét, kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn, can thiệp,
xử lý, trừng phạt Về mặt lịch sử, hành động kiểm soát ban đầu được áp dụngtrong lĩnh vực kinh tế - tài chính, sau đó nó được mở rộng, phát triển cùng với
sự ohát triển của nhà nước pháp quyền Ban đầu, nó chỉ được áp dụng nhằmkiểm soát quyền lực hành pháp, sau đó được mở rộng sang mọi nhánh quyềnlực khác
Ngày nay, khái niệm kiểm soát được hiểu là một chức năng hiến địnhnhằm mục đích đảm bảo rằng các cơ quan quyền lực công đều bị đặt trongnhững giới hạn đã được hiến pháp và pháp luật quy định Chức năng kiểmsoát được thể hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức đa dạng: ủy quyền, xácnhận, chấp thuận, xác minh, kiểm tra, thanh tra, xử phạt, phê bình Các thiếtchế kiểm soát được tổ chức theo hệ thống gồm nhiều cấp nhằm đảm bảo sựminh bạch, chính xác của hành động kiểm soát
Trang 8Kiểm soát quyền lực chính trị là một khái niệm chính trị - pháp lý vàthể chế, bao hàm sự hạn chế nhất định đối với quyền lực chính trị; là mộttrong những nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền.
Có hai loại kiểm soát là tiền kiểm soát và hậu kiểm soát Tiền kiểm soát
là hành động tự kiểm soát của từng chủ thể trước khi thực hiện hành động.Hậu kiểm soát là hành động kiểm soát những gì đã xảy ra, đã được tiến hành.Trong trường hợp này, chủ thể kiểm soát và đối tượng kiểm soát là nhữngpháp nhân khác nhau; chủ thể kiểm soát không tham gia vào những gì đã diễn
ra nên có khả năng tiến hành kiểm soát một cách khách quan, không thiên vị
Có nhiều cách phân loại kiểm soát Căn cứ vào bản chất và đặc điểmchủ thể kiểm soát, có loại hình thể chế kiểm soát thể chế do các cơ quan nhànước thực hiện và loại hình kiểm soát phi thể chế do các tổ chức, nhóm xã hộiphi chính thức thực hiện Loại thình kiểm soát thể chế bao gồm kiểm soátchính trị, kiểm soát tư pháp, kiểm soát hành chính và kiểm soát xã hội Loạihình kiểm soát phi thể chế bao gồm kiểm soát do các phương tiện thông tin,
dư luận xã hội thực hiện và kiểm soát do các tổ chức phi chính phủ, các nhómđại diện tiến hành
Kiểm soát chính trị thuộc chức năng của nghị viện (Quốc hội) và trướchết được hiểu là một công cụ để hạn chế quyền lực hành pháp Đối tượng củakiểm soát chính trị có thể là một hành động chính trị cụ thể, một hoạt độngchính trị chung hoặc một quy định đã ban hành, và đặc biệt là các thiết chếquyền lực Kiểm soát chính trị không có chế tài xử phạt, nhưng không vì thế
mà không có vai trò, vị trí và sức mạnh trong đời sống chính trị Bản thân việcđưa các hoạt động của quyền lực công ra cho công luận xem xét, đánh giá,phản biện, tự nó đã có ý nghĩa hạn chế và kiểm soát Để thực hiện được quyềnkiểm soát chính trị đối với quyền lực hành pháp, Quốc hội cần đảm bảo đượcquyền xác định quyền hạn của quan chức các cấp, quyền hạn chính trị củanguyên thủ quốc gia và quyền quyết định, phê chuẩn ngân sách
Trang 9Kiểm soát tư pháp là loại hình kiểm soát quyền lực nhằm đảm bảo tínhtối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội và trong hoạt động của các cơquan quyền lực Đây được xem là loại kiểm soát cứng, với những quy địnhnghiêm ngặt của pháp luật, khác với kiểm soát chính trị là loại kiểm soát mềmđối với quyền lực Kiểm soát tư pháp, với tính cách là hoạt động thuần túy tưpháp, chỉ do các lực lượng nghiệp vụ (thẩm phán, quan tòa, ) tiến hành.Chức năng kiểm soát là bác bỏ mọi quyết định và hành động của quyền lựccông cộng khi chúng trái với hiến pháp hoặc làm tổn hại đến các quyền hiếnđịnh Để triển khai hoạt động kiểm soát tư pháp, cần đảm bảo cả tiền kiểm,kiểm soát thường xuyên và hâu kiểm Thông thường, kiểm soát tư pháphướng vào đảm bảo tính hiến định của các đạo luật quốc gia; các văn bản quyphạm pháp luật của chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý nhànước; các hành động của chính quyền; các hiệp ước quốc tế; lệnh ban bố tìnhtrạng khẩn cấp; các luật cắt giảm quyền lực lập pháp; các trường hợp có xungđột pháp luật; hiệu quả hoạt động của chính quyền hành pháp; quyền tài phánquốc gia,
Kiểm soát hành chính là loại kiểm soát do quyền lực hành pháp tiếnhành đối với các hoạt động của tổ chức bộ máy của chính mình Có các loạikiểm soát sau:
- Kiểm soát theo ngành dọc: cơ quan cấp trên kiểm soát các thiết chếcấp dưới
- Kiểm soát tài chính: kiểm soát các nguồn thu, các khoản chi và cácnguồn lực vật chất khác của chính quyền
- Tự kiểm soát: mỗi thiết chế thường xuyên tự nhìn nhận, đánh giá,phán xét mọi hoạt động của mình
Kiểm soát xã hội là loại hình kiểm soát do nhân dân tiến hành một cáchtrực tiếp, hoặc thông qua đại diện của mình Để đảm bảo cơ chế dân chủ tham
dự của người dân, hiến pháp nhiều nước cụ thể hóa rằng mọi công dân đều cóquyền tham gia vào quá trình hoạch định, triển khai và kiểm soát quyền lực
Trang 10công Chất vấn trực tiếp các quan chức trở thành một trong những hình thứcphổ biến nhất của kiểm soát xã hội.
1.2 Vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị trong lịch sử
Ngay từ thời cổ đại, tư duy chính trị phương Tây đã đề cập đến vấn đềkiểm soát quyền lực chính trị thông qua cách thức tổ chức quyền lực nhànước Arixtốt là người đầu tiên nêu ra phương thức phân quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp Sau này, tư tưởng chính trị phương Tây tiếp tục pháttriển như cơ chế sơ đẳng để thực hiện kiểm soát quyền lực chính trị
Vào thời kỳ khủng hoảng và tan ra của chế độ phong kiến châu Âu, đãxuất hiện phong trào văn hóa phục hưng với sự góp mặt xuất sắc của nhiềunhà tư tưởng chính trị lớn Nicolo Machiavelli nằm trong số các nhà tư tưởng
đó, đã luận chứng rằng sức mạnh là cơ sở của quyền lực, nhưng bản thân sứcmạnh nhất thiết phải dựa trên nền tảng pháp luật, nghĩa là cũng phải tuân thủnhững quy định cụ thể Ngay cả quân vương – người có sức mạnh và quyềnlực chính trị lớn nhất trong chính thể cộng hòa mà Machiaville thiết kế - cũngchỉ là người được dân cử và dân giao phó quyền lực chính trị
Baruc Spinoza là một nhà tư tưởng chính trị lớn của Hà Lan thế kỷXVII, đã khẳng định mạnh mẽ rằng quyền lực nhà nước không phải là vô hạn.Theo ông, quyền lực nhà nước phải được tổ chức theo thiết chế đại biểu Cácthiết chế này ban hành các đạo luật để nhà nước cai quản xã hội và thực hiệngiám sát nhà nước trong việc thực thi các đạo luật đó
John Lôccơ là người khởi thảo thuyết phân chia quyền lực và là người
đã coi việc hạn chế quyền lực nhà nước thành lập pháp, hành pháp và liênminh, Lốccơ xác định quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước.Quyền lập pháp thuộc về nghị viện, đưa ra các đạo luật nhưng không trực tiếptriển khai thực thi luật Quyền hành pháp thuộc về nhà vua, nhưng nhà vua vàcác quan chức khác xungz phụ thuộc vào pháp luật Vua không có đặc quyền
Trang 11nào đối với nghị viện nhằm ngăn chặn nhà vua thâu tóm toàn bộ quyền lực vềmình và xâm phạm các quyền tự nhiên của công dân.
Trong phong trào cách mạng tư sản Pháp, đã xuất hiện hàng loạt nhà tưtưởng chính trị kiệt xuất, nổi tiếng là Môngtetxkiơ Ông là người đầu tiên đưa
ra công thức quyền lực như giải pháp cần thiết để bảo vệ tự do của công dân
Kế thừa quan điểm của Lốccơ về việc phân chia tổ chức quyền lực như tổchức nhà nước, nhưng quyền lực thứ ba theo Môngtetxkiơ là quyền tư pháp –quyền trừng phạt người phạm tội và phân xử khi có tranh tụng giữa các tưnhân Ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân biệt với nhau
và giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ Điểm cốt yếu trong chủ trươngphân quyền của Môngtetxkiơ là mỗi cơ quan hoạt động trong lĩnh vực củamình, không có quyền trong lĩnh vực khác nhưng có quyền ngăn chặn quyềnlực của cơ quan khác
Tư tưởng phân chia quyền lực của Môngtetxkiơ tiếp tục đượcEnmanuel Kant, nhà tư tưởng chính trị Phổ thế kỷ XVIII tiếp tục kế thừa và
bổ sung Kant không theo thuyết cân bằng quyền lực mà chủ truognư xâydựng sự thống nhất giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong thiếtchế nhà nước Ông thiết kế cấu trúc quyền lực nhà nước gồm ba quyền: lậppháp thể hiện ý nguyện và chủ quyền tập thể của nhân dân; hành pháp thuộcngười cầm quyền theo luật và tuân thủ pháp luật; tư pháp do quyền lực hànhpháp bổ nhiệm Tính chỉnh thể và sự nhất trí giữa ba quyền lực này, theoKant, có thể ngăn ngừa sự chuyên chế và đảm bảo phồn vinh cho quốc gia
1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về kiểm soát quyền lực.
Xét ở hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước Nga, Lênin xác định rằngnhiệm vụ hàng đầu đặt ra cho chính quyền Xô Viết là thực hiện tốt sự quản lýnhà nước trên mọi lĩnh vực, trong đó trọng tâm không còn là lĩnh vực chínhtrị mà chuyển sang lĩnh vực kinh tế Lênin khẳng định: kiểm kê và kiểm soát
Trang 12nếu do chính quyền tối cao của nhà nước tiến hành, đó là thực chất của côngcuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, một khi giai cấp vô sản đã giành được và đảmbảo đucợ nền thống trị chính trị.
Căn cứ vào việc phân tích tình hình nước Nga, Lênin chỉ rõ sở dĩ phảitiến hành kiểm kê, kiểm soát thật nghiêm ngặt bởi các nguyên nhân vừa chủquan, vừa khách quan Một là, bản thân chức năng quản lý của nhà nucớ Xôviết đối với một lĩnh vực của đời sống xã hội đã hàm chứa nhiệm vụ kiểmsoát việc thực thi quyền lực của nhân dân lao động Hai là, nền kinh tế bị kiệtquệ sau chiến tranh nay lại phải đương đầu với hàng loạt khó khăn, thử tháchmới Ba là, bộ phận nhà nước Xô viết còn non trẻ, hạn chế, yếu kém Bốn là,các thế lực chống đối, trong đó có các lực lượng tư sản có nhiều âm mưu thủđoạn trốn tránh khỏi sự kiểm soát của chính quyền cách mạng Năm là, đãxuất hiện một số biểu hiện tiêu cực ngay trong đội ngũ cán bộ chính quyền vàquần chúng nhân dân
Với nhãn quan lãnh tụ cách mạng, Lênin cho rằng toàn bộ vấn đề kiểmsoát chung quy là vấn đề ai là người kiểm soát và ai bị kiểm soát, đồng thời,Lênin khẳng định dưới chính quyền Xô viết, sẽ có một sự kiểm soát dân chủ -cách mạng của giai cấp vô sản, ban đầu là của đội ngũ công nhân và sau đóđược mở rộng ra thành sự kiểm soát của toàn bộ nhân dân lao động Chuyênchính vô sản và sự kiểm soát của toàn dân, đó là những công cụ, phải songhành đồng thời, không được thực hiện cái này mà quên cái kia Đối tượngchịu sự kiểm soát bao gồm: tất cả các đơn vị kinh tế, các ngành, đoàn thể, cánhân, và các cấp chính quyền Lênin nhiều lần nhấn mạnh nhà nước vừa làchủ thể kiểm soát, vừa là đối tượng kiểm soát
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ kiểm soát với nghĩa rộng, baohàm cả xem xét, điều tra, nắm tình hình, kiểm tra, giám sát, Theo Người,khi đã có đường lối, chính sách đúng thì việc thành công hay thất bại củanhiệm vụ cách mạng chỉ phụ thuộc vào khâu triển khai thực hiện, trong đó cóhoạt động kiểm tra, kiểm soát
Trang 13Giám sát, kiểm soát có vai trò quan trọng trong việc đưa đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống; đánh giáchúng phù hợp hay không và năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ, đảngviên ra sao Bỏi vậy, chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: muốn chống bệnhquan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết đó có được thi hành haykhông, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho quachuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo léo bao nhiêukhuyết điểm lòi ra hết.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phương pháp và hình thức kiểmsoát, giám sát Phải tiến hành kiểm soát, giám sát cả gián tiếp và trực tiếp,trong đó trực tiếp là chủ yếu và thường xuyên Phải tiến hành sự kiểm soát,giám sát của tổ chức đối với tổ chức, tổ chức đối với cá nhân, cấp trên đối vớicấp dưới, cấp dưới đối với cấp trên, giám sát của đoàn thể đối với cán bộ,đảng viên, giám sát lẫn nhau Cách tốt nhất là thật thà tự phê bình và phê bìnhtrong nội bộ tổ chức, đồng thời tiếp thu nghiêm chỉnh ý kiến phê bình củanhân dân
Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành cơ chế kiểm soátquyền lực đối với bộ máy nhà nước, chính là kiểm soát “cán bộ” TheoNgười, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thấtbại đều do cán bộ tốt hay kém” Đối với các cơ quan trong bộ máy nhà nước,Người luôn nhắc nhở về việc bảo đảm và thể hiện sự thống nhất về bản chấtcủa mối quan hệ trong hệ thống chính trị Điều này còn thể hiện tính nhấtquán ngay trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ Tính nhất quán đó đượcminh chứng bằng tính ổn định của thể chế suốt nhiều thập kỷ qua Đó là: sựlãnh đạo, vai trò cầm quyền chỉ do một đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) nắmgiữ; quan hệ kiểm soát quyền lực giữa cơ quan quyền lực với cơ quan chấphành dựa trên nền tảng của dân chủ xã hội chủ nghĩa; quan niệm về kiểm soát,thiết kế tổ chức (trong Đảng, Nhà nước, các cơ cấu bên trong Nhà nước ),triển khai thực hành nhất quán việc kiểm soát quyền lực
Trang 14Để việc giám sát, kiểm soát đạt hiệu quả, chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ýphải khéo léo trong hình thức, phương pháp, linh hoạt, uyển chuyển và phảiđảm bảo đúng các nguyên tắc cơ bản của tổ chức, nhất là nguyên tắc tập trungdân chủ, đảm bảo tính công khai, dân chủ giữa chủ thể và đối tượng giám sát.Mặt khác, bản thân những người giám sát, kiểm soát nhất thiết phải tránh cănbệnh quan liêu Tiến hành giám sát theo hệ thống, đến tận nơi để kiểm soát.Người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín, năng lực, trình độ và kỹnăng kiểm soát thuần thục.
Trang 15Chương 2:
THỰC TRẠNG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở
CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC
2.1 Khái quát về Cộng hòa Liên bang Đức
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Nước Đức nằm trong Trung Âu, giữa 47°16′15″ và 55°03′33″ vĩ độ bắc
và 5°52′01″ và 15°02′37″ kinh độ đông Về phía bắc Đức có ranh giớivới Đan Mạch (có chiều dài 67 km), về phía đông-bắc là Ba Lan (442 km), vềphía đông là Séc 811 km), về phía đông nam là Áo (815 km không kể ranhgiới trên hồ Bodensee), về phía nam là Thụy Sĩ (316 km, với biên giới củalãnh thổ bên ngoài (tiếng Anh: exclave) Büsingen nhưng không kể ranh giớitrên hồ Bodensee), về phía tây nam là Pháp (448 km), về phía tây
là Luxembourg (135 km) và Bỉ (156 km) và về phía tây bắc là HàLan (567 km) Chiều dài ranh giới tổng cộng là 3.757 km Trong khi ở phíatây Bắc bờ biển của biển Bắc và ở phía đông Bắc là biển Baltic tạo thành biêngiới quốc gia tự nhiên thì về phía nam nước Đức là một phần của dãynúi Alpen
Lãnh thổ bên ngoài duy nhất của Đức là Busingen nằm trong vùngthượng lưu sông Rhein thuộc về huyện Konstanz của bang Baden-Wurttemberg Busingen có diện tích là 7,62 km² và được bao bọ hoàn toànbởi 3 bang là Schaffhausen, Thurgau và Zurich Ngoài ra, còn cóKleinwalsertal thuộc Áo Nếu bằng đươcngf bộ hay đường thủy thì chỉ xuyênqua lãnh thổ quốc gia Đức mới có thể đến được
Địa hình thay đổi đặc biệt là theo hướng từ Bắc vào Nam vì địa thế cóchiều hướng cao hơn và dốc hơn về phía nam Phần miền Bắc của nước Đức,vùng đồng bằng Bắc Đức, là một vùng đồng bằng mà phần lớn được tạo thành
từ thời kỳ Băng hà, kế tiếp về phía nam là vùng đồi núi có rừng ở trung tâm và cácphần đất miền Nam của Đức Đặc biệt là tại bang Bayern nhưng cũng ở tại
Trang 16bang Baden - Württemberg địa hình này chuyển tiếp đếnvùng Alpenvorland Bắc tương đối cao, vùng mà sau đấy lại chuyển tiếp đếnvùng núi cao của dãy núi Alpen.
Nước Đức thuộc về vùng khí hậu ôn hòa Trung Âu, trong khu vực củavùng gió Tây và nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa khí hậu biển trong Tây
Âu và khí hậu lục địa trong Đông Âu Ngoài những yếu tố khác, khí hậu chịuảnh hưởng của dòng hải lưu Golfstream tạo nên những trị khí hậu ấm áp khácthường so với vị trí vĩ độ này
Điều kiện thời tiết khắt nghiệt như hạn hán kéo dài, gió xoáy (Tornado),băng giá lạnh với nhiệt độ cực thấp hay nóng cao độ tương đối hiếm Thếnhưng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện giông bão mà đã gây ra nhiều thiệt hại nặngnhư trong năm 2000 và 2002 Tại Đức cũng thường hay xảy ra nước lũ sauthời gian mưa nhiều trong mùa hè (lũ lụt Oder năm 1997, lũ lụt Elbe năm2002) hay sau khi tan tuyết trong mùa đông mà có thể dẫn đến lụt và gây tànphá nặng Việc hay có nước lũ tại sông Rhein có thể là do việc đắp đập và đàothẳng sông Rhein trong thế kỷ 19 dưới sự lãnh đạo của Tulla đã xóa bỏ cácvùng ngập nước tự nhiên trước kia của con sông này Hạn hán chủ yếu chỉ xảy
ra ở vùng đông bắc nước Đức nhưng đôi lúc cũng ảnh hưởng đến trên toànnước Đức
2.1.2 Tình hình chính trị
Đức là một nước cộng hòa liên bang, nghị viện, và dân chủ đại diện Hệthống chính trị Đức được vận hành theo khuôn khổ được quy định trong vănbản hiến pháp năm 1949 mang tên Grundgesetz (Luật Cơ bản) Sửa đổi theothường lệ cần có đa số hai phần ba của cả lưỡng viện quốc hội; các nguyên tắc
cơ bản của hiến pháp được biểu thị trong các điều khoản về đảm bảo nhânphẩm, cấu trúc liên bang và pháp quyền có giá trị vĩnh viễn
Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và chủ yếu được trao trách nhiệm
và quyền lực tượng trưng Ông được bầu ra bởi Bundesversammlung (hộinghị liên bang), một thể chế gồm các thành viên của Bundestag (Quốc hội) và