ung dung he thong bioreactor trong san xuat so luong lon cay duc lieu va hoa canh
Trang 1Ứng dụng hệ thống Bioreactor trong sản xuất số lượng lớn cây
dược liệu và hoa cảnh
Nhân giống trên quy mô lớn thực vật qua nuôi cấy phôi, mô và tế bào bằng bioreactor đang có nhiều triển vọng trong nhân giống cây trồng quy mô
công nghiệp Bioreactor sử dụng trong nuôi cấy mô tế bào thực vật được cải tiến từ các loại bioreactor trong nuôi cấy tế bào vi sinh Bioreactor với hệ thống cung cấp và xả môi trường, hệ thống cấp và thoát khí vô trùng được thiết kế có khả năng tạo ra một môi
Trang 2trường nuôi cấy vô trùng, kiểm soát các yếu tố môi trường bên trong như
sự lắc, sự thoáng khí, nhiệt độ, oxy hòa tan, pH ) Bioreactor có ba loại chính được phân biệt như sau:
- Loại dùng để sản xuất sinh khối (sản phẩm là khối tế bào, các đơn vị phát sinh phôi, phát sinh cơ quan, chồi, rễ)
- Loại dùng để sản xuất các chất
chuyển hóa thứ cấp, enzyme
- Loại dùng cho việc chuyển hoá sinh học các chất chuyển hóa ngoại sinh (là các chất tiền thân trong quá trình trao đổi chất)
Nuôi cấy bằng bioreactor là một trong những phương pháp đầy hứa
hẹn cho nhân giống với số lượng lớn
tế bào, phôi soma hay các đơn vị phát sinh cơ quan (e.g củ, hành, đốt, củ bi
Trang 3hay cụm chồi), trong đó đã có một số báo cáo về nhân giống các loại cây
hoa cảnh và cây dược liệu bằng
bioreactor Tuy nhiên, sự mâu thuẫn trong việc tối ưu các loại bioreactor cũng như các thông số nuôi cấy cũng được nêu lên Nguyên nhân chính là
do sự khác nhau về loài, do đó cần
phải quan sát cẩn thận từng trường
hợp cụ thể Khi chuẩn bị nuôi cấy trên một đối tượng nào đó, thông thường bắt đầu với hệ thống bioreactor nhỏ
để tối ưu hóa các điều kiện nuôi cấy, sau đó việc nuôi cấy trong các
bioreactor (500 – 1000 lít) quy mô lớn
dễ dàng thực hiện hơn
Sản xuất các hoạt chất trao đổi thứ cấp
Trang 4
Sản xuất các hoạt chất trao đổi
chất thứ cấp bằng cách sử dụng tế bào thực vật là một hướng được quan tâm nghiên cứu Năm 1959, báo cáo đầu tiên về nuôi cấy tế bào thực vật trên quy mô lớn đã được công bố (Tulecke
và Nickell, 1959) Trong một vài năm trước, nhiều thành công trong nuôi
cấy tế bào thực vật với số lượng lớn cũng được công bố Ngày nay, việc nuôi cấy tế bào thực vật có thể thực hiện trong bình có thể tích lên tới
75.000 lít (Rittershaus et al., 1989) Trong số hàng trăm các sản phẩm thứ cấp có nguồn gốc từ tế bào thực vật chưa biệt hóa, shikonin, ginsenoside
và berberine đã được sản xuất trên
quy mô lớn, và đây thực sự là những thành công rực rỡ trong việc kết hợp giữa nuôi cấy tế bào thực vật với kỹ
Trang 5thuật bioreactor
Mặc dù các tế bào chưa biệt hóa
chủ yếu được nghiên cứu, nhưng
phương pháp nuôi cấy rễ và các cơ
quan khác cũng được quan tâm rất
nhiều Khi nuôi cấy rễ có thể không cần sử dụng nguồn mẫu cấy rễ ban
đầu nhiều vì chúng có tốc độ tăng
trưởng rất cao Một số thiết kế
bioreactor dùng cho nuôi cấy rễ đã
quan tâm đến sự phát sinh hình thái phức tạp và khả năng bị biến dạng của
rễ (Giri and Narasu, 2000) Vấn đề
chính của việc nuôi cấy rễ trong
bioreactor là nguồn cấp oxy không
đến được với sinh khối ở giữa
bioreactor dẫn đến hậu quả là nhiều khối mô lão hóa Vì rễ có nhiều nhánh nên nhiều rễ đan xen vào nhau có khả năng cản lại nguồn cung cấp khí cũng
Trang 6như dinh dưỡng cho các rễ nằm phía trong Khả năng nuôi cấy rễ thành công để làm nguồn cho việc sản xuất các chất có hoạt tính sinh học phụ
thuộc vào việc thiết kế các hệ thống bioreactor thích hợp, trong đó để đáp ứng được yêu cầu về nuôi cấy, việc theo dõi những chỉ số vật lý và hóa học trong bireactor không kém phần quan trọng
Vi nhân giống
Tự động hóa sự phát sinh cơ quan trong bioreactor được đặt lên hàng đầu như là một phương pháp khả thi trong việc làm giảm chi phí của vi nhân giống (Takayama và Akita,
1994; Leathers et al., 1995;
Chakrabarty và Paek, 2002; Paek et al., 2001) Các bộ phận cơ quan hay
Trang 7mô, tế bào thực vật có khả năng phát sinh cơ quan được nuôi cấy để chuẩn
bị dùng làm nguồn nguyên liệu cho
sản xuất quy mô lớn Nuôi cấy củ bi khoai tây hay củ của cây hoa Lily
cũng một hướng sản xuất giống cây trên quy mô lớn tạo ra một nguồn
giống có thể trồng trực tiếp trên cánh đồng Nhân nhanh chồi ngủ là phương pháp vi nhân giống cần nhiều lao
động để sản xuất các dòng cá thể ưu
tú, nhưng gần đây, việc áp dụng các loại bioreactor khác nhau và hệ thống ngập chìm tạm thời cho nhân giống chồi và các cụm chồi đã cho thấy đây
là cách nhân giống trên quy mô lớn
rất hứa hẹn Hiện nay, nhiều cây có
giá trị kinh tế đang được nghiên cứu nhân giống trong hệ thống bioreactor trên quy mô phòng thí nghiệm có kết
Trang 8quả rất tốt nhưStevia rebaudiana, hoa
Thu hải đường, hoa lan Hồ Điệp, hoa Cúc, cây Táo, Nho, Dứa và Tỏi
Sự phát sinh phôi soma
Sự phát sinh phôi soma (sinh
dưỡng) cũng được áp dụng trong việc nhân nhanh cây trồng với số lượng
lớn trong bioreactor tự động Vi nhân giống truyền thống đòi hỏi một lực
lượng lao động lớn sẽ hạn chế khả
năng ứng dụng và tính thương mại
Phôi soma dễ sử dụng do chúng có
kích thước tương đối nhỏ và đồng đều
về kích cỡ, chúng không cần phải
được cắt thành những mảnh nhỏ và
tách rời khi nuôi cấy trong môi trường tăng sinh Thêm vào đó, phôi soma có thể bảo quản trong thời gian dài ở
nhiệt độ thấp hay sấy khô, thuận tiện
Trang 9cho vận chuyển và sản xuất với số
lượng lớn Sự sản xuất phôi soma
trong bioreactor đã được công bố trên nhiều loài (Denchev et al., 1992;
Cervelli và Senaratna, 1995;
Moorhouse et al., 1996; Timmis,
1998; Ibaraki và Kurata, 2001; Paek
và Chakrabarty, 2003), tuy nhiên cần nhiều cải tiến cho hệ thống bioreactor sản xuất phôi soma để có thể đương đầu với sự đồng bộ hóa sự phát triển phôi soma, nhận dạng được sự bất
thường của phôi trong suốt quá trình nuôi cấy và giải quyết được các khó khăn trong quá trình thuần hóa ngoài vườn ươm
Tóm lại, các ưu điểm của
bioreactor đã đưa đến sự phát triển
của một kỹ thuật thích hợp cho việc nhân giống với quy mô lớn, hiện nay
Trang 10nhiều loài thực vật đã được nuôi cấy
để sản xuất sinh khối cũng như nhân giống quy mô lớn bằng bioreactor
Tuy nhiên, một số loại thực vật không thích hợp với việc nuôi cấy trong môi trường lỏng Hiện tượng thủy tinh thể thường xuyên xảy ra với các mô, chồi được nuôi cấy trong môi trường lỏng
và khi chuyển những chồi này ra vườn ươm thì chúng dễ bị úa vàng cũng
như bị mất nước do độ ẩm môi trường bên ngoài thấp, từ đó dẫn tới tỷ lệ
sống sót thấp Đối với việc nghiên
cứu ứng kỹ thuật nuôi cấy trong
bioreactor, vấn đề cần thiết hướng đến
là cải thiện các điều kiện về môi
trường hóa lý - như gia tăng sự trao
đổi không khí, tăng cường độ ánh
sáng và hàm lượng khí CO2 - để kỹ
thuật này được áp dụng tốt hơn trong
Trang 11thực tế Và cuối cùng theo như lời
Vasil (1994) là: “Cái khó nhất trong việc nhân giống thực vật trên quy mô lớn sử dụng bioreactor là những khó khăn thuộc về phạm trù sinh học và chứ không phải nằm ở phía kỹ thuật
cơ khí, máy móc”