- Đảng chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, đa dạng hóa Bước sang thế kỷ XXI cùng với sự đổi mới trên các lĩnh vực, sự nghiệp giáodục v
Trang 1ĐẢNG CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH TỰU VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM
2.1 Đảng chỉ đạo, thành tựu hạn chế và nguyên nhân phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 1996 đến 2005
2.1.1 Đảng chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đã quyết định đưa đất nước chuyểnsang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Hội nghị lầnthứ 2 BCH TW Đảng (khóa VIII) (12/1996) mở ra thời kỳ mới cho phát triển giáodục và đào tạo Tại hội nghị lần này, Đảng ra nghị quyết chuyên đề về giáo dục vàđào tạo, khoa học và công nghệ Đảng xác định đầu tư cho giáo dục là đầu tư chophát triển Do đó, không chỉ tăng ngân sách mà là đầu tư về mọi mặt Sự ưu tiêncho giáo dục phải thể hiện ở ưu tiên về chính sách, ưu tiên về đội ngũ cán bộ, ưutiên về quản lý Thực hiện được những ưu tiên đó làm cho giáo dục thực sự là quốcsách hàng đầu và quốc sách đó mới được thực hiện
- Nắm vững mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục đào tạo, Đảng đã xác định bốn nhóm giải pháp chủ yếu: Tăng cường nguồn lực; tăng cường động lực; tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị nhà trường; chấn chỉnh quản lý giáo dục.
Về tăng cường nguồn lực: Quan điểm đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho pháttriển, đầu tư cơ bản quan trọng nhất Đầu tư này phải lấy từ nguồn chi thườngxuyên và nguồn chi phát triển Về đầu tư Đảng chỉ đạo đến năm 2000 giáo dụcphải đạt 15% tổng chi ngân sách Các nguồn thu ngoài ngân sách cũng được huyđộng để đầu tư cho giáo dục Chính phủ quy định chế độ thu học phí, và chính sáchđóng học phí đào tạo đối với các cơ sở sử dụng lao động Các đoàn thể xã hội đượckhuyến khích xây dựng quỹ khuyến học Các trường dậy nghề, trung học chuyênnghiệp, cao đẳng… được phép lập cơ sở sản xuất và dịch vụ khoa học Chính phủ
Trang 2đồng ý vay vốn của ngân hàng thế giới, nhận vốn từ quỹ viện trợ không hoàn lại chogiáo dục mà không khấu trừ vào ngân sách Tất cả những việc làm đó để tăng cườngnguồn lực cho giáo dục.
Về tăng cường động lực cho giáo dục, trong đó lương của giáo viên đượcxếp cao nhất trong nhóm ngành lương hành chính sự nghiệp Giáo viên đượchưởng phụ cấp theo tính chất công việc hoặc theo vùng do chính phủ quy định (từ
1998 giáo viên đã được phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp: Đại học và cao đẳng 30%,THPT và các trường sư phạm 50%, tiểu học 70% lương chính) Đội ngũ ngườithầy được xã hội tôn vinh, đây là động lực tinh thần lớn với giáo dục Hệ thốngtruờng sư phạm được củng cố và xây dựng, một số trường sư phạm trọng điểm vừađào tạo giáo viên có chất lượng vừa làm công tác nghiên cứu khoa học, giáo dụcđạt trình độ tiên tiến, giáo sinh sư phạm không phải đóng góp học phí và được cấphọc bổng
Về đổi mới nội dung, phương pháp và tăng cường cơ sở vật chất thiết bịtrường học Những môn học khoa học xã hội và nhân văn và giáo dục tư tưởngchính trị được coi trọng Tư tưởng Hồ Chí Minh được giảng dậy chính thức trongnhà trường Phương pháp giáo dục phải được thay đổi nhiều
Tiến hành đổi mới công tác quản lý, chiến lược giáo dục sẽ được xây dựng;phải có kế hoạch dự báo để xây dựng lại cơ cấu đào tạo Đào tạo phải gắn với sửdụng Về tổ chức, thành lập hội đồng giáo dục quốc gia Những tiêu cực trong giáodục phải được sử lý nghiêm
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Thực tế cho thấy, ở nơi nào cấp ủy Đảngtrong giáo dục và đào tạo quan tâm chăm lo đến giáo dục thì giáo dục ở đó pháttriển tốt Các cấp ủy Đảng kiểm tra công tác tư tưởng chính trị trong trường học,phát hiện và khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong giáo dục Thành tích giáo dụcđược xem là một tiêu chuẩn quan trọng trong việc công nhận tổ chức Đảng trongsạch vững mạnh
Trang 3Những tư tưởng chiến lược cùng với những giải pháp tích cực và thiết thực màĐảng chỉ đạo làm cho giáo dục và đào tạo nước ta phát triển, đáp ứng những đòi hỏi củathời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và nguyện vọng của nhân dân
- Đảng chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, đa dạng hóa
Bước sang thế kỷ XXI cùng với sự đổi mới trên các lĩnh vực, sự nghiệp giáodục và đào tạo được Đảng và nhà nước tiếp tục có sự chỉ đạo mới đáp ứng đượcđòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Tư duy giáo dục là quá trình nhận thức quy luật vận động, phát triển củagiáo dục Giáo dục có sự thống nhất giữa nói và làm theo khoa học Đảng đã tiếnhành xem xét lại mục tiêu giáo dục, trên cơ sở đó biên soạn lại chương trình sáchgiáo khoa cho phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học và công nghệ, phùhợp với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trong các nhà trường cần đặcbiệt chú trọng việc giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức cách mạng và lối sốnglành mạnh, kết hợp giữa giáo dục hiện đại với giáo dục giá trị truyền thống dân tộc
Để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, chúng ta phải có chiếnlược giáo dục và đào tạo con người phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu của cả banền kinh tế: Kinh tế lao động, kinh tế tài nguyên và kinh tế tri thức Một xã hội vẫncòn đan xen cả ba nền kinh tế đòi hỏi phải có một cơ cấu giáo dục hợp lý nhằmphát triển con người một cách toàn diện Giáo dục cần phải gắn với mục tiêu pháttriển kinh tế, xã hội, phát triển thị trường lao động, phát triển sản xuất, vì conngười và phục vụ con người phù hợp với hoàn cảnh kinh tế nước ta
Giáo dục mầm non: Bảo đảm hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáodục, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; giúp trẻ em phát triển cơ thểcân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha
mẹ, thầy giáo, cô giáo và người trên; yêu quý anh chị em, bạn bè; thật thà, mạnhdạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học
Trang 4Giáo dục tiểu học đi vào bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giảm, cầnthiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết vàtính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu vềhát, múa, âm nhạc, thẩm mỹ.
Giáo dục THCS bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và
hệ thống gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm lý lứa tuổi của học sinh, đápứng mục tiêu giáo dục ở mỗi bậc học, cấp học
Giáo dục THPT về thế giới quan, tư tưởng, chính trị, pháp luật, đạo đức và
cư sử có văn hóa…
Đối với trường trung học chuyên nghiệp là đào tạo những cán bộ thực hành
có trình độ trung học về kỹ thuật, nghiệp vụ kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế vànghệ thuật…
Đối với các loại hình đại học và cao đẳng là đào tạo nhân lực có trình độcao, các chuyên gia cho tất cả các lĩnh vực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc Giáo dục đại học đã tập trung vào đào tạo nhân lực, trong đó có nhân tài lànhân lực có năng lực đặc biệt, phục vụ công cuộc CNH, HĐH đất nước
Đối với bậc học sau đại học là đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ những chuyên giagiỏi có khả năng độc lập sáng tạo trong hoạt động chuyên môn, nghiên cứu khoahọc, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trong hệ thống giáo dục quốc dân theo mục tiêu chiến lược mà hội nghịBCH TW lần 2 (khóa VIII) và nghị quyết Đại hội IX của Đảng trong thời gian này.Đảng đã tập trung chỉ đạo thực hiện một số lĩnh vực chủ yếu:
Về thực hiện chuẩn hóa chúng ta đã hoàn thành mục tiêu chống nạn mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học, dân trí ngày một cao, nhân lực ngày càng được đàotạo có tay nghề Đất nước đã có một hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh – mộtnền quốc học nhân dân, đủ sức để chuẩn hóa các trường, các cấp học và bậc học,hoạt động dạy và học, các phương tiện giáo dục và đào tạo nhằm thực hiện tốt mục
Trang 5tiêu giáo dục Thực hiện chuẩn hóa được thể hiện từng bước, từng phần – từ giáoviên, chương trình, sách giáo khoa đến lớp học, trường học… đều phải đạt tiêuchuẩn quốc gia.
Về hiện đại hóa được thực hiện trong nội dung giáo dục, chương trình, sáchgiáo khoa cùng với nó là vật chất, thiết bị dậy học Phương pháp dậy học ở cáctrường học đưa Intenets vào sử dụng Nhịp độ đổi mới công nghệ diễn ra nhanhchóng và tính linh hoạt của thị trường lao động đã và đang làm cho tri thức nhanhchóng bị lỗi thời Do vậy, giáo dục phải làm cho con người tính nghi ngờ, tínhtương đối của tri thức để nhanh chóng thích ứng với tri thức mới Giáo dục và đàotạo sẽ là nhân tố chính để duy trì và phát trển các giá trị văn hóa dân tộc, phát triển
xã hội và phát triển con người
Về thực hiện dân chủ hóa; trong giáo dục trước hết thực hiện chủ chươnggiáo dục cho mọi người, xóa mù chữ, từng bước phổ cập giáo dục từ thấp lên cao,đem lại tri thức, trí tuệ cho mọi người dân Mọi người dân có quyền bình đẳngtrong việc hưởng thụ giáo dục Mọi người được đi học - đó là quyền cơ bản củacon người Dân chủ hóa giáo dục đi liền với công bằng xã hội trong giáo dục, làmcho trường học thực sự là của dân Dân chủ hóa quản lý giáo dục trước hết làchống quan liêu, phiền hà, tham nhũng, là công minh, công khai, công bằng trongthực hiện các chính sách… Dân chủ hóa là tinh thần cốt yếu đang được Đảng vànhà nước ta hết sức quan tâm
Về thực hiện đa dạng hóa các hình thức trường lớp; phương thức đa dạnghóa trong giáo dục gắn liền với xã hội hóa, nó cũng gắn liền với dân chủ hóa giáodục Các trường, các lớp, các trung tâm giáo dục không chỉ dưới dạng công lập, màcòn có trường, trung tâm, lớp dân lập và tư thục Đa dạng hóa các loại hình trườnglớp, trên cơ sở mục tiêu đào tạo, nội dung giáo dục, chuẩn kiến thức đều thống nhấtcho tất cả các loại Đa dạng hóa giáo dục phải đi đôi với việc thống nhất quản lýchặt chẽ về quy mô, chất lượng và cơ cấu trong giáo dục
Trang 6- Đảng chỉ đạo giáo dục con người phát triển toàn diện.
Những chủ chương, chính sách đúng đắn của Đảng và chính phủ cùng nhữngthắng lợi to lớn mà nhân dân ta đạt được sau 20 năm đổi mới đã tạo ra những tiền
đề rất quan trọng để đưa nước ta đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH
Trong quá trình thực hiện CNH, HĐH Đảng luôn coi trọng giáo dục và đàotạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, coi con người là vốnquý nhất, đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển, lấy việc phát huy nguồnlực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước Hội
nghị lần 2 BCH TW Đảng (khóa VIII) đã khẳng định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe, là người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “Hồng” vừa “Chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ [3, 28,29].
Đó là mục tiêu phát triển con người toàn diện
Thực hiện nghị quyết của Đảng 12/1998 Quốc hội thông qua Luật Giáo dục,
trong đó nghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
[12, 8] Để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên phục vụ CNH, HĐH phải
có những người được đào tạo cơ bản thông qua giáo dục mới đáp ứng được yêucầu hiện nay Sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi các thiết bị máy móc hiện đại để sản
Trang 7xuất ra của cải vật chất Để làm chủ khoa học, công nghệ kỹ thuật hiện đại phảiđào tạo giáo dục nguồn nhân lực của đất nước Phát triển toàn diện trên các mặt
“Đức, trí, thể, mỹ” và những năng lực kỹ năng, kỹ sảo, chuyên môn nghề nghiệp Trong những năm qua Đảng và nhà nước ta rất quan tâm tới đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân, tạo mọi điều kiện để con người phát triển mọi mặt Yếu tốquan trọng nhất để phát triển con người toàn diện là phát triển giáo dục, bởi vì giáodục là quá trình nâng cao tri thức và kỹ năng Giáo dục là phương tiện đặc biệtmang lại sự phát triển cá thể người Mặt khác, phát triển giáo dục là cơ sở để chúng
ta phát huy tốt nhất “của cải nội sinh” tạo nên sự phát triển đất nước một cách bềnvững Công việc tiếp theo của chúng ta còn rất nặng nề và vô cùng khó khăn, đòihỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội phải cố gắng hơn nữa thì mới có thể thựchiện được tốt mục tiêu đã đề ra trong nghị quyết của Đảng và Luật Giáo dục
Chúng ta đang sống trong hoàn cảnh quốc tế hóa kinh tế trở thành một tấtyếu khách quan, kinh tế tri thức đang trở thành một hiện thực ở một số nước trênthế giới, khoa học – công nghệ đang phát triển nhanh chóng, làm thay đổi một sốquan niệm truyền thống, ưu thế về trí tuệ sẽ thay thế ưu thế về vốn, tài nguyên vànhân công rẻ mạt; ưu thế về trí tuệ đang dần dần thay thế về sở hữu vật chất; cạnhtranh trong tương lai chủ yếu là cạnh tranh trí tuệ và thông tin Các nước phát triểnnắm được khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang vươn lên làm chủ thế giới;khoảng cách giầu nghèo ngày càng cách xa Các nước đang phát triển nếu không cốgắng vươn lên làm chủ khoa học công nghệ hiện đại sẽ có nguy cơ thành “thuộc địakiểu mới” của các nước phát triển
Đảng và nhà nước ta đã có những lỗ lực lớn lao và thực hiện nhiều chủchương, biện pháp mạnh dạn để đào tạo nên đội ngũ tri thức mà nhiều nước pháttriển chưa thể có được Đội ngũ ấy đã có những đóng góp nhất định vào sự nghiệpxây dựng và bảo vệ đất nước Khi sự giúp đỡ của nước ngoài đối với việc đào tạocán bộ khoa học công nghệ nước ta giảm hẳn gần như không đáng kể so với trước
Trang 8đây, thì sự lỗ lực của ta lại tăng lên gấp bội Đảng ta sớm nhận ra, Bộ chính trị,BCHTW (khóa VII) đã thảo luận ra nghị quyết về giáo dục và đào tạo, Hội nghị
TW 2 (khóa VIII) đã dần khắc phục được những hạn chế trong giáo dục, đào tạophát huy những thành tựu đã đạt được
Chiến lược phát triển con người toàn diện phải được ưu tiên hơn tất cả cácchiến lược phát triển kinh tế – xã hội Trong những năm qua chúng ta có được độingũ nhân lực đông đảo có chất lượng cao với cơ cấu ngày càng hợp lý, thích ứng
với tính chất và nội dung của thời kỳ CNH, HĐH “Hiện nay, cả nước có khoảng
100 khu công nghiệp, khu chế xuất, thu hút tối đa 500.000 lao động, mỗi năm các trường đại học, cao đẳng đã đào tạo được trên 200.000 người” [20, 1] Từ kinh
nghiệm thành công của các nước thực hiện tốt tiến trình CNH, HĐH trên thế giới
và của nước ta, việc thực hiện chiến lược phát triển con người toàn diện chính làxây dựng mô hình con người mới có lòng yêu nước nồng nàn; có đạo đức cáchmạng trong sáng; có trí tuệ thông minh, chủ động và sáng tạo, thích nghi nhanh vớimọi hoàn cảnh xã hội; có cơ thể cường tráng, có năng lực thể chất toàn diện đáp ứngmọi điều kiện làm việc và các hoạt động xã hội; có khă năng thẩm mỹ cao, biết phânbiệt và hưởng thụ cái đẹp của dân tộc và nhân loại; có tay nghề giỏi và thành thạotrong nghề nghiệp
Trong hoàn cảnh nước ta có nhiều khó khăn, yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH đối với chúng ta rất cấp bách Muốn đi tắt đón đầu, muốn nhanh chóng đuổikịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, thì con đường tốt nhất đểchúng ta có thể thực hiện là “Phát triển giáo dục – phát triển toàn diện con người”
2.1.2 Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân đạt được trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
- Những thành tựu và hạn chế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Về quy mô giáo dục: Tất cả 61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều đã
Trang 9được công nhận đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học;94% dân số trong độ tuổi từ 15 – 35 biết chữ; bảo đảm tỷ lệ 90% trể em 14 tuổi tốtnghiệp tiểu học Trình độ dân trí của nước ta có bước tiến đáng kể (1996 – 2000)quy mô giáo dục tiếp tục tăng ở tất cả các cấp học, ngành học, đáp ứng nhu cầu học
tập ngày càng lớn của nhân dân (xem phụ lục 1) So với năm học 1996 –1997, tổng
số người đi học tăng từ hơn 20 triệu người lên hơn 23 triệu người vào năm học
2001 – 2002, trong đó số trẻ em ở các cơ sở giáo dục mầm non tăng 1,3 lần; số họcsinh phổ thông tăng 1,15 lần; số học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 1,15 lần;
số học sinh ở các trường và trung học dạy nghề (Chính quy dài hạn và ngắn hạn)tăng 2 lần; số sinh viên cao đảng, đại học tăng 2,22 lần Nhìn chung, quy mô giáodục tiểu học và trung học cơ sở phát triển phù hợp yêu cầu phổ cập giáo dục, nângcao dân trí Số học sinh trung học phổ thông ở tất cả các vùng đều tăng, kể cảnhững vùng khó khăn Mạng lưới trường phổ thông nước ta phát triển khá tốt; trừmột số rất ít địa phương, trường tiểu học đã về đến thôn, ấp; trường THCS về đến xãhoặc liên xã; trường THPT về đến quận, huyện hoặc cụm xã, phường Mạng lưới cáctrường dậy nghề được khôi phục; các trường THCN được củng cố, các trường caođẳng, đại học phát triển mạnh, số lượng các trường ngoài công lập đã tăng đáng kể,
nhất là THPT và đại học (xem phụ lục 2) Đến hết năm 2005 có 30 tỉnh đạt chuẩn phổ
cập THCS Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học bậc tiểu học đạt 97%; trung họcchuyên nghiệp và dạy nghề tăng 10% năm; sinh viên đại học, cao đẳng 7,6% năm
Bên cạnh những thành tựu đạt được, về quy mô giáo dục còn những yếukém: Chưa đat chỉ tiêu phải thu hút hầu hết trẻ 5 tuổi vào lớp mẫu giáo Ngànhmầm non gặp rất nhiều khó khăn, ở nhiều nơi còn bị thả nổi Kết quả xóa mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học còn chưa vững chắc, chất lượng hiệu quả đào tạo cònthấp, chưa có giải pháp khắc phục sự chênh lệch còn quá lớn giữa các vùng, miền
về quy mô phát triển giáo dục, chưa gắn chặt với quy hoach phát triển kinh tế – xãhội của cả nước của từng địa phương
Trang 10Về chất lượng giáo dục: Tuy mức đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, các nhà
trường đã cố gắng hơn trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục mặc dù còn thấp sovới yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và phát triển của khu vực và quốc tế Tỷ lệ lưu
ban bỏ học giảm dần (xem phụ lục 3) Giáo dục năng kiếu, hệ thống trường THPT
được duy trì và phát triển, dậy và học ở các trường chuyên đạt chất lượng cao,nhiều em đạt được giải trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia và quốc tế.Một số trường dậy nghề trọng điểm đã đào tạo được công nhân kỹ thuật đạt trình
độ khu vực và quốc tế Vấn đề giáo dục toàn diện đã được thể hiện trong nội dung,chương trình, phương pháp giáo dục Giáo dục phổ thông khắc phục được tìnhtrạng thiếu về “dậy chữ”, lơi lỏng “dậy người” Giáo dục đại học và dậy nghề đãchú trọng, cố gắng cải tiến nâng cao chất lượng môn học chính trị, Mác – Lênincho học sinh, sinh viên Vấn đề giáo dục ý thức độc lập dân tộc, truyền thống cáchmạng bản sắc văn hóa dân tộc nhìn chung có tiến bộ và đạt kết quả khá Đã chútrọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, nhất là nhân tài về khoa học và công nghệ, phục
vụ các ngành, các lĩnh vực mũi nhọn
Tuy nhiên, chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục lý tưởng XHCN, đạođức, lối sống cho học sinh, sinh viên và cả một phần đội ngũ nhà giáo, cán bộquản lý giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu, định hướng giá trị chưa kịp thời Giáo dụcchính trị tư tưởng vấn chưa gắn với đời sống xã hội Các môn giáo dục công dân,giáo dục khoa học chủ nghĩa Mác – Lênin còn kém hiệu quả Tác động tiêu cựcngoài xã hội tác động không nhỏ tới việc giáo dục niềm tin và lý tưởng cho họcsinh, sinh viên Tệ nạn xã hội, (Ma túy, mại dâm, cờ bạc…) xâm nhập vào họcsinh, sinh viên chưa giảm Hiện tượng các tôn giáo xâm nhập vào sinh viên giatăng Việc kết hợp giáo dục nhà trường với gia đình, xã hội, với lao động sản xuất,đời sống, học đi đôi hành còn rất hạn chế Nội dung giảng dậy còn quá nặng nề lýthuyết Việc học tập ở mọi cấp học bị chi phối nặng nề bởi tâm lý khoa cử, chưacoi trọng mục đích học tập đúng đắn Hệ thống các trường sư phạm nói chung chưa
Trang 11được tạo điều kiện tham gia tích cực vào đổi mới giáo dục phổ thông.
Về quản lý giáo dục: Cơ sở pháp lý về giáo dục từng bước được tăng cường
và hoàn chỉnh Quốc hội khóa IX đã thông qua Luật Giáo dục vào tháng 12/1998;sau đó thông qua 2 Nghị quyết số 40, 41 về giáo dục vào tháng 12/2000 Tháng8/2000, chính phủ đã ban hành nghị quyết số 43/2000/NĐ - CP hướng dẫn chi tiếtthi hành một số điều của Luật Giáo dục và nghị quyết số 02/2000/NĐ - CP hướngdẫn chi tiết thi hành Luật Giáo dục và bộ luật lao động và dậy nghề
Mạng lưới trường phổ thông phát triển khá tốt, trường tiểu học đã về đếnthôn ấp, trường THCS về đến xã hoặc liên xã, trường THPT về đến quận huyện
Đã chú ý tạo cơ chế chính sách cho việc đa dạng hóa các loại hình trường lớp, hìnhthức học tập Các trường ngoài công lập ở tất cả các cấp học, bậc học đã được pháttriển ở những nơi có điều kiện Năm học 1999 – 2000 số học sinh phổ thông ngoàicông lập chiếm tỷ lệ khoảng 63% ở nhà trẻ, 49% ở mẵu giáo, 0,3% ở tiểu học, 4%
ở THCS, 33% ở THPT và gần 10% ở đại học Đã tích cực chấn chỉnh công tácquản lý giáo dục, giải quyết vấn đề nổi cộm, lập lại trật tự kỷ cương đẩy lùi tiêucực Tháng 12/2001, thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển giáodục 2001 – 2010 Ngành giáo dục đã chỉ đạo các địa phương không tổ chức lớpchọn ở các cấp học, trường chuyên ở tiểu học và THCS, tổng kết thí điểm phân ban
ở THPT; chỉ đạo các trường đại học bỏ kỳ thi chuyển giai đọan như kỳ thi quốcgia, bỏ hình thức tổ chức trường đại học đại cương trong các đại học quốc gia vàđại học khu vực; đang tiến hành đổi mới tuyển sinh vào cao đẳng, đại học Đã có
mô hình thí điểm gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học sản xuất trong các doanhnghiệp lớn (Học viện bưu chính viễn thông)
Tuy nhiên trong quản lý giáo dục còn thiếu nhiều văn bản dưới luật Chưaquy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý giáo dục theo hướng tậptrung làm tốt chức năng quản lý nhà nước Trong phạm vi cả nước còn bất hợp lýlớn về phân bố các trường đại học, cao đẳng, dậy nghề theo địa bàn lãnh thổ, theo
Trang 12cơ cấu ngành nghề đào tạo Chưa thực hiện tốt phân cấp quản lý giáo dục, nhất làđối với các trường đại học Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục còn chưahợp lý và còn nhiều bất cập Việc quản lý tài chính, nhân sự cho giáo dục cònnhiều lý tính, vướng mắc Còn buông lỏng quản lý đối với các trường ngoài cônglập và các hệ thống đào tạo không chính quy, tại chức, từ xa, du học tự túc, dẫn đếnmột số hiện tượng tiêu cực, “Thương mại hóa” dậy thêm tràn nan, chạy theo mụcđích vụ lợi Việc thanh tra kiểm tra công tác quản lý giáo dục đã được quan tâmnhiều hơn trước, song vẫn còn yếu kém Việc thực hiện chủ chương chính sáchnhằm phát triển các trường lớp gắn với doanh nghiệp còn chậm
Về giải quyết các điều kiện phát triển giáo dục: Ngành giáo dục và các địa
phương đã cố gắng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật trường học Đến năm 2000,
cả nước đã có 436.281 phòng học, tăng 18.451 phòng so với năm 1995 – 1996.Việc xây dựng trường chuẩn quốc gia đã có nội dung thiết thực trong việc tăngcường các điều kiện dậy và học đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệncủa bậc học Trong những năm gần đây điều kiện giáo dục và đời sống giáo viênđược cải thiện Đầu tư cho giáo dục, đào tạo tăng lên đáng kể Năm 2005 chi chogiáo dục, đào tạo chiếm 18% tổng chi ngân sách nhà nước
Bên cạnh đó việc giải quyết các điếu kiện phát triển giáo dục còn nhiều yếukém; rất ít trường đạt chuẩn so với yêu cầu của một nhà trường bình thường…Nhìn chung, cơ sở vật chất của ngành giáo dục vẫn trong tình trạng nghèo nàn, lạchậu, trang thiết bị, phòng thí nghiệm phục vụ giảng dậy học tập mới chỉ đáp ứng20% yêu cầu Đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng.Đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng rất mỏng (một giảng viên / 30% sinh viên) và
tỷ lệ có trình độ sau đại học còn thấp (Khoảng 10 đến 30%), phần lớn rất lúng túngtrong đổi mới phương pháp dậy học
Nhìn chung, chính sách đối với nhà giáo chưa tạo được động lực đủ mạnhcho người dậy để đưa sự nghiệp giáo dục vào thế ổn định và tiến lên theo hướng