1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP ĐỨC QUẢNG NAM TỪ 1996 ĐẾN 2005

27 576 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ trương và Sự Chỉ Đạo Xoá Đói Giảm Nghèo của Đảng Bộ Huyện Hiệp Đức Quảng Nam Từ 1996 Đến 2005
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Chính trị - Quản lý nhà nước
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 38,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lòng đất Hiệp Đức có các loại khoáng sản như: than đá ở Hiệp Hoà, đávôi ở Bà Huỳnh , đất cao lanh ở Quế Thọ, vàng sa khoáng rải rác ở ven sông suối.Nhìn chung, với địa hình phức tạ

Trang 1

CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG

BỘ HUYỆN HIỆP ĐỨC QUẢNG NAM TỪ 1996 ĐẾN 2005

1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Hiệp Đức về xoá đói giảm nghèo từ

1996 đến 2005

1.1.1 Điều kiện tự nhiên xã hội và thực trạng đói nghèo ở huyện Hiệp Đức

- Về điều kiện tự nhiên

Huyện Hiệp Đức nằm trên trục toạ độ địa lý từ15o22’12’’đến 15o38’44’’ vĩ độBắc, từ 107o84’40’’ đến 108000’08” kinh độ Đông; là một huyện miền núi Diệntích tự nhiên là 49.177 ha, gồm có 11 xã, thị trấn, trong đó có 2 xã miền núi cao làPhước Gia, Phước Trà

Địa hình chung toàn huyện có dạng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi vớiđịa hình phức tạp, độ chênh lớn Độ cao trung bình là 200-300m, độ dốc bình quân

là 16-25o Toàn huyện có 3 dạng địa hình chủ yếu là dạng núi, dạng gò đồi, dạngđồng bằng thung lũng Dạng núi chiếm 50% diện tích tự nhiên, có độ dốc lớn(nhiều nơi trên 30o) Dạng gò đồi chiếm khoảng 35% diện tích, độ dốc thay đổi từ5- 10o Dạng đồng bằng thung lũng chiếm 15% diện tích, độ dốc thay đổi từ 5-10o

Hệ thống sông suối trong huyện rất dày nhưng phân bố không đều Lòngsông hẹp, mùa mưa lưu lượng tăng, mùa khô cạn kiệt Do các sông suối đều có độđốc lớn nên vào mùa mưa tiềm ẩn nguy cơ lũ quét rất lớn

Khí hậu ở Hiệp Đức mang đặc trưng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa.Nhiệt độ trung bình năm là 25oC Hàng năm có trên 1700 giờ nắng Lượng mưahàng năm trên 2000mm Độ ẩm không khí trung bình 80% Biên độ chênh lệchnhiệt giữa ngày và đêm không lớn, cùng với số giờ nắng cao tạo điều kiện cho câytrồng phát triển Song do lượng mưa tập trung chủ yếu vào tháng 9,10 (chiếm 50%-72% lượng mưa hàng năm) nên thường gây lũ lụt lớn Từ tháng 2 đến tháng 7hàng năm thường xảy ra hạn hán kéo dài, gây ảnh hưởng không nhỏ đến mùa vụ

Trang 2

Về giao thông: Hiệp Đức có trục giao thông chính là Quốc lộ 14E dài 36km

từ Việt An (Bình Lâm) đến Bà Huỳnh (Phước Trà) Đây là trục quốc lộ nối liềnliền giữa quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh Ngoài ra còn có các tuyến đườnggiao thông liên huyện, liên xã Giao thông đường thuỷ ở Hiệp Đức cũng khá thuậnlợi với tuyến sông Tranh nối liền với sông Thu Bồn và xuôi về Hội An

Trên địa bàn huyện Hiệp Đức có 8 loại đất, trong đó, đất đỏ vàng trên đá sét

và biến chất (F3 chiếm 47% diện tích) rất thích hợp cho cây trồng lâu năm, cây ănquả và cây công nghiệp nhưng dễ bị xói mòn, rửa trôi Đất đỏ vàng trên đá Macmaacid chiếm 30% tổng diện tích, thích hợp cho việc phát triển, tái sinh rừng Đất phù

sa được bồi (F6) và đất phù sa ngoài suối (F9) chiếm 5% diện tích, phù hợp vớitrồng các loại hoa màu và lúa nước

Thảm thực vật ở Hiệp Đức khá phong phú Trong rừng có nhiều loại gỗ quýnhư: gỗ sến, lim…(trữ lượng gỗ là 1.108.118 m3 ) và nhiều loại lâm dược quý nhưtrầm hương,sa nhân, đỗ trọng

Trong lòng đất Hiệp Đức có các loại khoáng sản như: than đá ở Hiệp Hoà, đávôi ở Bà Huỳnh , đất cao lanh ở Quế Thọ, vàng sa khoáng rải rác ở ven sông suối.Nhìn chung, với địa hình phức tạp, thổ nhưỡng nghèo nàn, diện tích chủ yếu

là rừng và đất trống đồi trọc, khí hậu tương đối khắc nghiệt cùng với các điều kiệnphục vụ sản xuất của nhân dân còn hạn chế nên có tác động rất lớn đến quá trìnhphát triển của huyện Hiệp Đức Nhưng với lợi thế khả năng mở rộng diện tích đấtnông nghiệp, kết hợp với lợi thế về lâm nghiệp và vị trí chiến lược quan trọng củahuyện, Hiệp Đức có đủ điều kiện để đẩy mạnh sản xuất, phát triển mọi mặt về kinh

tế xã hội

- Về điều kiện xã hội:

Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Hiệp Đức là phần đất thuộc phủ ThăngBình và huyện Quế Sơn Từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến trước năm

Trang 3

1985 Hiệp Đức đã trải qua nhiều lần sát nhập vào các huyện khác nhau như: ThăngBình, Tiên Phước, Quế Sơn, Phước Sơn.

Tháng 12 năm 1985, xuất phát từ đặc điểm tình hình cụ thể và theo nguyệnvọng của đông đảo nhân dân, Chính phủ đã quyết định thành lập huyện Hiệp Đức,gồm 10 xã và 1 thị trấn

Tính đến cuối năm 1999, dân số Hiệp Đức là 37.515 người với 8328 hộ Mật

độ dân số là 76 người/km2 Người Kinh chiếm 94,54% dân số Số người trong độtuổi lao động là 20.317 người (chiếm 54,14% dân số toàn huyện), trong đó có khảnăng lao động là 19.870 người (chiếm 52,96%)

Nằm sâu ở phía tây Hiệp Đức có 2 xã Phước Gia và Phước Trà, là địa bànsinh sống của của đồng bào Bhnoong (dân tộc Giẻ Triêng) và Cadoong, chiếm5,46% dân số toàn huyện Đây là khu vực xa trung tâm, nghèo nàn, lạc hậu nhấthuyện

Về kinh tế, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, hơn 80% (năm 2000) với 91,6%lao động nông nghiệp Lâm nghiệp có một vị trí quan trọng trong cơ cấu tổng thểcác ngành kinh tế Hiện nay toàn huyện có 16.256ha rừng tự nhiên và 1.515 ha rừngtrồng Các ngành tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhìn chung là quy mô nhỏ bé,phát triển chậm, chủ yếu là xay xát gạo, ép đường thủ công, ép dầu lạc và chế biếnnông lâm sản tại địa phương như: sản xuất dầu thực vật, gia công song mây xuấtkhẩu và sản xuất hàng mộc dân dụng

Về tình hình chính trị, Hiệp Đức là vùng đất có truyền thống đấu tranh cáchmạng, đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhândân vì những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước Hiện nay, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Đức đang đoàn kết, nỗ lực khắc phụckhó khăn, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội, tập trung phát triển kinh tế,cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, với âm mưu diễn biến hoà bình của kẻ thù,

Trang 4

đòi hỏi cán bộ, đảng viên, nhân dân đề cao cảnh giác, đoàn kết, phấn đấu xây dựngHiệp Đức phát triển ổn định và giàu mạnh

Về tình hình xã hội: trong những năm qua, Hiệp Đức đã chú trọng thực hiệnhiệu quả nhiều chính sách xã hội như xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ vàng tiếtkiệm cho các gia đình chính sách, chi nhiều tỷ đồng cho chương trình XĐQN Tuy nhiên, bên cạnh đó, thực trạng gia tăng các tệ nạn xã hội, phân hoá giàunghèo đang tồn tại và là vấn đề bức xúc, cần tập trung giải quyết hiện nay

Về văn hoá: Hiệp Đức là vùng đất hiếu học, trong thời phong kiến đã có nhiềungười đỗ đạt cao Hiện nay, nhiều con em của huyện đã và đang học tại nhiều trườngđại học lớn trên cả nước Đây là nguồn nhân lực quan trọng, đáp ứng yêu cầu pháttriển của Huyện trong giai đoạn hiện nay Mặt khác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt

và lịch sử đấu tranh gian khổ đã hình thành con người Hiệp Đức với nét tính cách:kiên trì, bền bỉ, chịu thương, chịu khó, dám đương đầu với mọi thử thách Tuynhiên, do ảnh hưởng của nền sản xuất nông nghiệp, con người nơi đây cũng ít nhiềumang tư tưởng tiểu nông, kém năng động, quen thụ động, trông chờ, ỷ lại Điềunày cản trở không nhỏ đến quá trình phát triển sản xuất ở Huyện, đặc biệt là trongthực hiện các mô hình kinh tế mới

Mặc dù điều kiện tự nhiên, xã hội có nhiều khó khăn nhưng thuận lợi vẫn là

cơ bản Đây chính là tiền đề quan trọng để Hiệp Đức nỗ lực phấn đấu xây dựngthành một huyện: “vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, có đờisống vật chất và văn hoá của nhân dân phát triển” [8,49]

- Thực trạng đói nghèo ở huyện Hiệp Đức:

+ Một số tiêu chí đánh giá đói nghèo

Căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, Bộ Lao động, Thương binh

và Xã hội đã công bố chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005 như sau: những người cóthu nhập dưới mức quy định như sau được xếp vào nhóm hộ nghèo:

Trang 5

Vùng đô thị là 150.000VNĐ/người/tháng (1,8 triệu/người/năm) tương đươngvới khoảng 0,33USD/người /ngày.

Vùng nông thôn đồng bằng là 100.000VNĐ/người/tháng (1,2triệu/người/năm)

Vùng nông thôn miền núi là 80.000 VNĐ/người/tháng (0,96triệu/người/năm)

Ngoài tiêu chí xác định hộ nghèo, Việt Nam còn có tiêu chí xác định xãnghèo và xã đặc biệt khó khăn Xã đặc biệt khó khăn là xã dựa trên 5 tiêu chísau:

Một là, vị trí địa lý của xã xa trung tâm kinh tế-xã hội, xa đường quốc lộ, giao

thông đi lại khó khăn

Hai là, môi trường xã hội chưa phát triển, trình độ dân trí thấp, còn nhiều tập

tục lạc hậu

Ba là, trình độ sản xuất lạc hậu, chủ yếu mang tính tự cấp, công cụ thô sơ Bốn là, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống thấp.

Năm là, hạ tầng cơ sở chưa phát triển, chưa đủ các công trình thiết yếu như

điện, đường giao thông, trường học, trạm xá, nước sạch, chợ xã…

Xã nghèo là xã dựa trên 2 tiêu chí sau: Tỉ lệ hộ nghèo trên 25%, chưa đủ 3trên tổng số 6 công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu (điện, đường giao thông, trườnghọc, trạm y tế, chợ và nước sạch)

+ Thực trạng đói nghèo ở huyện Hiệp Đức

Hộ đói nghèo: Để đánh giá đúng thực trạng đói nghèo ở Hiệp Đức phải căn

cứ vào 2 tiêu thức: thu nhập và khả năng tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ xã hội.Bởi vì đây là 2 tiêu thức cơ bản, phản ánh trực tiếp mức sống hay mức độ thực

Trang 6

hiện các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của đời sống, làm cơ sở xác định chuẩn mực,giới hạn hộ đói nghèo.

Về tiêu thức thu nhập: căn cứ vào chuẩn nghèo được Bộ Lao động, Thươngbinh và Xã hội công bố và mức sống thực tế của địa phương, tỉnh Quảng Nam đãxác định chuẩn đói nghèo với hộ dân cư sinh sống trên địa bàn Tỉnh giai đoạn từnăm 1993 đến năm 1995 là: hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới mứcquy định như sau:

Đối với khu vực thành thị là 70.000VNĐ/người/tháng (0.84 triệu/người/năm).Đối với khu vực nông thôn đồng bằng là 50.000 VNĐ /người/tháng (0,6 triệu/người/năm)

Đối với khu vực nông thôn miền núi là 40.000VNĐ/người/tháng (0,48triệu/người/ năm)

Theo chuẩn nghèo đã được xác định ở trên, năm 1993 trên toàn huyện có

5052 hộ với 23.659 khẩu thuộc diện đói nghèo chiếm tỷ lệ 66,67% dân số toànhuyện, trong đó có 1859 hộ với 8516 khẩu thuộc diện đói, chiếm 23,97% [17, 1].Năm 1995 toàn huyện có 4320 hộ thuộc diện đói nghèo (chiếm 45,64% tổng số hộ)với số khẩu thuộc diện nghèo đói là 18.556 khẩu (chiếm 46,26% tổng số dân toànhuyện), trong đó có: 2869 hộ nghèo (chiếm 30,57%) và 1451 hộ đói (chiếm15,69%), 11.725 khẩu nghèo (chiếm 29,61%) và 6831 khẩu đói (chiếm 16,65 %).Hai xã có tỷ lệ hộ đói nghèo cao nhất là xã Bình Lâm (889 hộ với 3645 khẩu) và xãQuế Thọ (774 hộ với 3019 khẩu) [19, 15]

Về tiêu thức khả năng tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội của ngườinghèo Qua con số thống kê hàng năm của phòng Lao động, Thương binh và Xãhội cho thấy tình trạng thiếu thốn khá toàn diện về khả năng tiếp cận và hưởng thụcác dịch vụ xã hội của người dân Hiệp Đức Năm 1991, toàn Huyện có trên 80%các hộ gia đình ở nhà tranh vách đất, tỉ lệ hộ có nhà ngói chỉ đạt 17% [11, 180].Chỉ có 50% số xã có đường dây truyền thanh của huyện vươn tới, người dân chưa

Trang 7

được tiếp cận với thông tin truyền hình [11, 180], mạng điện lưới quốc gia chưađược hạ thế, toàn huyện phải sử dụng đèn dầu Cả huyện với diện tích 49177 ha vàdân số hơn 37000 người nhưng chỉ có 2 chợ hoạt động, không đáp ứng được yêucầu trao đổi, mua bán của người dân Về giáo dục, vẫn còn 6,2% phòng học phổthông và 26,6% phòng học mẫu giáo ở dạng tạm bợ tranh, tre, nứa [11, 191] Trungbình 3,5 người dân mới có 1 người đi học Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 49,5%, tỉ

lệ tiêm chủng cho trẻ em mới đạt 57%, tỉ lệ sốt rét là 4,4% [11, 192] Đặc biệt, đếnnăm 1995, ở 2 xã Phước Gia, Phước Trà vẫn còn một bộ phận đồng bào dân tộcthiểu số chưa được định canh, định cư Ở Phước Gia là 30 hộ, Phước Trà là 47 hộ [

Những con số trên đã phác hoạ một bức tranh chung nhất về thực trạng đóinghèo ở huyện Hiệp Đức Điều đó cũng cho thấy, đối với Đảng bộ huyện Hiệp Đức,XĐGN thật sự là một yêu cầu cấp bách, cần phải tập trung giải quyết

- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo ở huyện Hiệp Đức.

Nghèo đói ở huyện Hiệp Đức là hậu quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân Cóthể phân chia thành 3 nhóm cơ bản sau:

Một là, nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, xã hội

không thuận lợi

Trang 8

Về môi trường tự nhiên không thuận lợi, đó là: đất đai ít màu mỡ, cằn cỗi, độdốc lớn, bị ảnh hưởng của bom mìn, chất độc hoá học Đây là nguyên nhân làmcho năng suất cây trồng, vật nuôi thấp, thu nhập người lao động không đủ ăn,không có điều kiện tái sản xuất mở rộng Vị trí địa lý không thuận lợi, xa các trungtâm, giao thông cách trở, đi lại khó khăn cũng là nguyên nhân dễn đến đói nghèo ởhuyện Ngoài ra, đói nghèo còn do điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, thườngxuyên xảy ra hạn hán, lũ lụt.

Bên cạnh đó, môi trường kinh tế thiếu thốn về giao thông, điện, nước… mộtmặt làm ảnh hưởng đến khả năng sản xuất, mặt khác làm cho người dân không cóđiều kiện tham gia nền kinh tế hàng hoá, đặc biệt là đối với 2 xã vùng sâu là PhướcGia và Phước Trà Ở đây vẫn đang tồn tại kiểu kinh tế tự cấp, tự túc, sản xuất lạchậu: chọc lỗ, tỉa hạt…

Môi trường xã hội vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục như ma chay, cưới xin, cúngbái tốn kém; các vấn đề y tế, giáo dục, văn hoá chưa đáp ứng đủ yêu cầu, làm chongười dân không tiếp cận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, học tập, đào tạonghề…

Hai là, nhóm nguyên nhân thuộc về chủ quan người nghèo Đây là nhóm

nguyên nhân cơ bản nhất, quyết định chủ yếu đến tình trạng nghèo đói ở huyệnHiệp Đức, biểu hiện:

Thứ nhất, nghèo đói do không có kinh nghiệm làm ăn, không biết cách sản

xuất kinh doanh Do vậy, hiệu quả lao động sản xuất thấp, kinh tế luôn ở tình trạngbấp bênh Qua điều tra trong tổng số 2517 hộ đói nghèo năm 2001 có đến 693 hộthiếu kinh nghiệm làm ăn, chiếm 27,53% [18, 1]

Thứ hai, nghèo đói do thiếu hoặc không có vốn Đây là nguyên nhân rất quan

trọng, vì thiếu vốn, người lao động không có điều kiện tham gia vào kinh tế Quađiều tra như trên, có 280 hộ thiếu vốn, chiếm 11,12%

Trang 9

Thứ ba, nghèo đói do thiếu lao động, đông người ăn theo Nguyên nhân này

rơi vào những gia đình đông con, nhưng con còn nhỏ, do đó, người làm thì ít,người ăn thì nhiều, thu nhập không đủ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng Vì vậy họrơi vào đói nghèo Thiếu lao động còn rơi vào những gia đình già cả, neo đơn,không nơi nương tựa Đối với những gia đình này, Huyện phải thường xuyên dùngchính sách trợ cấp để bảo đảm cuộc sống cho họ Qua điều tra, có tổng số180/2517 hộ thuộc diện thiếu lao động, chiếm 7,15%, 567/2517 hộ đông người ăntheo, chiếm 22,52%

Ngoài ra, nghèo đói còn do không có việc làm, do gặp rủi ro, bệnh tật, dothiếu đất sản xuất và do một bộ phận người dân mắc phải các tệ nạn xã hội như cờbạc, ma tuý, thậm chí do chây lười lao động

Ba là, nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách như thiếu đồng bộ về

chính sách đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn; chính sáchkhuyến nông, khuyến lâm, vốn tín dụng, đào tạo nghề; chính sách định cư… Bêncạnh đó, chính quyền và đội ngũ cán bộ làm công tác XĐGN ở một số xã còn yếu

về năng lực, trách nhiệm…

Mỗi đối tượng đói nghèo có nguyên nhân riêng, có thể có một hoặc nhiềunguyên nhhân, việc phân loại chúng chỉ là tương đối Thông thường, các nguyênnhân đan xen, tác động lẫn nhau Do đó, để XĐGN có hiệu quả, phải tìm hiểu, xácđịnh đúng nguyên nhân, đặc biệt là nguyên nhân cơ bản đối với từng đối tượng cụthể

1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Hiệp Đức về xoá đói giảm nghèo từ

1996 đến 2005

- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xoá đói giảm nghèo.

Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định chỉ có tiến hành cách mạng vô sản, xoá

bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội XHCN, thì mới xoá bỏđược mọi áp bức, bóc lột, bất công, mọi người sống bình đẳng và không có đóinghèo

Trang 10

Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, thấu hiểu ước nguyện của nhân dân laođộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng đấu tranh để xây dựng một xã hội mới

ở Việt Nam, xã hội XHCN mà trong đó: “nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sungsướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, nhữngphong tục tập quán xấu dần dần được xoá bỏ Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chấtngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt” [13, 591]

Phấn đấu vì mục tiêu đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng

ta luôn quan tâm sâu sát đến mọi mặt đời sống nhân dân Tuy nhiên, một thực tế làhiện nay, nước ta vẫn đang là một trong những nước nghèo nhất thế giới Các chỉtiêu kinh tế bình quân đầu người rất thấp, tỉ lệ hộ đói, nghèo cao, tập trung ở nôngthôn với sản xuất thuần nông, quy mô nhỏ và lạc hậu Do vậy, XĐGN là một yêucầu cấp bách đặt ra, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo đúng đắn và kịp thời của Đảng ta.Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “Cùng với quá trình đổimới, tăng trưởng kinh tế, phải tiến hành công tác xoá đói giảm nghèo, thực hiệncông bằng xã hội, tránh sự phân hoá giàu nghèo quá giới hạn cho phép” [2, 73].Trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2000, Đảng cũng nêu rõ: “Lấy phânphối theo lao động làm hình thức chính, khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm sốngười nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế” [1,9] Đến Nghị quyết Trung ương 5 khoá VII, chủ trương XĐGN được cụ thể hoáthêm: “Phải trợ giúp người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn,hình thành quỹ xoá đói giảm nghèo ở địa phương trên cơ sở giúp dân, Nhà nướcgiúp dân và tranh thủ các nguồn tài chính quốc tế, phấn đấu tăng hộ giàu, đi đôi vớixoá đói giảm nghèo” [5, 52]

Như vậy, quan điểm chỉ đạo XĐGN nhất quán của Đảng ta là:

Một là, cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công

cuộc XĐGN, thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giới, giảm sự phân hoá giàunghèo

Trang 11

Hai là, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp, đi đôi với XĐGN bền

vững, chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn

Ba là, XĐGN là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà

nước, XĐGN là một cuộc cách mạng sâu sắc, là phong trào của quần chúng, nhất

là ở địa phương, cơ sở

Bốn là, hình thành được hệ thống chính sách và chương trình mục tiêu quốc

gia XĐGN, tập trung nguồn lực để xoá nhanh các hộ đói, xã đặc biệt khó khăn,giảm mạnh các hộ nghèo, xã nghèo

Năm là, thực hiện xã hội hoá công tác XĐGN, đa dạng hoá các nguồn lực

trong nước, phát huy nội lực tại chỗ và tranh thủ hợp tác, trợ giúp quốc tế, tạothành phong trào sôi động trong cả nước, lấy ngày 17 tháng 10 hàng năm làm

“Ngày vì người nghèo”

- Chủ trương của tỉnh Quảng Nam về xoá đói giảm nghèo.

Quảng Nam là một tỉnh thuộc Duyên hải Trung trung bộ, có diện tích tự nhiên

là 10.406km2, dân số gần 1,5 triệu người Phía Tây giáp với nước Lào anh em, cóđường biên giới dài 142km, phía Đông giáp với biển Đông, có bờ biển dài 125km,phía Bắc giáp với Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng; Nam và Tây Nam giápvới tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum Đây là vùng đất có ý nghĩa chiến lược về cảkinh tế, văn hoá và quốc phòng an ninh [16, 15]

Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, trongnhững năm qua, nhân dân Quảng Nam đã chung sức, chung lòng, vượt qua nhiềukhó khăn, thử thách để xây dựng và phát triển các phong trào thi đua yêu nước,tiến công mạnh mẽ đói nghèo, lạc hậu và đã đạt được nhiều thành tích khả quan.Tuy nhiên, trên thực tế, Quảng Nam vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn trong quátrình đổi mới và phát triển, đặc biệt là vấn đề đói nghèo Hiện nay, ở Quảng Nam,

tỉ lệ đói nghèo vẫn ở mức cao, năm 1997 là 27,3%, năm 2001 là 23,27% hộ đóinghèo, 124 xã chưa có trường Trung học cơ sở, 33 xã chưa có đường ô tô đến

Trang 12

trung tâm xã, 108 xã chưa có chợ, 53 xã chưa có điện thoại, 88 xã chưa có trạmtruyền thanh Bình quân mỗi năm có gần 25000 lao động cần việc làm, trong khikhả năng của Tỉnh chỉ giải quyết được hơn 20000 lao động; số lao động qua đàotạo khoảng 14%, tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 5,65%, tỉ lệ sử dụng thờigian lao động ở nông thôn là 77,5% [15, 1] Đánh giá về công tác XĐGN trongnhững năm qua, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam đã chỉ rõ: “Chủ trương xoá đói giảmnghèo, giải quyết việc làm, tuy đã được tập trung chỉ đạo, nhưng triển khai trênthực tế còn nhiều lúng túng, hiệu quả thấp, tỉ lệ đói nghèo vẫn còn cao Đời sốngnhân dân miền núi, vùng cao, vùng xa, vùng cát ven biển, vùng căn cứ cách mạngtrước đây còn nhiều khó khăn, lao động chưa có việc làm còn lớn, nhất là ở nôngthôn” [7, 45].

Để khắc phục tình trạng đó, tiếp tục đẩy mạnh XĐGN, nâng cao đời sốngnhân dân, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam đã có chủ trương cụ thể chỉ đạo công tácXĐGN trên địa bàn Tỉnh

Mục tiêu, phấn đấu đến cuối năm 2005 đạt được:

+ Giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống dưới 10% (theo tiêu chuẩn mới) đến năm 2005,

cơ bản không còn hộ đói

+ Bảo đảm 100% các xã nghèo có đủ các công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu(thuỷ lợi nhỏ, trường học, trạm y tế, đường dân sinh, trạm điện, nước sinh hoạt…)giảm số xã nghèo xuống còn 70 xã vào cuối năm 2005

+ Mỗi năm giải quyết việc làm cho 20 đến 25 nghìn lao động

+ Bảo đảm cho khoảng 75-80% số hộ nghèo được tiếp cận với các dịch vụ cơbản và các chính sách ưu đãi đối với hộ nghèo; 100% số hộ nghèo được vay vốn

Trang 13

+ Cơ bản xoá tình trạng nhà dột nát, xiêu vẹo của hộ nghèo.

Về chủ trương, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam xác định:

Một là, phát triển kinh tế đi đôi với XĐGN bền vững.

Nhà nước tập trung đầu tư cho phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, cácvùng kinh tế động lực để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Vùng kinh tế độnglực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các địa phương giàu phải có trách nhiệm hỗ trợcác địa phương nghèo, tham gia tích cực vào thực hiện các chính sách, dự ánXĐGN Đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy việc làm theo hướng sản xuất hànghoá, xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thunhập cho người nghèo

Hai là, tạo cơ hội và điều kiện để người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo tiếp cận

các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội cơ bản

Bảo đảm cho các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, khuyến nông,lâm, ngư và hướng dẫn cách làm ăn, cho vay vốn, giáo dục, y tế… đến với ngườinghèo, xã nghèo, tạo điều kiện cho họ phát triển sản xuất, nâng cao dân trí Trướchết bằng các giải pháp phù hợp hỗ trợ cho người nghèo về xoá mù chữ, chăm sócsức khoẻ ban đầu, khám chữa bệnh, kế hoạch hoá gia đình… để tăng tỉ lệ ngườinghèo được hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, từng bước nâng cao chất lượngcác dịch vụ

Ba là, huy động, bố trí nguồn lực, tập trung đầu tư cho các địa bàn trọng điểm

và các hoạt động ưu tiên

Đầu tư cơ sở hạ tầng ở các vùng này là tập trung giải quyết trước các côngtrình phù hợp với nhu cầu thiết yếu của nhân dân để bảo đảm điều kiện phát triểnkinh tế và ổn định đời sống như thuỷ lợi, trường học, trạm y tế

Các hoạt động ưu tiên là cung cấp tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, đào tạo,nâng cao năng lực cán bộ làm công tác XĐGN (đặc biệt là đào tạo giảng viên vàcán bộ cấp cơ sở, kể cả cán bộ tăng cường), hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

Ngày đăng: 06/10/2013, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w