Vai trò, vị trí đội ngũ đảng viên trong sự nghiệp cách mạng Các Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên nêu lên những tư tưởng cơbản về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân và
Trang 1YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC (1996 – 2005)
1.1 Yêu cầu khách quan về xây dựng đội ngũ đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1996 – 2005)
1.1.1 Vai trò, vị trí đội ngũ đảng viên trong sự nghiệp cách mạng
Các Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên nêu lên những tư tưởng cơbản về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân và chỉ rõ giai cấp công nhânmuốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tưbản và đứng ra xây dựng xã hội mới xã hội cộng sản, họ phải tự trở thành một giaicấp
Giai cấp công nhân chỉ hành động với tư cách là một giai cấp khi biết tự tổchức ra chính đảng riêng biệt, độc lập về chính trị, tư tưởng và tổ chức Hai ôngcho rằng: Đảng phải là một đội ngũ có tổ chức tập trung chặt chẽ, là một khốithống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức Đảng như một cơ thể chính trị xã hộisống, được cấu tạo từ những tế bào là đảng viên cộng sản Do đó, đảng viên cộngsản phải là người kiên quyết nhất, có giác ngộ lý luận tiên tiến, biết lãnh đạo quầnchúng hành động
Dưới sự lãnh đạo và hoạt động, tổ chức cộng sản đầu tiên trên thế giới do Mác
và Ăngghen thành lập: “Liên đoàn những người cộng sản” có nhiệm vụ truyền bá
tư tưởng cách mạng trong giai cấp công nhân Liên đoàn được tổ chức và hoạt
động trên cơ sở “Điều lệ Liên đoàn những người cộng sản” Điều lệ qui định rõ tôn
chỉ, mục đích của Liên đoàn, các tiêu chuẩn hội viên, hệ thống tổ chức và qui chếkết nạp, quản lý hội viên
Kế thừa và phát triển tư tưởng của Mác-Ăngghen, Lênin đã kiên trì nhữngnguyên tắc cơ bản về vấn đề đảng viên Đồng thời, phát triển cụ thể hoá những quan
Trang 2điểm đó trong hoàn cảnh cụ thể Người cho rằng: Đảng là một chỉnh thể, là một tổchức chính trị Đảng viên là linh hồn của tổ chức đảng, chất lượng đảng viên quyếtđịnh chất lượng tổ chức đảng, quyết định chất lượng lãnh đạo của Đảng Vì vậy, cốtlõi của việc xây dựng tổ chức là xây dựng đội ngũ đảng viên Lênin nhiều lần chỉ rõđội ngũ đảng viên là lực lượng quyết định để giải quyết mọi nhiệm vụ của Đảng đặcbiệt trong những nhiệm vụ khó khăn nhất, Đảng nhất định và chỉ có thể dựa vào độingũ đảng viên trung kiên của mình Những sai lầm trong công tác đảng viên là rất
nguy hiểm, có thể làm cho Đảng “hòa tan” trong quần chúng Đảng không còn là đội tiền phong giác ngộ của giai cấp nữa khi đó chắc chắn “sẽ là một thời kỳ bi thảm”.
Để thành lập đảng vô sản kiểu mới, Lênin đã đấu tranh chống các quanđiểm cơ hội chủ nghĩa dưới mọi màu sắc Song, cuộc chiến đấu diễn ra gay go,quyết liệt nhất xung quanh vấn đề xác định điều kiện của người được kết nạp
vào Đảng Theo Lênin: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh của Đảng và ủng hộ Đảng bằng những phương tiện vật chất cũng như bằng cách tự mình tham gia một trong những tổ chức của Đảng, thì được coi là đảng viên ”
[14, 268] Bọn cơ hội chủ nghĩa, đứng đầu là Mác Tốp cũng đưa ra điều kiện của
người được kết nạp vào Đảng là: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh của Đảng, ủng hộ Đảng bằng những phương tiện vật chất và tự mình giúp đỡ Đảng một cách đều đặn, dưới sự chỉ đạo của một trong những tổ chức của Đảng thì được coi là đảng viên” [14, 268] Lênin phê phán điều kiện của người được kết nạp vào Đảng do Mác Tốp đưa ra, Ông cho đó chỉ là những “câu nói rỗng tuếch”,
bởi vì, Đảng không thể chỉ đạo những người đứng ngoài tổ chức của Đảng Quanđiểm của Mác Tốp muốn biến Đảng thành một câu lạc bộ, một tổ chức lỏng lẻokhông có sức chiến đấu Đảng Cộng sản không chỉ là một tổ chức mà còn là một tổchức cao nhất của giai cấp vô sản Đảng viên phải tham gia trong một tổ chức đảngthì Đảng mới giáo dục kiểm tra và quản lý được họ Điều kiện kết nạp vào Đảng doLênin đưa ra đã được ghi vào Điều lệ Đảng công nhân dân chủ xã hội Nga Thực
Trang 3sự đây là cơ sở lý luận để các Đảng Cộng sản vận dụng vào việc xây dựng đội ngũđảng viên sau này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trong từng giaiđoạn cách mạng, Người đã chú ý tập trung công tác xây dựng Đảng trong đó coitrọng xây dựng đội ngũ đảng viên là vấn đề quyết định chất lượng hoạt động của
chi bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi bộ tốt Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [22, 92].
Đảng viên là người tuyên truyền, giáo dục quần chúng và cùng quần chúng trựctiếp chiến đấu thực hiện đường lối chính sách của Đảng Đảng viên có chất lượngtốt, biết tổ chức, biết vận động quần chúng, bản thân lại tiên phong gương mẫu thìlàm cho vai trò lãnh đạo của Đảng trong quần chúng được tăng cường, mọi nhiệm
vụ cách mạng được thực hiện thắng lợi Có đảng viên tốt thì mới có nguồn dồi dào
để lựa chọn, đề bạt cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo của Đảng
Vai trò, vị trí của đội ngũ đảng viên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cậpmột cách sâu sắc: Đảng viên luôn luôn là những người gương mẫu thay mặt choĐảng trước quần chúng để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ choquần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành, đây là cầu nối trực tiếp giữa Đảng vớiquần chúng nhân dân Để làm được nhiệm vụ thiêng liêng ấy, đòi hỏi đội ngũ đảng
viên phải gương mẫu và tiên phong trên mọi mặt: “từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu” [19, 188] Điều đó sẽ làm
cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và củaChính phủ
Đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành củanhân dân, sự thống nhất giữa hai mặt đó thể hiện một cách rất khái quát, chínhxác vai trò của người đảng viên, là người lãnh đạo quần chúng Chủ tịch Hồ Chí
Minh yêu cầu: “Người đảng viên ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa
vị nào và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn:
Trang 4Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.
Phải ra sức tham gia công việc kháng chiến.
Phải gần gũi dân chúng, thương yêu giúp đỡ dân chúng, tổ chức và lãnh đạo dân chúng.
Phải giữ vững đạo đức Cách mệnh là chí công vô tư” [19, 190]
Như vậy, là người lãnh đạo quần chúng nhưng đảng viên không xa rời vàkhông đứng trên quần chúng mà gắn bó chặt chẽ với quần chúng một lòng một dạphục vụ quần chúng Mặt khác, là người đầy tớ trung thành của nhân dân nhưngđảng viên không lẫn lộn mình với quần chúng, không theo đuôi quần chúng, mà làchiến sĩ tiên phong, đại biểu chính trị tiên tiến của giai cấp công nhân, biết kết hợpđúng đắn lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân, có trách nhiệm lãnh đạo quầnchúng, có khả năng giáo dục, thuyết phục, hướng dẫn quần chúng hành động cáchmạng theo đường lối của Đảng Hết lòng, hết sức phục vụ quần chúng là một tiêuchuẩn quan trọng bậc nhất của người lãnh đạo Người lãnh đạo phải có đầy đủphẩm chất và năng lực mới lãnh đạo quần chúng tốt được Không có gì cao quí hơndanh hiệu đảng viên cộng sản Để xứng đáng với danh hiệu ấy, người đảng viênphải có đầy đủ tư cách người chiến sĩ cách mạng của giai cấp công nhân, có phẩmchất và năng lực ngang tầm với nhiệm vụ lịch sử mà Đảng phải gánh vác Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên Mọi công việc Đảng điều do đảng viên làm Mọi nghị quyết Đảng đều do đảng viên chấp hành Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng điều do đảng viên cố gắng thực hiện Vì vậy, Đảng cần phải làm cho thành phần đảng viên trong sạch, phải bồi dưỡng và hấp thụ vào Đảng những người tốt trong giai cấp lao động Phải nâng cao trình
độ lý luận và chính trị của đảng viên Phải tăng cường tính tổ chức và tính kỷ luật của đảng viên Phải phát triển tính hăng hái và hoạt động chính trị của đảng viên”
[20, 235-236]
Trang 5Xuất phát từ tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên và vai trò củađội ngũ đảng viên trong thực hiện đường lối chủ trương, chính sách, nghị quyếtcủa Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải thường xuyên xây dựng vàchỉnh đốn nhằm làm cho các thành phần đảng viên trong sạch, nâng cao phẩm chất
và năng lực của đội ngũ đảng viên để thực hiện nhiệm vụ cách mạng Đồng thờiphải lựa chọn những người tốt trong giai cấp lao động kết nạp vào Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam, từ ngày thành lập cho đến nay luôn luôn đặc biệt quantâm đến xây dựng đội ngũ đảng viên Đảng coi vấn đề đảng viên là một vấn đề chủyếu trong công tác xây dựng Đảng Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phụthuộc một cách quyết định vào chất lượng đội ngũ đảng viên Đảng là cơ thể chính trị
- xã hội sống, đảng viên là những tế bào cấu tạo nên Đảng, Đảng mạnh là do chi bộtốt, từng đảng viên mạnh Đảng viên là chiến sĩ tiên phong của giai cấp công nhân làngười thay mặt Đảng dẫn dắt quần chúng
Đảng viên là người tham gia hoạch định đường lối chính sách của Đảng đểlãnh đạo cách mạng đồng thời là người quyết định tổ chức thực hiện thắng lợiđường lối, chính sách đó Có đường lối chính trị đúng thì mới có cơ sở xây dựngđội ngũ đảng viên đúng nhưng xét đến cùng đảng viên có vai trò to lớn, có ý nghĩaquyết định sự thành bại của đường lối cả về xây dựng và tổ chức triển khai thựchiện Đội ngũ đảng viên có chất lượng tốt là yếu tố quan trọng đảm bảo cho Đảngvững vàng, sáng tạo trong xây dựng đường lối chính trị cũng như trong tổ chứcthực hiện
Đội ngũ đảng viên là tiền đề xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng Xét trongmối quan hệ Đảng với quần chúng thì bản thân mọi đảng viên là cán bộ của Đảng,
vì đảng viên gắn liền với tổ chức, bất cứ đảng viên nào cũng phải thực hiện sự lãnhđạo của Đảng Có những đảng viên ưu tú mới cung cấp cho Đảng, Nhà nướcnhững cán bộ tốt, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ lịchsử
Trang 6Đảng viên là cầu nối duy trì mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng: sức mạnhcủa Đảng không chỉ ở bản thân Đảng mà là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân Quan
hệ giữa Đảng với quần chúng là mối quan hệ máu thịt có ý nghĩa sống còn đối với
Đảng Đảng viên là người “thay mặt” Đảng, sống và làm việc cùng với quần chúng
thực hiện nhiệm vụ của Đảng Lênin đã chỉ rõ: Đảng viên sống trong lòng quầnchúng Biết tôn trọng quần chúng Biết tất cả Hiểu quần chúng Biết đến với quầnchúng, giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:lời nói và việc làm của đảng viên rất quan hệ đến sự nghiệp cách mạng vì nó ảnhhưởng đến quần chúng Nếu đảng viên phạm sai lầm thì sẽ đưa quần chúng đến sailầm Trong cách mạng XHCN mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được thể hiện ởcương lĩnh chính trị, đường lối, chính sách của Đảng, thông qua hoạt động của hệthống tổ chức nhà nước và các đoàn thể nhân dân nhưng trực tiếp nhất là thông quahoạt động của đội ngũ đảng viên ở các tổ chức chi bộ đảng
Tóm lại, công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác xây dựng đội ngũđảng viên nói riêng vốn đã quan trọng, hiện nay trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH việc xây dựng đội ngũ đảng viên càng quan trọng hơn Sự sụp đổ chủnghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô đã làm thay đổi cục diện thế giới Chủnghĩa đế quốc và các thế lực phản động tìm mọi cách làm mất uy tín củaĐảng… Một số cơ sở, đảng viên đông nhưng tổ chức không mạnh Chính vì thế,trên cơ sở quán triệt các nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới, nắm vững mụctiêu, nguyên tắc, yêu cầu, phương châm xây dựng chỉnh đốn Đảng, cần kịp thờikhẳng định được vai trò, vị trí đội ngũ đảng viên từ đó có những chủ trươngphát huy mạnh mẽ tính tiền phong gương mẫu, phẩm chất và năng lực của họgóp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt NamXHCN
1.1.2 Thực trạng đội ngũ đảng viên và công tác xây dựng đội ngũ đảng viên trước năm 1996
Trang 7Trải qua đấu tranh cách mạng lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luônchăm lo công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấucủa Đảng, trong đó vấn đề xây dựng đội ngũ đảng viên cả về chất lượng và sốlượng có vai trò đặc biệt quan trọng Đảng chỉ mạnh khi các cơ quan lãnh đạo vàtoàn thể đội ngũ đảng viên mạnh Đội ngũ đảng viên hoạt động trong các lĩnh vựccủa đời sống xã hội khác nhau thật sự trong sạch, vững mạnh là cơ sở để xây dựngđội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp đồng bộ, có chất lượng đáp ứng yêu cầunhiệm vụ cách mạng mới Đội ngũ đảng viên là lực lượng nòng cốt trong phongtrào cách mạng của quần chúng, đi đầu trong tổ chức thực hiện đường lối, chủtrương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, là cầu nối giữa Đảng với quầnchúng nhân dân Nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện Đảng lãnh đạo xâydựng đội ngũ đảng viên và công tác phát triển đảng viên trước năm 1996 là cơ sở
để Đảng xác định những quan điểm, chủ trương xây dựng đội ngũ đảng viên vàcông tác đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Cuối năm 1975, Đảng ta có hơn 1,5 triệu đảng viên, đến năm 1995 đã lên tới2.128.742 người Tuy nhiên, có một vài năm số lượng đảng viên giảm; cụ thể, giaiđoạn từ năm 1990 đến năm 1993 Song, nhìn chung đội ngũ đảng viên ngày càngtăng Trong cơ cấu đội ngũ đảng viên, số vào Đảng trước năm 1975 hiện có gần50% Đó là những thế hệ chiến sĩ cách mạng kiên cường trong đấu tranh giànhchính quyền trước Cách mạng Tháng Tám, trong kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ Nhờ được tôi luyện trong môi trường đấu tranh lâu dài, gian khổ và đầy
hy sinh thử thách, đa số các đồng chí có tinh thần kiên định lập trường cách mạng,
có kinh nghiệm trong việc thực hiện vai trò lãnh đạo và công tác vận động quầnchúng Số đảng viên vào Đảng sau năm 1975 ngày càng tăng: giai đoạn đất nướcđổi mới tăng từ 2.027.638 (năm 1986) lên 2.165.337 (năm 1989), số lượng đảngviên kết nạp ngày càng tăng: năm 1993 kết nạp 49.817 đảng viên, năm 1994 kếtnạp 58.612 đảng viên, năm 1995 kết nạp 85.922 đảng viên [9, 78] Một bộ phận
Trang 8các đồng chí này được rèn luyện, thử thách trong những năm cuối cuộc khángchiến chống Mỹ, đa số trưởng thành trong những năm hoà bình xây dựng đất nước.Đội ngũ này có mặt mạnh cơ bản là tuổi còn trẻ, sức khoẻ tốt, có trình độ kiến thức
về học vấn, chuyên môn nghiệp vụ khá, có khả năng tiếp thu, nhạy bén với cáimới
Nhìn chung, đội ngũ đảng viên của Đảng ta có những ưu điểm cơ bản về lòng trungthành và kiên định với mục tiêu lý tưởng, về tinh thần khắc phục khó khăn, tận tuỵ vớinhiệm vụ được giao; số đông tiếp tục phát huy được tính tiền phong gương mẫu, làmnòng cốt và lãnh đạo quần chúng trong sự nghiệp đổi mới Công tác kiểm tra việc chấphành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng được đẩy mạnh, trong 5 năm 1991 - 1996 đãkiểm tra 2,5 triệu lượt đảng viên và trên 6 vạn tổ chức đảng [23, 61] Từ đó đã nâng caođược một bước phẩm chất đạo đức và năng lực công tác của một bộ phận đáng kể đảngviên Không hiếm những đảng viên dù ở cương vị nào cũng đều thể hiện mình là chiến sĩcộng sản có lý tưởng và hành động theo đường lối của Đảng Trong đó nhiều đảng viênrất năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước dân, trướcĐảng; tìm mọi cách thực hiện sáng tạo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, có
ý thức tổ chức kỷ luật, chú trọng xây dựng sự đoàn kết nội bộ, đoàn kết toàn dân; bảnthân sâu sát công việc và làm việc khẩn trương chất lượng hiệu quả hơn Họ là nhữngtấm gương về lời nói đi đôi với việc làm, và dần dần biết làm việc trong điều kiện kinh tếthị trường
Trình độ học vấn, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ đảngviên dần dần được nâng lên Số đảng viên có trình độ lý luận học vấn phổ thông,trung học chuyên nghiệp, trình độ đại học và cao đẳng, giáo sư, phó giáo sư ngàycàng tăng Số đảng viên có trình độ học vấn tiểu học (cấp I) giảm dần từ 14,1%(năm 1991), xuống 11,3% (năm 1995) và 10,4% (năm 1997) Số đảng viên có trình
độ học vấn trung học phổ thông (cấp III) ngày càng tăng, năm 1991 là 25,1% tănglên 28,2% (năm 1995) Số đảng viên có trình độ trung học chuyên nghiệp tăng từ
Trang 99,8% (năm 1986) lên 11,6% (năm 1995) Số đảng viên có trình độ đại học và caođẳng tăng từ 7,9% (năm 1986) lên 15,4% (năm 1997) và đảng viên có trình độ tiến
sĩ, phó giáo sư, giáo sư ngày càng tăng (từ 6.751 người năm 1993 lên 9.346 ngườinăm 1996) Mặt khác, số đảng viên có trình độ trung cấp, cao cấp lý luận ngàycàng tăng Trong đó trung cấp lý luận tăng từ 8,8% (năm 1986) lên 17,1% (năm1995); cao cấp lý luận tăng từ 1,5% (năm 1986) lên 2,2% (năm 1991) và 2,4%(năm 1997) [2, 248-282] Năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ đảng viên đã cónhiều tiến bộ, ngày một thích ứng và hoạt động có hiệu quả
Đại bộ phận đảng viên có ý thức tổ chức kỷ luật cao, nghiêm chỉnh chấp hànhđường lối, Điều lệ Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, những qui địnhcủa địa phương, phong cách làm việc kiểu thời chiến và trong cơ chế quản lý tậptrung bao cấp đã từng bước được thay đổi, phong cách làm việc khẩn trương, khoahọc được hình thành
Trong công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên, Đảng đã chú trọng cả 3 mặt:giáo dục, bồi dưỡng, chỉnh đốn và phát triển đảng viên mới Từ sau khi có NQTƯ
ba (khoá VII) về đổi mới chỉnh đốn Đảng, công tác đảng viên đã được tăng cườnghơn, tạo một số chuyển biến mới Cấp uỷ và tổ chức đảng đã chú trọng việc kiểmtra, phân tích tình hình đảng viên để có hướng bồi dưỡng nâng cao chất lượng; tiếnhành phân công công tác, giao nhiệm vụ cụ thể cho đảng viên theo địa bàn dân cư,phụ trách các hộ gia đình, theo đơn vị sản xuất kinh doanh các nhóm chuyên đề…
tỷ lệ đảng viên được phân công công tác ở nhiều nơi tăng hơn trước (có nơi 60 70%) Đã bước đầu làm tốt công việc tổ chức và hướng dẫn đảng viên nâng caotrình độ về mọi mặt như mở các lớp bổ túc văn hoá, lý luận chính trị, quản lý kinh
-tế, chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ, ý thức tự vươn lên trong học tập và tudưỡng của đảng viên ở một số nơi, nhất là trong số đảng viên trẻ có sự chuyển biến
rõ hơn Kết quả phân tích chất lượng đảng viên cho thấy, trước khi có NQTƯ ba
Trang 10(khoá VII), số đảng viên đủ tư cách, phấn đấu tốt thường chiếm tỷ lệ 30 – 40%nâng lên 50 – 60%.
Công tác phát triển đảng viên đã được quan tâm và có sự chuyển biến mới Từnăm 1992 đến năm 1995 số đảng viên kết nạp liên tục tăng, riêng năm 1995 tănghơn 2 lần so với năm 1992 Đã khắc phục tình trạng số lượng đảng viên mới kếtnạp liên tục giảm trong 4 năm 1988 - 1991 Thu hẹp hơn diện các thôn xóm, ấp,bản lâu nay chưa có đảng viên Theo thống kê của 17 tỉnh, thành, ở các thôn, xóm,
ấp, bản trong 3 năm 1992 - 1994 đã có thêm 282 nơi có đảng viên và 389 nơi lậpthêm được chi bộ đảng
Bên cạnh những điểm mạnh trong xây dựng đội ngũ đảng viên và công tácgiáo dục rèn luyện đảng viên còn nổi lên một số điểm hạn chế sau đây:
Trong bước ngoặt của cách mạng nước ta hơn mười năm qua nếu như quanđiểm, bản lĩnh, phẩm chất chính trị, tư tưởng và cá nhân của đảng viên được bộc lộ
và phát huy mạnh mẽ không kém gì trong những thời điểm bước ngoặt của cuộccách mạng giải phóng dân tộc trước đây thì những hạn chế, thiếu sót cũng thể hiện
ra khá rõ rệt Từ đó làm phát sinh những vấn đề mới mẻ và khá phức tạp cho côngtác xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi, của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đấtnước
Một bộ phận đảng viên vào Đảng trong thời kỳ chiến tranh và ở một số vùngnông thôn ít có điều kiện được đào tạo, bồi dưỡng có hệ thống, do đó trình độ nănglực công tác bị hạn chế hoặc khó khăn về hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ giảm sút…nên chưa phát huy được vai trò tiên phong và năng lực lãnh đạo theo yêu cầu mới.Một số người đã thoái hoá, biến chất về chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống,lợi dụng chức quyền tham nhũng, làm giầu bất chính nhưng chưa được giáo dục,đấu tranh và xử lý đúng mức, làm giảm sút uy tín của Đảng Trong điều kiện kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ
Trang 11quốc tế, đội ngũ đảng viên của Đảng hàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của nhiềunhân tố rất phức tạp, kể cả những hoạt động chống phá Đảng, cho nên vấn đề giữ vữngbản chất giai cấp công nhân của Đảng đứng trước những thách thức mới là hết sức quantrọng Song phải nói rằng do sự thiếu chuẩn bị đầy đủ cho bước chuyển biến này, nhất
là chưa chú ý đúng mức về công tác giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị và đạo đứcđối với cán bộ, đảng viên nên thường diễn ra tình trạng bất cập trong việc tổ chức quántriệt, thực hiện đường lối, chủ trương và kế hoạch công tác của cấp trên Phần lớn đảngviên chưa thực hiện được yêu cầu ấy Tình hình này không tương xứng với bằng cấp lýluận của đội ngũ cán bộ, đảng viên Vào đầu thập kỷ 90, trong 10 chức danh cán bộ chủyếu của xã (bí thư, chủ tịch xã, chủ nhiệm hợp tác xã, xã đội trưởng, phụ trách các đoànthể thanh niên, phụ nữ, mặt trận nhân dân…) trên phạm vi cả nước thì 8,5% có bằng sơcấp lý luận; 17,5% có bằng trung cấp lý luận [26, 19] Đối với 3 chức danh cán bộ chủchốt cấp xã thì các chỉ số tương ứng là 67% và 23% Ở đồng bằng Bắc Bộ, gần 100%đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ sở nông thôn có trình độ sơ và trung cấp lý luận Hơn40% cán bộ chủ chốt tại vùng này có trình độ trung cấp lý luận [24, 65] Như vậy, sosánh một cách tổng quát với các vùng khác trên cả nước thì trình độ lý luận của đội ngũcán bộ, đảng viên ở Đồng bằng Bắc bộ thuộc diện cao nhất
Tuổi bình quân của đội ngũ đảng viên ngày càng cao (nay là 43,6 tuổi), sốdưới 30 tuổi chỉ có gần 12%; số đồng chí là cán bộ, công nhân viên về hưu ngàycàng nhiều: 27,4% tổng số đảng viên; tỷ lệ đảng viên so với số dân còn chênhlệch nhiều giữa các vùng: miền Bắc 3,5% - 4,5%), miền Trung và Tây Nguyên1,5% - 1,7%, miền Nam 1,1% Còn hàng ngàn thôn xóm, ấp, bản chưa có đảngviên [8, 80]
Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bảnthân, phai nhạt lý tưởng cộng sản, dao động, hoài nghi về con đường đi lên chủnghĩa xã hội, có người công khai bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, quanđiểm của Đảng, phản bội từ bỏ Đảng, mất cảnh giác, giảm ý chí, kém ý thức tổ
Trang 12chức kỷ luật, sa đọa về đạo đức và lối sống Một bộ phận thoái hoá về chính trị,tuy rất ít nhưng hoạt động của họ đã gây hậu quả xấu và ảnh hưởng đến uy tíncủa Đảng Số lượng đảng viên bị xử lý kỷ luật và đưa ra khỏi Đảng từ năm
1991 đến năm 1997 tuy giảm về số lượng (năm 1991 là 4,2%, năm 1995 là1,6%, năm 1997 là 1,2%) Nhưng nội dung vi phạm lại mang tính chất nghiêmtrọng hơn Cụ thể là tham nhũng về kinh tế chỉ tính những vụ tham nhũng bịphát hiện và xử lý từ tháng 7/1990 đến tháng 12/1991 đã tới 1.750 tỷ đồng, 37triệu USD, 2.235 lạng vàng, 36.350 tấn thóc, khoảng 200 tỷ đồng tiền nợ củacác doanh nghiệp nhà nước [5, 25]
Trong công tác đảng viên đáng chú ý là: một số nơi chưa nhận thức đúng vàlàm tốt việc phân tích chất lượng, phân công và kiểm tra công tác của đảng viên;chưa tăng cường đúng mức các biện pháp giáo dục, bồi dưỡng nâng cao trình độkiến thức các mặt và năng lực công tác theo yêu cầu mới, thiếu quan tâm bồidưỡng phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp và trong giai cấp công nhân.Nguồn bổ sung đội ngũ đảng viên cho Đảng ở nhiều nơi nhất là vùng núi, vùngsâu, vùng xa… có nhiều khó khăn và phức tạp
1.1.3 Yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Báo cáo Chính trị được trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IXkhẳng định: Thế kỷ XX là thế kỷ ghi đậm trong lịch sử loài người những dấu ấncực kỳ sâu sắc Đó là thế kỷ khoa học và công nghệ tiên tiến phát triển nhanh chưatừng thấy, giá trị sản xuất vật chất tăng hàng chục lần so với thế kỷ trước; kinh tếphát triển mạnh mẽ xen lẫn những cuộc khủng hoảng lớn của chủ nghĩa tư bản thếgiới và sự phân hoá gay gắt giàu nghèo giữa các nước, các khu vực Những nămđầu của thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ,cùng với đó là sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức làm cho lực lượng sản xuấtvượt bậc, tác động đến tất cả các quốc gia dân tộc Xu hướng toàn cầu hoá, quốc tếhoá nền kinh tế thế giới, cùng hợp tác để phát triển là xu thế khách quan đang lôi