1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

29 543 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành Tựu Và Kinh Nghiệm Bước Đầu Của Đảng Về Xây Dựng Và Phát Triển Thành Phần Kinh Tế Nhà Nước Từ 1996 Đến 2005
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 38,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm tới,cơ chế mới này sẽ tiếp tục phát huy tác dụng, đồng thời không ngừng được điềuchỉnh để phù hợp với sự phát triển năng động của nền kinh tế, thực sự là khunghành lang p

Trang 1

THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo theo những chủ trương chính sách cụ thể, phù hợp với từng thời kỳ

Sự quản lý, lãnh đạo chặt chẽ của Nhà nước với cơ chế quản lý thông thoáng Cơchế cũ đã trở nên lỗi thời, không những không phát huy được tiềm năng của nềnkinh tế, thúc đẩy sản xuất, mà còn kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Vì vậy, cơ chế quản lý mới đã thổi một "luồng gió" mạnh, thúc đẩy các thành phần

kinh tế nói chung, thành phần kinh tế nhà nước nói riêng phát triển nhanh chóng vàmạnh mẽ Đặc biệt, đã chuyển đổi từ cơ chế nhiều cửa, nhiều dấu sang cơ chế mộtcửa, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc nắm bắt cơ hội đầu tư,kinh doanh sản xuất

Đánh giá về thành tựu của việc chuyển đổi thành công cơ chế quản lý kinh

tế, Đảng ta nhận định: Đất nước đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa,hiện đại hóa, tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục giữ ở mức cao và ổn định Cácthành phần kinh tế được tạo điều kiện để phát triển, làm ăn có hiệu quả Đạt đượcnhững thành tựu đó là nhờ đường lối đúng đắn của Đảng, sự quản lý thống nhất

Trang 2

theo pháp luật của Nhà nước, sự điều hành năng động của Chính phủ Đó còn là dotác động tích cực của những cơ chế, chính sách đã ban hành Trong những năm tới,

cơ chế mới này sẽ tiếp tục phát huy tác dụng, đồng thời không ngừng được điềuchỉnh để phù hợp với sự phát triển năng động của nền kinh tế, thực sự là khunghành lang pháp lý trong sạch lành mạnh, góp phần thúc đẩy thành phần kinh tế nhànước tiếp tục lớn mạnh

Hai là, các doanh nghiệp nhà nước ngày càng phát huy ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế, tiếp tục nắm giữ các vị trí then chốt, bảo đảm định hướng phát triển cho nền kinh tế

Các doanh nghiệp nhà nước đã góp phần quan trọng vào nhịp độ tăng trưởngcủa nền kinh tế, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế phát triển với tốc độ khá cao,thì thành phần kinh tế nhà nước còn là yếu tố định hướng cho sự phát triển ổn định,bền vững Các doanh nghiệp công ích hoạt động có hiệu quả, góp phần phát triểnkinh tế - xã hội, ổn định đời sống chính trị - xã hội của đất nước

Trước đây, trong cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp nhànước kinh doanh không vì mục tiêu lợi nhuận bởi sự bảo hộ hoàn toàn của Nhànước Nhà nước cấp phát toàn bộ đầu vào cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệphoạt động có lãi, Nhà nước được hưởng, nếu lỗ thì ngân sách của Nhà nước gánhchịu Rõ ràng điều này là không kích thích doanh nghiệp làm kinh tế vì động cơ lợinhuận, mà vì động cơ hoàn thành kế hoạch nhà nước, bất chấp chi phí sản xuất vàchất lượng sản phẩm Doanh nghiệp không có động cơ phát huy sáng kiến, cải tiến

kỹ thuật, vì kết quả sản xuất kinh doanh không có ảnh hưởng đến thu nhập củadoanh nghiệp Ngày nay, nhờ cơ chế quản lý kinh tế mới nên các doanh nghiệp nhànước đã được giao quyền tự chủ trong chi phí sản xuất, chịu trách nhiệm về hiệuquả sản xuất kinh doanh trước Nhà nước Do vậy, đã kích thích tính sáng tạo củacác doanh nghiệp Tiêu chí để đánh giá sự phát triển của các doanh nghiệp là năngsuất, chất lượng, hiệu quả Định hướng và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát

Trang 3

triển, góp phần vào thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của đất nước Trongnhững năm vừa qua, đặc biệt từ giai đoạn 1996 - 2005, thành phần kinh tế nhànước đã làm tốt điều này Trong những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX và

những năm đầu thế kỷ XXI, do ảnh hưởng mạnh mẽ của cơn "bão táp" tiền tệ

Châu Á, nền kinh tế các nước trong khu vực liên tục suy giảm, có nước tốc độ tăngtrưởng âm Việt Nam cũng chịu sự tác động đó, tuy vậy do sự quản lý chặt chẽ vàthống nhất của Nhà nước với những chính sách thích hợp, đặc biệt sử dụng thànhphần kinh tế nhà nước như một công cụ để ổn định nền kinh tế, chặn đà tuột dốccủa tốc độ tăng trưởng kinh tế Do đó, tốc độ tăng trưởng có giảm trong nhữngnăm từ 1997 - 2001, nhưng vẫn giữ ở mức cao so với các nước trong khu vực vàtrên thế giới

Ba là, thành phần kinh tế nhà nước đã đóng góp lớn vào GDP và ngân sách quốc gia

Thành phần kinh tế nhà nước đã đóng góp 65% tổng số thu của ngân sáchnhà nước và giữ vai trò quan trọng trong đẩy lùi lạm phát, ổn định tài chính, tiền tệ,vật ngang giá trong những năm trước Đại hội lần thứ VIII của Đảng Theo ướctính, tổng giá trị vốn và tài sản của Nhà nước trong tất cả các doanh nghiệp nhànước là 72.200 tỷ đồng Năm 1996 đạt lợi nhuận khoảng 14.000 tỷ đồng Mỗi đồngvốn tạo ra 4 đồng thu và 0,2 đồng lợi nhuận Như vậy, hiệu quả hoạt động của kinh

tế nhà nước có thể ghi nhận được Năm 1997 kinh tế nhà nước chiếm tới 85% tàisản cố định trong công nghiệp của cả nước, trong đó 100% mỏ khoáng sản lớn;83% diện tích cây công nghiệp; 93% lao động được đào tạo Mặc dù so với trước

đó tỷ trọng GDP của các doanh nghiệp nhà nước có giảm vì quá trình sắp xếp vàtinh gọn, nhưng lại đóng góp từ 30 - 35% cho ngân sách nhà nước, trong khi khuvực ngoài quốc doanh chiếm tới 56% GDP nhưng chỉ đóng góp 15% cho ngânsách nhà nước Năm 2005 ước tính đóng góp 39% GDP, chiếm 50% tổng ngânsách nhà nước

Trang 4

Các doanh nghiệp nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là

bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Liên tục trong những nămgần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giảiphóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát triển nội lực vào phát triển kinh tế

- xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạchxuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hộinhư: tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, mở rộng các công trình công cộng,phát triểngiao thông

Theo báo cáo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê thì trong 5 năm trở lạiđây, từ 2001 - 2005, khu vực doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ số doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh có lãi cao hơn và số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bị lỗ cũngthấp hơn, tỷ lệ tổng mức lỗ so với tổng mức lãi cũng thấp hơn các khu vực khác (tỷ

lệ doanh nghiệp có lãi từ 78,8% năm 2000 lên 83% năm 2002 Doanh nghiệp lỗ từ17,5% năm 2000 xuống còn 14,7% năm 2002, tỷ lệ tổng mức lỗ so với tổng mứclãi 10,9%) Đây thực sự là dấu hiệu tích cực, khả quan cho doanh nghiệp nhà nướctrong những năm tiếp theo tiếp tục lớn mạnh Mặc dù số doanh nghiệp 100% vốnNhà nước giảm từ 5.655 (năm 2000) xuống 4.492 (năm 2004), nhưng năng lực sảnxuất xét trên tổng thể vẫn tăng Năm 2003 doanh thu của doanh nghiệp nhà nướcđạt 470.000 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2002 và 69% so với năm 2001, lợinhuận đạt 21.000 tỷ đồng, tăng 10,5% so với năm 2002 và 32,2% so với năm 2001

Bốn là, thành phần kinh tế nhà nước được sắp xếp lại và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả

Qua sắp xếp và đổi mới, số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả bị giảm điđáng kể, hoặc sáp nhập vào công ty khác thành Tổng công ty Tổng kết 15 năm đổimới (1986 - 2000) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho thấy, năm 1990 có12.084 doanh nghiệp, năm 2005 giảm xuống còn 2.980 doanh nghiệp với 100%vốn nhà nước Ngoài ra còn có 670 công ty cổ phần do Nhà nước chi phối trên

Trang 5

51% vốn điều lệ Tổ chức lại khoảng 250 Liên hiệp xí nghiệp quốc doanh và công

ty để hình thành các Tổng công ty nhà nước theo các quyết định 90/TTg và Quyếtđịnh 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ (tính đến tháng 2/2000 cả nước có 17 tổngcông ty)

Theo ước tính, chỉ trong 3 năm, từ 2002 - 2005, cả nước đã thực hiện sắpxếp được 2.857 doanh nghiệp nhà nước; đã thực hiện giao và bán 209 doanhnghiệp; khoán kinh doanh 19 doanh nghiệp, sát nhập và hợp nhất 172 doanhnghiệp; giải thể 66 doanh nghiệp; chuyển thành đơn vị sự nghiệp có thu 58 doanhnghiệp; 22 doanh nghiệp chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệmhữu hạn nhà nước một thành viên Việc bố trí lại các doanh nghiệp nhà nước đãgóp phần giảm bớt gánh nặng về tài chính cho Nhà nước, khắc phục tình trạng cácdoanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả nhưng hàng năm Nhà nướcvẫn phải bảo trợ về vốn Việc tinh giảm các doanh nghiệp nhà nước theo hướngnâng cao chất lượng, hiệu quả còn tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khácphát triển đầu tư hoặc cùng đầu tư vào những lĩnh vực, những ngành nghề màtrước đây các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả thua lỗ, những ngànhnghề ít sinh lời

Năm là, thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đạt kết quả tốt

Cổ phần hoá là một chủ trương đúng đắn của Đảng, một giải pháp quantrọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước Vì vậy, khi

áp dụng vào thực tiễn, đã phát huy tác dụng to lớn, mang lại hiệu quả kinh tế chonhiều doanh nghiệp Tính đến tháng 12/2004 cả nước đã cổ phần hoá được 2242doanh nghiệp nhà nước, riêng năm 2004 cổ phần hoá được 753 doanh nghiệp nhànước Có nhiều doanh nghiệp nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hoá đã đạt đượcnhưng kết quả lớn, hiệu quả kinh tế được nâng lên rõ rệt, quyền chủ động trong tựchủ về vốn và sản xuất kinh doanh được phát huy,đời sống của người lao độngđược quan tâm, cải thiện đáng kể

Trang 6

Qua điều tra cổ phần hoá ở 4 doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh vàgốm xây dựng cho thấy:

Ở Công ty gạch ốp lát Thăng Long - Viglacera, doanh nghiệp chuyên sảnxuất và kinh doanh các sản phẩm gạch ốp lát ceramic và granite cao cấp mangthương hiệu Viglacera Các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty luônphát triển ổn định Với công suất thiết kế 3 triệu m2/năm, năm 2001 sản lượng đạt3,5 triệu m2, năm 2002 đạt 4,2 triệu m2, vượt 40% công suất thiết kế 10 tháng đầunăm 2003 đạt 171 tỷ đồng Giá trị năm 2002 đạt 1,1 triệu USD Thu nhập bìnhquân 1,7 triệu đồng cho một người trong một tháng

Thực hiện chủ trương cổ phần hoá, Đảng uỷ và Ban lãnh đạo công ty đã tiếnhành xây dựng kế hoạch chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần,tuyên truyền phổ biến, giải thích cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp vềcác nội dung cổ phần hoá Chuyển doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo

mô hình công ty cổ phần trước ngày 30 tháng 12 năm 2003 Sau khi thực hiện cổphần hoá doanh nghiệp này tiếp tục sản xuất, kinh doanh có hiệu quả

Ở nhà máy gạch lát hoa và má phanh ô tô Hà Nội các bước cổ phần hoá đãđược tiến hành từ tháng 6 năm 2002 đến cuối năm 2003 đã hoàn thành thủ tục cầnthiết để chuyển doanh nghiệp sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần Thunhập bình quân đầu người trong tháng đã tăng từ 1,5 triệu đồng năm 2002 lên 1,64triệu đồng năm 2003 Tổng doanh thu năm 2002 đạt 40,3 tỷ đồng, nộp ngân sáchnhà nước 1,4 tỷ đồng Năm 2004 dự tính doanh thu 53 tỷ đồng và nộp ngân sách1,9 tỷ đồng Sản xuất kinh doanh tiếp tục phát triển, đời sống người lao động đượccải thiện, hiệu quả của cổ phần hoá được biểu hiện rõ rệt

Ở Công ty gốm xây dựng Đại Thanh, năm 2003 đạt doanh thu 46 tỷ đồng,lợi nhuận thực hiện 3 tỷ, nộp ngân sách 3,3 tỷ đồng, thu nhập bình quân cho ngườilao động trong một tháng là 1.080.000 đồng Đến cuối năm 2003 đã hoàn thành tốtviệc xác định giá trị doanh nghiệp, một phần quan trọng nhất trong tiến trình cổ

Trang 7

phần hoá Sau khi thực hiện cổ phần hoá, doanh nghiệp tiếp tục làm ăn có hiệu quả,doanh thu tăng hơn trước, đời sống người lao động tiếp tục được cải thiện.

Ở Công ty gốm xây dựng Từ Sơn, một đơn vị sản xuất gạch ngói đất sétnung, có quy mô lớn Công ty được Tổng công ty cho phép tách nhà máy gốm xâydựng Đông Anh, một trong 3 nhà máy trực thuộc công ty để thực hiện cổ phần hoá

Từ tháng 6 năm 2002 công ty đã khẩn trương xây dựng kế hoạch và triển khai cácbước của quá trình cổ phần hóa Sau khi xét duyệt, ngày 27 tháng 8 năm 2003, BộXây dựng đã có quyết định phê duyệt phương án cổ phần hoá của nhà máy gốmxây dựng Đông Anh có vốn điều lệ là 7,5 tỷ đồng Cổ phiếu phát hành lần đầu75.000, trong đó cổ phần nhà nước chiếm 38.000 chiếm 51% vốn điều lệ, cổ phầnbán ưu đãi cho người lao động 27.999 chiếm 37,33% Cổ phần bán cho cán bộcông nhân viên của công ty và các đơn vị thành viên Tổng công ty 8.751 chiếm11,67% Số lao động dôi dư do sắp xếp lại là 40 người, trong đó 37 người đượcgiải quyết chế độ theo Nghị định 41 của Chính phủ và 3 người theo Luật Lao động.Ngày 9 tháng 9 năm 2003, công ty đã hoàn thành thủ tục bán cổ phần và thu đủ sốtiền bán cổ phần được 2.835.030.000 đồng theo đúng quy định Bộ Xây dựng cóQuyết định ngày 9 tháng 9 năm 2003 chuyển nhà máy gốm xây dựng Đông Anhthành công ty cổ phần Sau khi thực hiện cổ phần hoá, lợi nhuận và mức thu nhậpbình quân của người lao động tăng lên

Như vậy, quá trình cổ phần hoá tại 4 đơn vị nói trên đã diễn ra thuận lợi, bảođảm được yêu cầu và tiến độ đề ra Việc cổ phần hoá không những nâng cao hiệuquả sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp, cải thiện đời sống của người laođộng, mà còn đem lại lợi ích cho Nhà nước; động viên được trí tuệ tập thể đónggóp vào quá trình xây dựng và phát triển doanh nghiệp; kích thích người lao độngyên tâm làm việc, cống hiến khả năng của mình cho công việc chung của doanhnghiệp; thu hút nguồn nhân lực có tay nghề cao vào làm việc, hạn chế đáng kể tình

trạng "chảy máu chất xám" sang các thành phần kinh tế khác.

Trang 8

Những thành tựu đạt được trong 10 năm (1996 - 2005) về xây dựng và pháttriển thành phần kinh tế nhà nước do nhiều nguyên nhân mang lại, song chủ yếu là:

Một là, thành tựu của quá trình đổi mới từ 1986 - 1996 đã tạo tiền đề vững chắc cho các thành phần kinh tế nói chung, thành phần kinh tế nhà nước nói riêng phát triển.

Qúa trình đổi mới đã tạo điều kiện cho thành phần kinh tế nhà nước cải tiến

kỹ thuật sản xuất, đổi mới dây chuyền công nghệ Từ đó hiệu quả hoạt động khôngngừng được nâng lên, vị trí chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước ngày càngđược củng cố và tăng cường Công cuộc đổi mới đất nước được Đảng ta đề ra từĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xã hội Trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm với mục tiêu pháttriển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.Dưới ánh sáng của Đảng, nền kinh tế đất nước không ngừng được phát triển, đó làtiền đề vững chắc cho các thành phần kinh tế nói chung, thành phần kinh tế nhànước nói riêng lớn mạnh, có điều kiện để đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất,làm ra những sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đáp ứng được thị hiếu củangười tiêu dùng Xây dựng một nền kinh tế mở trên nguyên tắc độc lập tự chủ đãgiúp các doanh nghiệp nhà nước có điều kiện quan hệ hợp tác với nước ngoài, họctập và ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, đi tắt đón đầu ở một số lĩnhvực quan trọng Đồng thời nhờ cơ chế thị trường, sự tự do cạnh tranh giữa cácthành phần kinh tế theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu đã tích cực hóa sự năngđộng của các chủ thể kinh tế Là một thành phần kinh tế chủ đạo, thành phần kinh

tế nhà nước buộc phải không ngừng nâng cao tiềm lực kinh tế, phát huy vai trò ảnhhưởng đối với các thành phần kinh tế khác, thâm nhập vào các ngành, các lĩnh vựcthen chốt Thực tiễn hơn 20 năm đổi mới, nhất là từ giai đoạn 1996 - 2005 đãkhẳng định những bước đi vững chắc của thành phần kinh tế nhà nước Điều đó cónhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân cơ bản là do sự lãnh đạo đúng

Trang 9

đắn và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý giám sát chặtchẽ của Nhà nước.

Hai là, phương thức lãnh đạo của Đảng không ngừng đổi mới Nhà nước tăng cường kiểm tra, giám sát, chỉ đạo việc xây dựng và phát triển thành phần kinh tế nhà nước

Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với thực tiễn tạo độnglực cho thành phần kinh tế nhà nước phát triển Quá trình đổi mới đã cho thấy tácdụng của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong việc phát triển kinh tế - xãhội của đất nước, trong đó thành phần kinh tế nhà nước là một bộ phận cơ bản.Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ có thểthực hiện được thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhànước và sự giám sát của nhân dân Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết địnhđịnh hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế nhiều thành phần nói chung,thành phần kinh tế nhà nước nói riêng Vai trò của Đảng thể hiện ngay từ việc chủđộng lựa chọn các biện pháp kinh tế phù hợp tạo điều kiện để thúc đẩy sự pháttriển thành phần kinh tế nhà nước

Trong từng thời kỳ, tuỳ vào điều kiện cụ thể của đất nước và khả năng hoạtđộng của các doanh nghiệp nhà nước mà Đảng đã có chủ trương, quan điểm vàchính sách cụ thể, chỉ đạo kịp thời quá trình xây dựng và phát triển thành phầnkinh tế nhà nước Đảng chủ động phát hiện, nhận thức, giải quyết mâu thuẫn nảysinh, tạo tiền đề về chính trị, kinh tế, con người cho sự phát triển của các doanhnghiệp nhà nước Chủ trương, chính sách của Đảng được Nhà nước cụ thể hoá vàothực tiễn thông qua các văn bản, chỉ thị, quyết định tổ chức điều hành, quản lýnền kinh tế nói chung và quá trình hoạt động của thành phần kinh tế nhà nước nóiriêng Tuy nhiên, Nhà nước quản lý các quá trình kinh tế không phải do ý muốnchủ quan, mà theo yêu cầu của các quy luật kinh tế, quy luật thị trường, trên cơ sở

đó khắc phục những yếu kém trong hoạt động của thành phần kinh tế nhà nước

Trang 10

Đặc biệt Nhà nước tạo điều kiện về vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, nhất làcác doanh nghiệp hoạt động công ích, làm cho kinh tế nhà nước thật sự là công cụ

để Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô có hiệu quả

Ba là, quá trình xây dựng và phát triển thành phần kinh tế nhà nước cũng như thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tiếp thu kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới

Các nước trên thế giới tuy thành phần kinh tế tư nhân phát triển mạnh, chiphối đến nhiều lĩnh vực then chốt, song Chính phủ các nước đó vẫn sử dụng thànhphần kinh tế nhà nước như một công cụ hữu hiệu và đắc lực trong việc điều tiết vĩ

mô nền kinh tế, thực hiện các vấn đề dân sinh xã hội Thực tiễn cho thấy, doanhnghiệp nhà nước tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, mặc dù quy mô và

vị trí của chúng có khác nhau ở từng nước, song doanh nghiệp nhà nước vẫn là bộphận chủ yếu của nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp Ở Trung Quốc

và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, doanh nghiệp nhà nước cũng đã có nhữngđóng góp hết sức quan trọng trong kinh tế xã hội Hoạt động của các doanh nghiệpnhà nước, chủ thể kinh tế chủ yếu trong các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã gópphần giải quyết các vấn đề chính như:

- Xây dựng và củng cố được nền kinh tế tự chủ của các quốc gia xã hội chủnghĩa

- Giải quyết được một số vấn đề liên quan đến sự phát triển đồng đều giữacác khu vực kinh tế và xã hội

- Giải quyết nhiều vấn đề xã hội quan trọng

- Tạo ra việc làm cho quần chúng nhân dân

- Góp phần làm cho công bằng xã hội được duy trì ở mức độ cao

Biểu hiện rõ nét nhất là ở Trung Quốc, các doanh nghiệp nhà nước đượcphát triển rất mạnh và đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế nướcnày Tính đến năm 1996, Trung Quốc có hơn 100.000 doanh nghiệp nhà nước,

Trang 11

trong đó có 10.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và lớn Doanh nghiệp nhà nước ởTrung Quốc đã thay đổi kết cấu công nghiệp ở Trung Quốc, biến Trung Quốc từnước nông nghiệp điển hình thành một nước xã hội chủ nghĩa công nghiệp hóa.Năm 1949, công nghiệp của Trung Quốc chỉ chiếm 15% tổng giá trị sản lượngnông - công nghiệp, còn nông nghiệp chiếm 85% Thì năm 1991, tỷ lệ này là77,6% và 22,4% nghiêng về công nghiệp Doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốcthu hút 43,64 triệu lao động, tạo ra 70% thu nhập của đất nước Vai trò của doanhnghiệp nhà nước ở Trung Quốc được các nhà khoa học Trung Quốc khái quát ởmột số điểm như: Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng chủ đạo của công cuộc pháttriển kinh tế; doanh nghiệp nhà nước là nguồn thu nhập chính của Trung Quốc;doanh nghiệp nhà nước là chỗ dựa vững chắc cho việc giải quyết vấn đề việc làm;doanh nghiệp nhà nước là nguồn cung cấp chủ yếu các sản phẩm cho nhu cầu trongnước và sản xuất; doanh nghiệp nhà nước là những cơ sở quan trọng của công cuộchiện đại hóa Trung Quốc; doanh nghiệp nhà nước là công cụ và điểm tựa của điềutiết kinh tế vĩ mô.

Không chỉ có mặt ở các nước xã hội chủ nghĩa, doanh nghiệp nhà nước còn

có mặt ở các nước tư bản chủ nghĩa, trong đó thành phần kinh tế nhà nước phát triểnmạnh ở: Italia, Nhật Bản, Anh, Pháp, Niu Di lân, Na Uy, Thụy Điển

Trong nền kinh tế Pháp hiện nay vẫn tồn tại nhiều doanh nghiệp nhà nước,mặc dù trong vài thập kỷ vừa qua, chính phủ đã tư nhân hóa phần lớn các doanhnghiệp nhà nước Ở Nhật Bản, doanh nghiệp nhà nước phát triển khá mạnh, NhậtBản được coi là một trong những nước tư bản có thành phần kinh tế công phát triểnmạnh nhất, nhất là trong các lĩnh vực dịch vụ công cộng Chẳng hạn, riêng tronglĩnh vực cầu đường, công ty đường bộ NB, công ty đường bộ Thủ đô, công tyđường bộ Cansai, công ty xây dựng và quản lý cầu HonSyu - Shikoku thu hútkhoảng 25.000 nhân viên Quản lý kinh doanh các tuyến đường cao tốc, các câycầu trọng yếu Đặc biệt là tuyến đường cao tốc khu vực Tokyo - Osaka, ba cây cầu

Trang 12

khổng lồ nối liền đảo HonSyu với đảo Shikoku Doanh nghiệp nhà nước còn chiếm

ưu thế trong các ngành bưu điện, toàn bộ hệ thống bưu điện có 18.000 bưu cục, vớikhoảng 300.000 nhân viên Kinh doanh trên ba lĩnh vực: chuyển phát thư tín - tiềngửi bưu điện, bảo hiểm Theo số liệu của Liên đoàn kinh tế Nhật Bản, trong giaiđoạn từ 1988 - 1997, cùng với sự phát triển của nền kinh tế Nhật, ngành bưu điện

đã đạt mức tăng trưởng 25% cho cả thời kỳ (tính trung bình 2,5%/năm) với mứclợi nhuận năm 1997 đạt 30 tỷ yên

Sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước ở Thụy Điển cũng để lại những bàihọc bổ ích cho chúng ta Doanh nghiệp nhà nước ở Thụy Điển có số lượng khônglớn, song lại có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong lĩnh vực công ích Lànsóng tư nhân hóa tràn qua hầu hết các nước Châu Âu nhưng lại tác động không lớnđến nền kinh tế Thụy Điển Cho đến nay, rất ít trong số các doanh nghiệp nhà nướccủa Thụy Điển bị tư nhân hóa, các tập đoàn lớn như: SAS, NORDEA, TELIA vẫnvững vàng trong nền kinh tế cạnh tranh mạnh ở đất nước Bắc Âu này Hiện tại chỉ

có công ty ZENIT đang chuẩn bị giải thể và tài sản sẽ được bán cho tư nhân Tínhđến năm 2002, Thụy Điển có 60 doanh nghiệp nhà nước; trong đó có 4 doanhnghiệp nhà nước có niêm yết chứng khoán trên thị trường Trong số 60 doanhnghiệp nhà nước này, có 26 doanh nghiệp được coi là công ích đặc biệt

Ở nước ta, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội đã xác định 6 đặc trưng cơ bản, trong đó có đặc trưng: Có nền kinh tế pháttriển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệusản xuất chủ yếu Xây dựng chế độ công hữu là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội,biểu hiện tập trung nhất ở thành phần kinh tế nhà nước Bên cạnh việc thừa nhận

sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau, chúng

ta đã học tập kinh nghiệm từ các nước, cả các nước xã hội chủ nghĩa trước đây vàcác nước tư bản chủ nghĩa Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,dứt khoát phải gắn liền với xây dựng và phát triển thành phần kinh tế nhà nước

Trang 13

không ngừng lớn mạnh Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã cónhiều chủ trương, chính sách thích hợp, làm đòn bẩy cho sự phát triển khôngngừng của thành phần kinh tế nhà nước Đó cũng là nguyên nhân làm cho thànhphần kinh tế nhà nước của chúng ta trong những năm vừa qua không ngừng lớnmạnh.

2.1.2 Những hạn chế trong xây dựng và phát triển thành phần kinh tế nhà nước

Những thành tựu đạt được trong xây dựng và phát triển thành phần kinh tếnhà nước rất to lớn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, song trong quá trìnhthực hiện vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, khuyết điểm Đó là:

Một là, quy mô của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt.

Quy mô và cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp đến nâng cao tiềm lực của thành phầnkinh tế nhà nước Để làm tốt vai trò chủ đạo, điều tiết toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏicác doanh nghiệp nhà nước phải có quy mô và cơ cấu hợp lý Trong số 4.492doanh nghiệp nhà nước hiện có; số doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồngchiếm 47%, trong khi đó chỉ có rất ít các doanh nghiệp có số vốn trên 100 tỷ đồng.Quy mô nhỏ bé của doanh nghiệp nhà nước thể hiện ở cả trong tiêu chí về sử dụnglao động Số doanh nghiệp nhà nước có lao động dưới 500 người chiếm trên 80%

Do quy mô doanh nghiệp rất nhỏ nên khả năng đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mớicông nghệ rất hạn chế Mức độ tự động hóa và tin học hóa trong sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp nhà nước còn rất thấp Nhìn chung, doanh nghiệp nhànước chưa đủ sức tự mình đầu tư để vươn tới những công nghệ và kỹ thuật tiêntiến Những hạn chế này dẫn đến tình trạng hàng hóa của doanh nghiệp nhà nướcgiá cao hơn hàng cùng loại, cùng chất lượng của các doanh nghiệp khác, hàng nhậpkhẩu tới 20 - 30% Chúng ta đều biết hiệu quả sản xuất ở nước ta phụ thuộc vào

Trang 14

quy mô của doanh nghiệp Doanh nghiệp có quy mô càng nhỏ, tỷ suất lợi nhuậncàng thấp, trang thiết bị lạc hậu, khả năng cạnh tranh trên thị trường yếu Cácdoanh nghiệp có quy mô càng lớn thì càng có khả năng hiện đại hóa, chuyên mônhóa sản xuất, tỷ lệ doanh nghiệp không xác định lỗ lãi hoặc kinh doanh lỗ lại càng

ít đi, tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi càng tăng lên Ở nước ta, doanh nghiệp nhànước chủ yếu là doanh nghiệp có quy mô nhỏ Theo số liệu thống kê về thực trạng

lỗ lãi của doanh nghiệp nhà nước phân theo quy mô lao động và vốn, tỷ lệ doanhnghiệp không xác định lỗ lãi và kinh doanh thua lỗ giảm dần nếu quy mô về laođộng và vốn tăng lên

Cơ cấu còn chưa hợp lý thể hiện ở cả cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ.Còn khá nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực mà ở đó khócạnh tranh được như: trong những ngành dịch vụ thông thường Bên cạnh đó có thểnhận thấy, doanh nghiệp nhà nước được phân bố không hợp lý theo ngành, theo địaphương Có những địa phương như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng,ngành công nghiệp, thương mại, doanh nghiệp nhà nước tập trung với số lượnglớn Trong lúc đó nhiều địa phương lại có rất ít các doanh nghiệp nhà nước Một sốđịa phương, nhất là cấp huyện thành lập rất nhiều doanh nghiệp nhà nước không phùhợp với tình hình kinh tế - xã hội và bất chấp nhu cầu thực tế của địa phương Thực tếnhiều huyện thành lập công ty chế biến thủy sản, song ở đó không có tiềm năng nuôitrồng thủy, hải sản

Hai là, nhìn chung trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thật sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh Trách nhiệm tài sản không được phân định rõ ràng, quản lý kém hiệu quả ở một số doanh nghiệp dẫn đến tình trạng thua lỗ, thất thoát tài sản của Nhà nước Mặt khác, quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh thấp, chủ yếu vẫn dựa vào sự bảo hộ của Nhà nước, chưa chủ động chuẩn bị những biện pháp thích ứng với yêu cầu hoà nhập quốc tế theo nguyên tắc và lộ trình mà Chính phủ đã cam kết.

Ngày đăng: 06/10/2013, 06:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w