NHNo&PTNT Việt Nam do Hội đồng quản trị quản lý và Tổng Giám đốc điềuhành; thực hiện chức năng kinh doanh đa năng, chủ yếu là kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ ngân hàng đối vớ
Trang 1KHÁI QUÁT VỀ NHN o &PTNT KG, THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM (2004-2006)
3.1 KHÁI QUÁT VỀ NHN o &PTNT KIÊN GIANG
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển:
3.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHN o &PTNT Việt Nam:
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động theo môhình tổng công ty Nhà nước quy định tại Quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 củaThủ Tướng Chính Phủ và theo Điều lệ do Thống đốc Ngân hàng Việt Nam phê chuẩntrên cơ sở kế thừa Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (thành lập ngày 14/11/1990 theoQuyết định số 400/CT của Thủ Tướng Chính phủ)
NHNo&PTNT Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, có tư cáchpháp nhân, thời hạn hoạt động là 99 năm, trụ sở chính tại Hà Nội, có quyền tự chủ vềtài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn
NHNo&PTNT Việt Nam do Hội đồng quản trị quản lý và Tổng Giám đốc điềuhành; thực hiện chức năng kinh doanh đa năng, chủ yếu là kinh doanh tiền tệ, tín dụng
và các dịch vụ ngân hàng đối với khách hàng trong nước và nước ngoài; đầu tư các dự
án phát triển kinh tế - xã hội; ủy thác tín dụng đầu tư cho Chính phủ, các chủ đầu tưtrong nước và nước ngoài, trước hết trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Kể từ năm 1993 đến nay, NHNo là ngân hàng Việt Nam đầu tiên liên tục đượckiểm toán quốc tế và được xác nhận là tổ chức ngân hàng lành mạnh, đủ tin cậy
3.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của NHN o &PTNT Kiên Giang:
NHNo&PTNT tỉnh Kiên Giang là chi nhánh của NHNo&PTNT Việt Nam, đãqua hai lần đổi tên gọi, tổ chức tiền thân là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp chinhánh tỉnh Kiên Giang, được thành lập ngày 18/05/1988 theo Quyết định số 31/NH-
QĐ của Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở kế thừa đội ngũnhân viên của Ngân hàng Nhà nước tỉnh Kiên Giang và Ngân hàng đầu tư xây dựngKiên Giang
Đến năm 1990 Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp chi nhánh tỉnh Kiên Giangđược đổi thành Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh tỉnh Kiên Giang, theo Quyết định
số 603/NH-QĐ ngày 22/12/1990 của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam và đến nay làNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh Kiên Giang(NHNo&PTNT tỉnh Kiên Giang) đặt tại số 01 Hàm Nghi, thành phố Rạch Giá, tỉnhKiên Giang
NHNo&PTNT tỉnh Kiên Giang hoạt động theo quy chế tổ chức, kinh doanh củaNHNo&PTNT Việt Nam, do Tổng giám đốc quyết định ban hành
Trang 2NHNo&PTNT tỉnh Kiên Giang trong những năm qua đã không ngừng đổi mớihoạt động kinh doanh, làm chủ được thị trường vốn tín dụng nông nghiệp nông thôn,hạn chế được việc cho vay nặng lãi và góp phần thúc đẩy nông nghiệp nông thôn KiênGiang phát triển.
3.1.2 Mạng lưới và cơ cấu bộ máy tổ chức
3.1.2.1 Mạng lưới hoạt động:
Từ khi mới được thành lập, NHNo & PTNT-KG chỉ có 12 chi nhánh hoạt độngtương ứng với số lượng huyện và thị xã trong tỉnh Qua quá trình phát triển, để đưahoạt động ngân hàng ngày càng sát dân, gần dân hơn, phục vụ kịp thời và thuận tiệncho khách hàng, nhất là tạo điều kiện cho nông dân vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biêngiới được tiếp xúc, thụ hưởng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, mạng lưới của NHNoKiên Giang từng bước được mở rộng, bố trí tại tất cả các huyện, thị xã và một số xã,phường trọng điểm kinh tế của tỉnh
Sơ đồ 1: Mạng lưới hoạt động của ngân hàng
3.1.2.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức của ngân hàng:
HỘI SỞ (Cấp I loại I)
Trang 3Sơ đồ 2: Cơ cấu bộ máy tổ chức của ngân hàng
Nhận xét: qua sơ đồ 2 ta thấy cơ cấu tổ chức của ngân hàng được phân chia
theo chức năng với những ưu, nhược điểm sau:
- Ưu điểm:
+ Bảo đảm sự thi hành các chức năng chủ yếu
+ Sử dụng được kiến thức chuyên môn
+ Thuận tiện trong đào tạo
+ Dễ dàng trong kiểm tra
- Nhược điểm:
+ Các đơn vị có thể quên đi mục tiêu chung của toàn tổ chức
+ Phức tạp khi phối hợp
+ Thiếu hiểu biết tổng hợp
3.1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của từng phòng ban
Phòng Thẩm định
Phòng
Tổ chức Cán bộ
Phòng Hành Chính
Phòng Vi Tính
Phòng Thanh Toán QTế
Trang 4+ Thẩm định các khoản vay vượt mức phán quyết của giám đốc chi nhánhcấp 1…
- Phòng kinh doanh ngoại tệ và Thanh toán quốc tế:
+ Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ (mua-bán, chuyển đổi), thanh toán quốc
tế trực tiếp theo quy định
+ Thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh ngoại tệ có liên quan đến thanhtoán quốc tế
+ Thực hiện các dịch vụ kiều hối và chuyển tiền, mở tài khoản khách hàngnước ngoài…
- Phòng Kế toán - Ngân quỹ:
+ Trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và thanh toán theo quy địnhcủa ngân hàng Nhà nước, NHNo&PTNT Việt Nam
+ Xây dựng chỉ tiêu kế hoạch tài chính quyết toán về kế hoạch thu, chi tàichính, quỹ tiền lương
+ Thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước
+ Chấp hành quy định về an toàn kho qũy và định mức tồn quỹ…
+ Xây dựng chương trình công tác hàng tháng, quý của chi nhánh
+ Xây dựng và triển khai chương trình giao ban nội bộ chi nhánh Trực tiếplàm thư ký tổng hợp cho giám đốc
+ Thực thi pháp luật có liên quan đến an ninh trật tự, phòng cháy nổ tại cơquan
+ Lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến ngân hàng
Trang 5+ Trực tiếp quản lý con dấu của chi nhánh, thực hiện công tác hành chính,văn thư, lễ tân,…
- Phòng Tổ chức cán bộ và đào tạo:
+ Xây dựng quy trình lề lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chứcĐảng, Công Đoàn
+ Đề xuất mở rộng mạng lưới kinh doanh trên địa bàn
+ Đề xuất cử cán bộ, nhân viên đi công tác, học tập trong và ngoài nước.+ Thực hiện công tác thi đua, khen thưởng của chi nhánh…
3.1.3 Quy trình nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng:
Áp dụng nhiều hình thức chuyển tải vốn đến khách hàng, đặc biệt đối vớikhách hàng là hộ nông dân, ngân hàng áp dụng 2 hình thức: giải ngân trực tiếp từng
hộ và giải ngân trực tiếp thông qua tổ hội nông dân hoặc các tổ tín chấp khác
(1) thủ tục vay vốn
và thẩm định
(5) hạch (4) Hồ sơ (3) duyệt (2) xem xét
toán kế đã duyệt cho vay và cho ý
Trang 6toán và cho vay hay không kiến trình
giải ngân cho vay giám đốc
(2) Trưởng phòng tín dụng có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của
hồ sơ và báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụng lập, tiến hành xem xét, tái thẩm định(nếu cần thiết), ghi ý kiến vào báo cáo thẩm định, tái thẩm định (nếu có) và trình Giámđốc quyết định
(3) Giám đốc căn cứ vào báo cáo thẩm định, tái thẩm định do phòng tín dụng
trình, quyết định cho vay hay không cho vay
(4) Hồ sơ khoản vay đã được Giám đốc ký duyệt cho vay được phòng tín dụng
chuyển cho kế toán
(5) Kế toán thực hiện nghiệp vụ hạch toán kế toán, thanh toán và chuyển cho
thủ quỹ kiểm tra để tiến hành giải ngân cho khách hàng
Phòng Kế
Trang 7Sơ đồ 4: Quy trình cho vay trực tiếp thông qua tổ vay vốn
Quy trình cho vay thông qua tổ vay vốn cũng gồm các bước tương tự như quytrình cho vay trực tiếp từng khách hàng nhưng người đứng ra vay là tổ trưởng của tổvay vốn và khách hàng có nhu cầu vay vốn phải là tổ viên thuộc tổ này Tổ vay vốnđược thành lập bởi các tổ chức như: Hội nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựuchiến binh…Tổ viên có nhu cầu sẽ nộp hồ sơ vay vốn cho tổ trưởng và tổ trưởng đếnngân hàng làm thủ tục đề nghị cho vay Tổ trưởng có trách nhiệm kiểm tra, giám sát,đôn đốc tổ viên sử dụng vốn đúng mục đích và trả nợ, trả lãi đúng hạn; được ngânhàng nơi cho vay chi trả hoa hồng căn cứ vào kết quả công việc hoàn thành
3.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua 3 năm (2004-2006)
Qua 3 năm hoạt động với những thuận lợi và không ít khó khăn, hoạt độngkinh doanh của ngân hàng đã đạt được một số kết quả sau:
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua 3 năm
KHOẢN MỤC
2004
2005
2006 2005/2004
2006/2005
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền (%) Số tiền (%)
I Tổng thu nhập 206.100 100,0 304.65
9 100,0 428.714 100,0 98.559 47,8 124.055 40,7
Thu nhập lãi suất 197.586 95,9 290.42
3 95,3 407.794 95,1 92.837 47,0 117.371 40,4
Phòng Kế
Ngân quỹ
Giám đốc
Trang 8Thu nhập ngoài lãi suất 8.514 4,1 14.236 4,7 20.920 4,9 5.722 67,2 6.684 46,9
II Tổng chi phí 154.800 100,0 226.01
7 100,0 315.092 100,0 71.217 46,0 89.075 39,4
Chi phí lãi suất 137.452 88,8 172.24
5 76,2 238.690 75,7 34.793 25,3 66.445 38,6
Chi phí ngoài lãi suất 17.348 11,2 53.77
(Nguồn: Phòng Kế toán - Ngân quỹ)
- Đánh giá chung: Qua số liệu ở bảng 1 ta thấy hoạt động kinh doanh của ngân
hàng có hiệu quả và tăng rõ rệt từng năm Biểu hiện là lợi nhuận luôn tăng trưởng quacác năm với tốc độ tăng bình quân là 49%, đã đóng góp đáng kể vào kết quả chungcủa toàn hệ thống, đảm bảo được thu nhập và đời sống của cán bộ công nhân viên
Biểu đồ 1: Kết quả tài chính của ngân hàng qua 3 năm
Tỷ đồng
- Tình hình cụ
thể:
+ Về tổng thu nhập: Nhìn vào cơ cấu trong tổng thu ta thấy nguồn thu chủ
yếu của ngân hàng là từ hoạt động cho vay (thu nhập lãi) chiếm trên 95% tổng thunhập với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 44% Có được kết quả này là do ngânhàng đã thực hiện tốt công tác huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế, đây lànguồn vốn rẻ, chi phí thấp làm cho chênh lệch lãi suất đầu vào-đầu ra cao Bên cạnh
đó, ngân hàng không ngừng mở rộng đầu tư tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụngcùng với việc thu hồi nợ tốt đã tạo nên nguồn thu lãi lớn
Đóng góp một phần vào tổng thu của ngân hàng là các khoản thu từ các hoạtđộng dịch vụ và các khoản thu khác (thu nhập ngoài lãi) như: thu từ thanh toán quốc
tế, thu từ mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh…Các nguồnthu này tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng được ngân hàng chú trọng tăng qua các năm
Trang 9nhằm mục đích nâng cao thương hiệu và để bù đắp phần nào những tổn thất do rủi rotín dụng, rủi ro lãi suất… gây ra Tốc độ tăng của thu nhập ngoài lãi cao qua các năm.Năm 2005 tốc độ tăng cao hơn nhiều so với năm 2006 nhưng về mặt số tuyệt đối thìtương đương nhau do năm 2004 dịch vụ ngân hàng chưa phát triển mạnh nên xuấtphát điểm thấp chỉ 8.514 triệu đồng do đó trong năm 2005 khi các dịch vụ phát triểnmạnh đặc biệt là thanh toán qua dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union, làm khoảnthu tăng thêm 5.722 triệu đồng cũng làm cho phần trăm tốc độ tăng cao Các khoảnthu ngoài lãi tăng nhanh như vậy đã làm cho tỷ trọng tăng dần qua các năm đồng thờilàm giảm tỷ trọng của các khoản thu lãi.
+ Về tổng chi phí: cùng với tốc độ tăng của thu nhập thì các khoản chi của
ngân hàng qua 3 năm cũng tăng cao do một số biến động lớn
Đối với chi phí lãi: khoản chi này có tốc độ tăng qua các năm không đều nhau:năm 2005 tăng so với năm 2004 là 25,3% và năm 2006 tăng so với năm 2005 là38,6% Nguyên nhân do trong năm 2005 nền kinh tế có những chuyển biến như giávàng tăng cao, giá tiêu dùng và giá xăng dầu tăng nên ngân hàng huy động được vốn
từ bên ngoài ít nhưng sang năm 2006 với những chiến lược thu hút vốn được ngânhàng đặt ra kịp thời đã làm tăng đáng kể nguồn vốn huy động nên chi phí trả lãi trongnăm 2006 sẽ cao hơn năm 2005
Đối với chi phí ngoài lãi: khoản phí này chiếm tỷ trọng không lớn trong tổngchi nhưng có sự biến động lớn qua các năm Đặc biệt trong năm 2005, tốc độ tăng củakhoản chi này gấp 2 lần trong năm 2004 do trong năm này ngân hàng đã nghiêm túcthực hiện việc phân loại lại nhóm nợ theo Quyết định 165/QĐ-HĐQT làm tỷ lệ nợ xấutheo cơ cấu mới tăng cao, vì thế số tiền được trích vào quỹ dự phòng rủi ro cũng tănghơn nhiều so với năm 2004 (khoảng 24 tỷ) Tuy nhiên do ngân hàng thực hiện chínhsách quản lý tài chính chặt chẽ, chi tiêu hợp lý, tiết kiệm nên đã hạn chế được tốc độtăng của chi phí góp phần thặng dư vào tổng thu nhập
Tóm lại, từ việc phân tích kết quả kinh doanh của ngân hàng qua 3 năm cho
thấy hoạt động của ngân hàng luôn phát triển tốt, quỹ thu nhập luôn thặng dư đảm bảocho sự phát triển bền vững của ngân hàng
3.1.5 Mục tiêu tăng trưởng năm 2007: Theo tài liệu triển khai nhiệm vụ kinh
doanh năm 2007, NHNo Kiên Giang đã đề ra những mục tiêu sau:
- Mục tiêu tổng quát:
Năm 2007, hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam sẽ có nhiều cơhội thuận lợi, nhưng đồng thời cũng gặp một số khó khăn, thách thức trong việc cạnhtranh khi thực hiện lộ trình “Hội nhập” Để tiếp tục xây dựng NHNo&PTNT Việt Namphát triển bền vững, xác định mục tiêu tổng quát như sau:
Trang 10Tập trung sức toàn hệ thống, thực hiện bằng được những nội dung cơ bản theotiến độ Đề án tái cơ cấu lại NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2001-2010; chuẩn bịmọi điều kiện để thực hiện cổ phần hoá vào năm 2009; tiếp tục duy trì tốc độ tăngtrưởng ở mức độ hợp lý, đảm bảo cân đối, an toàn và khả năng sinh lời; đáp ứng đượcyêu cầu chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn, mở rộng và nâng caochất lượng dịch vụ ngân hàng đủ năng lực cạnh tranh; tập trung đầu tư, đào tạo nguồnnhân lực, đổi mới công nghệ ngân hàng theo hướng hiện đại hoá đủ năng lực cạnhtranh và hội nhập.
Để thực hiện mục tiêu trên, NHNo Kiên Giang cần phải tiếp tục thực hiệnchiến lược kinh doanh đã xác định, giữ vai trò chủ đạo, chủ lực, thực hiện đầu tư cóchọn lọc trên thị trường nông nghiệp, nông thôn, đồng thời củng cố phát triển thịtrường, thị phần ở khu vực thành thị.Mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngânhàng, phát triển dịch vụ tại huyện đảo Phú Quốc, đào tạo nguồn nhân lực để phát huyđược hiệu quả hoạt động ngân hàng, tăng thêm năng lực cạnh tranh
Năm 2007 là năm đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, là năm đầu tiên gianhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, hoạt động kinh tế cả nước có sự đổi mới rõnét, hoạt động ngân hàng đứng trước những cơ hội và thách thức lớn, các chuẩn mực,tiêu chuẩn quốc tế cần phải thực hiện Do vậy phải có sự chuyển biến mạnh mẽ từnhận thức và quyết liệt trong hành động
- Mục tiêu tăng trưởng cụ thể:
+ Huy động vốn chung tăng 25% so với năm 2006; trong đó tiền gởi từ dân
cư chiếm tỷ trọng 51% trở lên
+ Dư nợ trung dài hạn chiếm tỷ lệ 50%
+ Nợ xấu phấn đấu < 3%
+ Chênh lệch thu chi tăng 67% so với năm 2006
+ Chênh lệch lãi suất đầu vào - đầu ra: 0,45%
+ Tiền lương: đạt hệ số tiền lương theo quy định
3.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHN o &PTNT KIÊN GIANG QUA 3 NĂM (2004-2006)
3.2.1 Tình hình huy động vốn
3.2.1.1 Tình hình nguồn vốn tại NHN o Kiên Giang:
Như chúng ta đã biết, vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng trong mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh, nó là nguồn lực để hoạt động kinh doanh có hiệu quả vàtồn tại Đặc biệt đối với ngành ngân hàng – là một tổ chức chuyên cung cấp vốn chocác thành phần kinh tế nên nguồn vốn phải đủ lớn mạnh để thực hiện tốt chức năngcủa nó Hoạt động tín dụng có được mở rộng hay không thì yếu tố đầu tiên phải kể
Trang 11đến là phải có nguồn vốn lớn Vì vậy, trước khi phân tích đánh giá tình hình sử dụngvốn tại NHNo Kiên Giang thì chúng ta cũng đi vào xem xét yếu tố đầu vào quan trọngnày.
Cũng như các ngân hàng thương mại khác, nguồn vốn của NHNo&PTNT KiênGiang bao gồm vốn huy động từ địa phương và vốn được điều chuyển từNHNo&PTNT Việt Nam Sau đây là bảng kết quả nguồn vốn của ngân hàng qua 3năm:
Bảng 2: Tình hình nguồn vốn của ngân hàng qua 3 năm ĐVT: Triệu đồng
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ trọng
Trang 12Biểu đồ 2: Tình hình nguồn vốn của ngân hàng qua 3 năm
Nhìn chung,tổng nguồn vốn củaNHNo&PTNT KiênGiang đều tăng liêntục qua 3 năm vớitốc độ tăng bình quân là 16% đã đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng tín dụng và khảnăng thanh toán của ngân hàng Nguyên nhân là do nền kinh tế của tỉnh ngày càngphát triển, với những dự án đầu tư như khu lấn biển thành phố Rạch Giá, khu cửakhẩu Hà Tiên, khu kinh tế mở tại đảo Phú Quốc đã làm cho nhịp độ đầu tư tăngtrưởng mạnh kéo theo nhịp độ tăng trưởng tín dụng cũng tăng.Vì vậy, ngân hàng cầnphải có nguồn vốn lớn để đáp ứng kịp thời cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế
Song, nếu xét riêng về vốn huy động thì nguồn vốn này có tốc độ tăng qua cácnăm không đều nhau Cụ thể là năm 2005 tăng so với năm 2004 là 5,6% trong khinăm 2006 tăng so với năm 2005 đến 34,4%, cao gấp 6 lần tốc độ tăng năm 2005.Nguyên nhân có khoảng cách chênh lệch lớn như vậy là do:
- Trong năm 2005 giá cả thị trường có sự biến động lớn nhất là giá vàng đã tácđộng mạnh đến tâm lý của người gởi tiền Sự lo ngại tiền mất giá so với vàng đã làmkhông ít người có tiền nhàn rỗi nhưng không muốn gửi vào ngân hàng hoặc nếu gửithì chỉ chọn các kỳ hạn ngắn
- Dịch cúm gia cầm bùng phát và các dịch bệnh về gia súc, sâu bệnh hại lúa đãlàm cho một số hộ nông dân đã từng là khách hàng quen gửi tiền nhiều vào ngân hàngnhưng do bị thua lỗ nên không còn gửi như trước nữa
- Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trên địa bàn ngày càng gay gắt Đối vớinhững ngân hàng mới ra đời cách đây 2, 3 năm thì đến nay đã dần tạo được uy tín đốivới người dân nên thị phần vốn bị chia sẻ đáng kể
- Năm 2005, toàn hệ thống NHNo chưa có dịch vụ thẻ ATM nên đã không tranhthủ được nguồn vốn rẻ và chưa tận dụng được cơ hội để nâng cao thương hiệu củamình
Trang 13Với những khó khăn gặp phải trong năm 2005, ban lãnh đạo NHNo Kiên Giang
đã có những chính sách kịp thời trong công tác huy động vốn làm nguồn vốn huyđộng của ngân hàng tăng đáng kể trong năm 2006 Những chính sách đó là:
- Ngân hàng đã thực hiện tốt các đợt huy động tiết kiệm dự thưởng, phát hànhchứng chỉ dài hạn của Trụ sở chính Để phong phú thêm hình thức huy động, đồngthời giữ và phát triển khách hàng mới phù hợp với tình hình thực tế của địa phương,NHNoKG đã phát hành 4 đợt kỳ phiếu có khuyến mại, bốc thăm trúng thưởng với sốvốn huy động được là 288 tỷ đồng
- Ngoài ra, ngân hàng còn chủ động trong việc sử dụng hiệu quả công cụ lãisuất vừa đảm bảo quy định, vừa thu hút được khách hàng, đặc biệt khách hàng lớn;thăm dò ý kiến khách hàng về thời gian gởi để có hình thức huy động thích hợp vớinhu cầu của người gởi tiền
Mặc dù nguồn vốn huy động được trong năm 2006 là 1.284.355 triệu đồngnhưng chỉ đạt được 97,75% chỉ tiêu kế hoạch đặt ra (chỉ tiêu giao là 1.314.000 triệuđồng) Do các chi nhánh còn thiếu biện pháp tiếp cận khách hàng đặc biệt là dịch vụchăm sóc khách hàng Ngay cả ở Hội sở thì dịch vụ này vẫn chưa được tách ra nà vẫncòn nằm trong phòng nguồn vốn nên nhiều khách hàng còn thiếu thông tin Vì vậyngân hàng cần có những biện pháp để khắc phục những thiếu sót này nhằm phát huyhơn nữa để đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Những biện pháp sẽ được đề cập cụthể trong phần chương 5
Qua bảng số liệu ta thấy: đóng góp một phần đáng kể vào tổng nguồn vốn củangân hàng đó là vốn điều hoà, chiếm tỷ trọng bình quân là 60,2% Nguồn vốn điềuhoà là do NHNo&PTNT Việt Nam quản lý, nguồn vốn này sẽ được điều từ nơi thừavốn sang nơi thiếu vốn theo cơ chế quản lý vốn của từng hệ thống ngân hàng Nguồnvốn điều hoà của NHNo Kiên Giang có xu hướng tăng giảm qua các năm Năm 2004,nguồn vốn này chiếm tỷ trọng là 60,2%, nhưng đến năm 2005 tỷ trọng này là 62,3%.Nguyên nhân do năm 2005 ngân hàng tự huy động được vốn ít nên sử dụng vốn từTrung Ương nhiều hơn Tương tự như vậy đến năm 2006 tỷ trọng của nguồn vốn nàylại giảm xuống còn 58,2% là do ngân hàng đã thực hiện tốt công tác tự huy động vốncủa mình Tuy tỷ trọng có xu hướng tăng giảm nhưng về mặt số tuyệt đối thì nguồnvốn điều hoà tăng liên tục qua các năm nhằm để phục vụ nhu cầu đầu tư và thanh toáncủa ngân hàng
Đánh giá tình hình huy động vốn theo tổng nguồn vốn:
Chỉ tiêu vốn huy động/tổng nguồn vốn được thể hiện ở cột phần trăm tỷ trọng
trong bảng số liệu Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tự đáp ứng nguồn vốn cho hoạtđộng của ngân hàng Qua số liệu ta thấy khả năng tự đáp ứng nguồn vốn của ngân
Trang 14hàng bình quân hàng năm là 40% Như vậy, NHNo&PTNT Kiên Giang luôn phụ thuộcvào nguồn vốn điều hoà từ Trung Ương, bị động trong hoạt động tín dụng của mình.
Vì thế một mục tiêu được đặt ra là ngân hàng phải phấn đấu sao cho vốn huy độngchiếm tỷ trọng 50% trong tổng nguồn vốn Có như vậy thì ngân hàng mới chủ độngđược trong hoạt động kinh doanh của mình và tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn củangân hàng cấp trên
Tóm lại, nguồn vốn huy động của ngân hàng qua 3 năm có chiều hướng tăng
trưởng tốt Tuy nhiên với lợi thế của NHNo là một ngân hàng truyền thống, có nhiềuchi nhánh xuống tận các huyện, xã thì kết quả trên vẫn chưa là kết quả tốt nhất màngân hàng có thể đạt được Vì vậy ban lãnh đạo ngân hàng cần có nhiều chính sáchphù hợp hơn nữa để ngân hàng có thể phát huy hết lợi thế của mình, xứng đáng là mộtngân hàng chủ đạo của tỉnh
3.2.1.2 Tình hình huy động vốn
Theo kết quả trên, ta thấy nguồn vốn huy động của ngân hàng đang dần chiếm
ưu thế trong tổng nguồn vốn Biểu hiện là vốn huy động luôn tăng qua các năm cònvốn điều hoà thì tốc độ tăng lại giảm Để tìm hiểu sâu về tình hình huy động vốn tạiNHNo Kiên Giang ta có bảng số liệu về cơ cấu của từng loại vốn cụ thể như sau:
Bảng 3: Tình hình vốn huy động của ngân hàng qua 3 năm
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ trọng
Trang 15- Kỳ phiếu 22.076 2,4 28.338 2,9 40.396 3,2 6.262 28,4 12.058 42,5
- Tiền gửi khác 40.356 4,5 42.057 4,4 46.636 3,6 1.701 4,2 4.579 10,9
Tổng vốn huy động 904.786 100,0 955.469 100,0 1.284.355 100,0 50.683 5,6 328.886 34,4
ĐVT: Triệu đồng(Nguồn: Phòng nguồn vốn & Kế hoạch tổng hợp)
- Dựa vào bảng số liệu, ta thấy cơ cấu vốn của ngân hàng rất đa dạng: đa dạngtheo thời gian và đa dạng theo tính chất của nguồn vốn Chiếm ưu thế trong tổng vốnhuy động đó là loại vốn không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng với tỷ trọng trungbình là (66,6%+67%+71,4%)/3 = 68%, trong đó cao nhất là loại vốn không kỳ hạnchiếm tỷ trọng trung bình 44% trong tổng vốn huy động Vốn không kỳ hạn là loạivốn mà khi khách hàng gửi tiền vào có thể rút ra bất kỳ lúc nào mà không cần báotrước với ngân hàng và ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng Song,giữa việc gửi tiền vào và rút ra có sự chênh lệch về thời gian và số lượng nên trên cácloại tài khoản này luôn có số dư xác định, ngân hàng có thể sử dụng số dư này làmvốn tín dụng để cho vay Đây là loại vốn có lãi suất thấp nên đã góp phần tiết kiệmđược chi phí trả lãi của ngân hàng
Thành phần ưa thích loại hình huy động này đó là các tổ chức kinh tế thể hiệntrên số tiền gửi vào luôn chiếm tỷ trọng lớn, cụ thể: chiếm tỷ trọng trung bình là41,6% trong tổng vốn huy động và chiếm đến 94% trong tổng vốn không kỳ hạn Sở
dĩ các tổ chức kinh tế ưa thích loại hình này là vì những tiện ích của nó: các tổ chứckinh tế sử dụng số tiền nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh để gửi vào ngânhàng, đó có thể là quỹ dự trữ tài chính, quỹ đầu tư, quỹ phúc lợi, khen thưởng…Khi
có nhu cầu sử dụng thì họ có thể chủ động rút ra để phục vụ cho hoạt động kinh doanhcủa mình Ngoài ra, các tổ chức này còn được phép sử dụng tiền gửi để phục vụ chocông tác thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng Đó cũng là lý do làm choloại tiền gửi này có tốc độ tăng nhanh qua các năm
Ngược lại, đối với người dân thì họ không thích gửi tiền của mình theo hìnhthức vốn không kỳ hạn (chiếm tỷ trọng trung bình qua các năm chỉ 2,7%) vì những lýdo: số tiền mà người dân gửi vào ngân hàng thực sự là số tiền thừa sau khi họ đã trangtrải tất cả các chi phí, không bị ràng buộc về thời gian rút nên họ muốn số tiền củamình khi tiết kiệm sẽ được sinh lợi nhiều Trong khi đó vốn không kỳ hạn lại có lãisuất thấp nhất, chỉ 0,25% vì thế nên đa phần người dân không thích gửi theo loại vốnnày (chỉ một số hộ kinh doanh sản xuất nhỏ họ tạm thời thừa vốn và muốn chủ độngrút ra khi có nhu cầu)
Trang 16- Một hình thức khác của cơ cấu vốn đó là loại vốn có kỳ hạn dưới 12 tháng.Loại vốn này thể hiện tính tương đối ổn định của nguồn vốn huy động Qua số liệu tathấy loại vốn này chiếm tỷ trọng không cao, trung bình khoảng 24% nhưng có xuhướng tăng qua các năm Điều này chứng tỏ ngân hàng đã có những biện pháp tíchcực để làm cho nguồn vốn của mình ngày càng có nhiều vốn ổn định hơn Theo hìnhthức huy động này thì có sự tương phản với hình thức huy động không kỳ hạn Ở đây,tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm ít (trung bình hàng năm chỉ 7%) trong khi tiếtkiệm của người dân thì chiếm ưu thế (khoảng 17%) Nguyên nhân: do loại tiền gửinày bó buộc về thời hạn nên các tổ chức kinh tế không chủ động được trong việc sửdụng vốn của mình Bên cạnh đó, với những ưu thế như có nhiều kỳ hạn: 1 tháng, 3tháng, 6 tháng, 7 tháng, 9 tháng và 12 tháng, mỗi kỳ hạn ngân hàng áp dụng một mứclãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao nên rất phùhợp với yêu cầu tiết kiệm của người dân Cùng với việc hàng năm ngân hàng cónhững chính sách khuyến mãi, gởi phiếu dự thưởng…đã làm cho tiền tiết kiệm theo
kỳ hạn này luôn tăng qua các năm
Tuy tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm ít nhưng tốc độ tăng lại rất cao Đặcbiệt trong năm 2006, tốc độ tăng của loại tiền gửi này gấp 1,5 lần so với năm 2005.Nguyên nhân là ngân hàng đã tạo được những điều kiện thuận lợi đối với các tổ chứcnhư: chênh lệch lãi suất giữa vốn không kỳ hạn và có kỳ hạn ít nhất 1 tháng là 0,35%,bên cạnh đó nếu như trước kia khi họ rút tiền trước hạn sẽ không được hưởng lãi suấtnhưng nay thì được hưởng ở mức lãi suất của vốn không kỳ hạn
- Hình thức cuối cùng trong cơ cấu vốn và có kỳ hạn dài nhất đó là vốn có kỳhạn trên 12 tháng Chiếm ưu thế trong nguồn vốn này là tiền gửi tiết kiệm của ngườidân (tỷ trọng trung bình là 24,7%) Điều này dễ hiểu bởi vì nguồn vốn này có mức lãisuất cao nhất (từ 0,7% đến 0,76% trên 1 tháng) Tuy nhiên, tốc độ tăng của tiền gửitiết kiệm không đều qua các năm Tốc độ tăng năm 2006 là 14,1% nhanh hơn nhiều sovới trong năm 2005 là 2,4% Nguyên nhân như đã phân tích là do trong năm 2005 giávàng biến động đã ảnh hưởng đến tâm lý gửi tiền của người dân đó là họ không thích
kỳ hạn dài vì sợ tiền bị mất giá so với vàng Nhưng sang năm 2006 với những chínhsách tính cực của ngân hàng thì số tiền tiết kiệm này đã được tăng lên đáng kể với sốtuyệt đối là 34.686 triệu đồng
Bên cạnh việc tiết kiệm, người dân cũng có thể mua kỳ phiếu của ngân hàng.Tuy chiếm tỷ trọng ít (trung bình chỉ 2,8%) nhưng có tốc độ tăng rõ rệt qua các năm:năm 2005 tốc độ tăng là 28,4% đến năm 2006 là 42,5% Nguyên nhân là vào nhữngtháng cuối năm, ngân hàng thường phát hành những đợt kỳ phiếu với lãi suất hấp dẫn
Trang 17đã góp phần đáng kể vào tổng vốn huy động của ngân hàng Tỷ trọng của kỳ phiếutăng dần qua các năm là nguyên nhân dẫn đến tỷ trọng của tiền gửi tíết kiệm giảm.
Đối với tiền gửi khác: loại tiền gửi này chiếm tỷ trọng cũng không cao, trungbình khoảng 4,2% và có tốc độ tăng đều qua các năm nhưng thấp hơn tốc độ tăng củahai loại vốn còn lại nên tỷ trọng giảm dần
Đánh giá tình hình huy động vốn theo kỳ hạn:
Sau đây chúng ta sẽ xem xét các chỉ tiêu của từng loại vốn ứng với mỗi kỳ hạn
để đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng
- Chỉ tiêu vốn không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng/tổng vốn huy động:
theo kết quả trên ta thấy chỉ tiêu này luôn lớn và tăng qua các năm Điều này chứng tỏngân hàng đã huy động được nguồn vốn rẻ, dồi dào nhưng tính ổn định không cao, chỉ
có thể đáp ứng được nhu cầu vay vốn ngắn hạn
- Chỉ tiêu vốn có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên/tổng vốn huy động: chỉ tiêu này thể
hiện tính ổn định của vốn huy động, nếu chỉ tiêu này cao thì ngân hàng có thể tự chủtrong hoạt động cho vay của mình Thực tế thì chỉ tiêu này chỉ ở mức trung bình và có
xu hướng giảm, tuy nhiên con số tuyệt đối vẫn tăng Điều này chứng tỏ khả năng mởrộng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng còn hạn chế và ngân hàng chưa phát huyđược khả năng sử dụng vốn huy động vào hoạt động tín dụng của mình Bởi vì theo
Nam, vốn huy động được cân đối cho vay tính theo công thức: trung bình khoảng 86%vốn huy động không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng (vì có sự chênh lệch qua cácnăm) + 100% vốn huy động có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên Do đó nếu như vốn có kỳhạn từ 12 tháng trở lên càng nhiều thì ngân hàng có thể nâng cao khả năng sử dụngvốn huy động vào hoạt động tín dụng của mình và ngược lại
Tóm lại, với vị trí của NHNo vẫn là ngân hàng lớn nhất của tỉnh, có uy tín vớingười dân, tuy về lãi suất huy động NHNo không thể cạnh tranh với các tổ chức tíndụng khác nhưng vẫn giữ được sự tín nhiệm của đa số khách hàng và được sự quantâm của chính quyền địa phương Nhưng nhìn chung, nguồn vốn huy động chỉ mớiđáp ứng được nhu cầu vay vốn ngắn hạn trên địa bàn, còn phần lớn khả năng đáp ứngnhu cầu vốn trung, dài hạn còn phải dựa vào nguồn vốn điều hoà từ ngân hàng cấptrên Do đó, để chủ động hơn trong hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải nỗ lực hơnnữa trong công tác huy động vốn của mình nhất là phải quan tâm tăng trưởng tỷ lệ vốnhuy động có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên trên tổng vốn huy động
3.2.2 Phân tính tình hình sử dụng vốn tại NHN o Kiên Giang
Cho vay là hoạt động sử dụng vốn chủ yếu của NHNo Kiên Giang, vừa trực tiếpphục vụ nhu cầu vốn cho nền kinh tế, vừa mang lại thu nhập thường xuyên cho ngân
Trang 18hàng Thời gian gần đây hoạt động tín dụng của ngân hàng đang phát triển theo chiềuhướng tốt Thực hiện định hướng phát triển của Ngành, ngân hàng đã thường xuyênbám sát các mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để tăngtrưởng tín dụng có hiệu quả Trong đầu tư tín dụng ngân hàng luôn quán triệt nguyêntắc “Tăng trưởng khối lượng tín dụng phải gắn liền với nâng cao chất lượng tín dụng”.Nghiên cứu chính xác nhu cầu vốn hàng năm cho hoạt động sản xuất hàng hoá truyềnthống của nông dân (lúa,cá, tôm,…) từ đó xác định mức đầu tư hợp lý cho từng loạiđối tượng, phù hợp với tốc độ phát triển của sản xuất, tốc độ tăng trưởng của giá cả thịtrường Bên cạnh đó, ngân hàng không ngừng mở rộng mối quan hệ với các doanhnghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã và các thành phần kinh tế hợp tác khác để đa dạnghoá đối tượng đầu tư, khắc phục dần tính thời vụ, phân tán rủi ro.
Kết quả tín dụng nói chung được thể hiện qua doanh số cho vay, doanh số thu
nợ, dư nợ và nợ quá hạn Doanh số cho vay càng lớn phản ánh quy mô càng được mởrộng, doanh số thu nợ cao cho thấy kết quả thu hồi nợ tốt và dẫn đến tỷ lệ nợ xấu sẽthấp Để biết được cụ thể, trước tiên chúng ta đi vào phân tích doanh số cho vay củaNHNo Kiên Giang qua 3 năm như sau:
3.2.2.1 Phân tích doanh số cho vay
Hoạt động cho vay của NHNo Kiên Giang rất đa dạng nhưng vẫn được chiathành hai nhóm chính lớn đó là cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn
Doanh số cho vay theo thời hạn tín dụng
Ta có bảng số liệu về doanh số cho vay theo thời hạn từ năm 2004 đến năm
Trang 19Qua bảng số liệu ta thấy: tổng doanh số cho vay của NHNo Kiên Giang tăngđều và ổn định qua các năm: năm 2005 tăng 20% so với năm 2004 và năm 2006 tăng24,9% so với năm 2005 Kết quả này đã chứng tỏ năng lực của ngân hàng trong việcthu hút khách hàng Từ hoạt động cho vay, ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu vốn cho cácthành phần kinh tế và dân cư, giúp cho đời sống của họ ngày càng được cải thiện đồngthời mang lại lợi nhuận ngày càng cao cho ngân hàng.
Cơ cấu cho vay trong bảng 4 còn phản ánh hoạt động tín dụng chủ yếu củaNHNo Kiên Giang là cho vay ngắn hạn, tỷ trọng trung bình qua 3 năm đạt 66,7% Tuy
tỷ trọng này không ổn định qua các năm nhưng vẫn ở mức cao so với tổng doanh sốcho vay nói chung Nguyên nhân do chính sách tín dụng ngắn hạn đã được mở rộng vàđóng vai trò chủ yếu trong việc sử dụng vốn của ngân hàng Lực lượng khách hàngđông đảo trong hoạt động cho vay này là các hộ nông dân, thường xuyên sử dụng vốnvay ngắn hạn để trồng lúa, phổ biến là 2 vụ/năm và để phát triển chăn nuôi hoặc trồngnhững cây ngắn ngày khác Ngoài ra ngân hàng còn cho vay ngắn hạn phổ biến ở cácngành thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Tín dụng ngắn hạn có những lợi ích như: vòng quay vốn nhanh, phù hợp với cơcấu vốn huy động không kỳ hạn và có kỳ hạn ngắn trong khi tín dụng trung, dài hạnkhông có những lợi ích này nên kém được ngân hàng ưu tiên tăng trưởng hơn hoạtđộng tín dụng ngắn hạn Bên cạnh đó, theo quy luật thì thời hạn càng dài mức độ rủi
ro càng cao như rủi ro về lãi suất, rủi ro thanh khoản Tuy nhiên, nếu ngân hàng chỉchú trọng tập trung vào việc đầu tư cho mỗi loại hình vay ngắn hạn mà không quantâm đến các loại hình khác thì nguy cơ rủi ro cũng sẽ rất cao Trường hợp này xảy rakhi nền kinh tế gặp khủng hoảng, có sự mất ổn định trong nền kinh tế trong và ngoàinước Thực tế ở nước ta trong năm 2002-2004, ngành thủy sản gặp khó khăn về vụkiện bán phá giá các da trơn của các doanh nghiệp nước ngoài, xuất khẩu gạo gặp khókhăn trong việc tìm kiếm thị trường đầu ra Trở lại với NHNoKiên Giang, doanh sốcho vay trung, dài hạn của ngân hàng chiếm tỷ trọng trung bình qua 3 năm là 33,3%
và có sự tăng, giảm qua các năm Đặc biệt trong năm 2006 tốc độ tăng của tín dụngtrung, dài hạn là 52,2% cao hơn so với tốc độ tăng trong năm 2005 là 18,6%, làm cho
tỷ trọng tăng lên từ 31% năm 2005 lên đến 37,7% năm 2006 Đây là nguyên nhânkhiến cho tỷ trọng của cho vay ngắn hạn giảm từ 69% năm 2005 xuống còn 62,3%năm 2006 Nguyên nhân tín dụng trung, dài hạn có xu hướng tăng là do: để phục vụcho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã được Tỉnh vàNHNo&PTNT Việt Nam đề ra, ngân hàng ngày càng quan tâm đến các nhu cầu vayvốn trung hạn của nông dân Các đối tượng được đầu tư rất đa dạng như: máy móc,thiết bị phục vụ sản xuất, xây dựng sân phơi, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn…
Trang 20Ngoài ra, với mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, nên nhu cầu vay vốn
để xây dựng nhà cửa, mua sắm phương tiện đi lại,…ngày một tăng Qua hình thức chovay tiêu dùng này cũng góp phần làm tăng uy tín của ngân hàng đối với người dân
Tóm lại, bên cạnh việc đạt được kết quả về doanh số cho vay rất khả quan,
ngân hàng còn chú trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư như tăng cường chovay trung và dài hạn phù hợp với định hướng, mục tiêu của tỉnh đồng thời đã đạt vàvượt các chỉ tiêu do ngân hàng cấp trên đặt ra
Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế
Chúng ta sẽ tiếp tục phân tích doanh số cho vay nhưng theo một cơ cấu khác đó
là cơ cấu theo các thành phần kinh tế Ta có bảng số liệu sau:
Bảng 5: Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ trọng (%) Số tiền % Số tiền %
Tổng DS cho vay 1.866.78
9 100,0 2.240.145 100,0 2.798.61 9 100,0 373.356 20,0 558.474 24,9
ĐVT: Triệu đồng
(Nguồn: Phòng nguồn vốn & Kế hoạch tổng hợp)
Ta thấy bảng số liệu trên là kết quả về việc phân phối vốn tín dụng của ngânhàng cho các thành phần kinh tế Cụ thể:
- Đối với hộ gia đình – cá nhân: đây là đối tượng khách hàng đông đảo nhất.Theo số liệu thống kê, tổng số hộ trên địa bàn tỉnh khoảng 370.000 hộ và có nhu cầuvay vốn hàng năm rất cao, biểu hiện trên tỷ trọng doanh số cho vay trung bình qua 3năm là 71,2%, chiếm cao nhất so với các thành phần kinh tế còn lại Trong đó tậptrung vốn nhiều nhất là các hộ nông dân để phục vụ cho công việc trồng trọt và chănnuôi truyền thống Ngoài ra, một số hộ sản xuất kinh doanh nhỏ và làm những ngànhnghề khác cũng có nhu cầu vay vốn cao Đặc biệt, do đời sống của người dân ngàycàng phát triển, nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú nên tín dụng tiêu dùng ởngân hàng ngày càng được mở rộng, chỉ đứng sau cho vay trồng trọt và chăn nuôi
Trang 21- Chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong bảng số liệu đó là tín dụng đối với doanhnghiệp Nhà nước (trung bình qua các năm chỉ 1,1%) Nguyên nhân: do thành phầnkinh tế Nhà nước ở tỉnh phát triển chậm, với số lượng ít khoảng 22 doanh nghiệp.Trong đó, hơn một nửa là làm ăn thua lỗ, chỉ có vài doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả
và có khả năng trả nợ vay tốt cho ngân hàng là Công ty chế biến lâm sản và Công tykhai thác vật liệu xây dựng Do vậy NHNo Kiên Giang đã phải lựa chọn, xem xét kỹlưỡng những doanh nghiệp Nhà nước có triển vọng phát triển ổn định để quan hệ tíndụng, nhằm mục đích bảo đảm hiệu quả và an toàn tín dụng Tốc độ tăng của thànhphần này qua các năm không đều nhau Cụ thể: năm 2005 tăng so với năm 2004 là76,1% trong khi năm 2006 tốc độ tăng giảm xuống còn 41,5% mặc dù về số tuyệt đối
cả 2 năm 2005 và 2006 đều tăng tương đương nhau Nguyên nhân: do trong năm
2004, doanh số cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước rất ít, chỉ 15.304 triệu đồng
Sở dĩ doanh số ít như vậy là vì ngân hàng đã rút kinh nghiệm từ việc cho vay Công tymía đường với số tiền là 22.284 triệu đồng nhưng do công ty này bị phá sản nên ngânhàng không thu được nợ và hiện nay số nợ này đã được xử lý rủi ro Tuy nhiên, bướcsang năm 2005, 2006 ngân hàng nhận thấy một số doanh nghiệp Nhà nước khác trênđịa bàn kinh doanh có hiệu quả và phát triển nên đã mở rộng đầu tư đối với đối tượngnày nhưng có sự chọn lọc và thẩm định kỹ trước khi cho vay
- Đi ngược với xu hướng chậm phát triển của doanh nghiệp Nhà nước đó là tốc
độ tăng nhanh của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đặc biệt là các doanh nghiệpvừa và nhỏ Những năm gần đây, các doanh nghiệp này phát triển rất nhanh cả về sốlượng và quy mô hoạt động: cuối năm 2006, toàn tỉnh có 34 công ty Cổ phần, 323công ty Trách nhiệm hữu hạn và khoảng 2.272 doanh nghiệp tư nhân Nắm bắt đượcthế mạnh này, NHNoKiên Giang đã quan tâm và mở rộng đầu tư thể hiện trên doanh
số cho vay chiếm tỷ trọng tương đối cao (trung bình qua các năm là 27,6%) Nhìnchung, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà ngân hàng đầu tư vốn đều làm ăn cóhiệu quả và trả nợ vay khá tốt Bên cạnh dó, việc mở rộng cho vay đối tượng này còntạo điều kiện để phát triển các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng như: thu hộ, chi hộ,lập séc…Xét về xu hướng, ta thấy tỷ trọng tín dụng của các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh tăng dần qua các năm đã làm cho tỷ trọng tín dụng hộ gia đình – cá nhân giảmdần
Có thể nói, cơ cấu cho vay trên đã chứng tỏ NHNoKiên Giang ngày càng chủtrương trong việc đa dạng hoá khách hàng, mở rộng đầu tư tín dụng biểu hiện qua việctăng cường cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ và mở rộng cho vay tiêu dùng.Nhưng nhìn chung, nguồn vốn của ngân hàng còn tập trung nhiều vào những món vaynhỏ, gây khó khăn trong công tác quản lý và có thể dẫn đến tình trạng quá tải cho cán
Trang 22bộ tín dụng Vì vậy, bên cạnh việc cho vay các hộ cá thể để phát triển các ngành nghềtrọng tâm, chủ yếu của tỉnh, ngân hàng phải ngày càng chú trọng đầu tư đối với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ - một tiềm năng đang phát triển ở địa phương.
Doanh số cho vay theo ngành kinh tế
Đến đây, khi phân tích doanh số cho vay theo ngành kinh tế chúng ta có thể
thấy được tiềm năng và thế mạnh của từng ngành dựa vào số vốn mà ngân hàng tậptrung cho vay Qua đó có thể đối chiếu với cơ cấu kinh tế chung của tỉnh xem việc đầu
tư của ngân hàng có hợp lý chưa để từ đó có hướng cơ cấu lại cho hợp lý hơn Ta cóbảng số liệu về tình hình cụ thể qua 3 năm như sau:
Bảng 6: Doanh số cho vay theo ngành kinh tế
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ trọng (%) Số tiền % Số tiền %
1 Nông - Lâm nghiệp 697.959 37,4 878.808 39,2 1.074.10
6 38,4 180.849 25,9 195.298 22,2
(Nguồn: Phòng nguồn vốn & Kế hoạch tổng hợp)
Nhìn chung, các ngành kinh tế của tỉnh đều có sự tăng trưởng qua các năm thểhiện ở doanh số cho vay của năm sau đều cao hơn năm trước Ta sẽ đi vào phân tíchlần lượt từng ngành cụ thể như sau:
* Ngành Nông – Lâm nghiệp:
Sản xuất Nông – Lâm nghiệp là ngành có thế mạnh số một của tỉnh Kiên Giangvới trên 70% dân số sống bằng nghề nông nên nhu cầu vay vốn rất phong phú, chủyếu là vốn vay ngắn hạn để mua con giống, cây trồng, phân bón, thức ăn…phục vụkịp thời cho hoạt động sản xuất Vì vậy, doanh số cho vay của ngành này luôn chiếm
tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng qua các năm (trung bình38%) Bên cạnh đó, trong những năm gần đây ngân hàng còn mở rộng đầu tư trung,
Trang 23dài hạn cho thành phần kinh tế trang trại, hợp tác xã nhằm mục đích đa dạng hoá loạihình và phân tán rủi ro Về tốc độ tăng: mặc dù ta thấy trên bảng số liệu tốc độ tăngtrong năm 2006 là 22,2% thấp hơn tốc độ tăng trong năm 2005 là 25,9% nhưng về sốtuyệt đối thì vẫn lớn hơn Với kết quả trên cho thấy ngân hàng đã thực hiện đúngchính sách kinh tế - xã hội của tỉnh là tập trung nguồn lực phục vụ phát triển nôngnghiệp – nông thôn.
* Ngành Hải sản:
Đây được xem là ngành kinh tế có tiềm năng lớn của tỉnh Ngành Hải sản chialàm 3 nhóm chính: nhóm đánh bắt hải sản, nhóm nuôi trồng thủy sản và nhóm thumua, chế biến hải sản Vốn được thiên nhiên ưu đãi như có ngư trường rộng lớn,nguồn lợi thủy sản phong phú, tiềm năng mặt đất, mặt nước đa dạng nên không chỉthuận lợi cho khai thác mà còn có tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản nước ngọt, lợ,mặn, nói chung đây là ngành mang lại hiệu quả kinh tế rất cao Tuy nhiên, đầu tư vốncủa ngân hàng tập trung vào ngành này lại không được nhiều thể hiện ở tỷ trọng trungbình qua các năm chỉ đạt 13% Nguyên nhân: mặc dù sản lượng khai thác hải sản hàngnăm đều tăng nhưng chủ yếu đánh bắt có hiệu quả ở những tàu lớn và đánh bắt xa bờ,còn những tàu công suất nhỏ lại hoạt động hiệu quả không cao, nhiều hộ bị thua lỗ.Bên cạnh đó, sản phẩm khai thác nhiều về số lượng nhưng phẩm chất và giá cả khôngcao do không thỏa mãn nhu cầu thị trường, đặc biệt là chưa đủ điều kiện để xuất khẩu
Vì thế, khi cho vay ngân hàng đã phải lựa chọn và kiểm tra rất kỹ lưỡng Đặc biệt làthời gian gần đây, ngân hàng đã hạn chế cho vay những đối tượng khách hàng mới màchỉ ưu tiên những đối tượng cũ, làm ăn có uy tín và hiệu quả để giảm bớt rủi ro, gópphần nâng cao chất lượng tín dụng Về tốc độ tăng ta thấy: tốc độ tăng của ngành hảisản qua các năm không đều nhau Nguyên nhân: vì đây là ngành khá nhạy bén với thịtrường nên điều kiện ở mỗi năm khác nhau thì sự tăng trưởng cũng khác nhau Đặcbiệt doanh số cho vay trong năm 2005 tăng 35,5% so với năm 2004 và sang năm 2006tốc độ tăng chỉ còn 14,1% Tốc độ tăng không đều như vậy là do trong năm 2005 giáxăng dầu tăng nên khách hàng xin vay vốn lưu động nhiều hơn để chuẩn bị cho chiphí đi biển Nhưng sang năm 2006 giá xăng lại tiếp tục tăng cao, ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của khách hàng vì thế khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ vaynên ngân hàng đã thu hẹp quy mô tín dụng đến khi nào khách hàng ổn định, trả nợ vaytốt thì mới cho vay tiếp
* Ngành Thương nghiệp - Dịch vụ:
Ngành Thương nghiệp và Dịch vụ của tỉnh phát triển khá Do tính chất củangành này là hoạt động theo thời vụ và không ổn định, hơn nữa nhu cầu vốn khôngnhiều nên chiếm tỷ trọng không cao trong tổng doanh số cho vay (trung bình qua các