1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

191 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức về BVMT của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và nhân dân được nâng lên một bước; mức độ gia t

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HÀ VÂN

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HÀ VÂN

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của Tôi; các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 6 1.1 Các công trình nghiên cứu về môi trường và bảo vệ môi trường 6 1.2 Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.3 Kết quả và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ 27

Chương 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ

MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA - NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 29 2.1 Đảng Cộng sản Việt Nam và công tác bảo vệ môi trường ở nước ta 29 2.2 Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường nước ta -

Chương 3: CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN

VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG - THỰC TRẠNG,

3.1 Thực trạng công tác bảo vệ môi trường ở nước ta 68 3.2 Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường - thực trạng,

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG

CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẢO VỆ

4.1 Những thuận lợi, khó khăn và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường nước ta đến năm 2030 112 4.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT : Bảo vệ môi trường

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố rất quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo sức khỏe của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế, xã hội; ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta khẳng định: “…bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung của phát triển bền vững” [60, tr.141] Nhận thức rõ tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống của con người, trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, Đảng ta luôn coi BVMT là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu song hành với nhiệm vụ phát triển, bền vững kinh tế - xã hội ở nước ta

Lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đã làm thay đổi diện mạo của đất nước và đời sống của nhân dân trong giai đoạn hiện nay là tất yếu Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế trong lãnh đạo, quản lý về công tác bảo vệ môi trường (CTBVMT) của Đảng, Nhà nước và các cấp ủy, chính quyền địa phương cùng với

ý thức trách nhiệm của người dân chưa cao nên ở nhiều địa phương môi trường chưa được bảo vệ tốt Ở khá nhiều nơi môi trường xuống cấp nhanh chóng, đáng báo động, tác động xấu đến sự phát triển mọi mặt, nhất là kinh tế - xã hội Ở một vài nơi, ô nhiễm môi trường tiềm ẩn những yếu tố trở thành vấn đề chính trị Từ thực trạng đó, Đảng ta đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị về BVMT và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một cách quyết liệt Cụ thể, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-

NQ/TW ngày 15/11/2004 “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nghị quyết chỉ rõ: “Xây dựng nước ta trở

thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên” [50, tr.3] Nghị quyết Đại hội Đại XII của Đảng tiếp tục khẳng định:

Ngăn chặn từng bước và khắc phục sự xuống cấp của môi trường do con người, nhất là các dự án phát triển kinh tế gây ra Hạn chế, tiến tới khắc

Trang 7

phục tình trạng hủy hoại, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị Ban hành các chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng gây ô nhiễm môi trường [60, tr.31-32] Thực hiện các nghị quyết, quan điểm, chủ trương nêu trên của Đảng; trong thời gian qua, CTBVMT ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực: Nhà nước đã

cụ thể hóa, thể chế hóa các chủ trương, quan điểm, các nghị quyết của Đảng về BVMT thành chính sách, pháp luật, chương trình, đề án và tổ chức thực hiện trong toàn xã hội Nhận thức về BVMT của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và nhân dân được nâng lên một bước; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố về môi trường từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học

có tiến bộ rõ rệt… Những chuyển biến tích cực và kết quả đó, đã tạo tiền đề để Đảng lãnh đạo CTBVMT đạt kết quả lớn hơn trong thời gian tới

Tuy nhiên, công tác BVMT còn nhiều hạn chế, yếu kém; ý thức BVMT của cán bộ, đảng viên và nhiều người dân, nhìn chung còn thấp; việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường còn chậm; đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn; việc xử

lý, giải quyết ô nhiễm môi trường hiệu quả thấp; thiếu kiên quyết trong xử lý vi phạm pháp luật về BVMT Trong khi đó, ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi tiếp tục gia tăng với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về kinh

tế, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đời sống nhân dân đang là vấn đề báo động Những hạn chế yếu kém nói trên cùng với tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và mặt trái của hội nhập quốc tế đặt ra cho công tác BVMT nhiều thách thức lớn trước mắt và lâu dài

Những yếu kém trong CTBVMT chủ yếu từ những hạn chế, bất cập trong lãnh đạo của Đảng đối với CTBVMT Cụ thể là, Đảng còn lúng túng trong xác định nội dung và phương thức lãnh đạo (PTLĐ) CTBVMT; chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm lãnh đạo trong từng khoảng thời gian nhất định; còn lúng túng trong lãnh đạo Nhà nước về BVMT; sự phân công, phân cấp trách nhiệm của các cấp ủy

Trang 8

đảng về lãnh đạo CTBVMT có một số điểm chưa cụ thể, rõ ràng; công tác tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân về CTBVMT còn hạn chế, hiệu quả chưa cao Sự lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng trong xác minh và xử lý tập thể, cá nhân vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường có lúc chưa kịp thời, quyết liệt và nghiêm minh; việc lãnh đạo hợp tác quốc tế về BVMT còn nhiều hạn chế, hiệu quả thấp… Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, tìm giải pháp khả thi phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CTBVMT giai đoạn hiện nay thực sự là vấn đề rất cấp thiết

Để góp phần giải quyết vấn đề cấp thiết nêu trên, nghiên cứu sinh chọn và

thực hiện đề tài luận án tiến sỹ “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo

vệ môi trường giai đoạn hiện nay”

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo CTBVMT, luận án đề xuất giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CTBVMT đến năm 2030

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CTBVMT đến năm 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với CTBVMT nước ta giai đoạn hiện nay

Trang 9

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

đối với CTBVMT từ năm 2004 đến nay; phương hướng và giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị đến năm 2030

Về không gian: Luận án nghiên cứu CTBVMT và Đảng lãnh đạo CTBVMT;

tập trung nghiên cứu vấn đề này ở một số tỉnh đặc thù của ba miền nước ta; miền Bắc (Hà Nội), miền Trung (Hà Tĩnh), miền Nam (thành phố Hồ Chí Minh) Đây là những tỉnh, thành phố tập trung khu công nghiệp, khu chế xuất, đông dân cư tiềm

ẩn lớn sự ô nhiễm môi trường

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về môi trường, BVMT và sự lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh vực đời sống xã hội

4.2 Cơ sở thực tiễn

Cơ sở thực tiễn của luận án là thực tiễn CTBVMT ở nước ta và sự lãnh đạo CTBVMT của Đảng từ năm 2004 - 2018 qua nghiên cứu thực tế và các đánhg giá của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, chính quyền ở một số tỉnh, thành điển hình

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và các phương pháp: logíc kết hợp với phương pháp lịch sử; phân tích kết hợp với tổng hợp; thống kê, so sánh; điều tra xã hội học; coi trọng phương pháp khảo sát, tổng kết thực tiễn

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Khái niệm: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo CTBVMT là toàn bộ hoạt động của Đảng, như: xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị về BVMT; quán triệt, tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các tổ chức đảng và đảng viên, các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT), tổ chức xã hội,

tổ chức kinh tế và nhân dân theo quy định làm cho môi trường trong lành, cân bằng, bền vững

Trang 10

- Hai kinh nghiệm về Đảng lãnh đạo CTBVMT từ năm 2004 đến nay Một

là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc huy động và phát huy sức mạnh

tổng hợp của HTCT, các tổ chức, và toàn dân, mọi nguồn lực trong và ngoài nước

để BVMT Hai là, Đảng đặc biệt coi trọng lãnh đạo việc xử lý kịp thời, nghiêm

minh những tổ chức và cá nhân vi phạm Luật BVMT

- Hai giải pháp đột phá tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với

CTBVMT đến năm 2030: thứ nhất, xây dựng Nhà nước và chính quyền các cấp

vững mạnh, bảo đảm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về BVMT Thứ

hai, xây dựng và phát huy vai trò của các tổ chức cơ sở đảng, cán bộ, đảng viên,

nhất là các đảng bộ xã, phường, thị trấn thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận

động, tổ chức nhân dân BVMT

6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo CTBVMT nước ta giai đoạn hiện nay

Luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng nghiên cứu xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo CTBVMT trong những năm tới

Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu môn xây dựng Đảng ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước ta, nhất là ở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị tỉnh, thành phố trong cả nước

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 9 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO

CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1.1 Công trình khoa học ở Việt Nam

- Nguyễn Đức Khiển, Nguyễn Kim Hoàng, “Đạo đức môi trường” [92]

Các tác giả nhận định, sự phát triển của loài người song hành cùng sự phát triển của khoa học công nghệ, của máy móc hiện đại đã để lại nhiều tác động đến môi trường Tác giả đã giành chương 4 tập trung cho vấn đề đạo đức môi trường, bàn về khía cạnh đạo đức trong BVMT Từ thực trạng của sự suy thoái môi trường hiện nay, tác giả luận giải, con người là nạn nhân của ô nhiễm, nhưng chính bản thân họ cũng là những thủ phạm gây nên những thảm họa về môi trường Trong quá trình sinh sống do khai thác tài nguyên, thiên nhiên không hợp lý làm cho môi trường tự nhiên bị suy kiệt; do thiếu ý thức mà con người xả rác bừa bãi, nhận thức

và ý thức BVMT kém đã làm cho môi trường bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng

- Đỗ Thị Ngọc Lan, “Môi trường tự nhiên trong hoạt động cuộc sống của

con người” [99] Tác giả nhận định: con người và xã hội loài người là bộ phận đặc

biệt của tự nhiên, cho nên trước khi biến đổi được tự nhiên con người cần phải thích nghi được với nó; nhưng trong thực tế, con người hầu như không quan tâm tới mối liên hệ biến đổi và thích nghi, bất chấp quy luật tự nhiên, bất chấp sự giới hạn của giới tự nhiên và môi trường Theo tác giả, chính sự khai thác tài nguyên quá mức của con người đã làm suy thoái môi trường; phá vỡ tính đa dạng sinh học; hủy hoại các hệ sinh thái

Tác giả khẳng định, để phát triển bền vững mối quan hệ thích nghi và biến đổi môi trường tự nhiên, cần có những giải pháp đồng bộ; như, giữ tỷ lệ tăng dân số một cách hợp lý; trong sự tăng trưởng kinh tế cần có sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; nhanh chóng áp dụng thành tựu của khoa học công nghệ mới vào khai thác tài nguyên và xử lý chất thải; đẩy mạnh giáo dục nhận thức về môi trường sống

Trang 12

- Nguyễn Minh Hằng, “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người” [72]

Tác giả khẳng định, môi trường suy thoái (MTST) là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu Vì vậy, chỉ cần rối loạn, bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng Trong quá trình sinh sống, con người là chủ thể bồi đắp cho thiên nhiên; nhưng cũng vì lợi ích và nhu cầu của cuộc sống, đã khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) làm suy thoái MTST, dần dần con người trở nên đối lập với thiên nhiên Suy thoái môi trường làm cho trái đất nóng lên do “hiệu ứng nhà kính”; ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng; tầng ôzon suy thoái tác động mạnh đến mọi sinh vật trên trái đất, làm giảm khả năng miễn dịch của con người, gia tăng bệnh tật

Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm, trong cuốn sách “Môi trường sinh thái - vấn

- Hà Huy Thành, Lê Cao Đoàn, “Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội

và quản lý phát triển xã hội theo hướng bền vững ở Việt Nam” [149]

Các tác giả đã phân tích và nhận định: tài nguyên, môi trường, một mặt, là

cơ sở nền tảng của sự phát triển xã hội, bao gồm phát triển kinh tế và các lĩnh vực

xã hội ngoài kinh tế; mặt khác, tài nguyên, môi trường là một bộ phận cấu thành của một hệ thống kinh tế xã hội; BVMT là bảo vệ nguồn lợi và nguồn vốn của con người thu được từ thiên nhiên

Trang 13

Các tác giả đã dành một chương để trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng những vấn đề môi trường và nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường; cụ thể là, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chủ yếu dựa vào khai thác, sử dụng nhiều TNTN

mà không quan tâm đến việc sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT Điều đó đã dẫn đến tình trạng tàn phá, hủy diệt, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên; môi trường nước, không khí, rác thải ở cả đô thị và nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng gây nhiều hệ lụy cho sự phát triển kinh tế, xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người; trong khi đó, việc quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều bất cập

- Nguyễn Thị Khương, “Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng

trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay” [97]

Dưới góc độ triết học, tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với BVMT sinh thái và khẳng định: tăng trưởng kinh tế tác động tới bảo vệ MTST thông qua yếu tố người lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ - là những yếu tố cơ bản quyết định tới sự tăng trưởng của nền kinh tế và ảnh hưởng tới quá trình bảo vệ MTST Ngược lại, MTST giữ vai trò tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự hình thành, phát triển của con người cũng như nền sản xuất vật chất của xã hội; nó cung cấp những điều kiện vật chất - tức là nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn để con người sản xuất ra của cải, duy trì sự sinh tồn và phát triển Vì vậy, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ MTST là hai nhiệm

vụ quan trọng xuyên suốt, luôn đồng hành với nhau trong quá trình phát triển kinh

- Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Thị Hoàng Yến, “Bảo vệ môi trường và phát

triển bền vững ở Việt Nam” [162]

Các nhà khoa học nhận định, muốn phát triển bền vững phải tính đến yếu tố môi trường Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội có quan hệ chặt chẽ, khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau Chính trong quá trình sản xuất, con người do thiếu ý thức, thiếu hiểu biết, tận khai thác đã và đang tác động tiêu cực đến môi trường; hủy hoại những giá trị của môi trường Các tác giả đã đánh giá cụ thể về hiện trạng của ô

Trang 14

nhiễm môi trường; như, mức độ ô nhiễm ở hạ lưu các con sông ngày càng tăng, chất lượng đất và diện tích đất canh tác bị thu hẹp, ô nhiễm không khí, tiếng ồn giao thông… sẽ gây ra nhiều hậu quả xấu cho đời sống, sức khỏe con người, cho sự phát triển kinh tế - xã hội; hậu quả đó không phải chỉ một quốc gia phải gánh chịu và còn gây hậu quả trên phạm vi toàn cầu

- Trần Thiết, “Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững” [155]

Tác giả chỉ rõ, mức độ nguy hiểm của biến đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm môi trường; trong đó, Việt Nam là nước ảnh hưởng nặng nề nhất Theo tác giả, nguyên nhân dẫn tới môi trường bị suy giảm, ngoài yếu tố khách quan có nguyên nhân chủ quan thuộc về nhận thức và ý thức của người dân và chủ doanh nghiệp Việc BVMT để phát triển bền vững là trách nhiệm của cả HTCT, của toàn dân, mà trước hết là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng

Lê Thị Thanh Hà,“Vai trò của nhà nước đối với việc bảo vệ môi trường trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam” [69]

Tác giả khái quát đặc điểm của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, chỉ rõ những tác động tiêu cực của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đến môi trường nước ta hiện nay, như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tác động trực tiếp đến môi trường; quá trình đô thị hóa đã thu hẹp tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp; dân số tăng cộng với các dịch vụ khác đã gây sức ép lớn cho môi trường; sự phát triển của làng nghề làm gia tăng chất thải nguy hại; tác động của việc khai thác khoáng sản làm nảy sinh vấn đề môi trường bức xúc Tác giả khẳng định vai trò của nhà nước trong CTBVMT thời gian qua và chỉ rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật BVMT; hạn chế của tổ chức bộ máy; hạn chế trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia BVMT

- Trương Mạnh Tiến, “Sự phát triển của thương mại tự do trong điều

kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái” [159]

Tác giả đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về tự do thương mại và bảo vệ MTST ở nước ta Khi nghiên cứu về nền kinh tế thị trường và quá trình tự do hóa thương mại, tác giả phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái Trên cơ sở đó, tác giả đi đến nhận định: sự bền vững về MTST chính là cơ sở để tăng trưởng kinh tế; con đường khả

Trang 15

thi duy nhất để tăng trưởng kinh tế lâu bền là cân bằng các nguồn lực kinh tế, sinh thái, con người

Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi và chỉ rõ những hậu quả về mặt môi trường của các chính sách kinh tế tự do hóa thương mại gây ra; tác giả cho rằng, quy mô hoạt động thương mại tăng, sẽ dẫn đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và ô nhiễm MTST cũng tăng theo; các hoạt động tự do hóa thương mại như nhập hàng hóa kém chất lượng, rác thải công nghiệp, xuất khẩu gỗ, thủy hải sản… để lại nhiều hậu quả về MTST; tự do hóa thương mại dẫn tới tăng trưởng kinh tế cao hơn, nhu cầu sử dụng tài nguyên cho các ngành công nghiệp gia tăng, việc khai thác TNTN sẽ dẫn đến tình trạng MTST ô nhiễm ngày càng nặng nề hơn

Tác giả rút ra kết luận: sự phát triển tự do thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta ảnh hưởng rõ rệt tới MTST, nhưng tự do hóa thương mại có vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững; vì vậy, cần phải có biện pháp để BVMT sinh thái trong điều kiện tự do hóa thương mại ở nước ta

- Nguyễn Đình Hòa, “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

ở nước ta hiện nay - khía cạnh môi trường sống” [81]

Tác giả khẳng định, ở nước ta các vấn đề về môi trường sống nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay đang trở nên hết sức phức tạp, tạo nên sức ép to lớn đối với môi trường sống khu vực này, nếu không được giải quyết kịp thời sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng, cản trở quá trình phát triển Nguy cơ cạn kiệt một số nguồn tài TNTN do các hoạt động sản xuất và dân sinh, vấn đề ô nhiễm môi trường do tác động của quá trình CNH, HĐH; nguy cơ giảm đa dạng sinh học chủ yếu do các hoạt động sản xuất và dân sinh; các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được triển khai tại nhiều địa phương góp phần gây ô nhiễm… là vấn đề cấp bách hiện nay cần có những giải pháp căn cơ để khắc phục

- Nguyễn Thị Nga, “Vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam hiện nay” [121]

Tác giả phân tích những đặc điểm của môi trường tự nhiên ở nước ta; chỉ rõ nội dung cơ bản của công tác BVMT trong tiến trình CNH, HĐH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay; tác giả đánh giá hiện trạng và hoạt động của môi trường tự nhiên liên quan đến các lĩnh vực như: tài nguyên đất, tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; chỉ rõ những ưu điểm và hạn

Trang 16

chế của nhà nước, của doanh nghiệp và của người dân đối với việc bảo vệ môi trường tự nhiên

Trên cơ sở đó, tác giả đề ra các nhóm giải pháp để BVMT trong tiến trình CNH, HĐH; trong đó, coi trọng giải pháp tăng cường vai trò của nhà nước đối với hoạt động này; như, hoàn thiện hệ thống pháp luật; tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT tự nhiên; vận dụng kinh nghiệm của các nước đi trước trong BVMT và tăng cường đầu tư nguồn tài chính cho CTBVMT

- Nguyễn Hữu Cát, Vương Cường, “Khảo sát thực trạng quản lý Nhà nước

về môi trường tại một số tỉnh phía Nam ở nước ta hiện nay” [23]

Các tác giả đã đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường qua khảo sát ở một số tỉnh phía Nam, chỉ rõ những yếu kém, bất cập trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và tái tạo môi trường của hệ thống pháp luật ở nước ta, yếu kém của đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực môi trường Trên cơ sở đó, các tác giả

đề xuất hệ thống giải pháp để thực hiện tốt công tác quản lý môi trường trong thời gian tới, đó là: hoàn chỉnh hệ thống pháp luật; tăng cường bộ máy quản lý Nhà nước về môi trường và nâng cao hiệu quả hoạt động của nó; tăng cường giáo dục ý thức môi trường cho người dân

- Nguyễn Minh Quang, “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh

công tác bảo vệ tài nguyên môi trường” [133]

Tác giả khẳng định, BVMT được nhìn nhận là vấn đề sống còn, được coi là một trong ba trụ cột để phát triển đất nước Tác giả đánh giá và khẳng định những kết quả đạt được trong CTBVMT, cụ thể: nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của CTBVMT của các cấp, các ngành, các đoàn thể chính trị - xã hội và người dân đã

có những chuyển biến tích cực; mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường được hạn chế; công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường được đẩy mạnh Tuy nhiên, MTST nước ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, triều cường, xâm nhập mặn, ô nhiễm môi trường gia tăng

Tác giả nhấn mạnh, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn; là nhiệm

vụ của cả HTCT; là cơ sở tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế, xã hội; là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là trách

Trang 17

nhiệm của mỗi tổ chức cá nhân và cộng đồng, trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia giám sát của toàn xã hội

- Trần Đắc Hiến, “Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay - thực trạng và

một số giải pháp khắc phục” [75]

Tác giả cho rằng, trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, việc phát triển kinh tế gắn với môi trường chưa chú trọng đúng mức, dẫn đến ô nhiễm môi trường ở Việt Nam ngày càng nghiêm trọng, nóng bỏng và là vấn đề gây bức xúc trong dư luận xã hội Theo tác giả, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng là do bất cập của cơ chế, chính sách; quyền hạn pháp lý của các cơ quan BVMT chưa đủ mạnh; chính quyền chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của CTBVMT Giải quyết được tình trạng này, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, trong đó các chế tài xử phạt phải đủ sức răn đe; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường; chú trọng công tác quy hoạch khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm BVMT

- Trần Thị Thu Hường, “Tăng cường hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” [90]

Trên cơ sở nghiên cứu Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, tác giả chỉ rõ tám nhóm hành vi vi phạm chính về quy định BVMT gồm: hành vi vi phạm về kế hoạch BVMT, đánh giá tác động môi trường; hành vi gây ô nhiễm môi trường; hành vi vi phạm về xử lý chất thải; hành vi vi phạm về quy định BVMT của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ và khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh doanh dịch vụ tập trung; hành vi vi phạm quy định về BVMT trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị; hành vi vi phạm trong hoạt động lễ hội, du lịch và khai thác khoáng sản Tác giả cho rằng, việc xác định trách nhiệm

và cơ chế phối hợp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử phạt của Nghị định

155, đã đáp ứng kịp thời đòi hỏi bức thiết, góp phần thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm quy định về môi trường được thống nhất, hiệu quả, có tính răn đe cao; buộc các tổ chức, doanh nghiệp phải thay đổi hành vi BVMT, nâng cao tinh thần thượng tôn pháp luật cho các tổ chức, doanh nghiệp trong CTBVMT

Trang 18

- Nguyễn Hằng, “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và đa dạng hóa các hoạt

động truyền thông trong công tác bảo vệ môi trường” [74]

Tác giả phân tích và khái quát vai trò của công tác tuyên truyền đối với CTBVMT, công tác tuyên truyền là một hoạt động góp phần thúc đẩy thực hiện thắng lợi các mục tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ đặt ra đối với CTBVMT Vì vậy, cần

tổ chức truyền thông, phổ biến các cơ chế, chính sách, chủ trương lớn về tài nguyên và môi trường ngay từ khi chuẩn bị, ban hành và tổ chức triển khai Tác giả chỉ rõ biện pháp chủ yếu trong công tác truyền thông là: chú trọng tuyên truyền, hướng dẫn cho người dân thực hiện các biện pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn TNTN, ý thức trách nhiệm trong CTBVMT; phổ biến, hướng dẫn, tăng cường năng lực cho các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp thực hiện chức năng giám sát, phản biện và tham vấn cộng đồng về tài nguyên và môi trường; chú trọng ứng dụng công nghệ và phương thức truyền thông để lắng nghe

ý kiến của doanh nghiệp, người dân và cộng đồng xã hội, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường

- Vũ Ngọc Lân, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong công tác

bảo vệ môi trường” [102]

Tác giả đánh giá kết quả đạt được khi người dân tham gia BVMT trong thời gian qua như: xu hướng người dân tham gia trực tiếp vào CTBVMT ở địa bàn cơ

sở ngày càng tăng; việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã từng

bước cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trên

nhiều lĩnh vực, tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, trong đó có BVMT Tuy nhiên, theo tác giả, ở nhiều nơi người dân chưa biết được việc xử lý, BVMT trên địa bàn của mình như thế nào nên cũng không thể bàn và kiểm tra, do các khu công nghiệp, khu chế xuất và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được bao bọc, khép kín và người dân bất khả xâm phạm Tác giả nhận định, trách nhiệm trước hết là do người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan tham mưu, thẩm định dự án về môi trường; các tổ chức đoàn thể chưa đủ chuyên môn về môi trường để giám sát và

phản biện Tác giả cho rằng, để thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn,

dân làm, dân kiểm tra” trong công tác BVMT cần phải có các quy chế, quy định mang tính pháp quy; phát huy hơn nữa thế mạnh của các phương tiện thông tin đại

Trang 19

chúng; việc công khai phê bình các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp về vi phạm BVMT trên báo chí cần phải được tái lập, đây là những giải pháp thiết thực

để nhân dân tham gia công tác BVMT

- Bùi Cách Tuyến, “Giám sát xã hội và bảo vệ môi trường ở Việt Nam” [164]

Tác giả đã nhận định: để nâng cao hiệu quả của CTBVMT thì một trong những biện pháp cần được thực hiện thường xuyên đó là làm tốt chức năng giám sát

xã hội đối với hoạt động này Tác giả xác định rõ, chủ thể của giám sát xã hội là MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cá nhân, công dân hoặc cộng đồng dân cư, các cơ quan truyền thông đại chúng Đối tượng chịu sự giám sát xã hội là cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh, họ có nghĩa vụ chấp hành Luật BVMT

Theo tác giả, thời gian qua, hoạt động giám sát xã hội về BVMT ở Việt Nam

đã được tiến hành khá tích cực Tuy nhiên, thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết về cả tổ chức thực thi và phương diện hoàn thiện thể chế Vì vậy, các cấp

ủy đảng, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nhận thức đúng về bản chất và thiết lập khuôn khổ pháp lý để hoạt động giám sát xã hội về BVMT diễn ra một cách thuận lợi và đạt kết quả

- Nguyễn Văn Kim, “Mối quan hệ giữa phát triển và môi trường - kinh

nghiệm của Nhật Bản” [98]

Từ thực tiễn phát triển kinh tế của Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XX, tác giả nhận xét: chính hoạt động và ý thức của con người khi khai thác quá mức tài nguyên đã tác động xấu đến MTST; bên cạnh đó, sự tập trung quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các ngành sản xuất đã dẫn đến mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường Tác giả luận giải và nhận định, dù là có ý thức hay vô thức, thì chính con người là tác nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm môi trường, tàn phá, hủy hoại môi trường Hậu quả của nó lại chính con người phải gánh chịu Chính vì mục tiêu tăng trưởng nhanh, chính phủ Nhật bản chưa tập trung cho CTBVMT mà còn dung túng cho các tổ chức hủy hoại môi trường

Tác giả khái quát những kết quả đạt được của Nhật Bản trong BVMT, và nêu một số kinh nghiệm của Nhật Bản trong CTBVMT, đó là: luật hóa và tăng cường thực thi pháp luật về BVMT; thiết lập cơ quan chuyên trách BVMT; sử dụng công nghệ sạch, đảm bảo an toàn; giáo dục cho người dân hiểu rõ về ý nghĩa và trách

Trang 20

nhiệm của BVMT và vận động nhân dân tham gia tích cực phòng chống ô nhiễm; thay đổi chiến lược phát triển kinh tế Theo tác giả, đây là bài học kinh nghiệm đáng để Việt Nam nghiên cứu vận dụng nhằm thực hiện tốt việc BVMT

Jung Gun Young, “Quản lý nhà nước về môi trường ở Hàn Quốc - Những

giá trị tham khảo cho Việt Nam” [91]

Tác giả tập trung phân tích, đánh giá, so sánh thực tiễn quản lý nhà nước về BVMT ở Hàn Quốc và Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước;

cụ thể như, so sánh về mô hình tổ chức và hoạt động của chính phủ trong quản lý nhà nước về môi trường, thông qua nghiên cứu điển hình và phân tích chuyên sâu

về các mô hình tổ chức này tại Hàn Quốc và Việt Nam trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội khác nhau Từ đó, tác giả khẳng định những kinh nghiệm của Hàn Quốc trong BVMT mà Việt Nam cần ưu tiên vận dụng đó là: cần quyết liệt và nhanh chóng triển khai các chính sách phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong tất cả các ngành kinh tế; tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đặc biệt là công tác kiểm tra, giám sát, kiềm chế ô nhiễm môi trường thông qua một đầu mối để tránh sự chồng chéo, trùng lắp và tiết kiệm ngân sách; cải cách mạnh mẽ chính sách phí và thuế môi trường

Trần Thị Duyên, “Các giải pháp, chính sách của Đài Loan đối với các vấn

đề môi trường” [41]

Tác giả phân tích và chỉ rõ, kế hoạch BVMT mang tính tổng thể đã được chính quyền Đài Loan đặc biệt lưu tâm từ năm 1990 Luật BVMT ở Đài Loan không chỉ tiến bộ về mặt tinh thần mà còn phối hợp với cơ chế kiểm soát môi trường hiện đại để hạn chế những tác động xấu của các vấn đề môi trường đặt ra Bài viết đã phân tích cụ thể các chính sách của chính phủ Đài Loan đối với việc BVMT không khí và tầng ozone; chính sách BVMT nước, kiểm soát tiếng ồn; chính sách, biện pháp để giảm thiểu và tái chế rác thải Tác giả nhấn mạnh, vấn

đề môi trường là vấn đề manh tính toàn cầu; vì vậy, để giải quyết triệt để vấn đề này, không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của riêng Đài Loan, mà cần có sự hợp tác của tất

cả các nước trên thế giới để vừa phát triển kinh tế, vừa đảm bảo giữ vững môi trường sinh thái

Trang 21

- Phạm Thị Xuân Mai, “Đối sách của Trung Quốc trước các vấn đề môi

trường” [114]

Tác giả nhận định, Trung Quốc hiện đang trong giai đoạn phát triển nhanh chóng của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa Đây cũng là giai đoạn mâu thuẫn xẩy ra nhiều nhất giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT Cụ thể là, dân số tăng nhanh, tài nguyên bị khai thác quá mức đã dẫn đến nhiều vấn đề sinh thái như, dất đai bị xói mòn, tình trạng hoang mạc hóa, mất đi đa dạng sinh học; môi trường nhiều nơi bị ô nhiễm nặng nề Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều biện pháp, chính sách để đối phó với ô nhiễm môi trường và đạt được nhiều kết quả quan trọng Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm môi trường gia tăng ở một số khu vực cho thấy việc thực thi

và hiệu quả của những chính sách này còn hạn chế Vì vậy, thay đổi chính sách phù hợp để BVMT là nhiệm vụ được chính phủ Trung Quốc đặt lên hàng đầu Những chính sách Trung Quốc đang thực thi là kinh nghiệm để Việt Nam có thể tham khảo đối với công tác BVMT, như: tăng cường quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp BVMT; tăng cường đổi mới công nghệ, khuyến khích sáng tạo và đổi mới, tăng cường xây dựng kênh đầu tư đa nguyên hóa và cơ chế huy động vốn vào ngành công nghiệp BVMT; ủng hộ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong CTBVMT; quy hoạch, chấn hưng ngành công nghiệp tiết kiệm năng lượng và BVMT

- Hoàng Hồng Hạnh, “Kinh nghiệm quốc tế về phân vùng môi trường trong

quy hoạch và bảo vệ môi trường” [71]

Tác giả nhận định, phân vùng môi trường được hiểu là một công cụ quy hoạch không gian, cơ sở để phân loại môi trường là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và

có thể cả yếu tố kinh tế - xã hội tại mỗi vùng phụ thuộc vào mục đích ưu tiên của từng vùng Từ thực tế phân vùng môi trường đã và đang được tiến hành ở nhiều quốc gia như châu Âu, châu Mỹ, Trung Quốc, Úc, Malaixia, Ấn Độ Tác giả khẳng định, phân vùng môi trường được coi là công cụ quan trọng và là bước đầu tiên của quy hoạch BVMT Để phân vùng môi trường, Việt Nam cần vận dụng các kinh nghiệm sau: thứ nhất, chú ý đến các đặc điểm, đặc trưng của từng vùng và làm

rõ mục tiêu cần đạt được; thứ hai, xây dựng bản đồ là một trong những công cụ để thể hiện được sự giao thoa giữa hoạt động kinh tế và điều kiện môi trường; thứ ba, chú trọng tính kết nối và tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố, đặc biệt là tính kết nối sinh thái, sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội; thứ tư, quy hoạch

Trang 22

BVMT cần phải dự báo và kiểm soát ảnh hưởng tiềm tàng của phát triển kinh tế -

xã hội, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội đang diễn ra nhanh và tất

yếu hiện nay

1.1.2 Công trình khoa học ở nước ngoài

- Hilary French, “After the Earth Summit: the Future of Environmental

Governance”, “Tương lai của công tác quản lý nhà nước về môi trường sau Hội

nghị thượng đỉnh trái đất” [175]

Cuốn sách đã tổng hợp tiến trình phát triển quản lý nhà nước về BVMT trên thế giới Từ việc khẳng định vai trò quản lý nhà nước đối với CTBVMT, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và công tác quản lý nhà nước về môi trường để giải quyết các vấn đề về môi trường do đặc tính

“xuyên biên giới” và quy mô toàn cầu của vấn đề này Đặc biệt, tác giả chỉ rõ những thành tựu và khó khăn, thách thức đặt ra đối với CTBVMT trong bối cảnh toàn cầu hóa và vấn đề biến đổi môi trường theo chiều hướng xấu diễn ra mạnh mẽ khắp toàn cầu Trên cơ sở đó, cuốn sách đã đưa ra một số kết luận quan trọng, cần tham khảo cho CTBVMT của các quốc gia; cụ thể, thể chế hóa hoạt động BVMT, đưa quy định trách nhiệm BVMT vào Hiến pháp để nâng cao hiệu quả của công tác này; nỗ lực của toàn cầu và khu vực nhằm giải quyết hiệu quả những khó khăn, thách thức về nguồn lực tài chính cho hoạt động BVMT; không lạm dụng các nguồn tài nguyên và đòi hỏi quá mức về môi trường sẽ làm cho nền kinh tế thế giới

bị hạn chế Tác giả cho rằng, bên cạnh nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường, cần tập trung cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nghèo là biện pháp quan trọng để BVMT, tránh cho môi trường bị hủy hoại, xuống cấp

- Tác giả Helige Jorgens, Helmut Weidner, với cuốn sách“Capacity building

in national Environmental policy comparative Study of 17 countries”, (Tăng cường năng lực về chính sách môi trường - nghiên cứu so sánh 17 quốc gia) [170]

Đây là công trình của của tập thể tác giả nhằm phân tích, đánh giá, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm trong quản lý môi trường nhiều quốc gia và đưa

ra các mô hình quản lý tối ưu cho công tác quản lý môi trường phù hợp cho các quốc gia đang phát triển

Các tác giả khái quát quá trình phát triển và chính sách quản lý môi trường trường giai đoạn 1970 - 2000 ở các quốc gia Đông Âu đang trong giai đoạn chuyển

Trang 23

dịch nền kinh tế từ quản lý tập trung sang thị trường gồm: Tiệp Khắc, Bungari, Hungari, và Ba Lan; 7 quốc gia, vùng lãnh thổ đang phát triển ở miền Nam Mỹ, châu Á và châu Phi gồm: Bradin, Mêhicô, Môrốccô, Côxtarica, Ấn Độ, Đài Loan

và Việt Nam; 6 quốc gia phát triển gồm: Canađa, Italia, Áo, Úc, Pháp, Niu Di Lân Nghiên cứu đã làm rõ các vấn đề trọng tâm sau đây về môi trường: khái niệm về năng lực quản lý và chính sách môi trường; quan điểm và cách hiểu của các quốc gia về năng lực quản lý nhà nước về môi trường; những hạn chế về năng lực của hệ thống quản lý nhà nước về môi trường Các tác giả đã khái quát về tiến trình phát triển của hệ thống quản lý nhà nước của Việt Nam giai đoạn từ 1990 đến 2000; phân tích, so sánh với các quốc gia phát triển và đang phát triển và nêu một số kiến nghị cho Việt Nam trong CTBVMT

Tác giả Koos Neetjes với công trình: “Environment and livelihoods:

strategies for sustainable development” (môi trường và sinh kế - các chiến lược

phát triển bền vững [171]

Với kết cấu 5 chương, cuốn sách phản ánh mối quan hệ giữa đói nghèo và những thay đổi về môi trường; phân tích và khái quát lý thuyết về môi trường và phát triển, nhất là phát triển bền vững Theo tác giả, phát triển bền vững dựa vào ba yếu tố cốt lõi: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, BVMT và TNTN Tác giả cho rằng, hệ sinh thái và nơi sinh sống của các loài động thực vật hoang dã sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu môi trường bị ô nhiễm, TNTN bị hủy diệt; ngoài ra, còn ảnh hưởng đến đất canh tác và hiện tượng thiếu nước ngọt Điều này, đã dẫn đến những biến động xã hội chưa từng thấy mà những người nghèo và cộng đồng trực tiếp sống dựa vào TNTN phải chịu ảnh hưởng nhiều nhất; tình trạng này đang xảy

ra ở phần lớn các nước đang phát triển Từ đó, tác giả khẳng định: môi trường cần thiết cho sự sống của con người, nếu không bảo vệ được môi trường thì không thể cải thiện được cuộc sống của con người; bảo vệ và phục hồi môi trường và hệ sinh thái là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững, giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống của con người

Tác giả Mohamed Labir Bouquerra với cuốn “La Polution in visible” (Nạn ô

nhiễm vô hình) [173]

Theo tác giả, trái đất đang ngày càng bị ô nhiễm nặng nề Tác nhân gây nên tình trạng ô nhiễm này là do hóa chất, vì hiện nay có tới trên 4 triệu hóa chất

Trang 24

thường xuyên luân chuyển quanh ta, chúng gây ra tác hại cho sức khỏe, sự sống của con người và môi trường Tác giả đã nghiên cứu thực trạng tác hại của ô nhiễm môi trường ở các nước như Mỹ, Anh, Pháp, Ấn Độ và khẳng định, ô nhiễm

từ các loại hóa chất đang gây ra nhiều căn bệnh cho con người, gây ra gánh nặng

về kinh tế Tác giả khẳng định, sự cần thiết và cấp bách trong cuộc đấu tranh BVMT vì sự sống trên hành tinh của chúng ta; trong đó, việc hạn chế sử dụng hóa chất và cấm sử dụng hóa chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe con người là biện pháp cần thực hiện

Cuốn “Umweltver Waltung” (Quản lý môi trường) của ManFRedSchReiner [172]

Theo tác giả, môi trường tự nhiên là đầu vào của hệ thống kinh tế và cũng là nơi tiếp nhận chất thải; nguồn tài nguyên cũng như khả năng tiếp nhận của chất thải của môi trường tự nhiên là có hạn Vì vậy, khi tài nguyên suy giảm, môi trường bị quá tải thì môi trường sẽ đòi hỏi cải thiện và đề bù Tác giả cho rằng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay là do quan niệm về giá trị cuộc sống Đã có thời kỳ các nước phương Tây đưa ra phương châm hành động bị phê phán “tổng sản phẩm xã hội và sự tăng trưởng của nó”, đây là nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường Ngày nay, đã có sự thay đổi trong quan niệm giá trị; thước đo tiêu chuẩn cuộc sống từ chỗ được đo bằng đại lượng tổng sản phẩm

xã hội thì ngày nay được thay bằng đại lượng “chất lượng cuộc sống”

Tác giả Beria Leimona, Meine Van Noordwijk với cuốn sách“Payment for

environmental services: Experiences and lessons in Vietnam” (Chi trả dịch vụ môi

trường: kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam) [174]

Trên cơ sở phân tích bản chất và sự cần thiết tất yếu của hoạt động chi trả dịch vụ môi trường nhằm tạo ra lợi ích cho cá nhân và cộng đồng; các tác giả đã tiếp cận các vấn đề từ thực tiễn Việt Nam để đề xuất những giải pháp BVMT thông qua các hoạt động chi trả môi trường Các tác giả đề xuất, đưa vấn đề chi trả dịch vụ

hệ sinh thái vào các chính sách và chương trình của Việt Nam; hoạt động này được thực hiện trên nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền (những người hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái và họ phải trả chi phí cho các dịch vụ này); người gây ô nhiễm trả tiền (bất kỳ ai phá hoại môi trường đều phải bồi thường cho những thiệt hại họ gây ra) Trên cơ sở đó, các tác giả cho rằng, Việt Nam đã sẵn sàng sử dụng

Trang 25

một số công cụ tài chính và kinh tế cần thiết để thực thi hoạt động chi trả phí dịch

vụ hệ sinh thái Nhưng vấn đề đặt ra chính mà là thiếu một khung pháp lý, thiếu cơ

sở pháp lý cho cộng đồng để tham gia ký kết hợp đồng

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC LĨNH VỰC ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1.2.1 Công trình khoa học ở Việt Nam

- Lê Quang Phi, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp

hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn từ 1991 đến 2002 [130]

Luận án đánh giá, tổng kết và làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo, chủ trương, đường lối của Đảng, những thành tựu đạt được và những yếu kém trong quá trình Đảng lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta năm 1991 đến năm

2002 Qua đó, luận án rút ra một số kinh nghiệm để hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Những vấn đề luận án có thể vận dụng, tham khảo, kế thừa: làm rõ nội dung, PTLĐ của Đảng nói chung và nội dung, PTLĐ của Đảng đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; những giải pháp cần thực hiện để tăng cường năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn những năm tới

- Trần Đình Nghiêm, “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” [123]

Cuốn sách tập trung luận bàn và giải quyết một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về PTLĐ; mối quan hệ giữa nội dung lãnh đạo và PTLĐ; sự cần thiết đổi mới PTLĐ của Đảng đối với HTCT và các lĩnh vực đời sống của xã hội Từ thực trạng của PTLĐ, nguyên nhân ưu điểm và hạn chế, cuốn sách xác định các giải pháp đổi mới PTLĐ của Đảng đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội Những nội dung này có giá trị tham khảo làm sáng tỏ nội dung lãnh đạo và PTLĐ của Đảng đối với CTBVMT

- Lê Văn Lý, “Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của

đời sống xã hội nước ta” [111]

Cuốn sách đã chỉ ra và phân tích làm rõ những căn cứ chủ yếu để xác định nội dung, PTLĐ của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu; chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò, đặc điểm của đảng cầm quyền; xác định nội dung, PTLĐ của Đảng đối

Trang 26

với một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta, gồm các lĩnh vực: kinh

tế, tư tưởng - lý luận, quốc phòng, an ninh, văn học - nghệ thuật Đây là những gợi

mở để luận án xác định nội dung, PTLĐ của Đảng và xác định các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối CTBVMT

- Đỗ Ngọc Ninh, “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong tình hình

mới” [129]

Tác giả khẳng định từ sau Đại hội X đến nay, việc đổi mới PTLĐ của Đảng

đã có chuyển biến tích cực, cụ thể: đã xây dựng quy chế làm việc, chương trình công tác toàn khoá của Ban Chấp hành Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng; trong đó, xác định những vấn đề trọng tâm cần tập trung giải quyết, những vấn đề bức xúc đặt ra; kết quả là, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ đã có tiến bộ; chế độ báo cáo, lấy ý kiến về hoạt động của mình trước hội nghị toàn thể đảng viên được quan tâm thực hiện; việc học tập quán triệt Nghị quyết Đại hội đã đi sâu hơn vào những vấn đề mới, những quyết định quan trọng trong Văn kiện Đại hội Đảng, coi trọng trao đổi, thảo luận; PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước và chính quyền địa phương có cải tiến…

Tuy nhiên, việc thực hiện đổi mới PTLĐ của Đảng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết: nâng cao nhận thức về việc thực hiện đổi mới PTLĐ của Đảng trong điều kiện hiện nay; nâng cao trình độ, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng; tập trung hơn vào việc đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước; sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và các tổ chức trong HTCT các cấp phù hợp yêu cầu công cuộc đổi mới; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các ngành, các cấp

- Lê Văn Thư, “Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn

hóa - xã hội giai đoạn hiện nay” [158]

Luận án phân tích, đánh giá thực trạng phát triển văn hóa - xã hội và thực trạng các tỉnh uỷ đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội; chỉ ra nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế; rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn Đặc biệt, luận án đề xuất 5 giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ ở vùng này, đối với phát triển văn hoá - xã hội: nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là của các tỉnh uỷ và tỉnh uỷ viên về vai trò lãnh đạo của tỉnh ủy đối với phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương; nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên hoạt động trong các

Trang 27

cơ quan chuyên trách về công tác văn hóa - xã hội tỉnh; tiếp tục đổi mới nội dung, PTLĐ của tỉnh ủy trong phát triển văn hóa - xã hội; lãnh đạo nâng cao hiệu lực quản

lý của chính quyền tỉnh và phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển văn hóa - xã hội; đẩy mạnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết và sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm

- Nguyễn Xuân Hưng, “Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực

hiện công bằng xã hội giai đoạn hiện nay” [86]

Luận án đưa ra khái niệm các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực

hiện công bằng xã hội; xác định nội dung và PTLĐ của các tỉnh ủy đối thực hiện công bằng xã hội; thực trạng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của các tỉnh ủy thời gian qua và đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng này đối với thực hiện công bằng xã hội đến năm 2025 Cụ thể, đổi mới quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện tốt một số nghị quyết chuyên đề của tỉnh uỷ về

phát triển kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; nâng cao nhận thức, trách nhiệm

của cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên về thực hiện công bằng xã hội; xây dựng chính quyền từ tỉnh đến cơ sở vững mạnh, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội đạt kết quả tốt; xây dựng các tỉnh ủy vững mạnh thực sự là chủ thể lãnh đạo

thực hiện công bằng xã hội đạt kết quả; tăng cường thanh tra, xử lý sai phạm về

thực hiện công bằng xã hội; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm; nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của các tổ chức cơ sở đảng; phát huy vai trò của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế -

xã hội trong thực hiện công bằng xã hội; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương đối với các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng trong lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội

- Bùi Văn Nghiêm, “Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn hiện nay” [124]

Luận án đưa ra khái niệm Tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; xác định nội dung và PTLĐ của tỉnh ủy đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Luận án đánh giá và nêu rõ những ưu điểm và hạn chế về nội dung lãnh đạo

và PTLĐ của tỉnh ủy Đồng bằng sông Cửu Long đối với chuyển dịch cơ cấu kinh

Trang 28

tế nông nghiệp và đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến

năm 2015 Trong đó, nhấn mạnh các giải pháp như: Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tỉnh ủy viên, cấp ủy viên huyện, xã và cán bộ, đảng viên Thứ

hai, xây dựng chính quyền tỉnh, huyện, xã vững mạnh, đội ngũ cán bộ lãnh đạo,

quản lý các cấp đáp ứng tốt yêu cầu thực hiện các nghị quyết, chủ trương của tỉnh

ủy về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Thứ ba, tỉnh ủy xác định đúng

những vấn đề trọng tâm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh, tập

trung lãnh đạo đạt kết quả Thứ tư, nâng cao chất lượng tỉnh ủy, các cơ quan tham

mưu tỉnh ủy, đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp thông qua tổ chức đảng và đảng viên Thứ năm, có cơ chế phối hợp giữa

các tỉnh ủy trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; tăng cường sự chỉ đạo, tạo thuận lợi của các bộ, ngành Trung ương; tiếp thu vận dụng kinh

nghiệm của nước ngoài Thứ sáu, phát huy vai trò của MTTQ, các tổ chức chính

trị - xã hội, nhân dân và các doanh nghiệp, cơ quan khoa học, công nghệ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát,

sơ kết, tổng kết thực tiễn

1.2.2 Các công trình khoa học ở nước ngoài

* Các công trình khoa học ở Trung Quốc

- Hạ Quốc Cường,“Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình

độ cầm quyền, tăng cường năng lực chống tha hóa, phòng biến chất và chống rủi ro” [36]

Tác giả đã phân tích quá trình đổi mới công tác xây dựng Đảng của Đảng

Cộng sản Trung Quốc và chỉ rõ hai vấn đề lớn: thứ nhất, nâng cao hơn nữa trình độ lãnh đạo và trình độ cầm quyền của Đảng; thứ hai, tăng cường hơn nữa năng lực

chống tha hoá, phòng biến chất và chống rủi ro

Tác giả chỉ ra thực trạng năng lực Đảng lãnh đạo, đấu tranh phòng chống tha hóa, biến chất trong đội ngũ đảng viên và đề ra những giải pháp chủ yếu như: nắm vững nhiệm vụ trung tâm của cách mạng; tuân theo đường lối cơ bản của Đảng; xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc; tăng cường xây dựng tư tưởng lý luận, thực hiện Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác; xây dựng ban lãnh đạo, xây dựng

Trang 29

đội ngũ cán bộ tố chất cao, coi trọng cao độ việc xây dựng đội ngũ cán bộ, coi trọng xây dựng nhân tài; tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng; giữ gìn mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân; tăng cường và cải tiến toàn diện việc xây dựng tác phong của Đảng đảm bảo sự liêm chính, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tha hóa trong nội bộ

- Trác Vệ Hoa, "Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung

Quốc 30 năm qua" [80]

Tác giả khẳng định vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân là tư tưởng chiến lược, nhất quán của Đảng Cộng sản trung Quốc; phân kỳ và đánh giá sự phát triển của nông thôn Trung Quốc qua 30 năm; khái quát những hạn chế và thành tựu quan trọng; qua đó, rút ra một số kinh nghiệm, đồng thời xác định các giải pháp thúc đẩy xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc; như, ra sức cải cách sâu sắc, sáng tạo, tăng cường xây dựng chế độ nông thôn, tạo động lực cho sự phát triển nhịp nhàng kinh tế, xã hội cả thành thị và nông thôn; không ngừng hoàn thiện chế độ hỗ trợ chế độ bảo vệ nông nghiệp; tăng cường đầu tư của nhà nước đối với phát triển nông thôn , trong đó tác giả nhấn mạnh vấn đề BVMT trong phát triển nông thôn, như hình thành cơ chế khích lệ, có lợi cho bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tài cây trồng, vật nuôi nông nghiệp

- Chu Húc Đông,“Kiên trì phương châm quản lý Đảng nghiêm minh,

triển khai cuộc xây dựng Đảng tiên phong, liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng” [65]

Tác giả đã phân tích nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng tham nhũng ở Trung Quốc như quá trình cải cách thể chế còn những kẽ hở; việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức chưa được chú trọng; chưa quyết liệt trong xử lý cán bộ tham nhũng Đồng thời, đưa ra những giải pháp để xây dựng Đảng tiên phong, liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng, gồm: đẩy mạnh xây dựng tư tưởng chính trị; điều tra và xử lý các vụ án lớn và án quan trọng; chỉnh đốn nghiêm túc kỷ luật Đảng

và luật pháp Nhà nước, xử lý nghiêm theo pháp luật một loạt kẻ tham nhũng; uốn nắn tác phong không lành mạnh, tác phong làm việc của một số cơ quan và ngành nghề; không ngừng tăng cường tính tự giác của cán bộ lãnh đạo đảng viên về hành

Trang 30

chính liêm khiết; tăng cường xây dựng văn bản pháp quy và quy chế liêm chính, từng bước xoá bỏ mảnh đất nảy sinh tham nhũng; tăng cường giám sát dân chủ để đảm bảo việc chống tham nhũng được thực hiện hiệu quả

- Trương Vệ Quốc, “Tập trung giải quyết vấn đề nổi cộm mà quần chúng

nhân dân phản ánh gay gắt” [135]

Từ việc phân tích thực trạng của vấn đề tham nhũng và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở Trung Quốc, tác giả khẳng định, đây chính là những vấn đề nổi cộm

mà nhân dân phản ánh gay gắt cần nhận thức đúng và tập trung giải quyết tốt Theo tác giả, những vấn đề này cần được giải quyết bằng những quyết sách lớn, tư duy chiến lược sâu rộng, điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của Đảng và của đất nước Trung Hoa Tác giả đề xuất các giải pháp, gồm: phải tăng cường giáo dục tư tưởng, thường xuyên “bổ sung can xi” cho Đảng; kiên trì kết hợp giáo dục tư tưởng và ràng buộc chế độ, tức là vừa giải quyết tốt vấn đề thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan, vừa phải tăng cường giám sát quyền lực; làm cho quan điểm quần chúng bén rễ trong đầu; tăng cường dựa vào dân

* Các công trình khoa học ở Lào

- Xổm Nức - Xổm Vi Chít (2008), “Đổi mới phương thức Đảng lãnh đạo

Nhà nước ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay” [168]

Tác giả đã chỉ rõ vai trò quyết định của Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong quá trình lãnh đạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, CNH, HĐH đất nước ở Lào trong thời gian qua Sau khi phân tích một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn về PTLĐ của Đảng, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới PTLĐ của Đảng nhân dân cách mạng Lào đối với Nhà nước Lào Tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau: Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy hiệu lực quản lý của Nhà nước; khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động lãnh đạo của Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân Tác giả nhấn mạnh: PTLĐ của Đảng được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ của Đảng Do đó, đổi mới PTLĐ của Đảng đối với từng lĩnh vực đời sống xã hội và với Nhà nước phải coi trọng công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành

Trang 31

- Thoong Băn Seng Aphone, “Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo giữ

vững an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay” [157]

Tác giả luận giải những vấn đề chủ yếu về Đảng Nhân dân cách mạng Lào

lãnh đạo giữ vững an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay; các nội dung và PTLĐ của Đảng đối với an ninh quốc gia

Tác giả phân tích tình hình an ninh ở Lào hiện nay; xác định những nội dung chủ yếu về đổi mới nội dung và PTLĐ của Đảng đối với giữ vững an ninh quốc gia; thực trạng Đảng lãnh đạo an ninh quốc gia những năm qua, chỉ ra ưu, khuyết điểm

về nội dung lãnh đạo và PTLĐ của Đảng và các nguyên nhân Đồng thời, tác giả đề xuất các giải pháp đổi mới PTLĐ của Đảng đối với giữ vững an ninh quốc gia trong những năm tới, gồm: tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng đối với bảo đảm an ninh tại các địa phương; xây dựng lực lượng an ninh trở thành lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, được trang bị hiện đại; đổi mới việc phối hợp lực lượng công an và quân đội, các lực lượng an ninh với quốc phòng; xây dựng thế trận an ninh nhân dân kết hợp với quốc phòng toàn dân; thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng an ninh

- Bun-Thoong Chit-Ma-Ni, “Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây

dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay” [21]

Tác giả đưa ra quan niệm về nông thôn mới; khái niệm Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới; chỉ ra các nội dung và phương thức Đảng Nhân dân cách mạng Lào và nội dung, PTLĐ của Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong xây dựng nông thôn mới, trong đó nhấn mạnh nội dung lãnh đạo và PTLĐ của các cấp ủy địa phương đối với chính quyền cùng cấp trong xây dựng nông thôn mới

Tác giả khái quát thành tựu đạt được và chỉ rõ hạn chế, bất cập trong xây dựng nông thôn mới ở Lào như: sự chuyển biến trong xây dựng nông thôn mới còn chậm, chưa rõ nét; nhiều tiềm năng, lợi thế xây dựng nông thôn mới chưa được phát huy; sự thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn chưa đáng kể là đòi hỏi bức thiết đặt ra cần đổi mới PTLĐ của Đảng Tác giả đề ra hệ thống giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện nay Trong đó, giải pháp có ý nghĩa thiết thực đối với việc xây dựng nông thôn mới ở Lào là nâng cao

Trang 32

chất lượng các hoạt động ra nghị quyết; xây dựng, hoàn chỉnh và thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy trình lãnh đạo; đổi mới công tác cán bộ

1.3 KẾT QUẢ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU LÀM SÁNG TỎ

1.3.1 Kết quả đạt được

* Các công trình nghiên cứu về môi trường và bảo vệ môi trường

Thứ nhất: thống nhất cơ bản về khái niệm môi trường; môi trường còn được

hiểu là MTST; một số tác giả còn đồng nhất khái niệm môi trường tự nhiên với khái niệm môi trường

Thứ hai: khẳng định vai trò của môi trường là một yếu tố rất quan trọng đối

với đời sống của con người và thế giới sinh vật; là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống sản xuất của con người; vì vậy, BVMT chính là bảo

vệ cuộc sống của bản thân mình

Thứ ba: khái quát thực trạng của môi trường ở nước ta hiện nay, bên cạnh

những kết quả đạt được, môi trường đang bị suy thoái và xuống cấp nghiêm trọng, gây hậu quả xấu đến đời sống của con người và những vấn đề bức thiết đặt ra hiện nay cần phải giải quyết

Thứ tư: xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan của thực trạng môi

trường hiện nay và khẳng định hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý nhà nước

về môi trường; ý thức, trách nhiệm của các đơn vị, cơ sở sản xuất và nhân dân còn hạn chế

Thứ năm: tập trung phân tích và đưa ra một số các giải pháp cơ bản để

BVMT trong điều kiện CNH, HĐH hiện nay; giải pháp được nhiều công trình đề xuất là hoàn thiện chính sách, pháp luật về BVMT; phát huy vai trò của các tổ chức trong HTCT; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong cơ quan chuyên trách BVMT; phát triển khoa học công nghệ; giáo dục đạo đức sinh thái cho chủ doanh nghiệp, xí nghiệp và nhân dân

Những nội dung trên là gợi mở quan trọng để luận án nghiên cứu khái niệm môi trường, BVMT; CTBVMT, tính tất yếu phải làm tốt CTBVMT trong giai đoạn hiện nay; các giải pháp để BVMT, trong đó giải pháp tăng vai trò quản lý nhà nước

Trang 33

về môi trường đều được các tác giả khẳng định là giải pháp cơ bản và có tính quyết định Tuy nhiên, những giải pháp các tác giả đề xuất để thực hiện được trong thực tiễn tất yếu cần có sự lãnh đạo của Đảng

* Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng và cấp ủy địa phương lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội

Thứ nhất: làm rõ khái niệm Đảng cầm quyền, vị trí, vai trò, đặc điểm của

Đảng cầm quyền

Thứ hai: các công trình tập trung làm rõ nội dung và PTLĐ của Đảng; thực

trạng Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội hiện nay

Thứ ba: xác định nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong lãnh đạo

các lĩnh vực kinh tế, văn hóa -xã hội

Thứ tư: đề xuất các giải pháp để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với

các lĩnh vực đời sống xã hội hiện nay; tập trung vào các giải pháp cụ thể như: nâng cao nhận thức trách nhiệm của các cấp ủy đảng đối với lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội; lãnh đạo Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về kinh

tế, văn hóa - xã hội; xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh Song, đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện về Đảng lãnh đạo CTBVMT giai đoạn hiện nay

1.3.2 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ

Thứ nhất: khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với CTBVMT là tất yếu và

cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Thứ hai: luận giải và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng

sản Việt Nam lãnh đạo CTBVMT giai đoạn hiện nay; tập trung làm rõ khái niệm, nội dung lãnh đạo và PTLĐ của Đảng đối với CTBVMT giai đoạn hiện nay, xác định rõ chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, cách thức lãnh đạo để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay

Thứ ba: khảo sát, đánh giá thực trạng Đảng lãnh đạo CTBVMT trong những

năm qua, nhất là những năm gần đây; xác định rõ ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân Trên cơ sở đó, luận án đề xuất phương hướng, giải pháp khả thi tăng cường

sự của Đảng đối với CTBVMT ở nước ta những năm tới

Trang 34

Chương 2 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA -

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

2.1.1 Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay - chức năng, nhiệm vụ, vai trò

và đặc điểm

2.1.1.1 Chức năng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chức năng của các Đảng Cộng sản, nói chung và của Đảng Cộng sản Việt

Nam, nói riêng là lãnh đạo Điều này đã được C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin

chỉ ra và luận chứng một cách khoa học, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta phân tích, luận giải một cách cụ thể và khẳng định C.Mác, Ph.Ăngghen đã luận chứng sự cần thiết phải có Đảng Cộng sản để lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động lật đổ xã hội tư sản, các thế lực áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội cộng sản, tức là lãnh đạo, tổ chức giai cấp công nhân, nhân dân lao động thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân Hai Ông còn luận chứng sâu sắc sự ra đời của Đảng Cộng sản là tất yếu Qua luận chứng của C.Mác và Ph.Ăngghen, thấy rõ tư tưởng: Đảng Cộng sản ra đời, tồn tại

và phát triển là để lãnh đạo, tổ chức giai cấp công nhân, nhân dân lao động thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân Đây là lý do ra

đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản và là chức năng của Đảng Cộng sản Như vậy, chức năng của Đảng Cộng sản là lãnh đạo

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được thể hiện trong hai thời kỳ với hai điều kiện khác nhau, đó là Đảng lãnh đạo trong điều kiện chưa trở thành Đảng cầm quyền và Đảng lãnh đạo trong điều kiện đã giành được chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản là “Tổ chức những người vô sản thành giai cấp” [113, tr.558]

C.Mác và Ph.Ăngghen còn chỉ ra, Đảng Cộng sản là người lãnh đạo, người

tổ chức thực tiễn Sự lãnh đạo, tổ chức thực tiễn của Đảng gồm lãnh đạo, tổ chức giai cấp vô sản thành giai cấp thống trị và lãnh đạo, tổ chức giai cấp vô sản và nhân

Trang 35

dân lao động xây dựng chủ nghĩa cộng sản, khi giai cấp vô sản đã giành được chính quyền, Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền Trong Điều lệ của Hội Liên hiệp công nhân quốc tế C.Mác viết: “Việc giai cấp vô sản tổ chức thành chính đảng là tất yếu để đảm bảo cho cách mạng xã hội chủ nghĩa thu được thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là: tiêu diệt giai cấp” [112, tr.470]

Quá trình đi đến mục tiêu cuối cùng sau khi trở thành Đảng cầm quyền là quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa cộng sản, cũng là quá trình xóa bỏ dần giai cấp đi đến xã hội không còn giai cấp Đảng Cộng sản cầm quyền có chức năng lãnh đạo, tổ chức quá trình ấy

V.I.Lênin đã kế thừa, phát triển, làm sâu sắc thêm chức năng lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong điều kiện lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và chỉ rõ, sự

lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị Sự lãnh đạo ấy, bao gồm một nội dung rất

quan trọng là tổ chức thực tiễn V.I.Lênin viết:

Chỉ có đảng của giai cấp công nhân, tức là đảng cộng sản… lãnh đạo tất

cả những hành động liên hợp của toàn bộ giai cấp vô sản, tức là lãnh đạo giai cấp đó về mặt chính trị, và thông qua giai cấp đó mà lãnh đạo tất cả quần chúng lao động Nếu không thế, thì không thể thực hiện chuyên chính vô sản được [106, tr.113]

V.I.Lênin chỉ rõ, Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo quần chúng nhân dân xây dựng CNXH và bảo vệ đất nước, Đảng lãnh đạo tất cả các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên của mình, đó là đội tiên phong trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Chức năng tổ chức xây dựng CNXH của Đảng Cộng sản cầm quyền cũng được V.I.Lênin chỉ ra và luận chứng Người viết: “Sự nghiệp vô sản hoặc xã hội chủ nghĩa của cách mạng, chung quy, có ba điều chính dưới đây: 1)… 3) xây dựng những cơ sở kinh tế của chế độ xã hội chủ nghĩa” [107, tr.279] Để chuyên chính vô sản, có sức sống và giành thắng lợi, Đảng Cộng sản cầm quyền phải lãnh đạo, tổ chức “đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản” [104, tr.16]

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ta luôn khẳng định chức

năng của Đảng ta là lãnh đạo Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” Nguyễn Ái

Quốc viết:

Trang 36

Cách mệnh trước hết phải có gì? "Trước hết, phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và

vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” [116, tr.267-268]

Như vậy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc coi Đảng là người lãnh đạo cách mạng, như người cầm lái “con thuyền cách mạng”, người cầm lái kiên định con đường và mục tiêu đã chọn, linh hoạt, sáng tạo trước mọi tình huống, đưa cách mạng vượt qua mọi thác gềnh, hiểm nguy đến mục tiêu đã xác định Khi trở thành Đảng cầm quyền, Người luôn nhấn mạnh vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng và nhiều lần luận bàn, chỉ ra những yếu tố tạo nên sự “lãnh đạo đúng” của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam ta luôn khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với thắng lợi của cách mạnh nước ta Sự lãnh đạo của Đảng ta được nhân dân thừa nhận, suy tôn và được nhân dân đồng tình ghi vào Hiến pháp nước ta tại Điều 4:

“Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam , là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [138, tr.10]

Như vậy, chức năng của Đảng ta là lãnh đạo chính trị Tức là, Đảng đề ra

đường lối cách mạng, lãnh đạo tổ chức thực hiện và tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm Đảng không can thiệp, không bao biện làm thay công việc của Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, cũng không buông lỏng lãnh đạo các tổ chức này Đảng lãnh đạo là để phát huy tính chủ động, sáng tạo và vai trò của các tổ chức này, trong thực hiện thắng lợi Cương lĩnh

và đường lối chính trị, các nghị quyết, quyết định của Đảng

2.1.1.2 Nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

Một là, Đảng lãnh đạo các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng

Thực hiện nhiệm vụ này, Đảng tiến hành xây dựng, ban hành các nghị quyết, quyết định, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng (xây dựng nội bộ Đảng) làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức,

đủ khả năng lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng Trong giai đoạn hiện nay, tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng đủ khả năng lãnh đạo thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta

Trang 37

Đảng lãnh đạo các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hiện

thắng lợi hai nhiệm vụ: thứ nhất, lãnh đạo các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng

viên thực hiện thắng lợi các nghị quyết, quyết định, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức

Thứ hai, lãnh đạo các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hiện thắng lợi

Cương lĩnh, đường lối, các nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng HTCT…

Hai là, Đảng lãnh đạo Nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội,

các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và các tổ chức khác, trong đó trọng tâm là lãnh đạo Nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt coi trọng lãnh đạo Nhà nước

Lãnh đạo Nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng Đồng thời, Đảng còn lãnh đạo các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và các tổ chức khác Về nguyên tắc, tất cả các tổ chức tồn tại và hoạt động trên đất nước ta theo quy định của Hiến pháp và pháp luật đều phải chịu sự lãnh đạo của Đảng ta Song, từng tổ chức có chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích và đặc điểm khác nhau nên sự lãnh đạo của Đảng đối với từng tổ chức, ngoài những điểm chung, còn có những điểm khác nhau

Trong nhiệm vụ nêu trên, nhiệm vụ trọng tâm của Đảng là lãnh đạo Nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó đặc biệt coi trọng lãnh đạo

Nhà nước Đảng thực hiện nhiệm vụ nêu trên, cũng trên hai việc: thứ nhất, Đảng

lãnh đạo các tổ chức này, tham gia thực hiện các nghị quyết, quyết định, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần để Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị,

tư tưởng, tổ chức và đạo đức Thứ hai, Đảng lãnh đạo các tổ chức này, thực hiện

thắng lợi Cương lĩnh, đường lối, các nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng HTCT theo chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Ba là, Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó lãnh đạo phát

triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm

Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội, như: kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tư tưởng, văn hóa, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí, xây dựng

Trang 38

nông thôn mới, xóa đói, giảm nghèo, BVMT… Trong đó, nhiệm vụ trung tâm là lãnh đạo phát triển kinh tế Đảng xây dựng, ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện các các nghị quyết, quyết định về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và phát triển từng lĩnh vực đời sống xã hội để các lĩnh vực phát triển mạnh mẽ, vững chắc

2.1.1.3 Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng hơn 80 năm của Đảng ta, rút ra năm bài học lớn trong đó có một bài học khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của Đảng ta đối thắng lợi của cách mạng Việt Nam: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam” [54, tr.66]

Sự khẳng định nêu trên về vai trò của Đảng, thể hiện trong thời kỳ đổi mới hiện nay, gồm:

Thứ nhất, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định

thắng lợi công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta, nâng cao đời sống nhân dân và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Chức năng, nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu trên, đã nói rõ vai trò của Đảng Hơn nữa, trở thành Đảng cầm quyền, Đảng có HTCT từ Trung ương đến cơ sở, ở khắp các vùng, miền của đất nước, đặc biệt Đảng có Nhà nước XHCN

là lực lượng đặc biệt quan trọng để thể chế hóa, cụ thể hóa Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng thành Hiến pháp và pháp luật, chương trình, kế hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại… để Nhà nước thực hiện Mọi giai cấp, tầng lớp xã hội đều phải chấp hành và thực hiện Hiến pháp, pháp luật, chương trình, kế hoạch, đề án đó, cũng là thực hiện Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng về xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc

Cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh, để xây dựng thành công CNXH, bảo

vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, dứt khoát phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Với bản chất của các đảng chính trị (các đảng không phải là Đảng Cộng sản), các đảng này đặt ra nhiệm vụ, không lãnh đạo và cũng không thể lãnh đạo

Trang 39

thực hiện được nhiệm vụ xây dựng thành công CNXH Chỉ có Đảng Cộng sản, đảng chính trị duy nhất xác định mục đích cao cả của mình là lãnh đạo xây dựng thành công CNXH, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN và tiến đến chủ nghĩa cộng sản, toàn bộ hoạt động của Đảng đều nhằm từng bước đạt được mục tiêu đó

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền có vai trò rất quan trọng đối

với việc xây dựng HTCT vững mạnh, hoạt động hiệu quả

Khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiệm vụ rất to lớn, nặng nề là xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN Chỉ một mình Đảng và đội ngũ đảng viên của Đảng thì khó thực hiện thắng lợi nhiệm

vụ này Bởi vậy, phải có các tổ chức, các lực lượng và nhân dân tham gia thì Đảng mới có thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình Các tổ chức đó, chính là các tổ chức trong HTCT từ Trung ương đến cơ sở, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, được Đảng lãnh đạo xây dựng và hoạt động theo quan điểm, đường lối của Đảng vì đất nước, dân tộc Đây là nhân tố quyết định để HTCT nước ta được xây dựng đúng đắn, được nhân dân ủng hộ và ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu quả Thông qua các tổ chức trong HTCT Đảng vận động, tập hợp nhân dân, đưa nhân dân tham gia các phong trào hành động cách mạng, từng bước thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, đường chính trị và các nghị quyết của Đảng, từng bước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, nâng cao đời sống nhân dân, tiến dần đến chủ nghĩa cộng sản

Như vậy, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là một trong những nhân tố quyết định việc xây dựng HTCT vững mạnh, hoạt động hiệu quả

Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền có vai trò quyết định việc giữ

vững và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân

Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng ta với nhân dân Việt Nam là một nguyên tắc bất di bất dịch trong quá trình lãnh đạo của Đảng, là sức mạnh to lớn để Đảng cùng nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng Mối quan hệ ấy, được hình thành, phát triển, củng cố trong suốt chiều dài lịch sử hào hùng của Đảng và dân tộc Việt Nam trong gần 90 năm qua; được thử thách, kiểm nghiệm qua biết bao khó khăn, gian khổ, thách thức quyết liệt; được bảo đảm bằng những thành quả cách mạng to lớn, cơ bản, lâu dài và bền vững mà Đảng đã đem lại cho mỗi gia

Trang 40

đình, mỗi người dân đất Việt Mối quan hệ ấy, không một thế lực phản động nào có thể chia cắt và phá hoại được

2.1.1.4 Đặc điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền trong nền

chính trị nhất nguyên

Quan điểm nhất quán của Đảng ta là không thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tức là không chấp nhận trên đất nước ta có đảng đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền Chung quanh vấn đề này, đã có những ý kiến không đúng đắn, cho rằng, Đảng ta cố tạo nên sự duy nhất cầm quyền của mình để thâu tóm toàn bộ quyền lực Phần lớn những người có ý kiến này, về thực chất là đòi Đảng ta thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền Điều này, hoàn toàn trái ngược với quan điểm nhất quán của Đảng

ta Hơn nữa, sự duy nhất cầm quyền của Đảng ta là do lịch sử để lại, Đảng cầm quyền là sự lựa chọn của nhân Trước đây, Việt Nam đã có thời kỳ đa đảng, nhưng các đảng chính trị khác (Việt Quốc, Việt Cách) với âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ sau khi cách mạng Tháng Tám thành công đã bị lực lượng công an đập tan trong vụ án Ôn Như Hầu, Hà Nội Giai đoạn từ 1944 - 1988, ở Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội Hai đảng này, không cầm quyền và không đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, họ phối hợp với Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống xâm lược Đến năm 1988 Đảng Dân chủ và Đảng xã hội Việt Nam đã tự giải tán Như vậy, từ năm 1988 đến nay, ở nước ta có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền Sự duy nhất cầm quyền của Đảng ta

do tất yếu lịch sử để lại Điều này minh chứng và phản bác mạnh mẽ, hiệu quả ý nghĩ sai lầm nêu trên về sự duy nhất cầm quyền của Đảng của các thế lực thù địch

và những người không thiện chí với Đảng ta

Đảng duy nhất cầm quyền có nhiều thuận lợi trong hoạt động của mình: Đảng có Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam của Đảng và của nhân dân Đây là công cụ mạnh mẽ và sắc bén thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại Bên cạnh đó, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội thuộc HTCT, rộng lớn từ Trung ương đến cơ sở, ở khắp mọi vùng, miền đất nước do Đảng lãnh đạo xây dựng

và hoạt động thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng

Ngày đăng: 10/06/2020, 23:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w