1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - MITEC

90 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của quản trị nguồn nhân lực đối với MITEC trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cùng với quá trình tìm hiểu thực tế tại công ty nên tôi chọn đề

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, các

số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về đề tài nghiên cứu của mình

Tác giả

Nguyễn Thị Hinh

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Lê Thị Thu, Cô tâm huyết và

cần mẫn, đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Phòng Đào tạo; Lãnh đạo Khoa và Thầy Cô trong Khoa Quản trị Doanh nghiệp, Học viện Khoa học xã hội cũng như các nhà khoa học đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể Lãnh đạo, cán bộ, nhân viên Công ty

cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này

Lời cám ơn cuối cùng, tôi xin dành cho gia đình của tôi, đó là Cha, Mẹ, anh chị em, gia đình nhỏ của tôi đã luôn ủng hộ, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, khó khăn trong quá trình học tập Gia đình đã sát cánh cùng tôi, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hinh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 9

1.1 Khái quát về quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 9

1.2 Nội dung quản trị nguồn nhân lực 14

1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp 22

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - MITEC 29

2.1 Khái quát về Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC 29

2.2 Tình hình nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC 35

2.3 Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC 42

2.4 Đánh giá chung về công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC 56

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - MITEC 62

3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển của MITEC 62

3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC 65

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp

2 BHXH Bảo hiểm xã hội

3 BHYT Bảo hiểm y tế

4 CBCNV Cán bộ công nhân viên

5 CNTT Công nghệ thông tin

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

1 Bảng

Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2015-2018 35

Bảng 2.2: Cơ cấu lao động MITEC 36

Bảng 2.3: Số lượng lao động các phòng ban 39

Bảng 2.4: Cơ cấu phân bố nguồn nhân lực các cấp của MITEC 39

Bảng 3.1: Mục tiêu tuyển dụng của MITEC 65

2 Biểu đồ Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động theo trình độ học vấn 38

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu lao động của MITEC theo độ tuổi 39

Biểu đồ 2.4: Trình độ học vấn nguồn lao động của MITEC giai đoạn 2015-2018 41

3 Hộp thông tin Hộp 2.1: Bảng mô tả công việc dành cho người lao động của MITEC 44

Hộp 2.2: Bảng lương của cán bộ nhân viên 51

Hộp 2.3: Cách tính lương thực tế theo số ngày công 52

Bảng 2.5: Bảng số người lao động phải đào tạo lại sau khi tuyển chọn 57

4 Sơ đồ Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy của Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ 33

5 Hình Hình 2.1: Cơ sở vật chất của MITEC 32

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp tư nhân nói riêng đều đang phải đối mặt với sức ép cạnh tranh ngày càng tăng không chỉ từ các doanh nghiệp trong nước mà còn các doanh nghiệp nước ngoài Nếu muốn phát triển bền vững thì mỗi doanh nghiệp cần tạo cho mình một nét đặc trưng riêng, làm nên sự khác biệt khác so với các doanh nghiệp khác

Để làm được điều này, mỗi doanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình một chiến lược phát triển hợp lý, về tất cả mọi mặt Đã có thời kỳ, nguồn vốn được sử dụng là một lợi thế cạnh tranh, nhưng ngày nay khả năng huy động vốn với số lượng lớn đã trở lên dễ dàng hơn Cũng có giai đoạn công nghệ trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp cùng với sự phát triển của cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật và nay

là khoa học công nghệ

Tuy nhiên, doanh nghiệp dù có nguồn tài chính dồi dào hay có công nghệ hiện đại, chất lượng dịch vụ tốt, cơ sở hạ tầng vững chãi nhưng nếu thiếu đi lực lượng lao động, nhất là lao động chất lượng cao thì doanh nghiệp đó khó có thể tồn tại lâu dài và tạo dựng được lợi thế cạnh tranh Những thay đổi trong môi trường kinh doanh ở mức độ vĩ mô (như quốc tế, tự nhiên, dân số, chính trị, pháp luật, kinh

tế, văn hóa, xã hội) và vi mô (như khách hàng, đối thủ canh tranh, nhà cung cấp (vật

tư, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tài chính, nhân lực, dịch vụ), sản phẩm) khiến doanh nghiệp phải quan tâm ngày càng nhiều đến nguồn nhân lực Ngày càng nhiều

ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực sẽ đại diện cho nguồn lực, tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong nhiều ngành kinh doanh hiện đại

“Con người là vốn quý giá nhất của mỗi doanh nghiệp” Điều đó càng được

khẳng định rõ ràng nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập toàn cầu một cách mạnh

mẽ, tính chất cạnh tranh của nền kinh tế thị trường ngày càng gay gắt thì “yếu tố con người” càng trở lên quan trọng, là nền tảng và trọng yếu nhất trong mỗi tổ chức,

đặc biệt là mỗi doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp nếu không muốn trở lên lạc hậu với thời cuộc, mất lợi thế cạnh tranh, mất dần thị trường, có nguy cơ phá sản, đặc biệt là sau mỗi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra (ví dụ như khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 2009) thì các cần phải có chiến lược về nhân lực tốt, coi đó

là trọng yếu và tiên quyết “Chiến lược nhân lực” không phải là một thuật ngữ chỉ cần đến đối với doanh nghiệp có quy mô lớn, sản xuất kinh doanh đa lĩnh vực, đa quốc gia mà cả các doanh nghiệp nhỏ, dù là quy mô gia đình cũng phải coi đó là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển của tổ chức Từ thực tế khách quan

Trang 9

này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cách tiếp cận mới về quản trị nguồn nhân lực ở tầm chiến lược hay chính xác hơn đó chính là quản trị nguồn nhân lực định hướng chiến lược Bởi đó là cách tiếp cận đặt nền tảng trên quan niệm nguồn nhân lực là nguồn lực tạo lợi thế cạnh tranh bền vững

Thành lập từ năm 1991, Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ

- MITEC được coi là một trong những công ty về công nghệ thông tin đầu tiên ở Việt Nam Với gần 30 năm xây dựng, trưởng thành phát triển, MITEC đang dần dần khẳng định mình trước thị trường trong nước cũng như quốc tế Tuy nhiên, trước những thách thức lớn của các cuộc khủng hoảng kinh tế đặt ra, nhất là từ sau cuộc khủng hoảng năm 2008, Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC đang dần bị các công ty khác lấn át cả về nhân lực lẫn vật lực Nếu vật lực chỉ phụ thuộc chủ yếu vào tài chính của công ty thì nguồn nhân lực phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có cách thức quản trị nguồn nhân lực của nhà lãnh đạo Nhưng làm thế nào để quản trị nguồn nhân lực một cách toàn diện đang trở thành vấn đề lớn đối với MITEC

Để từng bước đáp ứng và nâng cao chất lượng dịch vụ trong thời kỳ công nghệ 4.0 thì việc nắm bắt được các công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại là một lợi thế

vô cùng to lớn Xác định rõ ràng ý nghĩa của thông điệp này, MITEC đã xây dựng

chiến lược và dành sự quan tâm đặc biệt để thực hiện mục tiêu trở thành đơn vị hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin, trong đó, đặc biệt phải quan tâm đến công tác quản trị nguồn nhân lực bởi nó làm nên sự phát triển bền vững của một công ty

Bên cạnh đó, qua quá trình tổng quan tài liệu, tôi nhận thấy rằng, chưa có bất cứ công trình nào nghiên cứu về MITEC Ngoài ra, tuy quản trị nguồn nhân lực được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhưng chưa có bất cứ đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu

về quản trị nguồn nhân lực tại MITEC trong khi đây thực sự đang là vấn đề cấp thiết đối với Công ty này Điều này càng chứng tỏ rằng, nghiên cứu về quản trị nguồn nhân lực MITEC nói riêng, các nghiên cứu về Công ty này nói chung thực sự cần thiết nhằm làm phong phú thêm bức tranh về quản trị nhân lực của các doanh nghiệp trong nước

Nhận thức được tầm quan trọng của quản trị nguồn nhân lực đối với MITEC trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cùng với quá trình tìm hiểu thực

tế tại công ty nên tôi chọn đề tài “Quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần

Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC.” làm đề tài nghiên cứu và viết luận

văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trang 10

Trong công tác quản trị nguồn nhân lực, bồi dưỡng đào tạo tại chỗ và thu hút nhân tài là hai việc quan trọng và cần thiết đối với các quốc gia trên thế giới Hiểu được vai trò của vấn đề này, các quốc gia trên thế giới luôn xây dựng các chính sách phát triển nguồn nhân lực nhằm tối ưu hóa khả năng của đội ngũ có đủ trình độ cao, chuyên môn tốt Một số công trình dưới đây là những nghiên cứu về một số chiến lược quản trị nguồn nhân lực của các doanh nghiệp khác nhau trên thế giới

Tác giả Matthew R Allen (2006), khi nghiên cứu về “Quản lý chiến lược nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ” đã phát triển lý thuyết về hệ thống quản lý tài nguyên con người như thế nào để góp phần vào thành công của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, bộ máy quản lý nguồn nhân lực có tương quan thuận tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, trong đó

có doanh nghiệp vừa và nhỏ, tức là bộ máy quản lý nguồn nhân lực tốt thì doanh nghiệp đạt hiệu quả tốt, và ngược lại [33]

Đề tài nghiên cứu “Quản lý nguồn nhân lực chiến lược: thực tiễn triển khai như thế nào” của tác giả Ken Lovell (2009) Đại học Southem Cross Khi nghiên cứu, phân

tích những lý thuyết về quản trị nguồn nhân lực của hai công ty NatBuild và MechCon tại Úc, tác giả đã đưa ra được hệ tham chiếu cho chức năng quản trị nhân lực dựa trên kết quả nghiên cứu về thù lao và chế độ đãi ngộ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, Theo đó, theo tác giả, khung chức năng gồm: Thiết kế và phân tích công việc, Lựa chọn và tuyển dụng, Quản lý hiệu quả công việc, Đào tạo và bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực, Chế độ đãi ngộ [32]

Cuốn sách “Quản trị nguồn nhân lực” tác giả John M Ivancevich cho rằng

Quản trị nguồn nhân lực (Human Resource Management - HRM) là một chức năng chiến lược, đóng một vai trò cực kỳ quan trọng chi phối sự thành công của công ty HRM giúp các nhà quản lý có thể xây dựng chiến lược quản lý nguồn nhân lực mà mỗi công ty cần phải thực hiện để tăng năng lực cạnh tranh và tăng tính hiệu quả [25]

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây, vấn đề nâng cao hiệu quả công tác quản trị nhân lực đã có nhiều đề tài, công trình, luận văn và những bài viết được công bố Trong

đó có một số công trình đề tài nổi bật như:

Năm 2005, tác giả Le Chien Thang và Truong Quang khi nghiên cứu về thực tiễn Quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) tại Việt Nam chỉ ra rằng, QTNNL ở Việt Nam bao gồm các thành phần: Trao đổi thông tin, Hiệu quả quản lý, Đào tạo và phát triển, Định hướng nhóm, Duy trì sự quản lý Khác với quan điểm của Le Chien Thang và Truong Quang, tác giả Trần Kim Dung (2009) sau khi nghiên cứu thực tiễn, cho rằng,

Trang 11

quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Việt Nam có 9 thành phần: Ngoài 6 thành phần căn bản thuộc các chức năng nghiệp vụ chính của quản trị nguồn nhân lực: Xác định nhiệm vụ công việc; Thu hút, tuyển chọn; đào tạo; Đánh giá kết quả làm việc của nhân viên; Quản lý lương thưởng; Phát triển quan hệ lao động; Còn có ba thành phần: Thống kê nhân sự; Thực hiện quy định Luật pháp và Khuyến khích thay đổi [38,

Tr 1 - 30]; [7]

Nguyễn Quang Thu và cộng sự (2005) khi thực hiện đề tài nghiên cứu cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo “Phân tích biến động nguồn nhân lực và một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro nguồn nhân lực trong ngành chế biến gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” Đây được xem là những yếu tố chi phối đến khả năng gắn bó của người lao động với tổ chức và cũng là những yếu tố ảnh hướng đến chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp [26]

Trong nghiên cứu của Phan Thị Mai Hương và Đỗ Thị Lệ Hằng (2018) lại cho rằng, môi trường cơ quan - nơi làm việc - là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới sự hài lòng của người lao động trong 6 yếu tố: công việc, thu nhập, cơ hội thăng tiến, đồng nghiệp, môi trường của tổ chức và điều kiện làm việc sau khi khảo sát 304 người lao động đến

từ 8 tổ chức khác nhau Kết quả từ việc nghiên cứu sự gắn bó của người lao động với tổ chức hay có sự hài lòng với tổ chức của mình hay không là một gợi ý quan trọng cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng các chiến lược và kế hoạch nhằm duy trì tốt hơn nguồn nhân lực cho đơn vị mình [20, Tr 30 - 47]

Trong đề tài luận án tiến sĩ của Lê Thị Mỹ Linh (2009) về “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế” Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực nói chung và đưa ra một mô hình tổng quát quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên cơ sở đó, đề tài đã tìm hiểu và phân tích thực trạng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp, và chỉ ra những mặt hạn chế còn tồn tại trong công tác này [22]

Tạ Ngọc Hải (2010) trong bài viết “Kinh nghiệm nhà nước về phương pháp xác định vị trí làm việc”, đã nêu lên tầm quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong quá trình làm việc (bao gồm việc sắp xếp, quản lý, sử dụng,…) bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu người lao động về sự hài lòng của họ với nơi làm việc Ngoài ra, kinh nghiệm của Nhà nước về phương pháp xác định vị trí việc làm cụ thể cho người lao động cũng được bàn tới trong bài viết này [14, Tr 46 - 49]

Nguyễn Đăng Thắng (2013), “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Tổng

Trang 12

chính Viễn thông; Tác giả tập trung đánh giá thực trạng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội, đặc thù công việc của nghành điện, tác giả đã có những đánh giá nguồn nhân lực tại công ty để đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội [28]

Liên quan đến vấn đề quản trị nguồn nhân lực có thể kể đến một số nghiên cứu sau: Luận văn “Một số giải pháp hoàn thiện quản trị nhân lực tại Công ty Kính nổi Viglacera đến năm 2015” của Võ Đình Việt (2010) [30] Sách Quản trị nhân lực của Nguyễn Thanh Hội (1999) [17] Giáo trình Kinh tế nhân lực của Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008) [1] Luận văn “Hoàn thiện công tác sử dụng nhân lực tại Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Mai của Võ Văn Huy (2010) [19] Luận văn

“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân lực tại Công ty Viễn thông liên tỉnh đến năm 2015” của Phạm Thị Thúy Mai (2012) [23] Luận văn

“Công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần đầu tư và sản xuất Việt –

Hàn của Lâm Bảo Khánh (2012) [21] Luận văn “Quản trị nguồn nhân lực tại Công

ty cổ phần thương mại Xăng dầu Việt Nam” của Nguyễn Thị Hồng Hải (2017) [13] Luận văn “Quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần CTLINK” của Đinh Sỹ Hải (2017) [15] Luận văn “Quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần thương mại và thiết bị Minh Tâm” của Trần Đức Hiếu (2016) [16] Các công trình, giáo trình, luận văn của các tác giả đi trước đã phần nào phản ánh thực trạng quản lý nguồn nhân lực trong từng tổ chức, đơn vị cụ thể Mỗi tổ chức, đơn vị, tùy theo phạm vi hoạt động, lĩnh vực kinh doanh, cơ cấu tổ chức, phạm vi hoạt động của mình đều xây dựng một quy trình quản lý nguồn nhân lực riêng cho đơn vị, tổ chức mình phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị

Một số các bài viết đăng trên các báo, tạp chí khoa học chuyên ngành quản trị kinh doanh khác Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần hệ thống hóa lý luận cũng như thực tiễn những vấn đề chung liên quan đến công tác quản trị nhân lực tại các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp tại Việt Nam Tuy nhiên, trước những biến đổi mới

về tình hình kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia WTO và

kí kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, đang đặt ra nhiều vấn đề ở cấp độ vĩ mô và vi mô về quản trị nhân lực ở các doanh nghiệp cả tư nhân

và nhà nước Hơn nữa, việc áp dụng hệ thống lý luận về quản trị nguồn nhân lực để giúp nhận diện vấn đề này ở doanh nghiệp (trong trường hợp này là Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC) thì chưa nghiên cứu nào được thực hiện Vì thế, đây là nội dung còn khuyết thiếu và học viên mong muốn bàn luận nghiên cứu

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, đánh giá hoạt động quản trị nguồn nhân lực của Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC tìm ra các hạn chế và nguyên nhân từ đó

đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực cho công ty

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Ứng

dụng Khoa học và Công nghệ MITEC

- Đánh giá thực trạng việc quản trị nhân lực tại Công ty Cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ MITEC

- Đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực tại

Công ty Cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ MITEC trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty

cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu: Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC

Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2015 đến năm 2018

Để Công ty có thể có nguồn nhân lực vững mạnh, các giải pháp về quản trị nguồn nhân lực cần phải tiến hành một cách có hệ thống, khoa học và cần có lộ trình cụ thể, theo giai đoạn Thời gian ước tính có thể kéo dài trong năm năm với mỗi thử nghiệm giải pháp

Nội dung nghiên cứu: 1/ Các vấn đề liên quan đến hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC; 2/ Những thành tựu, hạn chế của Công ty trong vấn đề quản trị nguồn nhân lực; 3/ Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực cho Công ty

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp nghiên cứu chuyên gia, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp thống kê

Phương pháp nghiên cứu tài liệu sử dụng các lý thuyết và thực tiễn quản trị nguồn nhân lực

Phương pháp chuyên gia để làm sáng tỏ cụ thể hóa nội dung nghiên cứu

Trang 14

Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm thu thập ý kiến của một số cán bộ công nhân viên thuộc công ty MITEC nhằm giải thích cho những số liệu thu trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp thống kê: Tổng hợp số liệu của Công ty có liên quan đến công tác tuyển dụng và đào tạo nhân lực

Phương pháp phân tích: Luận văn phân tích những báo cáo tình hình nguồn nhân lực trong giai đoạn 2015 – 2018 để nắm rõ thực trạng về nguồn nhân lực của Công ty Bên cạnh đó, những bản báo cáo liên quan đến đến các hoạt động của Công ty cũng được luận văn tìm hiểu và phân tích để có thể có cách nhìn tổng quát

về tình hình phát triển của Công ty, để từ đó nhận diện được vai trò, tầm quan trọng của công tác quản trị nguồn nhân lực đối với sự phát triển của Công ty Từ những phân tích các bản báo cáo này, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty

Phương pháp so sánh: Luận văn tiến hành so sánh, đối chiếu giữa các kỳ và các năm hoạt động của Công ty, từ đó thấy được tình hình kinh doanh, phát triển của Công ty Những số liệu qua việc so sánh, đối chiếu này phản ảnh một phần những yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản trị nguồn nhân lực của Công ty, từ đó xác định được điểm mạnh, điểm yếu của Công ty để đề xuất giải pháp phù hợp với tình hình thực tế

Thông tin thứ cấp: Các báo cáo, tài liệu, số liệu thu thập được lấy trực tiếp từ phòng Hành chính nhân sự của Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ

- MITEC để phân tích thực trạng nguồn nhân lực

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn xây dựng được cơ sở lý luận về sự phát triển nguồn nhân lực của công ty, (các khái niệm cơ bản, các quan điểm, các tiêu chuẩn về sự phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực của công ty nói riêng)

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ việc phân tích thực trạng các vấn đề còn tồn tại trong quản trị nguồn nhân lực của công ty MITEC; cung cấp những dữ liệu khách quan giúp cho lãnh đạo công ty hiểu hơn về những điểm mạnh và những điểm còn hạn chế của công ty để

có những chiến lược quản trị nguồn nhân lực được hiệu quả hơn Cũng qua đó, Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC trong thời gian tới nhằm đáp ứng được mục tiêu phát triển của công ty trong tương lai

Trang 15

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm ba chương chính sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại

Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC.

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực

a Khái niệm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và cốt lõi cho phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước Đặc biệt trong cuộc cách mạng 4.0 này, nhất là ở các quốc gia đang phát triển, thì công tác quản trị nhân lực càng quan trọng, đòi hỏi phải có chiến lược lâu dài của mỗi nước

Cho đến nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau liên quan đến khái niệm nguồn nhân lực của các nhà nghiên cứu khoa học

Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề,

là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” Định nghĩa này xuất phát từ

đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực Quan niệm về này có phần đề cao trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực Liên Hợp quốc coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng

Theo Nicholas Henry (2007), “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế -

xã hội của các quốc gia, khu vực, thế giới” [34] Với cách hiểu này, nguồn nhân lực

là nguồn lực gắn với các yếu tố vật chất, tinh thần nhằm phục vụ cho sự phát triển của tổ chức

Theo Phạm Minh Hạc cùng và cộng sự trong chương trình phát triển nguồn nhân lực về dân số và chất lượng con người (KX-07): “Nguồn nhân lực cần được hiểu là

số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện

có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của

một quốc gia hay một địa phương nào đó ” [12]

Theo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng ta nhấn mạnh “nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn nhân lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí

Trang 17

tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” [10]

Như vậy, nói đến nguồn nhân lực là nói đến các yếu tố thuộc phạm trù con người như nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống, đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc, trong đó trình độ phát triển nhân cách, đạo đức đóng vai trò quan trọng

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm nguồn nhân lực của Nicholas Henry (2007):

“Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, khu vực, thế giới”

b Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực

Quản trị nguồn nhân lực (Human Resource Management) liên quan hai vấn

đề cơ bản “quản trị” và “nguồn nhân lực”

Quản trị là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Nói cách khác, quản trị là quá trình làm cho những hoạt động được hoàn thành với hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Quản trị là quá trình làm cho những hoạt động được hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác

Xét theo góc độ các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản trị nguồn nhân lực bao gồm các việc từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển người lao động để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức

Xét theo nội dung hoạt động của quản trị nguồn nhân lực thì “Quản trị nguồn nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong các tổ chức”

Trong luận văn này khái niệm quản trị nguồn nhân lực như sau: Quản trị nguồn nhân lực là toàn bộ các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý có liên quan và có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tổ chức và cán bộ công nhân viên của nó

1.1.2 Mục tiêu quản trị nguồn nhân lực

Trang 18

Quản trị nguồn nhân lực hướng tới hai mục tiêu cơ bản là: Thứ nhất, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả của tổ chức/doanh nghiệp; Thứ hai, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên trong tổ chức/doanh nghiệp mà họ thuộc về

Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp cho nhà quản trị hoàn thành được mục tiêu, hiệu quả thông qua việc lựa chọn nguồn nhân lực Một nhà quản trị có thể xây dựng kế hoạch, sơ đồ tổ chức, v.v nhưng vẫn có thể thất bại nếu không biết lựa chọn và sử dụng nguồn nhân lực hợp lý, hiệu quả Họ điều khiển giỏi và giành nhiều thời gian làm việc với máy móc, trang thiết bị hơn là làm việc với con người Qua nghiên cứu cho ta biết người đứng đầu một tổ chức giỏi cần đầu tư nhiều thời gian để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề con người hơn các vấn đề khác Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp các nhà quản trị học biết được cách giao tiếp với người khác, biết tìm ra những điểm chung và biết cách đánh giá, lôi kéo nhân viên, hạn chế sai lầm trong việc lựa chọn, sử dụng người lao động

1.1.3 Vai trò và chức năng của quản trị nguồn nhân lực

a) Vai trò của Quản trị nguồn nhân lực

Quản trị nguồn nhân lực nhằm duy trì và củng cố đầy đủ số lượng và chất lượng lao động thiết yếu cho tổ chức để đạt được nhu cầu đặt ra Quản trị nguồn nhân lực giúp tìm kiếm và phát triển những phương pháp tốt nhất để người lao động

có thể đóng góp nhiều nhất cho tổ chức đồng thời cũng tạo cơ hội phát triển không ngừng cho chính bản thân người lao động

Trong môi trường kinh doanh đầy biến động, vai trò của quản trị nguồn nhân lực ngày càng tăng cao vì:

Do sự cạnh trạnh gay gắt của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp buộc phải cơ cấu lại hệ thống tổ chức theo hướng giảm về số lượng nhưng tuyển chọn được những nhân viên có chất lượng, trình độ chuyên môn cao

Con người với khả năng của mình, đã nghiên cứu, sáng tạo sản xuất ra hoàng hóa dịch vụ và đem ra thị trường Cũng chỉ có con người mới có thể kiểm tra chất lượng hàng hóa, phân chia nguồn tài chính, xây dựng các chiến lược chung và các mục tiêu cho tổ chức Không có những con người làm việc có hiệu quả thì các doanh nghiệp không thể đạt được các mục tiêu của mình

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo đã buộc các nhà quản trị phải tạo cho tổ chức của mình chiến lược quản trị nhân lực hợp lý, trong đó phải thực hiện tốt các nội dung như xây dựng kế hoạch, tuyển dụng, duy trì, phát triển, đào tạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để có được nguồn nhân lực hiệu quả

Trang 19

Trong đó vai trò của con người là vô cùng quan trọng bởi đây là yếu tố xây dựng và phát triển doanh nghiệp; quyết định trực tiếp đến sự thành công của doanh nghiệp [6, Tr 1]

b) Chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực

Quan điểm thứ nhất với việc phân chia chức năng quản trị nguồn nhân lực theo các hoạt động cụ thể như: hoạch định, phân tích công việc, tuyển chọn, đào tạo, đánh giá nhân viên, khen thưởng, kỷ luật, trả lương, quan hệ lao động v.v Với cách tiếp cận này, sẽ có khoảng 8 -12 chức năng cơ bản trong mô hình quản trị nguồn nhân lực Đại diện cho trường phái này có tác giả Carrell, Elbert, Halfield v.v

Ngược lại một số tác giả khác lại phân các hoạt động quản trị nguồn nhân lực theo một số nhóm chức năng cơ bản: ví dụ, theo J Bretton và J Gold mô tả nguồn nhân lực có năm chức năng cơ bản: Cán bộ, khen thưởng, phát triển nhân viên, duy trì nhân viên, giao tế nhân sự Theo David Decenzo và Stephen Robbins, mô hình quản trị nguồn nhân lực có bốn chức năng cơ bản: khởi đầu phát triển, động viên, duy trì, v.v

Quan điểm thứ hai với việc phân chia các nội dung hoạt động của quản trị nguồn nhân lực theo nhóm chức năng sẽ giúp các nhà quản trị có được cái nhìn khái quát, logic và để xác định được những nét đặc trưng trong phong cách và phương pháp thực hiện các mô hình hơn Tuy nhiên có thể phân chia các hoạt động chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực theo ba nhóm chức năng chủ yếu sau đây:

Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực

Nhóm chức năng thu hút chú trọng đến việc đảm bảo đủ số lượng nhân viên với các đặc điểm, phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp Làm sao để tuyển được đúng người cho các công việc phù hợp, doanh nghiệp phải căn cứ vào

kế hoạch sản xuất, kinh doanh và việc sử dụng nhân viên trong tổ chức của mình để xác định cho các vị trí cần tuyển thêm người đối với lĩnh vực hoạt động, vị trí việc làm của tổ chức

Công tác phân tích vị trí công việc sẽ cho biết doanh nghiệp cần tuyển thêm bao nhiêu nhân viên và các yêu cầu tiêu chuẩn đối với các ứng viên Việc áp dụng các kỹ năng tuyển dụng như trắc nghiệm và phỏng vấn sẽ giúp doanh nghiệp chọn được ứng viên tốt nhất cho công việc Do đó, nhóm chức năng tuyển dụng thường

có các hoạt động: dự báo và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc, phỏng vấn, trắc nghiệm, thu thập, lưu giữ và xử lý các thông tin về nguồn nhân lực của doanh nghiệp

Trang 20

Nhóm chức năng đào tạo, phát triển Nhóm chức năng quan tâm đến việc

nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các

kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa năng lực cá nhân Các doanh nghiệp áp dụng chương trình hướng nghiệp và đào tạo cho nhân viên mới nhằm xác định năng lực thực tế của nhân viên và giúp nhân viên làm quen với công việc của doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần lập kế hoạch đào tạo, đào tạo lại cho nhân viên mỗi khi

có sự thay đổi về nhu cầu sản hoặc tiếp nhận quy trình công nghệ, kỹ thuật mới Nhóm chức năng đào tạo, phát triển thường thực hiện thông quan các hoạt động như hướng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng thực hành; bồi dưỡng nâng cao trình độ lành nghề và cập nhật kiến thức quản lý, kỹ thuật công nghệ cho cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ

Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực Nhóm chức năng này chú trọng

đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong tổ chức Nhóm chức năng này gồm hai chức năng là kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động trong doanh nghiệp

Chức năng động viên, khích lệ người lao động liên quan đến các chính sách và các hoạt động nhằm khuyến khích, động viên nhân viên trong doanh nghiệp làm việc hăng say, tận tình, có ý thức trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao Khi giao cho nhân viên những công việc có thách thức cao, cũng nên cho nhân viên biết đánh giá của lãnh đạo về mức hoàn thành và ý nghĩa của việc hoàn thành công việc của nhân viên đối với các hoạt động của doanh nghiệp, trả lương cao và công bằng, kíp thời khen thưởng các cá nhân có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, có đóng góp làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp, v.v là những biện pháp hữu ích để thu hút và duy trì được đội ngũ lao động chất lượng cao cho doanh nghiệp Do đó, xây dựng và quản lý hệ thống bảng lương, thiết lập và áp dụng các chính sách lương thưởng, cơ hội thăng tiến, kỷ luật, tiền thưởng, phúc lợi, phụ cấp, đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên là những hoạt động quan trọng nhất của chức năng kích thích động viên

Quan hệ lao động, chức năng quan hệ lao động liên quan đến việc gắn kết trong các hoạt động nhằm hoàn thiện môi trường làm việc và các mối quan hệ trong công việc như: ký kết hợp đồng lao động, giải quyết khiếu nại tố cáo, tranh chấp lao động, giao tế nhân viên, cải thiện môi trường làm việc, y tế, bảo hiểm, an toàn lao động Giải quyết tốt mối quan hệ lao động vừa giúp các doanh nghiệp tạo ra bầu không khí tâm lý tập thể, bảo

Trang 21

lưu các giá truyền thống tốt đẹp vừa làm cho nhân viên được thỏa mãn với công việc trong doanh nghiệp

1.1.4 Tiêu chí đánh giá quản trị nguồn nhân lực

1.1.4.1 Tiêu chí về số lượng, cơ cấu

a Về số lượng

Tiêu chí này thể hiện số lượng nguồn nhân lực trong công ty, phản ánh phần nào quy mô, sự phát triển theo bề rộng của Công ty Đối với các công ty kinh doanh về các phần mềm, công nghệ thông tin,… thì số lượng nhân lực càng phản ánh sự lớn mạnh của Công ty, thông qua đó thể hiện được mức độ uy tín của Công ty trên thị trường

b Về cơ cấu

- Cơ cấu tuổi: Tiêu chí này thể hiện cấu trúc nguồn nhân lực là trẻ hóa hay già hóa Căn cứ vào tiêu chí này, sẽ biết được nguồn nhân lực có phù hợp với tình hình phát triển của Công ty hay không, từ đó có thể đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện hoặc điều chỉnh nguồn nhân lực hợp lý bởi mỗi độ tuổi sẽ có những ưu điểm

và hạn chế riêng, do vậy, khi nhắc tới tiêu chí của nguồn nhân lực, không thể bỏ qua tiêu chí này

- Cơ cấu giới tính: Có thể nói, yếu tố giới tính là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của một tổ chức Do đặc trưng của mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực khác nhau nên yêu cầu về giới tính cũng không giống nhau Đối với loại hình kinh doanh của công ty thiên nhiều về máy móc điện tử, IT thì có thể thấy đặc trưng công việc này phù hợp với nam giới hơn nữ giới Chính vì vậy, tỷ lệ lao động nam trong Công ty cao gấp đôi so với lao động nữ (trong nghiên cứu này là (110 lao động nam, chiếm 77,5% so với 32 lao động nữ chỉ chiếm 22,5%)

1.1.4.2 Tiêu chí về chất lượng

a Về sức khỏe: Sức khỏe của con người nói chung và người lao động nói riêng bao gồm: sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần Sức khỏe gắn kết chặt chẽ tới năng suất lao động, hiệu quả công việc của người lao động Do đó, Lãnh đạo Công ty luôn quan tâm tới chất lượng sức khỏe của người lao động Điều này thể hiện qua chế độ khen thưởng, phúc lợi của Công ty dành cho người lao động

b Cơ cấu về trình độ chuyên môn: Với đặc thù ngành của công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nên trình độ học vấn của người lao động đáp ứng với những công việc mang tính đặc thù này phải từ trình độ cử nhân trở lên, còn

về chuyên môn là trình độ từ kĩ sư trở lên Đây là tiêu chí đầu tiên và tiên quyết

Trang 22

trong việc tuyển dụng nhân sự mà mỗi Công ty trong lĩnh vực này phải chú ý tới để lựa chọn những người có đủ chuyên môn, năng lực phục vụ cho công việc

c Phẩm chất cá nhân: Phẩm chất cá nhân bao gồm: ý thức kỷ luật, tính hợp tác, tính chủ động thực hiện công việc, ý thức trách nhiệm, sự chuyên tâm, sự trung thực, tận tụy, gắn bó, sự sáng tạo… Tiêu chí này rất khó có thể lựa chọn đầu vào mà cần phải có sự sàng lọc trong quá trình làm việc Tuy nhiên, đây vẫn được coi là yếu

tố mềm, là tiêu thức rất quan trọng quyết định đến chất lượng và hiệu quả công việc Tiêu chí này là yêu cầu cần thiết của mỗi người lao động khi làm việc tại công ty, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế

1.2 Nội dung quản trị nguồn nhân lực

1.2.1 Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực

Kế hoạch nguồn nhân lực là nội dung quan trọng đảm bảo việc phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp một cách liên tục phù hợp nhất với nhu cầu cả về quy mô, chất lượng và cơ cấu

Các hình thức lập kế hoạch nguồn nhân lực:

Kế hoạch dài hạn: Một doanh nghiệp không thể đạt được các mục tiêu chiến lược dài hạn nếu thiếu nhân lực cần thiết Nếu kế hoạch nguồn nhân lực dài hạn chỉ rõ rằng lực lượng lao động cần thiết có kỹ năng trong tương lai sẽ không đáp ứng thì các

kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần thiết phải được thay đổi xem xét lại cho phù hợp, thông thường kế hoạch dài hạn có khoảng thời gian từ 5 năm trở lên

Kế hoạch nguồn nhân lực trung hạn: gồm xác định các mục đích và mục tiêu

cụ thể của doanh nghiệp trong vòng từ 2 đến 3 năm tới Để đạt được các mục đích

và mục tiêu trên yêu cầu tổ chức phải có một lực lượng lao động thích ứng

Kế hoạch nguồn nhân lực ngắn hạn: thường đưa ra các mục tiêu thực hiện và

kế hoạch tác nghiệp của một năm Kế hoạch hoạt động giữa vai trò rất quan trọng cho thắng lợi về kinh tế và sự sống còn của mọi tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt những dự báo về tiết kiệm và chi tiêu Kế hoạch ngắn hạn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp Với những nhu cầu nhân lực phổ thông, không đòi hỏi đào tạo hoặc những nhu cầu nhân lực của những công việc có tính mùa vụ thì tổ chức, doanh nghiệp thường xác định kế hoạch ngắn hạn Vì những loại nhân lực đó tổ chức, doanh nghiệp có khả năng thu hút dễ dàng trên thị trường lao động đảm bảo hơn và sử dụng nguồn nhân lực tiết kiệm và linh hoạt hơn

Từ dự báo khối lượng công việc tính toán nhu cầu nhân lực phù hợp đối với các mục tiêu chiến lược dài hạn, trung hạn và ngắn hạn

1.2.2 Phân tích và thiết kế công việc

Trang 23

Phân tích công việc

Phân tích công việc là quá trình đánh giá bản chất hoặc nội dung công việc bằng một tiến trình xác định một cách có hệ thống các nhiệm vụ và kỹ năng cần thiết để thực hiện các công việc trong tổ chức

Phân tích có ý nghĩa rất quan trọng và là công cụ cơ bản nhất trong quá trình quản trị nguồn nhân lực Nếu không phân tích công việc thì các Công ty Việt Nam ngày nay sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng tài nguyên nhân sự, bố trí lao động bất hợp lý, sử dụng người lao động không đúng người, đúng việc quản trị nguồn nhân lực sẽ không có hiệu quả

Mục đích của phân tích công việc là trả lời câu hỏi sau: 1/ Công nhân viên thực hiện các công việc gì?; 2/ Khi nào các công việc được thực hiện hoàn tất?; 3/ Công việc được thực hiện ở đâu?; 4/ Công nhân viên làm việc đó như thế nào?; 5/ Tại sao phải thực hiện công việc đó?; 6/ Để thực hiện công việc đó, công nhân cần phải hội đủ những tiêu chuẩn, trình độ nào?

Có nhiều phương pháp để phân tích công việc Những phương pháp phổ biến nhất là: Bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, ghi chép lại trong nhật ký hoặc tổ các phương pháp

Tiến trình phân tích công việc gồm 6 bước: Bước 1: Xác định thông tin phân tích công việc; Bước 2: Thu nhập thông tin cơ bản; Bước 3: lựa chọn công việc tiêu biểu; Bước 4: Thu thập thông tin phân tích công việc; Bước 5: Kiểm tra lại thông tin với các thành viên; Bước 6: Triển khai bản mô tả công việc và mô tả thành tích công việc

Phân tích công việc có rất nhiều điểm thuận lợi:

Qua mô tả công việc giúp chỉ ra những yếu tố có hại sức khỏe và an toàn của người lao động Những yếu tố có hại nếu không thể khắc phục được thì cần thiết phải thiết kế lại công việc để loại trừ chúng

Thiết kế công việc

Thiết kế công việc phải đảm bảo sự gắn kết các công việc với mục tiêu của tổ chức, tạo động lực tối đa cho người lao động, đạt được các tiêu chuẩn thực hiện công việc, phù hợp giữa các khả năng và kỹ năng của người lao động với các đòi hỏi của công việc

Nội dung công việc: Có năm đặc trưng cơ bản để tạo nên nội dung công việc: tập hợp các kỹ năng; tính xác định của công việc; tầm quan trọng của công việc; mức độ tự quản; sự phản hồi

Trang 24

Các trách nhiệm đối với doanh nghiệp; bao gồm tổng thể các trách nhiệm có liên quan tới doanh nghiệp nói chung mà mỗi người lao động phải làm ví dụ: tuân thủ các quy định và chế độ làm việc

Điều kiện lao động: đó chính là các yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng của công việc như nhiệt độ, ánh sáng, các điều kiện an toàn

Để thiết kế công việc có thể sử dụng các phương pháp sau: chuyên môn hóa, thay đổi công việc, kiêm nhiệm nhiều công việc, làm giàu công việc, nhóm tự quản

1.2.3 Tuyển dụng nguồn nhân lực

Tuyển dụng có thể hiểu là hoạt động tìm kiếm, lựa chọn và thu hút các ứng viên phù hợp về việc làm cho tổ chức, góp phần phát triển quy mô nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển của tổ chức Bên cạnh đó, từ “tuyển” (tuyển mộ, tuyển chọn) cho đến

“dụng” (sử dụng), cần có những bước đi phù hợp để nhân viên mới, làm quen với tổ chức, làm quen với công việc (đào tạo và định hướng nhân viên mới)

Để tuyển dụng đạt hiệu quả cao, tổ chức cần có một chiến lược tuyển dụng riêng, các quy trình tuyển dụng phù hợp, các kế hoạch chi tiết, cùng đội ngũ nhân sự làm tuyển dụng có nghiệp vụ cao Trong công tác này, vai trò của những “bản mô tả công việc” và bản “tiêu chuẩn chức danh” là vô cùng quan trọng để đưa ra thông tin tuyển dụng, quyết định các bước sàng lọc, và cuối cùng tìm kiếm được các ứng viên tiêu biểu nhất Đó là một trong những nền tảng phản ánh tính khoa học trong công tác tuyển dụng hiện đại

Do đòi hỏi về chất lượng nên tuyển dụng trong các tổ chức thông thường có tính chuyên nghiệp khá cao Ở những tổ chức lớn như vậy, tuyển dụng còn là hoạt động truyền thông lồng ghép nhằm quảng bá hình ảnh Và tổ chức đòi hỏi cần có một thương hiệu tuyển dụng cho riêng mình Có thể là việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, mạng internet và liên lạc di động Đăng thông tin tuyển dụng trên các website về việc làm (thậm chí là trên mạng xã hội) thay vì trên báo in và phát thanh truyền hình: gửi hồ sơ qua thư điện tử thay vì hộp hồ sơ trực tiếp; thi (trắc nghiệm trực tuyến) hay phỏng vấn qua điện thoại, tất cả các hình thức đó đều ngày càng trở lên phổ biến và thông dụng hơn

Nguyên tắc tuyển dụng dựa trên yêu cầu công việc thực tế trước mắt và các chiến lược lâu dài, quyết định lựa chọn dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể để tìm ra được người phù hợp với yêu cầu đặt ra

Công tác tuyển dụng có ý nghĩa quan trọng với doanh nghiệp vì công tác tuyển dụng tốt thì doanh nghiệp có một đội ngũ nhân viên có trình độ, kinh nghiệm, giúp

Trang 25

doanh nghiệp phát triển tốt Ngược lại, có thể dẫn đến suy yếu nguồn lực, làm cho hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, lãng phí nguồn nhân lực và cuối cùng dẫn đến phá sản Đối với doanh nghiệp nếu tuyển dụng tốt các khâu thì sẽ tuyển chọn được đầu vào về nhân lực có trình độ năng lực đáp ứng yếu cầu công việc, có chất lượng cao có nghĩa là đã và là tiền đề cho phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp đó

Quy trình tuyển dụng gồm hai khâu nối liền đó là tuyển mộ và tuyển chọn: Tuyển mộ: là quá trình thu hút những người tuyển dụng có trình độ từ nguồn

lực lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức [11]

Đối với nguồn nhân lực bên trong tổ chức: Việc tuyển dụng được thực hiện

với những đối tượng đang làm việc ngay trong tổ chức Khi tổ chức cần bổ sung, thay thế nhân lực cho một vị trí nào đó, họ sẽ hướng đến những thành viên trong tổ chức có đủ khả năng, trình độ và có nguyện vọng sẵn sàng làm việc ở vị trí công việc mới Ưu điểm của nguồn này là những người đã quen với công việc, môi trường tổ chức, quá trình thực hiện công việc được diễn ra liên tục không bị gián đoạn, hạn chế được các quyết định sai trong đề bạt, thuyên chuyển lao động

Đối với nguồn nhân lực bên ngoài tổ chức: Các nguồn tuyển dụng từ bên

ngoài tổ chức tùy từng yêu cầu của vị trí tuyển dụng mà nhà tuyển dụng có thể hướng đến một nhóm đối tượng cụ thể khác nhau, những người này bao gồm sinh viên đã tốt nghiệp, lao động đang thất nghiệp Ưu điểm của nguồn này là những người mới thường có cái nhìn mới về tổ chức, họ có khả năng làm thay đổi cách làm cũ của tổ chức mà không sợ người trong tổ chức phản ứng Tuy nhiên, việc tuyển người từ bên ngoài sẽ phải mất thời gian để hướng dẫn họ làm quen với công việc và có thể có rủi ro xảy ra bởi vì những kỹ năng của ứng viên mới chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng, do đó có thể người được tuyển không đáp ứng được yêu cầu của công việc

Tuyển chọn: là quá trình đánh giá các mặt của các ứng viên theo các tiêu chí khác nhau dựa vào yêu cầu công việc để tìm ra ứng viên phù hợp nhất với công việc nhằm tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra của tổ chức trong số

những người đã thu hút được trong quá trình tuyển dụng [11]

Tuyển chọn nguồn nhân lực có ý nghĩa rất quan trọng đối với chiến lược kinh doanh của mọi tổ chức, bởi vì quá trình này ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả công việc cũng như sự phát triển của tổ chức trong tương lai bởi quá trình này quyết định đến chất lượng đội ngũ nhân viên Tuyển chọn tốt sẽ tránh lãng phí tài lực

cũng như tránh được các rủi ro trong quá trình thực hiện công việc

Trang 26

Quá trình tuyển chọn là một quy trình nhiều bước như Sàng lọc qua hồ sơ, Thi viết, Trắc nghiệm, Phỏng vấn, Thử việc Số lượng các bước không cố định mà tùy thuộc vào tính chất công việc của tổ chức Khi xây dựng quy chế tuyển chọn phải xây dựng sao cho phù hợp với yêu cầu của tổ chức và cũng không được quá cao so với người được tuyển dụng

Như vậy, việc tuyển mộ và tuyển chọn khác nhau Tuyển mộ là công việc tập trung các ứng viên lại, còn tuyển chọn là quyết định xem trong tổng số các ứng viên

ai có đủ tiêu chuẩn để làm việc và được chọn lựa phục vụ cho vị trí việc làm Tuyển chọn là sự lựa chọn những người cho phù hợp

1.2.4 Sử dụng lao động

Sử dụng lao động trong đơn vị doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của chính doanh nghiệp Việc sử dụng lao động hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng năng suất cao cho người lao động, đồng thời là quá trình

sử dụng lao động Sức lao động là năng lực lao động của con người là toàn bộ thể lực

và trí lực của con người Sử dụng lao động chính là quá trình vận dụng sức lao động

để tạo ra sản phẩm theo các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hiện nay, một số doanh nghiệp không có chiến lược đào tạo và phát triển gắn liền với tầm nhìn và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ quan tâm đến việc đào tạo cho cán bộ quản lý, chuyên gia cấp cao mà chưa quan tâm đào tạo chuyên viên kỹ thuật, công nhân lao động, hình thức đào tạo chủ yếu là tự đào tạo hoặc người lao động phải tự nâng cao tay nghề Từ tổng hợp, phân tích thực trạng trên, cho thấy hiệu quả công tác sử dụng và quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp còn khá thấp, chưa đáp ứng được tình hình phát triển trong bối cảnh phát triển nhanh của nền kinh tế cũng như yêu cầu về vấn

đề sử dụng nguồn nhân lực hiện nay Vấn đề quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp không được quan tâm phát triển nên không tận dụng được một cách hiệu quả nguồn lao động trong doanh nghiệp

1.2.5 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Trong xu thế cạnh tranh hiện nay cạnh tranh chủ yếu là cạnh tranh về chất lượng nguồn nhân lực Bởi vì con người là yếu tố quyết định sự thành bại của mọi

tổ chức Do đó, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và cần được quan tâm đúng mức trong các tổ chức

Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành

vi nghề nghiệp của người lao động

Trang 27

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giúp tổ chức nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ thông tin và quản lý tổ chức Đối với người lao động, đào tạo và phát triển tạo ra được sự gắn bó giữa người lao động và tổ chức, tạo ra sự chuyên nghiệp của người lao động, tạo ra sự thích ứng giữa người lao động

và công việc hiện tại cũng như tương lai, tạo cho người lao động tư duy, tri thức mới trong công việc Ngày nay đào tạo được coi như một khoản đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của tổ chức và việc đầu tư cho đào tạo gắn liền với khả năng sinh lợi lâu dài và bền vững cho tổ chức

Đào tạo trong công việc: Đây là các phương pháp đào tạo mà người học

được học ngay tại nơi làm việc dưới sự hướng dẫn của người lao động lành nghề hơn thông qua quan sát, trao đổi thực tế, thực hành công việc Đào tạo trong công việc có ý nghĩa thiết thực vì người lao động vừa được làm việc, vừa có thu nhập, rèn luyện và tích lũy tri thức Phương pháp đào tạo mang lại sự chuyển biến trong kiến thức và kỹ năng thực hành Tuy nhiên, đối với phương pháp này, kiến thức lý thuyết được trang bị chưa được hệ thống, người học việc có thể bắt chước những kinh nghiệm, cách làm không tiên tiến của người dạy Do đó, điều kiện tiên quyết của phương pháp này là người dạy phải được chọn lựa cẩn thận và đáp ứng được các yêu cầu của chương trình đào tạo về trình độ chuyên môn, mức độ thành thạo trong công việc và khả năng thị phạm, truyền thụ kiến thức Đào tạo trong công việc thường có đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc, đào tạo theo kiểu học nghề, kèm cặp chỉ bảo, luân chuyển và thuyên chuyển công việc

Đào tạo bồi dưỡng ngoài công việc: Là phương pháp đào tạo trong đó người

học được tách khỏi sự thực hiện các công việc thực tế [11] Bao gồm các phương pháp: Tổ chức các lớp trong đơn vị; cử đi học ở các trường chính quy; tham gia các bài giảng, các hội nghị, hội thảo; tham gia các buổi tập huấn, đào tạo theo kiểu chương trình hóa với sự trợ giúp của máy tính; đào tạo theo phương thức từ xa; đào tạo theo kiểu phòng thí nghiệm

1.2.6 Đánh giá thực hiện công việc

Đánh giá thực hiện công việc được hiểu là việc so sánh, đối chiếu kết quả đạt được của người lao động dựa trên các mục tiêu và kế hoạch đã đề ra Sự đánh giá dựa trên cơ sở tình hình thực tế của doanh nghiệp và tình hình thực tiễn thực hiện công việc của người lao động

Trang 28

Việc đánh giá thực hiện công việc chủ yếu là do người lãnh đạo trực tiếp Tuy vậy, cũng có thể là bạn cùng làm việc, người dưới quyền của người được đánh giá

Xác định mục tiêu đánh giá công việc

Mục tiêu của đánh giá thực hiện công việc là mô tả các quá trình thực hiện

công việc của người lao động, từ các quá trình thực hiện công việc đó, người quản lý thu nhập và cho kết quả đánh giá khả quan về nhân lực của tổ chức, nắm được tình hình thực hiện công việc của nhân viên, từ đó có thể đưa ra những quyết định nhân sự đúng đắn như đào tạo và phát triển, thù lao, thăng tiến

Làm căn cứ xây dựng kế hoạch đào tạo, hoạch định nhu cầu nhân viên và kế hoạch tuyển dụng, cung cấp thông tin cho nhân viên biết và mức độ hoàn thành công việc như yêu cầu của nhà quản lý để họ tự điều chỉnh hành vi cho phù hợp, có tác dụng khuyến khích nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ vì được ghi nhận thành tích và chế độ đãi ngộ hợp lý, dựa vào kết quả đánh giá có quyết định đúng về lương, thưởng cho nhân viên, tạo môi trường văn hóa hiểu biết lẫn nhau giữa nhân viên và cấp quản lý qua hoạt động đánh giá

Kỳ vọng công việc: các nhà quản lý phải thể hiện đầy đủ và rõ ràng cho nhân

viên và người lao động hiểu được những kỳ vọng của tổ chức để họ thấu hiểu và đưa ra kỳ vọng của bản thân họ và tổ chức tới tất cả người lao động

Kiểm tra sự thực hiện công việc: Các nhà quản lý giám sát sự thực hiện công

việc của nhân viên và người lao động trong quá trình làm việc Tiến hành kiểm tra trình độ chuyên môn và phạm vi hiểu biết của họ để phục vụ cho quá trình đánh giá: dựa vào kết quả đánh giá sẽ có quyết định đúng, chính xác về lương, thưởng cho nhân viên, làm căn cứ xây dựng kế hoạch đào tạo, hoạch định nhu cầu nhân viên và

kế hoạch tuyển dụng, cung cấp thông tin cho nhân viên biết và mức độ hoàn thành công việc phù hợp cũng như yêu cầu của nhà quản lý để họ tự điều chỉnh hành vi cho phù hợp, có tác dụng khuyến khích nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ vì được ghi nhận thành tích và chế độ đãi ngộ hợp lý, tạo môi trường văn hóa hiểu biết lẫn

nhau giữa nhân viên và cấp quản lý qua hoạt động đánh giá

Trang 29

Như vậy, đãi ngộ nhân sự là một quá trình gồm hai hoạt động có liên quan mật thiết đến sự thỏa mãn giữa nhóm nhu cầu cơ bản của người lao động: chăm lo đời sống vật chất và đời sống tinh thần Hai hoạt động này được giới hạn trong một khuôn khổ cụ thể đó là trong đơn vị, tổ chức Đó chính là mục tiêu mà các công ty, doanh nghiệp mong muốn đạt được

Cùng với tiền lương và thưởng, tổ chức, doanh nghiệp còn khuyến khích người lao động thông qua các phúc lợi Các khoản này thường không dựa vào số lượng, chất lượng lao động mà tính bình quân cho nhân viên để họ có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống và sinh hoạt gia đình Phúc lợi trong công ty chia ra hai phần chính: phúc lợi theo quy định của pháp luật và phúc lợi do các công ty, doanh nghiệp tự quyền quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị Phúc lợi theo quy định của pháp luật do Nhà nước quy định nhằm đảm bảo cho người lao động ở mức tối thiểu đối với người sử dụng lao động Tùy theo đặc điểm của mỗi quốc gia mà những phúc lợi này được quy định trong luật và các văn bản dưới luật Ví dụ cho phần phúc lợi theo quy định của Pháp luật đó là BHXH, tiền lương trong thời gian làm việc Đây là sự đảm bảo về mặt vật chất cho người lao động khi ốm đau, thai sản, tai nạn, hưu trí, mất sức…góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình

họ trên cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Theo quy định hiện hành, BHXH, BHYT, BHTN được người sử dụng lao động đóng 32% còn người lao động đóng 10,5% trên mức lương chính của người lao động

Phúc lợi tự nguyện phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính của doanh nghiệp, nó bao gồm: - Bảo hiểm nhân thọ theo nhóm, chương trình bảo vệ sức khỏe, các loại dịch vụ như: Xe đưa đón đi làm, phòng tập thể dục, thể thao, bãi đỗ xe, đảm bảo chăm sóc trẻ em, tiền bồi dưỡng độc hại nguy hiểm

Phúc lợi có tác dụng thúc đẩy các hoạt động của doanh nghiệp, kích thích tiềm năng, sự cống hiến của người lao động và có ảnh hưởng trực tiếp tới phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, khi thực hiện đãi ngộ bằng phúc lợi, các nhà quản lý cần chú ý hai vấn đề: Trước hết, cần căn cứ vào khả năng tài chính của doanh nghiệp để đề ra mức phúc lợi Thứ hai, không cần chạy theo doanh nghiệp khác

1.3 Lý thuyết quản trị nguồn nhân lực

Trong quản trị nguồn nhân lực có 3 dòng lý thuyết chính phổ biến là học thuyết X, học thuyết Y và học thuyết Z

Trang 30

1.3.1 Học thuyết X

Học thuyết X được Douglas Mc Gregor đưa ra vào những năm 1960 Đó là kết quả của việc tổng hợp các lý thuyết quản trị nhân lực được áp dụng trong các xí nghiệp ở phương Tây lúc bấy giờ Học thuyết X đưa ra giả thiết nhìn nhận con người ở những chiều cạnh tiêu cực như lười biếng, không có chí tiến thủ, không quan tâm đến người khác, luôn chống lại sự đổi mới và con người dễ bị lừa dối Từ cách nhìn nhận như vậy về con người Mc Grogor 3 cách thức quản lý: (1) Quản lý nghiêm khắc dựa vào sự trừng phạt; (2) “Quản lý ôn hòa” dựa vào sự khen thưởng;

và (3) Quản lý ngiêm khắc và công bằng dựa vào cả sự trừng phạt và khen thưởng Với cách thức quản lý như vậy đặt nặng trách nhiệm lên vai trò của nhà quản trị phải chịu trách nhiệm tổ chức các doanh nghiệp hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu về kinh tế trên cơ sở các yếu tố như: tiền, vật tư, thiết bị, con người Theo học thuyết này, các nhà quản trị lúc bấy giờ chưa hiểu hết về các mức nhu cầu của con người Họ chỉ hiểu đơn giản rằng người lao động có nhu cầu về tiền hay chỉ nhìn phiến diện và chưa đầy đủ về người lao động nói riêng cũng như bản chất con người nói chung Chính vì thế, những nhà quản trị theo học thuyết X này thường không tin tưởng vào bất kỳ ai Họ chỉ tin vào hệ thống những quy định của tổ chức

và sức mạnh của kỷ luật Khi có một vấn để nào đó xảy ra, họ thường cố quy trách nhiệm cho một cá nhân cụ thể để kỷ luật hoặc khen thưởng

Mặc dù còn có nhiều hạn chế nhưng học thuyết X vẫn có ý nghĩa và được ứng dụng nhiều nhất là trong các ngành sản xuất và dịch vụ Học thuyết X giúp các nhà quản trị nhìn nhận lại bản thân để chỉnh sửa hành vi cho phù hợp và nó cũng trở thành học thuyết quản trị nhân lực

1.3.2 Học thuyết Y

Học thuyết Y ra đời được xem là sự “sửa sai” hay nói cách khác nó tiến bộ hơn so với học thuyết X Xuất phát từ việc nhìn nhận được những chỗ sai lầm trong học thuyết X, học thuyết Y đã đưa ra những giả thiết tích cực hơn về bản chất con người, đó là: Lười nhác không phải là bản tính bẩm sinh của con người nói chung Tài năng con người có thể khơi gợi dậy và con người sẽ làm việc tốt hơn nếu thỏa mãn được nhu cầu cá nhân Từ cách nhìn nhận về con người như trên, học thuyết Y đưa ra phương thức quản trị nhân lực dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân Khuyến khích cá nhân xây dựng mục tiêu và thực hiện mục tiêu đã đề ra Với học thuyết này nhà quản trị và người lao động có ảnh hưởng lẫn nhau

Trang 31

Như vậy, từ nội dung của học thuyết Y, ta thấy học thuyết này có phần tích cực và tiến bộ hơn học thuyết X ở chỗ nó nhìn đúng bản chất con người hơn Nó phát hiện ra rằng, con người không phải là những cỗ máy, sự khích lệ đối với con người nằm trong chính bản thân họ Việc đánh giá nhân viên theo học thuyết Y này hết sức linh động, các nhà quản trị để cho nhân viên tự đặt ra mục tiêu, tự đánh giá thành tích công việc của mình, khiến cho nhân viên cảm thấy cảm thấy họ thưc sự được tham gia vào hoạt động của tổ chức từ đó họ có trách nhiệm và nhiệt tình hơn

Mặc dù có những điểm tiến bộ hơn so với học thuyết X tuy nhiên học thuyết

Y cũng có những hạn chế đó là việc tuân theo học thuyết Y có thể dẫn đến sự buông lỏng trong quản lý hoặc trình độ của tổ chức chưa phù hợp để áp dụng học thuyết này Vì vậy, học thuyết Y chỉ có thể được phát huy tốt trong các tổ chức có trình độ phát triển cao và yêu cầu sự sáng tạo như các tập đoàn kinh tế lớn như Vin group, Sun group, Microsoft…

1.3.3 Học thuyết Z

Học thuyết Z còn được gọi là “Quản lý kiểu Nhật”được tiến sỹ W Ouchi nghiên cứu phương thức quản lý trong các doanh nghiệp Nhật Bản từ năm 1973 Học thuyết này là kết quả của việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn Sau này học thuyết Z được phổ biến khắp thế giới vào thời kỳ bùng nổ kinh tế của các nước châu

Á vào thập niên 1980 Nếu như thuyết X có cách nhìn tiêu cực về người lao động thì thuyết Z lại chú trọng vào việc gia tăng sự trung thành của người lao động với công ty bằng cách tạo sự an tâm, mãn nguyện; tôn trọng người lao động cả trong và ngoài công việc Cốt lõi của thuyết này là làm thỏa mãn và gia tăng tinh thần của người lao động để từ đó họ đạt được năng suất chất lượng trong công việc Với tinh thần này học thuyết Z được xem là khá hiện đại mặc dù nó được xây dựng từ nhà nghiên cứu phương Đông nhưng nó là sự kết hợp giữa lý luận phương Tây và thực tiễn là xã hội công nghiệp Nhật Bản Đầu tiên phải nói đến là người Nhật nói riêng

và người phương Đông nói chung rất coi trọng sự trung thành và lòng tự trọng hay cái “tôi” cá nhân Họ coi trọng điều đó hơn là tiền bạc trong nhiều trường hợp Người Nhật đã vận dụng được điều đó để đưa vào phương pháp quản trị của mình Bên cạnh đó người phương Đông thường luôn cố gắng hướng đến sự hòa hợp, trong học thuyết Z ta thấy sự hòa hợp của ba yếu tố đó là năng suất lao động, sự tin cậy và

sự khôn khéo trong quan hệ giữa người với người Đó là những điểm làm nên sự khác biệt cũng như thành công của học thuyết Z

1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp

Trang 32

1.4.1 Nhân tố môi trường kinh doanh

Môi trường bên ngoài doanh nghiệp

Trong bài luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến môi trường bên ngoài doanh nghiệp ở các khía cạnh: kinh tế, dân số, lực lượng lao động, văn hóa – xã hội, đối thủ cạnh tranh, khoa học kỹ thuật, khách hàng

Thứ nhất, về kinh tế: Chu kỳ kinh tế và chu kỳ kinh doanh ảnh hưởng rất lớn

đến quản trị nhân sự Trong giai đoạn suy thoái kinh tế hoặc kinh tế bất ổn có chiều hướng đi xuống thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách về nhân sự của doanh nghiệp Doanh nghiệp một mặt phải duy trì các lao động có tay nghề, mặt khác phải giảm chi phí lao động doanh nghiệp phải quyết định giảm giờ làm việc, cho nhân viên tạm nghỉ việc hoặc giảm phúc lợi

Thứ hai, về dân số, lực lượng lao động: Tỷ lệ dân số phát triển nhanh và lớn

hơn tỷ lệ phát triển kinh tế, lực lượng lao động hàng năm cần có việc làm cao thì doanh nghiệp có nhiều cơ hội lựa chọn lao động có chất lượng

Thứ ba, về văn hóa - xã hội: Một nền văn hóa có nhiều đẳng cấp, nhiều nấc

thang giá trị không theo kịp với đà phát triển của thời đại rõ ràng nó kìm hãm, không cung cấp nhân tài cho doanh nghiệp Điều này đi đến hậu quả là bầu không khí văn hóa trong doanh nghiệp bị ảnh hưởng

Thứ tư, về đối thủ cạnh tranh: Trong nền kinh tế thị trường nhà quản trị

không phải chỉ cạnh tranh về sản phẩm mà còn cạnh tranh về nhân sự Nhân sự là cốt lõi của hoạt động quản trị Để tồn tại và phát triển không có con đường nào bằng con đường quản trị nhân sự một cách có hiệu quả Nhân sự là tài nguyên quý giá nhất vì vậy các doanh nghiệp phải lo giữ gìn, duy trì và phát triển

Thứ năm, về khoa học - kỹ thuật: Các nhà quản trị phải đào tạo nhân viên của

mình theo kịp với đà phát triển của khoa học - kỹ thuật Khi khoa học - kỹ thuật thay đổi Một số công việc hoặc một số kỹ năng không còn cần thiết nữa do đó doanh nghiệp phải đào tạo lại lực lượng lao động của mình Sự thay đổi về khoa học đồng nghĩa với việc là cần ít người hơn nhưng vẫn phải sản xuất ra số lượng sản phẩm tương tự như trước nhưng có chất lượng hơn Điều này có nghĩa là nhà quản trị phải sắp xếp lực lượng lao động dư thừa

Thứ sáu, về khách hàng: Là mục tiêu của mọi doanh nghiệp Khách hàng mua

sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp là một phần của môi trường bên ngoài Doanh số

là một yếu tố tối quan trọng đối với sự sống còn của một doanh nghiệp Do vậy các nhà quản trị phải đảm bảo được rằng nhân viên của mình sẽ sản xuất ra các sản phẩm phù hợp với thị hiếu của khách hàng Nhà quản trị phải làm cho nhân viên của mình hiểu là

Trang 33

không có khách hàng thì không còn doanh nghiệp và họ sẽ không có cơ hội làm việc nữa Họ phải hiểu doanh thu của doanh nghiệp ảnh hưởng đến tiền lương của họ Nhiệm vụ của quản trị nhân sự là làm cho các nhân viên hiểu được điều này

Môi trường bên trong doanh nghiệp

Môi trường bên trong doanh nghiệp được tác giả tập trung khai thác ở các khía cạnh như: sứ mạng hay mục tiêu của doanh nghiệp, chính sách chiến lược của doanh nghiệp, bầu không khí văn hóa của doanh nghiệp Cụ thể là:

Về sứ mạng, mục tiêu của doanh nghiệp: Đây là một yếu tố thuộc bên trong

của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới các bộ phận chuyên môn khác nhau và cụ thể là bộ phận quản trị nhân sự

Về chính sách chiến lược của doanh nghiệp: Một số chính sách ảnh hưởng

tới quản trị nhân sự: cung cấp cho nhân viên một nơi làm việc an toàn, khuyến khích nhân viên làm việc với năng suất cao

Về bầu không khí văn hóa của doanh nghiệp: Là một hệ thống các giá trị,

niềm tin, các chuẩn mực được chia sẻ, nó thống nhất các thành viên trong một tổ chức Các tổ chức thành công là các tổ chức nuôi dưỡng, khuyến khích sự thích ứng năng động, sáng tạo

1.4.2 Nhân tố con người

Nhân tố con người chính là người lao động làm việc trong công ty Trong công ty mỗi người lao động là một thế giới riêng biệt, họ khác nhau về năng lực quản trị, trình độ chuyên môn, nguyện vọng, sở thích vì vậy họ có những nhu cầu ham muốn khác nhau Quản trị nhân sự cần nghiên cứu kỹ vấn đề này để tìm ra các biện pháp quản trị cho phù hợp với công ty

Ngày nay cùng với tiến bộ phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật và công nghệ thì trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ được đào tạo về mọi mặt của người lao động nói chung và người người lao động của công ty nói riêng cũng được nâng cao; năng lực nhận thức cũng được nâng lên Điều này đã

có những tác động nhất định tới cách nhìn nhận của bản thân người lao động đối với với công việc họ đảm nhiệm, nó cũng làm ảnh hưởng tới những đòi hỏi, nhu cầu, sự thỏa mãn, sự hài lòng với công việc và phần thưởng của họ

Trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau của nền kinh tế đất nước, của xã hội, đặc biệt là xã hội công nghiệp ngày càng hiện đại, tiên tiến thì nhu cầu, thị hiếu, sở thích, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi giai tầng xã hội, mỗi nhóm cũng biến đổi theo Cùng với xu thế đó thì nhiệm vụ của công tác nhân sự là phải biết nắm bắt được những

Trang 34

mãn, hài lòng với công ty, gắn bó chặt chẽ với công ty, bởi thành công của công ty trên thương trường phụ thuộc rất lớn vào sự đóng góp công sức và trí tuệ của mỗi cá nhân lao động trong công ty, đơn vị

Tiền lương hay tiền công là thu nhập chính của người lao động, nó tác động trực tiếp đến cuộc sống của người lao động, mà cụ thể là nó tác đông lên trạng thái tâm lý, tâm tư của mỗi cá nhân, sự cống hiến của họ cho doanh nghiệp Mục đích làm việc của người lao động là bán sức lao động và trí tuệ của mình cho doanh nghiệp để được trả công sao cho xứng đáng Chính vì lẽ đó chúng ta có thể khẳng định rằng, vấn đề tiền lương và cả tiền thưởng luôn là tiêu chí cơ bản, là công cụ hàng đầu để thu hút nguồn lực lao động và kích thích sự tích cực của người lao động Muốn cho công tác quản trị nhân sự được thực hiện một cách có hiệu quả thì các vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, chế độ nghỉ ngơi phải được quan tâm một cách đúng mức

1.4.3 Nhân tố nhà quản trị

Nhà quản trị giữ vai trò quan trọng trong việc điều hành và quản trị doanh nghiệp Quản trị thành công hay thất bại đều phụ thuộc phần lớn vào vai trò của người quản trị trong doanh nghiệp Quản trị là quá trình chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý để thực hiện và phối hợp các hoạt động cá nhân, tập thể, các

bộ phận chức năng,… nhằm thực hiện hóa các mục tiêu của tập thể, của doanh nghiệp Nhà quản trị ngoài trình độ chuyên môn phải có tầm nhìn xa, trông rộng để có thể đưa ra các định hướng phù hợp cho công ty

Trong cuộc sống luôn thay đổi, nhà quản trị phải thường xuyên quan tâm đến việc tạo bầu không khí thân mật, cởi mở trong công ty, phải làm cho nhân viên tự hào về công ty, có tinh thần trách nhiệm với công việc của mình Ngoài ra nhà quản trị phải biết khéo léo kết hợp hai mặt của công ty, một mặt nó là một tổ chức tạo ra lợi nhuận mặt khác nó là một cộng đồng đảm bảo đời sống cho các cán bộ công nhân viên trong công ty, tạo ra các cơ hội cần thiết để mỗi người nếu tích cực làm việc thì đều có cơ hội tiến thân và thành công

Nhà quản trị phải biết cách thu thập, xử lý thông tin một cách khách quan tránh tình trạng bất công vô lý gây nên sự hoang mang và thù ghét trong nội bộ công ty Để làm được điều này nhà quản trị phải nghiên cứu nắm vững quản trị nhân sự vì quản trị nhân sự giúp nhà quản trị học được cách tiếp cận với nhân viên, biết lắng nghe ý kiến của nhân viên để tìm ra được những tiếng nói chung

Quản trị nhân sự trong công ty có đem lại kết quả như mong muốn hay không phụ thuộc rất nhiều vào thái độ và cách làm việc của nhà quản trị với lợi ích chính đáng của người lao động

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Đề tài luận văn đã xác định được một số khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực Bên cạnh đó chỉ ra được mục tiêu, vai trò, chức năng của quản trị nguồn nhân lực và xác định được một số nội dung của công tác quản trị nguồn nhân lực

Quản trị nguồn nhân lực là toàn bộ các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý có liên quan và có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tổ chức và cán bộ công nhân viên của nó

Quản trị nguồn nhân lực được thể hiện qua một số khía cạnh như: Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, Phân tích và thiết kế công việc, Tuyển dụng nguồn nhân lực, Sử dụng lao động, Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, Đánh giá thực hiện công việc, Chế độ đãi ngộ và phúc lợi dành cho người lao động

Việc nghiên cứu thực trạng quản trị nguồn nhân lực không thể tách rời việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản trị nguồn nhân lực của MITEC Các yếu tố đó là: Yếu tố môi trường như yếu tố bên ngoài doanh nghiệp (như kinh

tế, dân số, lực lượng lao động, văn hóa - xã hội, đối thủ cạnh tranh, khoa học - kỹ thuật, khách hàng) và yếu tố bên trong doanh nghiệp (như sứ mạng, mục tiêu của doanh nghiệp, chính sách chiến lược của doanh nghiệp, bầu không khí văn hóa của doanh nghiệp)… Các yếu tố từ bản thân người lao động tức là nhân tố con người như trình độ học vấn, nhận thức của người lao động,… Những yếu tố đến từ nhà quản trị nhân lực như trình độ chuyên môn, kiến thức, có tầm nhìn xa, trông rộng để

có thể đưa ra các định hướng phù hợp cho doanh nghiệp

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - MITEC

2.1 Khái quát về Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Năm 1991: MITEC được thành lập trực thuộc Viện Vi Điện Tử - Viện nghiên cứu công nghệ Quốc gia Là một trong những công ty (công nghệ thông tin) CNTT đầu tiên tại Việt Nam

Năm 1992: Chuyển thành công ty Vi điện tử MITEC trực thuộc Viện Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia

Năm 1995: Chuyển thành công ty Vi điện tử MITEC trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường

1995-2005: Đổi tên thành công ty Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ - MITEC, trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ

14/01/2005: Chuyển đổi thành Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ -MITEC (24% vốn nhà nước)

Năm 2006: Thành lập chi nhánh TP Hồ Chí Minh

Năm 2009: Thành lập văn phòng Khu vực miền trung tại Đà Nẵng

Năm 2011: Khánh thành tòa nhà văn phòng MITEC tại lô E2, Khu đô thị mới Cầu giấy, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội

Năm 2014: Trở thành công ty 100% cổ phần ngoài nhà nước (hoàn thành thoái vốn nhà nước)

Tên tiếng việt: Công ty CP Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC

Tên viết tắt: MITECJSC

Trụ sở chính: Tầng 3&4 – tòa nhà MITEC – Lô E2, khu đô thị mới Cầu Giấy, phường Yên Hòa, Quận Cấu Giấy, Hà Nội Điện thoại: (84-24) 37691616; Fax: (84-24) 37691617.Nhân viên: 142 người Vốn điều lệ: 45.000.000.000 đồng

MST: 01.001.09868

2.1.2 Các ngành nghề Kinh doanh

MITEC chủ yếu kinh doanh trên bốn lĩnh vực sau:

- Lĩnh vực thứ nhất, Tư vấn, thiết kế và cung cấp sản phẩm, giải pháp ICT

Qua gần 30 năm xây dựng, trưởng thành và hoạt động trong lĩnh vực CNTT, cho tới nay MITEC có đầy đủ kinh nghiệm và năng lực để tư vấn, thiết kế và cung cấp các sản phẩm và giải pháp CNTT Một số sản phẩm mà MITEC đầu tư và kinh doanh là:

Trang 37

1/ Trang bị, cung cấp triển khai các hệ thống thiết bị CNTT: Hệ thống máy chủ Intel/Unix, máy trạm, Notebook, Scanner chuyên dụng, các hệ thống lưu trữ DAT, NAS và SAN…

2/ Tư vấn, thiết kế và xây dựng các giải pháp tổng thể cho các hệ thống thông tin: Internet/Intranet, các mạng LAN, WAN, SAN, Ảo hóa và Cloud- Computing

3/ Cung cấp các hệ thống an toàn cao: Data Center, Backup Online, Cluster, Disaster Recovery;

4/ Cung cấp các giải pháp nghiệp vụ về: an ninh, bảo mật, giám sát và phòng/chống Virus;

5/ Cung cấp, bảo trì các hệ thống ATM và Retail cho các Ngân hàng và tổ chức thương mại

6/ Phân phối, cung cấp các hệ thống và giải pháp phần mềm thương mại

7/ Nghiên cứu, xây dựng và phát triển các phần mềm và ứng dụng

- Lĩnh vực thứ hai, Tích hợp hệ thống và dịch vụ CNTT

MITEC hiện nay là một trong những công ty tích hợp hệ thống hàng đầu tại Việt Nam Các sản phẩm và dịch vụ tích hợp hệ thống của MITEC cung cấp bao gồm: Dịch vụ hạ tầng CNTT; Thiết kế, xây dựng các ứng dụng và (cơ sở dữ liệu) CSDL cho doanh nghiệp; Tư vấn, thiết kế và xây dựng các hệ thống bảo mật, các hệ thống hạ tầng mạng, lưu trữ - sao lưu dữ liệu và phục hồi thảm họa (DR)

Hệ thống máy chủ: MITEC cung cấp đa dạng chủng loại thiết bị tùy thuộc theo

mô hình và yêu cầu của khách hàng MITEC có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực phân phối và cung cấp các hệ thống máy chủ nhỏ phù hợp với các doanh nghiệp vừa

và nhỏ trên nền tảng Intel cho tới các hệ thống máy chủ lớn, quan trọng, năng lực xử lý cao dựa trên các nền tảng UNIX như: Fujitsu, Sun (Oracle) SPARC/SPARC GP/Ultra SPARC hay các hệ thống pSeries, iSeries của IBM Đặc biệt đối với những hệ thống yêu cầu độ sẵn sàng cao, xử lý song song MITEC luôn sẵn sàng cung cấp cho khách hàng một giải pháp tổng thể để phục vụ cho các dịch vụ và ứng dụng quan trọng của mình MITEC là đơn vị đầu tiên ứng dụng và triển khai hệ thống HA Cluster cho Ngân hàng nhà nước từ 1995

Hệ thống lưu trữ, sao lưu dữ liệu và Phục hồi thảm họa: Với uy tín và kinh

nghiệm của mình, cho tới nay MITEC đã cung cấp và triển khai nhiều loại sản phẩm lưu trữ cho khách hàng từ các thiết bị lưu trữ quang từ (MO) tới các tủ lưu trữ, thư viện lưu trữ cao cấp Ngoài ra MITEC còn sẵn sàng tư vấn và xây dựng cho khách hàng các giải pháp lưu trữ toàn diện nhằm bảo đảman toàn dữ liệu như: Giải pháp lưu

Trang 38

An ninh, An toàn và Bảo mật: Việc đảm bảo an ninh, an toàn và bảo mật cho các

hệ thống CNTT và dữ liệu ngày nay là vô cùng quan trọng, chính vì vậy trong quá trình cung cấp và xây dựng các hệ thống tổng thể cho khách hàng MITEC đã và luôn đảm bảo cung cấp và xây dựng đồng bộ các hệ thống an ninh, an toàn và bảo mật với công nghệ hiện đại và dịch vụ cao cấp nhất Việc xây dựng đảm bảo từ việc kiểm soát vào/ra, antoàn cháy nổ, mã hóa, xác thực, chống xâm nhập…cho toàn bộ hệ thống hạ tầng mạng, máy chủ và CSDL

Hệ thống CSDL: Trong các hệ thống CNTT ngày nay thì trái tim hệ thống chính

là các CSDL, chính vì vậy ngay từ ngày đầu mới thành lập MITEC đã xác định được tính quan trọng đó nên đã có quan hệ đối tác với những nhà cung cấp hệ quản trị hàng đầu thế giới như ORACLE, Microsoft, IBM,…

Sản phẩm và giải pháp chuyên dụng khác: Để đảm bảo sự linh hoạt và khả năng

phục vụ tốt nhất cho khách hàng, MITEC còn luôn thiết lập các quan hệ đối tác với những nhà cung cấp sản phẩm và giải pháp chuyên dụng khác để có thể xây dựng nên những giải pháp toàn diện và tổng thể cho khách hàng.Có thể kể đến như: Các giải pháp Video Streaming, Audio/Video Conference, Hệ thống tổng đài PBX/Digital

Dịch vụ CNTT: Với một đội ngũ cán bộ chuyên sâu, được đào tạo bài bản và có

kinh nghiệm lâu năm, MITEC đã và đang được các hãng CNTT hàng đầu trong nước lựa chọn là nhà cung cấp các dịch vụ bảo hành, bảo trì và các dịch vụ sau bán hàng của mình Cho tới nay, MITEC hiện là một trong các đơn vị có năng lực để đảm nhiệm các dịch vụ bảo hành/bảo trì lớn nhất tại Việt Nam

- Lĩnh vực thứ ba, Cung cấp các dịch vụ, giải pháp, sản phẩm ngân hàng

MITEC là một trong những đơn vị đầu tiên đưa các sản phẩm công nghệ thông tin

áp dụng cho ngành Ngân hàng tại Việt Nam và cũng là đơn vị đầu tiên triển khai và đưa

hệ thống ATM vào thị trường Việt Nam Do vậy, MITEC còn cung cấp các giải pháp, sản phẩm cho các ngân hàng tại Việt Nam cũng như một số ngân hàng liên quốc gia

- Lĩnh vực thứ tư, Khai thác và cho thuê văn phòng

MITEC sở hữu tòa nhà MITEC 11 tầng được xây dựng trên trên diện tích đất 2,203m2 tại Lô E2, khu đô thị mới Cầu Giấy, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (đường Dương Đình Nghệ)

Tòa nhà văn phòng MITEC được thiết kế hiện đại, đầy đủ tiện ích và dịch vụ hoàn hảo Tòa nhà MITEC nằm ở vị trí đắc địa, gần các trục đường lớn Dương Đình Nghệ, Phạm Hùng, trục đường chính đi sân bay Nội Bài – sân bay lớn nhất miền Bắc Bởi vậy đây là nơi lý tưởng cho các cơ quan đơn vị thuê làm trụ sở, văn phòng làm việc

Trang 39

Diện tích sử dụng mỗi tầng là 620m2 Với tiềm lực cơ sở vật chất như vậy, việc cho thuê các văn phòng, các dịch vụ đi kèm như nhà hàng, căng tin,… cũng đã góp phần làm tăng thêm doanh thu cho Công ty

Hình 2.1: Cơ sở vật chất của MITEC

2.1.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động của MITEC

Được thành lập từ năm 1991, trải qua gần 30 năm thành lập và phát triển, MITEC phần nào đã hình thành được cơ cấu tổ chức bền chặt, phân công các phòng, ban trong Công ty theo các chức năng, nhiệm vụ chính và tuân theo nghiêm ngặt mục tiêu đặt ra từ khi thành lập Sơ đồ Tổ chức bộ máy Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ - MITEC đã phần nào thể hiện được điều đó (xem thêm Sơ đồ 2.1)

Trang 40

(Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính, MITEC )

Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy của Công ty cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ

 Cơ quan lãnh đạo, quản trị và kiểm soát của Công ty

Bộ máy quản trị của công ty được tổ chức theo kiểu phân cấp từ trên xuống dưới gồm có: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản tri, Ban kiểm soát, Ban Giám đốc

và các trưởng phòng và bộ phận trực thuộc phòng

Ngày đăng: 10/06/2020, 23:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w