Lần đầu tiên sử dụng khung phân loại của UNESCO (1973) để phân loại và mô tả đặc điểm hình thái, cấu trúc của các kiểu thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang. Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tính đa dạng của hệ thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, gồm 726 loài, 462 chi, 137 họ, thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ CÔNG BA
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ TÂN TRÀO, TỈNH TUYÊN QUANG, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC HỢP LÝ
PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ CÔNG BA
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ TÂN TRÀO, TỈNH TUYÊN QUANG, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC HỢP LÝ PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Ngành: Sinh thái học
Mã số: 9420120
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Lê Ngọc Công
2 NCVC.TS Lê Đồng Tấn
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướngdẫn của PGS TS Lê Ngọc Công và NCVC TS Lê Đồng Tấn Các số liệu, kết quảtrình bày trong luận án là trung thực và chưa ai công bố trong bất kỳ một công trìnhnào khác
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019
Tác giả luận án
Đỗ Công Ba
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Lê Ngọc Công vàNCVC.TS Lê Đồng Tấn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong học tập, nghiêncứu và hoàn thành bản luận án này
Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, góp ý vềchuyên môn của GS.TSKH Trần Đình Lý, PGS.TS Hoàng Chung, PGS.TS NguyễnVăn Sinh, PGS.TS Lưu Đàm Cư, PGS.TS Nguyễn Thế Hưng, PGS.TS Sỹ DanhThường, PGS.TS Hoàng Văn Ngọc, TS Đỗ Hữu Thư, TS Ma Thị Ngọc Mai, TS.Lương Thị Thúy Vân, TS Đinh Thị Phượng cùng các chuyên gia trong lĩnh vựcSinh thái học, Động vật học, Lâm học, Thực vật học Tôi thực sự biết ơn những sựchỉ bảo quý báu đó
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Sinh họcTrường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Sinhthái và Tài nguyên sinh vật - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đãgiúp đỡ tôi xác định các loài thực vật ở khu vực nghiên cứu Tôi xin cảm ơn Banlãnh đạo và tập thể cán bộ, nhân viên Khu di tích lịch sử Tân Trào, Chi cục kiểmlâm tỉnh Tuyên Quang Tôi cũng xin cảm ơn cán bộ, chuyên viên UBND các cấp vànhân dân địa phương đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, cũng như điều trangoài thực địa
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Tân Trào; cán bộ, giảng viênPhòng Đào tạo, Khoa Khoa học Cơ bản đã giúp đỡ, tạo điều kiện về thời gian để tôitập trung học tập và hoàn thành luận án
Cũng nhân dịp này cho tôi được tỏ lòng biết ơn đến gia đình và người thân
đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập vànghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019
Tác giả luận án
Đỗ Công Ba
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Ý nghĩa
1 BĐKH Biến đổi khí hậu
2 BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
3 BTTN Bảo tồn thiên nhiên
4 CTNR Canh tác nương rẫy
10 IUCN Intermatonal Union for Conservation of Nature and NatureRescources
(Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên)
11 KDTLS Khu di tích lịch sử
12 KVNC Khu vực nghiên cứu
14 OTC Ô tiêu chuẩn
15 PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
16 PTBV Phát triển bền vững
17 PTNT Phát triển nông thôn
18 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
24 VQG Vườn Quốc gia
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc giatrên thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.Trong những năm qua, ở Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới đã phải gánh chịunhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán, mất đấtcanh tác, suy giảm hệ sinh thái và đa dạng sinh học…; Nguyên nhân gây ra biến đổikhí hậu là do phát thải quá mức các khí nhà kính, đặc biệt là khí dioxitcacbon, diệntích và chất lượng rừng bị suy giảm, tầng ôzon bị phá hủy dẫn đến làm tăng nhiệt độTrái đất và làm thay đổi khí hậu toàn cầu…
Chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam bao gồm chiến lược
giảm nhẹ (Mitigation) và chiến lược thích ứng (Adaptation) Một trong các giải
pháp thích ứng với biến đổi khí hậu là tăng cường bảo vệ rừng tự nhiên, trồng rừng
và phòng chống cháy rừng…[44] Tuy nhiên, trong những năm gần đây mặc dù đã
có nhiều cố gắng, nhưng diện tích rừng Việt Nam vẫn tiếp tục bị suy giảm nghiêmtrọng do các hoạt động khai thác gỗ trái phép, phá rừng lấy đất canh tác, mở rộngkhu công nghiệp và cháy rừng, ; Theo thống kê năm 2015, Việt Nam có khoảng14.061.000 ha rừng (gồm 10.175.000 ha rừng tự nhiên và 3.886.000 ha rừng trồng),với hệ thực vật, động vật rừng đa dạng, phong phú về chủng loại Đến năm 2018,rừng chỉ còn 13.785.642 ha, tỷ lệ che phủ đạt 41,65% nhưng vẫn chưa đảm bảomức an toàn sinh thái cho sự phát triển bền vững của đất nước [8]
Tuyên Quang là tỉnh trung du miền núi phía Bắc với diện tích tự nhiên là586.790 ha Tuyên Quang có nguồn tài nguyên đa dạng sinh học cao và có điều kiện
tự nhiên khá thuận lợi cho việc nâng cao năng suất sinh học của các hệ sinh thái tựnhiên và nhân tạo Điều này cho thấy việc nghiên cứu, đánh giá đa dạng sinh họcnói chung, khu hệ thực vật nói riêng để xây dựng chiến lược bảo tồn và phát triểnbền vững ở Tuyên Quang là rất cần thiết, nó đóng vai trò quan trọng và là nhiệm vụhàng đầu [1]
Khu di tích lịch sử Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang) với 138 điểm di tích nằmtrải rộng trên diện tích 48.035,27 ha (chiếm 8,12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh)
Trang 10thuộc địa bàn của 11 xã của 2 huyện Sơn Dương và Yên Sơn, cách Thành phốTuyên Quang 45 km về phía Đông Nam Đây là vùng đồi núi thấp, có độ cao từ 95
- 814m so với mực nước biển Tân Trào là Khu di tích lịch sử của cách mạng ViệtNam thời kỳ Cách mạng tháng Tám, vì vậy ngày 10 tháng 5 năm 2012, Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 548/QĐ-TTg công nhận Khu di tích lịch sửTân Trào là Khu di tích Quốc gia đặc biệt Từ khi được công nhận là Khu di tíchQuốc gia đặc biệt tới nay, chính quyền địa phương đã có nhiều cố gắng trong côngtác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị đặc biệt của Khu di tích Tuy nhiên, việcnghiên cứu đánh giá tính phong phú, đa dạng và vai trò của thảm thực vật đối vớisinh kế của người dân, bảo vệ môi trường và tạo nên cảnh quan của Khu di tíchcòn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức, ảnh hưởng tới việc quy hoạch,quản lý, bảo tồn cảnh quan và đa dạng sinh học Cùng với đó là sức ép dân sốngày càng gia tăng, các hoạt động khai thác gỗ, củi, dược liệu, phá rừng làmnương rẫy, săn bắt động vật trái phép… vẫn đang là thách thức lớn, bởi sinh kếcủa người dân địa phương phần lớn dựa và sản xuất nông, lâm nghiệp với nguồnthu nhập thấp, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số sống đan xen trong Khu ditích Vì vậy, đây là những nguyên nhân quan trọng làm suy giảm tính đa dạng sinhhọc nói chung và đa dạng thực vật nói riêng tại Khu di tích lịch sử Tân Trào trongnhững năm qua
Từ những yêu cầu cấp bách trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu
tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lý phục vụ cho phát triển bền vững”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định được tính đa dạng của thảm thực vật, hệ thực vật, vai trò của thựcvật, các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất được một số giải pháp bảo tồn tính đa dạngthực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được tính đa dạng của thảm thực vật và mô tả được đặc điểm(hình thái, cấu trúc) các kiểu thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnhTuyên Quang
Trang 11- Xác định được tính đa dạng của hệ thực vật bậc cao có mạch (thành phầnloài, thành phần dạng sống, giá trị sử dụng, các yếu tố địa lý, giá trị bảo tồn) tại Khu
di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
- Xác định được vai trò của thực vật và các yếu tố tác động ảnh hưởng đếntính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
- Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật tại Khu di tíchlịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các kiểu thảm thực vật tự nhiên và rừng trồng, thành phần thựcvật bậc cao có mạch tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang Các loàicây trồng nông nghiệp không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận án là những dẫn liệu khoa học mới về tính đadạng của thảm thực vật (đặc điểm hình thái, cấu trúc của các kiểu thảm) và hệ thựcvật (thành phần loài, thành phần dạng sống, giá trị sử dụng, các yếu tố địa lý, giá trịbảo tồn) tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
Luận án đưa ra những dẫn liệu khoa học về vai trò của thảm thực vật, hệ thựcvật trong việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, sinh kế của người dân và những yếu tốtác động ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnhTuyên Quang
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải phápbảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý thảm thực vật và hệ thực vật tại Khu di tích lịch sửTân Trào, tỉnh Tuyên Quang, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững cả về kinh tế,
xã hội và môi trường
5 Những điểm mới của luận án
- Lần đầu tiên sử dụng khung phân loại của UNESCO (1973) để phân loại
và mô tả đặc điểm hình thái, cấu trúc của các kiểu thảm thực vật tại Khu di tíchlịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
Trang 12- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tính
đa dạng của hệ thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, gồm
726 loài, 462 chi, 137 họ, thuộc 6 ngành bậc cao có mạch
- Luận án làm sáng tỏ vai trò của thảm thực vật, hệ thực vật trong việc bảo vệcảnh quan, môi trường, sinh kế của người dân và những yếu tố tác động ảnh hưởngđến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học
Thuật ngữ đa dạng sinh học (ĐDSH) được dùng lần đầu tiên vào năm
1988, sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ra đời năm 1992 thì thuật ngữĐDSH đã được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu [ 111] Hiện nay có rấtnhiều định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học Công ước ĐDSH (1992) đãđịnh nghĩa: “ĐDSH là sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồntrên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đadạng hệ sinh thái” [103] Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên đưa ra khái niệm:
“ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật,động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệsinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [42] Ở Việt Nam, kháiniệm về ĐDSH đã được Luật Đa dạng sinh học (2008) định nghĩa như sau:
“ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái tự nhiên” [66] Tuy
có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhấtrằng, tính đa dạng sinh học được thể hiện ở 3 mức độ sau đây [83]
1.1.1.1 Đa dạng gen
Đa dạng gen (hay đa dạng di truyền) được thể hiện ở mức độ phân tử, đó làtrình tự sự sắp xếp của các nuleotit trong phân tử ADN của mỗi loài, thậm chí là củamỗi cá thể trong cùng một loài khác nhau là khác nhau Tính chất này qui định cácđặc trưng về hình thái, sinh thái và tính di truyền của từng loài Đây là yếu tố tạonên đa dạng của thế giới sinh vật trên Trái đất mà con người chúng ta đang sinhsống như hiện nay [69]
1.1.1.2 Đa dạng loài
Tính đa dạng loài được thể hiện ở mức độ cá thể, nó được đặc trưng bởi khảnăng trao đổi thông tin di truyền (giao phối, thụ phấn) với nhau và cho các thế hệcon cái hữu thụ (có khả năng sinh sản) giữa các loài với nhau Đa dạng loài là phạmtrù chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặc số lượng phân loài (loài phụ) trênTrái đất, ở một vùng địa lý, một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định
Trang 141.1.1.3 Đa dạng hệ sinh thái
Trong tự nhiên tồn tại những quần xã sinh vật bao gồm các loài sinh vật sinhsống trong một không gian nhất định ở một thời điểm nhất định, có mối quan hệ vớinhau và với các nhân tố của môi trường tạo thành một thể thống nhất, tương đối ổnđịnh Những quần xã sinh vật như thế gọi là hệ sinh thái và ở đó vòng tuần hoàn vậtchất, dòng năng lượng và dòng thông tin được thực hiện
Ða dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ởcạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó [87]
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [83], nhiều nhà khoa học trong và ngoàinước đều công nhận trên thế giới có nhiều hệ sinh thái khác nhau, gồm: (1) Rừngmưa nhiệt đới; (2) Rừng mưa á nhiệt đới - ôn đới; (3) Rừng lá kim ôn đới ; (4) Rừngkhô nhiệt đới ; (5) Rừng lá rộng ôn đới ; (6) Thảm thực vật Địa Trung Hải ; (7) Samạc và bán sa mạc ẩm ; (8) Đồng rêu và sa mạc; (9) Sa mạc, bán sa mạc lạnh ; (10)Trảng cỏ và đồng cỏ nhiệt đới; (11) Đồng cỏ ôn đới; (12) Thảm thực vật vùng núi;(13) Thảm thực vật vùng đảo; (14) Thảm thực vật ao hồ
1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững
1.1.2.1 Khái niệm
Trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” với nội dung: “Sự phát triểncủa nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọngnhững nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”,thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1980 [16]
Khái niệm trên được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế, trong
báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Hay nói cách khác,
phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường
ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người [80]
Qua các khái niệm trên ta thấy nội dung nó hàm chứa sự bình đẳng giữanhững nước giàu, nước nghèo và giữa các thế hệ chứ không đơn thuần chỉ là cácnhân tố sinh thái hay nhân tố xã hội, con người
Trang 151.1.2.2 Nội dung của phát triển bền vững
Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng nhữngtiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên vàchất lượng môi trường [34]
Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế vớiviệc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ,đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch
Bền vững về xã hội là phải xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng
nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáodục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọiđối tượng trong xã hội
Bền vững về môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải
được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về sốlượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm
và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên )
và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, laođộng và học tập của con người ), nhìn chung không bị các hoạt động của conngười làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinhhoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người đượcsống trong môi trường trong sạch
Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự pháttriển bền vững của xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sự phát triển
sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững [34]
1.1.2.3 Các nguyên tắc của phát triển bền vững
Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc trong tác phẩm “Hãy cứu lấy Trái đất - chiến lược cho một cuộc sống bền vững”, năm 1991 đã nêu ra 9 nguyên
tắc của một xã hội bền vững Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụngtrong thực tế của một thế giới đầy các biến động về chính trị, kinh tế, văn hóa Thực
Trang 16tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi và sát thực tếhơn Hệ thống 7 nguyên tắc mới do Luc Hens (1995) xây dựng về phát triển bềnvững bao gồm: (1) Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân; (2) Nguyên tắc phòngngừa; (3) Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ; (4) Nguyên tắc bình đẳng trong nội
bộ thế hệ; (5) Nguyên tắc phân quyền, ủy quyền; (6) Nguyên tắc người gây ô nhiễmphải trả tiền; (7) Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền (dẫn theo Nguyễn ĐìnhHòe, 2009 [37])
1.1.3 Khái niệm bảo tồn sinh học
Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng bảo tồn sinh học có hai mục tiêu: một làtìm hiểu những tác động tiêu cực do hoạt động của con người gây ra đối với các loài,các quần xã và các HST; hai là xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sựtuyệt diệt của các loài và nếu có thể được, cứu trợ các loài đang bị đe dọa bằng cáchđưa chúng hội nhập trở lại các HST đang còn phù hợp với chúng
1.1.3.2 Bảo tồn với phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảo tồn với phát triển bền vững (PTBV) ở Việt Nam đã được đặt ra từ vàichục năm gần đây, trong đó đề cập đến các vấn đề cơ bản như sau:
- Thể chế, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững ở Việt Nam
Việt Nam đã hội nhập với thế giới khá sớm trong các lĩnh vực liên quan tớibảo tồn ĐDSH và PTBV Việt Nam đã tham gia Hội nghị về Môi trường và pháttriển năm 1992 và năm 1994 đã ký Công ước ĐDSH Một hệ thống thể chế, cácchính sách và pháp luật về môi trường, bảo tồn ĐDSH và PTBV đã được xây dựngkhá đầy đủ ở nước ta Cụ thể: Việt Nam đã thành lập Hội đồng PTBV từ năm 2005,Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để định hướng cho công tác
Trang 17bảo vệ môi trường, bảo tồn ĐDSH, gắn với phát triển kinh tế-xã hội và nhiều vănbản luật, văn bản dưới luật để triển khai thực hiện trên thực tế Nhiều chiến lược cóliên quan đã được xây dựng, bao gồm: Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đếnnăm 2010, định hướng đến năm 2020; Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Namgiai đoạn 2006-2020; Chiến lược Quản lý hệ thống khu BTTN Việt Nam đến năm2010; Kế hoạch hành động Quốc gia về bảo vệ ĐDSH của Việt Nam (2007) Một hệthống luật pháp liên quan đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển đã được Chính phủ xâydựng và ban hành, trong đó quan trọng nhất là Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổinăm 2005), Luật Tài nguyên nước (2012), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổinăm 2004) và Luật Biển Việt Nam (2012)
- Nhận thức và cách tiếp cận trong phát triển bền vững và bảo tồn ĐDSH
Ở Việt Nam, Bộ chỉ tiêu PTBV cho Quốc gia đã được ban hành kèm theo Chiếnlược PTBV của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và cho địa phương Ngoài ra, Bộ chỉtiêu giám sát đánh giá PTBV địa phương giai đoạn 2013-2020 [19] đã nhấn mạnhtới thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theohướng cacbon thấp, đồng thời giảm nhẹ tác động và ứng phó với biến đổi khí hậu(BĐKH), phòng chống thiên tai Cụ thể, chỉ tiêu GDP xanh bắt đầu thực hiện từ
2015 với khía cạnh hạch toán những chi phí ô nhiễm và thiệt hại do thiên tai, trong
hệ thống tài khoản Quốc gia và các phương pháp tính toán GDP xanh thống nhấtcho toàn quốc đang trong quá trình áp dụng thử nghiệm [26] Đối với cấp độ địaphương, chỉ tiêu PTBV địa phương cũng đang được đề xuất áp dụng, đặc biệt là chỉtiêu số 26 về “Số vụ thiên tai và mức độ thiệt hại”, nhằm cung cấp thêm số liệu đểtính toán GDP xanh tại địa phương Cách tiếp cận DPSIR cũng được áp dụng trongxây dựng các chỉ số/chỉ tiêu PTBV và bảo tồn ĐDSH, đặc biệt trong xây dựng chỉ
số PTBV giai đoạn 2011-2020 và chỉ số giám sát đánh giá ĐDSH [17] Ở Việt Nam,
Bộ chỉ thị ĐDSH đã được xây dựng và sử dụng, góp phần vào việc đánh giá vàgiám sát ĐDSH [61]
Hiện nay, cách tiếp cận quản lý dựa trên HST đã được áp dụng trong côngtác quản lý bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam, thông qua áp dụng 12 nguyên tắc thựchiện trong quản lý [72] và đã xây dựng được tài liệu hướng dẫn cho quản lý các
Trang 18khu đất ngập nước tại Việt Nam, dựa trên nhiều nghiên cứu trước đó về tiếp cậnHST trong quản lý tài nguyên thiên nhiên [73] Cách tiếp cận này đã được áp dụngtrong các ngành lâm nghiệp, thủy sản, các địa phương và một số khu bảo tồn đểgiải quyết đồng bộ vấn đề bảo tồn, sự chia sẻ công bằng các lợi ích và sử dụng bềnvững các nguồn tài nguyên như ở VQG U Minh Hạ, khu DTSQ Cần Giờ…, cũngnhư xây dựng hành lang xanh nối giữa các khu bảo tồn [9] Ở Việt Nam, để thúcđẩy quá trình thích ứng với BĐKH ngày càng khốc liệt, cách tiếp cập thích ứng
dựa trên HST (Ecosystem-based adaptation) đã được nghiên cứu và triển khai Để
hoàn thiện công tác quản lý bảo tồn gắn với PTBV, Ủy ban Quốc gia chương trìnhCon người và Sinh quyển Việt Nam đưa ra và áp dụng cách tiếp cận “Tư duy hệthống, Quy hoạch cảnh quan, Điều phối liên ngành, Kinh tế chất lượng” (SLIQ)trong việc xây dựng, quản lý các khu DTSQ do tổ chức UNESCO công nhận và đãđược áp dụng tại khu DTSQ Cát Bà, khu DTSQ Đất ngập nước ven biển châu thổSông Hồng [97]
1.1.4 Khái niệm thảm thực vật
Thảm thực vật (Vegetation) là khái niệm được nhiều nhà khoa học đưa ra cácđịnh nghĩa khác nhau Theo Schmithusen (1976) [71] thảm thực vật là lớp thực bìcủa Trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1978)[93] cho rằng thảm thực vật gồm các quần hệ thực vật bao phủ trên mặt đất như mộttấm thảm xanh Trần Đình Lý (2006) [54] đưa ra khái niệm thảm thực vật là toàn bộlớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật trên toàn bộ bề mặtTrái đất Như vậy, thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụthể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm
thực vật rừng nhiệt đới, thảm thực vật núi đá vôi tỉnh Tuyên Quang
1.2 Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật
1.2.1 Nghiên cứu về thảm thực vật
1.2.1.1 Các nguyên tắc phân loại thảm thực vật
Thảm thực vật trên Trái đất vô cùng phong phú và đa dạng, cho đến nayngười ta vẫn chưa tìm được những tiêu chuẩn có sự thống nhất chung để phân loạithảm thực vật Dựa trên các quan điểm và phương pháp nghiên cứu khác nhau các
Trang 19nhà nghiên cứu đã đưa ra những nguyên tắc phân loại và xây dựng hệ thống phânloại khác nhau Mặc dù vậy, các hệ thống phân loại thảm thực vật trên thế giới tuântheo một số nguyên tắc cơ bản sau:
* Nguyên tắc phân loại lấy thành phần thực vật làm yếu tố chủ đạo:
Người đặt nền móng cho nguyên tắc này là Ragmar, Hult (1881) và đượcSchroter và Brockmann - Jerosch (1916) bổ sung hoàn thiện Về sau được Braun -Blanquet (1928) phát triển và đã xây dựng thành hệ thống phân loại thảm thực vậtvới đơn vị cơ bản là quần hợp (Association) (dẫn theo Lê Ngọc Công, 2004 [29])
* Nguyên tắc phân loại lấy đặc điểm ngoại mạo làm yếu tố chủ đạo:
Theo nguyên tắc này thì không căn cứ vào thành phần thực vật, mà chủ yếu căn
cứ vào cấu trúc ngoại mạo của quần xã thực vật để phân loại Vì vậy, trong một đơn vịphân loại thảm thực vật có thể có nhiều quần xã thực vật có thành phần thực vật rất xanhau về hệ thống sinh, nhưng lại có sự tương đồng về ngoại mạo Đơn vị phân loại cơbản của các hệ thống phân loại theo nguyên tắc này là Quần hệ (Formation), tương ứngvới thuật ngữ Kiểu thảm thực vật, kiểu Quần lạc thực vật [86]
* Nguyên tắc phân loại dựa trên phân bố không gian làm yếu tố chủ đạo:
Điểm xuất phát của nguyên tắc phân loại này là mối quan hệ nhân quả giữathảm thực vật và không gian phân bố của chúng Vì vậy, việc nghiên cứu từng đơn
vị của thảm thực vật và giải thích nguyên nhân phân bố của chúng phải được bắtđầu từ các đơn vị cơ sở của thảm thực vật (các quần xã, quần hợp thực vật) Các nhànghiên cứu cho rằng có 3 nguyên nhân chính chi phối sự phân bố không gian củathảm thực vật là: (1) Sự phân ly của giới thực vật do các nguyên nhân sinh họcmang tính di truyền có liên quan đến lịch sử Trái đất; (2) Phân bố không gian củanơi sống và khác biệt giữa các khoảng không gian tiềm năng ở nơi sinh sống củathảm thực vật do các nhân tố sinh học; (3) Tác động của con người, nhờ các tácđộng này mà thảm thực vật địa phương thường mang những nét đặc biệt có liênquan đến lịch sử của nền văn hóa con người [86]
* Nguyên tắc phân loại lấy yếu tố phát sinh quần thể thực vật làm yếu tố chủ đạo:
Nguyên tắc phân loại này lấy các yếu tố phát sinh thảm thực vật như: khí hậu thủy văn, địa lý - địa hình, địa chất - thổ nhưỡng, sinh vật (chủ yếu là khu hệ thực
Trang 20-vật) và con người làm yếu tố chủ đạo, do đó mỗi bậc phân loại đều gắn liền với cácyếu tố phát sinh này Đơn vị cơ sở của nguyên tắc phân loại này là kiểu thảm thực vật(kiểu rừng) Kiểu thảm thực vật được coi là tương đương với quần hệ trong nguyêntắc phân loại theo cấu trúc ngoại mạo Trên kiểu thảm là nhóm kiểu thảm (hay quầnhệ) Dưới các kiểu thảm là kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất là quần hợp thực vật [86].
1.2.1.2 Các hệ thống phân loại thảm thực vật
* Trên thế giới
Ở Châu Âu, theo Schmithusen (1959) có hai hệ thống phân loại thảm thựcvật chủ yếu, đó là hệ thống phân loại các quần xã thực vật mà đơn vị cơ bản là quầnhợp của Braun - Blanquet (1928) phần lớn được thực hiện bởi các nhà thực vật họctheo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần thể thực vật chủ yếu đượcthực hiện bởi các nhà địa thực vật của Đức Ở Nga, ngay từ đầu thế kỷ XX,Morodov là người đầu tiên đặt nền móng vững chắc cho vấn đề phân loại rừng phục
vụ kinh doanh Kế thừa học thuyết của Morodov, trên quan điểm coi rừng là mộtsinh địa quần lạc, Sukasov đã xây dựng nên trường phái phân loại kiểu rừng, dựavào những đặc điểm tổng hợp để phân loại (địa hình, thực bì, thổ nhưỡng) Tác giảchủ trương dùng đơn vị cơ bản phân loại thảm thực vật là quần hợp Ở Thụy Điển
có hai trường phái: trường phái sinh học (phân loại rừng dựa theo 2 nhân tố là độ
ẩm và độ phì của đất) và trường phái quần xã thực vật (dựa vào đặc trưng chủ yếu là
tổ thành thực vật và coi quần hợp là đơn vị cơ bản) [86]
Ở vùng nhiệt đới, theo Thái Văn Trừng (1978) thì Schimper (1898) là ngườiđầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Trong hệ thống nàySchimper đã chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần
hệ vùng núi Trong quần hệ khí hậu tác giả còn phân biệt các kiểu rừng khác nhau(rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai) Sau Schimper là hệ thống phân loạicủa Rubel, Ilinxki, Burt - Davy, Aubreville ; Trong hệ thống của Aubreville, ông
đã căn cứ vào độ tàn che trên mặt đất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểuquần thể thưa thành rừng thưa và trảng, truông [93]
Ở vùng nhiệt đới gió mùa châu Á có hệ thống của Champion (1936) là hệthống nổi bật và tương đối hoàn chỉnh, đã phân chia được 4 đai thảm thực vật lớntheo nhiệt độ: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao Cách phân loại này hiện nayvẫn được sử dụng phổ biến [86]
Trang 21Ở vùng Nam Mỹ, Bear (1944) đề nghị một hệ thống phân loại cho nhữngquần thể thực vật ở vùng này gồm 3 cấp: quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ CònForber (1958) đưa ra hệ thống phân loại chung cho thảm thực vật rừng nhiệt đớidựa trên hình thái ngoại mạo cấu trúc quần thể là: lớp quần hệ, quần hệ và phânquần hệ.
Tuy nhiên, nhược điểm của các hệ thống phân loại thảm thực vật nói trên làkhông thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố sinh thái với thảm thực vậthoặc là không làm nổi bật mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố sinh thái với nhau
Năm 1973, UNESCO [109] đã công bố khung phân loại thảm thực vật trên
Trái đất dựa trên những tiêu chuẩn chung nhất để có thể so sánh được các kết quảnghiên cứu ở các vùng khác nhau và có thể thể hiện được trên bản đồ có tỷ lệ1:2.000.000 hay bé hơn Bảng phân loại này không dựa vào một nguyên tắc hay hệthống đã có, mà nó kết hợp các nguyên tắc lại với nhau ở những mức độ khác nhau.Tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này là cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sungcủa các thông tin về sinh thái, địa lý Đây là bảng phân loại tuy còn mang tính chấtnhân tạo, nhưng lại cần thiết theo yêu cầu thực tế hiện nay Hệ thống này được sắpxếp như sau:
I, II, etc = Lớp quần hệ (Formation class)
A, B, etc = Phân lớp quần hệ (Formation subclass)
1, 2, etc = Nhóm quần hệ (Formation group)
a, b, etc = Quần hệ (Formation)
(1), (2), etc = Phân quần hệ (Subformation)
(a), (b), etc = Các bậc nhỏ khác (Further subdivision)
* Ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện có các hệ thống phân loại thảm thực vật như sau:
a Hệ thống phân loại rừng theo hiện trạng
Trước năm 1960, các công trình nghiên cứu về thảm thực vật chủ yếu đượcthực hiện bởi các tác giả người nước ngoài như Chevalier (1918), Maurand(1943), Dương Hàm Hy (1944), Rollet, Lý Văn Hội và Neay Sam Oil (1958) ; Từnăm 1960, Loschau đã đưa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở QuảngNinh Bảng phân loại này đã phân thành 4 trạng thái như sau: (1) Loại I: gồm
Trang 22những đất trống đồi núi trọc, trảng cỏ và cây bụi ; (2) Loại II: gồm những rừngnon mới mọc; (3) Loại III: gồm tất cả các rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt,tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ; (4) Loại IV: gồm những rừng nguyên sinhchưa bị khai phá [86].
Đây là hệ thống phân loại rừng đã được sử dụng khá rộng rãi ở nước ta trongđiều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo trạng thái Viện Điềutra và Quy hoạch rừng đã áp dụng hệ thống này để phân loại trạng thái rừng phục vụcông tác quy hoạch, thiết kế và kinh doanh rừng
b Phân loại thảm thực vật rừng theo các nhân tố sinh thái phát sinh
Thái Văn Trừng (1978) [93] đã dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quầnthể thực vật để xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam Theo đó, ông chia thảmthực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu: (1) Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩmnhiệt đới; (2) Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới; (3) Kiểu rừng kín rụng lá,hơi ẩm nhiệt đới; (4) Kiểu rừng kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới; (5) Kiểu rừng thưacây lá rộng, hơi khô nhiệt đới; (6) Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô nhiệt đới;(7) Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp; (8) Kiểu trảng cây to,cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới; (9) Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới; (10) Kiểurừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp; (11) Kiểu rừng kín hỗn hợpcây lá rộng lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp; (12) Kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ônđới ấm núi vừa; (13) Kiểu quần hệ khô vùng cao; (14) Kiểu quần hệ lạnh vùngcao Trong mỗi kiểu thảm thực vật tác giả lại chia thành các kiểu phụ miền (phụthuộc vào tổ thành thực vật), kiểu phụ thổ nhưỡng (phụ thuộc vào điều kiện đất),kiểu phụ nhân tác (phụ thuộc vào tác động của con người) và trong mỗi kiểu phụ
đó tuỳ theo độ ưu thế của loài cây mà hình thành nên những phức hợp, ưu hợp vàquần hợp tự nhiên khác nhau
c Phân chia các hệ sinh thái rừng theo đai cao và điều kiện sinh thái
Trần Ngũ Phương (1970) xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam,tác giả đã chú ý đến việc nghiên cứu quy luật diễn thế thứ sinh, diễn biến độ phì, cáctính chất vật lý, hóa học và dinh dưỡng đất qua các giai đoạn phát triển của rừng Bảngphân loại này gồm các đai rừng và kiểu rừng như sau: (1) Đai rừng nhiệt đới mưa mùa,
Trang 23lá rộng thường xanh, kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, kiểu rừng nhiệt đới
lá rộng thung lũng, kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi; (2) Đai rừng ánhiệt đới mưa mùa, gồm: Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh, kiểu rừng á nhiệtđới lá kim trên núi đá vôi, kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đất; (3) Đai rừng á nhiệt
đới mưa mùa núi cao, gồm 3 loại hình: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sa mộc (Cunninghamia lanceolata), Đỗ quyên (Rhododendron simsii) [63].
Bảng phân loại rừng này được đánh giá là cụ thể, đơn giản, bước đầu đượcvận dụng trong quy trình tu bổ rừng ở nước ta Nhưng nhược điểm rõ nhất của bảngphân loại này cũng chỉ là bảng thống kê tên các kiểu quần hệ và xã hợp, ưu hợpthực vật điều tra được mà không làm nổi bật được quan hệ nhân quả giữa thảm thựcvật với các điều kiện của môi trường
d Phân loại thảm thực vật rừng theo khung phân loại của UNESCO (1973)
Phan Kế Lộc (1985) dựa trên khung phân loại thảm thực vật của UNESCO(1973) đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật ở Việt Nam Theo bảng phân loạinày, thảm thực vật Việt Nam gồm 5 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng rậm, lớp quần hệrừng thưa, lớp quần hệ trảng cây bụi, lớp quần hệ trảng cây bụi lùn và lớp quần hệtrảng cỏ [48]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) cũng áp dụng khung phân loại thảm thực vật củaUNESCO (1973), đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 4 lớp quần hệ: rừngrậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ [83]
Nhiều nhà khoa học khác cũng đã áp dụng khung phân loại của UNESCO(1973) để tiến hành phân loại thảm thực vật trong nghiên cứu của mình như: TrầnĐình Đại và cs (1990) [33]; Trần Đình Lý (1995, 2006) [53], [54]; Nguyễn NghĩaThìn (1997, 2007) [83], [89]; Lê Đồng Tấn (2000) [81]; Lê Ngọc Công (2004) [29];
Ma Thị Ngọc Mai (2007) [56]; Nguyễn Văn Hoàn (2010) [36]; Đinh Thị Phượng(2010) [65], Nguyễn Thị Yến (2015) [101], Nguyễn Thanh Nhàn (2017) [62]
e Phân loại hệ sinh thái rừng tự nhiên theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp (2006)
Trên cơ sở 5 nhóm nhân tố sinh thái đã phân chia thảm thực vật rừng ViệtNam thành 8 hệ sinh thái chủ yếu Các hệ sinh thái rừng tự nhiên được ghi nhậntheo cách phân loại này là: (1) Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; (2) Rừng
Trang 24kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới; (3) Rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi; (4)Rừng lá kim tự nhiên; (5) Rừng thưa cây họ dầu; (6) Rừng ngập mặn; (7) Rừngtràm; (8) Rừng tre nứa.
Hệ thống phân loại thảm thực vật rừng theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp có
cơ sở khoa học, được nghiên cứu sâu, phương pháp tiếp cận cũng không quá phứctạp Các hệ sinh thái này lại được phân cấp thành các kiểu phụ đủ chi tiết và dễ ápdụng cho mục tiêu phân vùng sinh thái lâm nghiệp, làm cơ sở xây dựng đường phátthải tham khảo và hệ thống giám sát, đánh giá khả năng hấp thụ carbon của các kiểurừng cơ bản ở Việt Nam
* Nhận xét:
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về thảm thực vật rất phong phú,
kể cả về số lượng công trình cũng như nguyên tắc và phương thức phân loạithảm thực vật
Ở nước ta, cũng có khá nhiều bảng phân loại thảm thực vật với nhữngnguyên tắc và phương pháp phân loại khác nhau Mỗi hệ thống phân loại đều cónhững ưu điểm và nhược điểm nhất định Cho đến nay ở Việt Nam, bảng phân chiathảm thực vật của Loschau (1960) và của Thái Văn Trừng (1978) được sử dụng kháphổ biến, với những ưu nhược điểm của mỗi hệ thống phân loại Nếu như hệ thốngphân loại của Loschau (1960) chỉ nhằm mục đích phục vụ việc phân loại rừng theohiện trạng trữ lượng gỗ để kinh doanh rừng, khai thác gỗ, mà không dựa vào cơ sởsinh thái, phát sinh, phát triển, hoặc cấu trúc tổ thành của các thảm thực vật, thì hệthống phân loại của Thái Văn Trừng (1978) lại căn cứ vào quan điểm sinh thái phátsinh quần thể thực vật Tác giả đã sắp xếp các kiểu thảm thực vật hiện có ở ViệtNam vào một khung hợp lý, có trật tự trước sau giữa các nhân tố sinh thái, đồngthời theo trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu kém nhất Đây là công trình tổngquát, đáp ứng được quy hoạch sinh thái Tuy nhiên, hệ thống phân loại này cũng cónhược điểm là rất khó áp dụng cho những vùng lãnh thổ có diện tích không lớn(một tỉnh, một huyện)
Khung phân loại thảm thực vật toàn thế giới của UNESCO (1973) lại khôngdựa vào một nguyên tắc hay hệ thống đã có, mà nó kết hợp các nguyên tắc lại với
Trang 25nhau ở những mức độ khác nhau Tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này làcấu trúc ngoại mạo Vì vậy, hệ thống phân loại này có ưu điểm là rất dễ áp dụng và
có thể thể hiện được trên bản đồ đối với vùng nghiên cứu có diện tích không lớn
Với những lý do nói trên, chúng tôi lựa chọn khung phân loại thảm thực vậtcủa UNESCO (1973) để làm cơ sở phân loại thảm thực vật ở Khu di tích lịch sửTân Trào, tỉnh Tuyên Quang, trong đề tài luận án tiến sĩ của mình
là 30.000 - 135.000 loài Theo Van lốp (1940) thực vật có hoa trên thế giới là200.000 loài, theo Grosgayem (1949) là 300.000 loài Hai vùng giàu thực vật nhấtthế giới là Brazin 40.000 loài và Malaysia 45.000 loài [87]
Ở Liên Xô cũ, từ năm 1928 đến 1932 được xem là mở đầu cho thời kỳnghiên cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachov đưa ra nhận định là số loài của hệ thựcvật cụ thể vùng nhiệt đới ẩm thường là 1.500 - 2.000 loài Tiếp theo Tolmachov còn
có nhiều tác giả khác cũng quan tâm nghiên cứu thành phần loài thực vật nhưAlokhin (1904), Vưsotxki (1915), Craxit (1927), Sennhicov (1933), Creepva (1978)
… (dẫn theo Hoàng Chung, 2004 [23])
Longchun và cộng sự (1993) nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái saunương rãy tại Xishuang Bana, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã ghi nhận: nương rãy
bỏ hóa 3 năm có 21 loài thực vật thuộc 21 chi, 17 họ; bỏ hóa 19 năm thì có 167 loài,thuộc 134 chi, 60 họ (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000 [2])
Trong những năm gần đây, một số nước lân cận với Việt Nam đã công bốnhững công trình tiêu biểu của nước mình như: Thực vật chí Malaysia (1948-1972),Thực vật chí Thái Lan (1970-2012), Thực vật chí Đài Loan (1993-2000), Thực vậtchí Trung Quốc (1994-2003), Thực vật chí Hồng Kông (2000-2009) (dẫn theoĐặng Quốc Vũ, 2016 [100])
Ở khu vực ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia), ngoài bộ
Trang 26sách nổi tiếng “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte xuất bản tạiParis (1907-1952), còn có một số công trình tổng quát ít nhiều nói về hệ thực vậtĐông Dương như các tác giả Vidal (1962), Schmid (1989) đã đưa ra con số khoảng1.000 loài và dự đoán có thể tăng lên 12.000 đến 15.000 loài Những công trình lớnkhác có thể kể đến là 29 tập của bộ Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam từ1960-1997, bao gồm 74 họ cây có mạch do các nhà thực vật người Pháp biên soạn(dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005 [87]).
* Ở Việt Nam
Ngay từ thế kỷ XVIII, ở Việt Nam đã có công trình nghiên cứu về thực vậtcủa tác giả nước ngoài như Loureiro (1790) Sang thế kỷ XIX có công trình củaPierre (1880 - 1888) và cho đến những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một côngtrình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là
bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” do Lecomte chủ biên (1907 - 1952).Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tảđược trên 7.000 loài thực vật trên toàn lãnh thổ Đông Dương Tuy nhiên con số nàycòn ít so với số loài có ở ba nước Đông Dương
Gần đây phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam doAubréville chủ biên (1960 - 2001) cùng với nhiều tác giả khác Đến nay đã công bố
31 tập nhỏ gồm 75 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 21% tổng số họ đã có
Bên cạnh đó một số họ thực vật riêng biệt đã được công bố như họOrchidaceae Đông Dương của Seidenfeden (1992), họ Orchidaceae Việt Nam củaLeonid Averyanov (1994), họ Euphorbiaceae của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), họAnnonaceae của Nguyễn Tiến Bân (2000), họ Lamiaceae (2000) và họ Verbenaceae(2007) của Vũ Xuân Phương, họ Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002), họCyperaceae của Nguyễn Khắc Khôi (2002), họ Apocynaceae của Trần Đình Lý(2007), họ Asteraceae của Lê Kim Biên (2007), họ Rutaceae của Bùi Thu Hà(2012), họ Cappaceae của Sỹ Danh Thường (2013) (dẫn theo Đặng Quốc Vũ, 2016[100]) Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạngphân loại thực vật Việt Nam
Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên, Viện Điều tra và Quy hoạch rừng
Trang 27với hình vẽ minh hoạ, đến năm 1996 công trình này được dịch ra tiếng Anh do tácgiả Vũ Văn Dũng làm chủ biên [99]
Trần Đình Lý và cộng sự (1993) công bố 1.900 loài cây có ích ở Việt Nam[52]; Võ Văn Chi (1997) xuất bản từ điển cây thuốc Việt Nam [15]; Viện Dược liệu(2004) xuất bản cuốn Cây thuốc và động vật làm thuốc [98], hay 20 tập viết về Tàinguyên thực vật Đông Nam Á (1989 - 2002) do các nhà nhà khoa học Đông Nam Á(trong đó có các nhà khoa học Việt Nam) công bố [95]
Bên cạnh những công trình mang tích chất chung cho cả nước hay ít ra mộtnửa đất nước, có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật từng vùng được công
bố chính thức như hệ thực vật Tây Nguyên của Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984)
đã công bố 3.754 loài thực vật có mạch [3]; Danh lục thực vật Phú Quốc của PhạmHoàng Hộ (1985) [38] công bố 793 loài thực vật có mạch trong diện tích 592 km2;
Lê Trần Chấn và cộng sự (1990) công bố về hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn (HoàBình) [10]; Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998) [84] đã giới thiệu 2.024loài, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành thực vật bậc cao của vùng núi cao Sa Pa - Fan
Si Fan, hay một loạt các bài báo về đa dạng thành phần loài ở Vườn Quốc gia CúcPhương, vùng núi đá vôi Hoà Bình, núi đá vôi Sơn La, khu bảo tồn thiên nhiên NaHang của tỉnh Tuyên Quang, vùng ven biển Nam Trung Bộ, các Vườn Quốc gia Ba
Bể, Cát Bà, Bến En, Pù Mát, Phong Nha, Cát Tiên, Yok Đôn, Phong Nha - Kẻ Bàng
và Hoàng Liên do Nguyễn Nghĩa Thìn cùng một số tác giả khác công bố trongnhững năm gần đây (1995 - 2003) Ngoài những bài báo công bố, các tác giả PhùngNgọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ đã công bố cuốn sách “Tính đadạng thực vật Cúc Phương” (1996), cùng với Mai Văn Phô công bố cuốn “Đa dạngsinh học khu hệ Nấm và Thực vật ở Vườn Quốc gia Bạch Mã” (2003) và cùng vớiNguyễn Thanh Nhàn (2005) đã công bố cuốn “Đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia
Pù Mát - Nghệ An” Nguyễn Tiến Bân (2003, 2005) đã thống kê thực vật Hạt kíntrong hệ thực vật Việt Nam hiện biết 8.500 loài, 2.050 chi, trong đó lớp Hai lá mầm
có 1.590 chi với trên 6.300 loài và lớp Một lá mầm có 460 chi với 2.200 loài (dẫntheo Nguyễn Thanh Nhàn, 2017 [62])
Gần đây đáng chú ý phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ
Trang 28(1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam(2003), trong đó ông đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái, phân bố của 11.611 loàithực vật bậc cao có mạch [39]
Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoangdại có mạch, 2010 chi, 291 họ và 733 loài cây trồng [49]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý tên loài theo hệ thốngBrummitt (1992) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi và
395 họ thực vật bậc cao, trong đó 30 họ có trên 100 loài với tổng số 5.732 loàichiếm 51,3% tổng số loài của hệ thực vật [83]
Bộ sách Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003 - 2005) do NguyễnTiến Bân (chủ biên) và cộng sự biên soạn đã được xuất bản Đây là tài liệu đầy
đủ và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa học thực vật ở ViệtNam [5]
Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về
hệ thực vật Điều đó cho thấy mức độ đa dạng của các taxon thực vật ở từngvùng, miền và quốc gia trên thế giới
Sau công trình của Warming, Drude (1887) đã phân chia phổ dạng sống thựcvật theo diện mạo và chức năng, ví dụ như cây Một lá mầm và Hai lá mầm Hệthống phân loại của Raunkiaer (1904) dựa trên dạng sống cơ bản của thực vật đápứng lại các điều kiện bất lợi của môi trường sống Đến năm 1934 Raunkiaer biêntập lại và được sử dụng rộng rãi cho đến nay Raunkiaer cũng đã tính toán cho hơn1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên thế giới và tìm được tỷ lệ phần trăm bìnhcách (vai trò ngang nhau) cho từng loài, gộp lại thành phổ dạng sống tiêu chuẩn SN
Trang 29- Phổ dạng sống điển hình (Natural Spectrum) và công thức phổ dạng sống tiêuchuẩn là SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th Đó là cơ sở để so sánh cácphổ dạng sống của các vùng khác nhau trên Trái Đất Thường ở vùng nhiệt đới ẩm,nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm khoảng 80%, nhóm cây chồi sát đất (Ch) khoảng20%, những nhóm khác hầu như không có Trái lại, ở các vùng khô hạn thì nhómcây một năm (Th) và nhóm cây chồi ẩn (Cr) lại có tỷ lệ khá cao, còn nhóm cây chồitrên (Ph) thì giảm xuống (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978 [93]).
Thái Văn Trừng (1978) trong công trình nghiên cứu thảm thực vật rừng ViệtNam đã áp dụng hệ thống phân chia của Raunkiaer (1934) và ông còn sử dụng các
ký hiệu khác cho hình dạng, kích thước và tính chất của lá cây, tán cây, cách sắp xếpcành cây [93] Một số tác giả như Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996) đã xây dựngphổ dạng sống thực vật ở Vườn Quốc gia (VQG) Cúc Phương, với nhóm cây chồitrên đất (Ph) chiếm 57,78% [46]; Lê Trần Chấn và cs (1999) nghiên cứu hệ thực vậtViệt Nam với 54,68% thuộc nhóm Ph [12]; Ngô Tiến Dũng (2004) cho biết ở VQGYok Đôn là 71,73% nhóm Ph [32]; Đặng Quốc Vũ (2016) nghiên cứu ở khu bảo tồnthiên nhiên Xuân Liên (Thanh Hóa) với 78,65% thuộc nhóm Ph [100]; NguyễnThanh Nhàn (2017) lập phổ dạng sống thực vật ở VQG Pù Mát với nhóm Ph là79,15% [62]; Vũ Thị Thanh Hương (2017) khi nghiên cứu đặc điểm thảm thực vậtthoái hóa ở Quảng Ninh đã thống kê dạng sống Ph chiếm tỷ lệ 56,58% [41] Cácphổ dạng sống với tỷ lệ (%) cao của nhóm dạng sống chồi trên đất (Ph) cho thấytính chất nhiệt đới khá điển hình của thảm thực vật ở nước ta
1.2.2.3 Đa dạng về giá trị sử dụng thực vật
* Trên thế giới
Những nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật đã có từ lâu đời, chủ yếucác công trình tập trung vào giá trị làm thuốc của cây cỏ Về sau, các giá trị sử dụng
Trang 30khác cũng được quan tâm nhiều hơn Hầu hết mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc giatrên thế giới đều có những công trình nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật Ví
dụ, ở quy mô thế giới có tập “The book of useful plants” xuất bản tại New Yorknăm 2013 mô tả về giá trị sử dụng và phổ biến của thực vật nhiều nơi trên thế giới
Ở khu vực Đông Nam Á, có tập “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á” - PROSEA(Plants Resources of South East Asia), gồm 20 tập (tính đến năm 2005) mô tả đầy
đủ nhất về giá trị sử dụng của thực vật theo các nhóm: làm thuốc, lấy gỗ, ăn được,làm cảnh, thực vật có chất kích thích, có chất chiết, có tinh dầu, cung cấp sợi, trenứa, mây, có chất nhuộm, tanin, chăn nuôi gia súc [95]
* Ở Việt Nam
Nghiên cứu các giá trị của thực vật ở Việt Nam đã được tiến hành từ khá sớmbởi các nhà khoa học Pháp từ cuối thế kỷ XIX Trong đó phải kể đến các công trìnhtiêu biểu như: Thực vật Nam Bộ của Loureiro (1793), Thực vật rừng Nam Bộ củaPierre (1880), Thực vật chí đại cương Đông Dương do Lecomter chủ biên (1907-1952), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam (6 tập) của Lê Khả Kế và cs (1969-1976),Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2003), Cây gỗ rừng Việt Nam (củaViện Điều tra và Quy hoạch rừng, 1971-1988), Những cây thuốc và vị thuốc ViệtNam (Đỗ Tất Lợi, 1995), 1.900 loài cây có ích ở Việt Nam (Trần Đình Lý và cs,1993), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 1999-2002), Trần Hợp(2002) đã giới thiệu 433 loài cây gỗ có giá trị sử dụng, Từ điển cây thuốc Việt Nam(Võ Văn Chi, 2011) đã mô tả 3.107 loài, Viện Dược liệu đã thống kê được 3.948loài thực vật bậc thấp, bậc cao và nấm lớn có giá trị làm thuốc (dẫn theo Vũ AnhTài, 2015 [79]) Đặng Quốc Vũ (2016) khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở khubảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (Thanh Hóa) đã thống kê được 956 loài có giá trị sửdụng (chiếm 61,28% tổng số loài của cả hệ), trong đó nhóm cây dược liệu chiếm tỷ
lệ cao nhất (42,82%) [100]
Đây thực sự là những công trình lớn nghiên cứu tính đa dạng về giá trị sửdụng của thực vật ở nước ta Ngoài ra còn rất nhiều các bài báo được đăng tải trêncác tạp chí khoa học cũng đề cập đến vấn đề này
1.2.2.4 Đa dạng về giá trị bảo tồn của thực vật
Trang 31* Trên thế giới
Cùng với giá trị sử dụng, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến giá trị bảo tồncủa thực vật Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã(CITES) ra đời năm 1973 đã có tác dụng hạn chế việc khai thác và buôn bán các loàiquý hiếm ra nước ngoài, đảm bảo cho các loài được tồn tại trong môi trường sống bảnđịa của chúng Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) được coi là cơ quan công
bố chuẩn và chung nhất trên toàn thế giới về tình trạng bảo tồn của các loài [108]
* Ở Việt Nam
Sách Đỏ Việt Nam lần đầu tiên được soạn thảo và chính thức công bố, trongthời gian từ 1992 đến 1996 đã thực sự có hiệu quả trong các hoạt động nghiên cứu,giảng dạy, quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên động, thực vật, đáp ứng yêu cầu pháttriển khoa học công nghệ, bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật, môi trườngthiên nhiên nước ta trong giai đoạn vừa qua Mặt khác, trong thời gian từ khi công
bố Sách Đỏ Việt Nam bao gồm Phần Động vật (1992, 2000) và Phần Thực vật(1996) tới nay, trong tình hình phát triển kinh tế xã hội thời kỳ đổi mới với nhữngbiến đổi trong thiên nhiên cũng như trong xã hội nước ta đã tác động mạnh mẽ tới
đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật cũng như điều kiện sinh thái môi trường, đãdẫn tới những biến động về số lượng và phân bố nhiều loài sinh vật hoang dã, đặcbiệt là đối với các loài quý hiếm, có giá trị thương mại cao
Năm 2007, Sách Đỏ Việt Nam (phần Thực vật) được tái bản đã bổ sung, hệthống hóa các thứ hạng phân loại đồng nhất với thế giới (IUCN) Hiện nay, ViệtNam có 448 loài thực vật được ghi nhận theo Sách Đỏ này [6]
Năm 2008, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật Đa dạng sinh học, trong đóquy định các nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát triển bềnvững đa dạng sinh học [66]
Chính phủ nước ta đã ban hành Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019
về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước vềbuôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Cụ thể như sau: NhómI: Các loài thực vật rừng, động vật rừng đang bị đe dọa tuyệt chủng nghiêm cấm khaithác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục I CITES phân bố tự
Trang 32nhiên tại Việt Nam Nhóm này được chia ra: Nhóm IA gồm các loài thực vật rừng;Nhóm IB gồm các loài động vật rừng Nhóm II: Các loài thực vật rừng, động vật rừngchưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặtchẽ, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục IICITES có phân bố tự nhiên tại Việt Nam Nhóm này được chia ra: Nhóm IIA gồm cácloài thực vật rừng; Nhóm IIB gồm các loài động vật rừng [22].
Các văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan Nhà nước bảo
vệ đa dạng sinh học một cách có hiệu quả
1.2.2.5 Đa dạng về yếu tố địa lý thực vật
* Trên thế giới
Mỗi hệ thực vật bao gồm các loài giống nhau và khác nhau về nguồn gốcphân bố địa lý do sự phụ thuộc vào điều kiện môi trường và lịch sử phát sinh Ýnghĩa chủ yếu của việc phân tích nguồn gốc phát sinh là để phân biệt hai nhóm thựcvật: bản địa và di cư Yếu tố bản địa của hệ thực vật được hiểu là các loài tham giavào thành phần hệ thực vật xuất hiện trong ranh giới không gian của hệ thực vậtđược nghiên cứu Yếu tố di cư là tất cả những loài lúc đầu xuất hiện ngoài ranh giớicủa hệ thực vật được nghiên cứu Tỷ lệ giữa các loài bản địa và di cư có thể rất khácnhau ở mỗi hệ thực vật
Một vấn đề cũng rất quan trọng khi phân tích đặc trưng phân bố địa lý của hệthực vật là xác định các loài đặc hữu Theo các tác giả Pócs T, Tolmachov,Schmithusen: “Đặc hữu là những loài chỉ phân bố ở một vùng (miền, địa phương )duy nhất trên Trái đất, không thể phát hiện được ở bất kỳ nơi nào khác” Trong cácyếu tố địa lý thì yếu tố đặc hữu được đánh giá là quan trọng nhất vì nó thể hiện tínhđộc đáo, riêng biệt, bản chất của mỗi hệ thực vật Khi phân vùng địa lý thực vật,tiêu chuẩn hàng đầu để phân định ranh giới giữa các vùng, miền, khu , chính là cáctaxon đặc hữu (theo Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002 [67])
Theo Takhtajan (1977) hiện nay trên Trái đất có 6 vùng hệ thực vật (vùngToàn Bắc, vùng Nhiệt đới cổ, vùng Nhiệt đới mới, vùng Cáp, vùng Châu Úc, vùngNam Cực), trong đó vùng Nhiệt đới mới đa dạng nhất với 32 họ đặc hữu, 40% sốloài là đặc hữu (dẫn theo Nguyễn Anh Hung, 2014 [40])
Trang 33khẳng định thực vật Đông Dương nghèo yếu tố đặc hữu (11,9%), mà chủ yếu là cácyếu tố di cư [87].
* Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, người được đánh giá là đặt nền móng cho hướng nghiên cứu địa
lý thực vật là Gagnepain với hai công trình: “Góp phần nghiên cứu địa thực vật ởĐông Dương” (1926) và “Giới thiệu hệ thực vật Đông Dương” (1944), đã chia hệthực vật Đông Dương thành 5 yếu tố địa lý: (1) Yếu tố đặc hữu chiếm 11,9% tổng
số loài của hệ thực vật; (2) Yếu tố Trung Quốc chiếm 33,8%; (3) Yếu tố Xích kim Hymalaya chiếm 18,5%; (4) Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác chiếm 15%; (5) Yếu
-tố phân bố rộng và nhập nội chiếm 20,8% (theo Phạm Bình Quyền, Nguyễn NghĩaThìn, 2002 [67])
Năm 1965, trên cơ sở các loài thực vật được ghi trong bộ Thực vật chí đạicương Đông Dương, Pócs T đã phân tích và sắp xếp các loài của hệ thực vật miềnBắc nước ta thành 22 yếu tố địa lý, chỉ căn cứ vào khu phân bố hiện tại của chúngchứ hoàn toàn không chú ý đến nguồn gốc địa lý Phổ các yếu tố địa lý do Pócs T.nêu ra cho thấy hệ thực vật miền Bắc Việt Nam có yếu tố đặc hữu đến 23,6%, yếu
tố Đông Dương 16,4%, sau đó là nhóm các yếu tố Indo - Malaysia 25,7%, nhóm cácyếu tố Ấn Độ 9,3% và yếu tố Nam Trung Quốc 5,1% Từ các dẫn liệu nêu trên cóthể thấy hệ thực vật Việt Nam không chỉ thể hiện tính độc đáo do có yếu tố đặc hữuchiếm tới gần ¼ số lượng loài mà còn có mối quan hệ chặt chẽ với các hệ thực vậtlân cận (theo Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002 [67])
Lê Trần Chấn và cs (1994) đã khái quát vùng phân bố cho các yếu tố địa lýcủa hệ thực vật Việt Nam vào 20 yếu tố, trong đó yếu tố đặc hữu được phân thành 4khu phân bố: đặc hữu Bắc Bộ, đặc hữu Trung Bộ, đặc hữu Nam Bộ và đặc hữu ViệtNam Các tác giả đã phân tách các loài phân bố ở Việt Nam, Hải Nam, Đài Loan,Philippin vào cùng một yếu tố (yếu tố Hải Nam, Đài Loan, Philippin), trong khitoàn Châu Á cũng là một yếu tố [11]
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các sơ đồ phân loại các yếu tố địa lý cấuthành hệ thực vật Việt Nam của Gagnepain (1926), Pócs T (1965), Nguyễn NghĩaThìn (1972, 1994, 1997, 1999), Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn(1990), Wu Zheng-yi (1991), Zhu Hua (1993-1996) ; Nguyễn Nghĩa Thìn (2004)
Trang 34[86], đã đưa ra sơ đồ phân loại các yếu tố địa lý như sau:
1 Yếu tố thế giới: gồm các taxôn phân bố khắp nơi trên thế giới.
2 Liên nhiệt đới: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Úc,
châu Phi và châu Mỹ Một số có thể mở rộng tới vùng ôn đới
- Nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu Mỹ
- Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ
- Nhiệt đới châu Á và châu Mỹ: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đớichâu Á, đến vùng nhiệt đới châu Mỹ Một số có thể mở rộng tới Đông Bắc châu Úc
và các đảo Tây - Nam Thái Bình Dương
3 Cổ nhiệt đới: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Úc,
châu Phi và các đảo lân cận
- Nhiệt đới châu Á và châu Úc: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu
Á tới châu Úc và các đảo lân cận Nó nằm ở cánh đông của Cổ nhiệt đới và mở rộngđến các đảo Ấn Độ nhưng không bao giờ tới lục địa châu Phi
- Nhiệt đới châu Á và châu Phi: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu
Á, châu Phi và các đảo lân cận Đây là cánh tây của vùng Cổ nhiệt đới và có thể mởrộng tới Figi, các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không bao giờ tới châu Úc
4 Nhiệt đới châu Á (Inđô - Malêzia): gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt
đới châu Á từ Ấn Độ, Srilanca, Mianma, Thái Lan, Đông Dương, Tây Nam và NamTrung Quốc (Lục địa châu Á), Indonesia, Malaysia, Philippin đến New Ghine, mởrộng tới Figi và các đảo Nam Thái Bình Dương (vùng Malêzia) nhưng không baogiờ tới châu Úc Kiểu này được tách thành các kiểu phụ sau:
- Đông Dương - Malêzia: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, từlục địa Đông Nam Á (Mianma Thái Lan, Đông Dương, Tây Nam và Nam TrungQuốc) đến Malaysia, Indonesia, Philippin, New Ghine và mở rộng tới Figi và cácđảo Nam Thái Bình Dương nhưng không bao giờ tới châu Úc ở phía nam và Ấn Độ
ở phía tây
- Đông Dương - Ấn Độ hay lục địa châu Á nhiệt đới: gồm các taxôn phân bố
ở vùng nhiệt đới châu Á từ Ấn Độ, Srilanca, Mianma, Thái Lan, Đông Dương, TâyNam và Nam Trung Quốc nhưng không tới vùng Malêzia
- Đông Dương - Himalaya = Lục địa Đông Nam Á (trừ Malêzia và Ấn Độ):
Trang 35gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, từ chân Himalaya, Mianma, TháiLan, Đông Dương và Tây Nam Trung Quốc Một số chúng có thể mở rộng đến bánđảo Malaysia ở phía Nam Đây là nhóm thực vật phân bố chủ yếu trên núi cao.
- Đông Dương - Nam Trung Quốc: gồm các taxôn phân bố ở Đông Dương và
Nam Trung Quốc, đặc biệt xung quanh biên giới Trung Quốc (chỉ có ở Nam VânNam, Quảng Tây, Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam) và Đông Dương
- Đông Dương: Các taxôn phân bố giới hạn trong phạm vi 3 nước ĐôngDương và đôi khi có thể gặp ở Thái Lan
5 Ôn đới Bắc: gồm các taxôn phân bố trong vùng ôn đới châu Á, châu Âu,
châu Mỹ và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới, thậm chí tới vùng ôn đới Nambán cầu
- Đông Á - Bắc Mỹ: gồm các taxôn phân bố trong vùng ôn đới châu Á, Bắc
Mỹ, có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới
- Ôn đới cổ thế giới: gồm các taxôn phân bố ở ôn đới châu Âu, châu Á và có
thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới châu Phi và châu Úc
- Vùng ôn đới Địa Trung Hải - châu Âu - châu Á: gồm các taxôn phân bố
trong vùng ôn đới quanh Địa Trung Hải, châu Âu và châu Á
- Đông Á: gồm các taxôn phân bố trong vùng ôn đới từ Himalaya đến Đông
Trung Quốc tới Triều Tiên hay Nhật Bản và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới
6 Đặc hữu Việt Nam: gồm các taxôn phân bố trong giới hạn của Việt Nam.
- Gần đặc hữu: gồm các taxôn phân bố chủ yếu trong giới hạn của Việt Nam
và có thể tìm thấy ở một vài điểm của các nước lân cận dọc theo biên giới
Như vậy, giữa các tác giả có sự không thống nhất về sự phân chia các yếu tố
cụ thể, quan điểm phân chia các yếu tố cũng như cách đặt tên các yếu tố cũng khôngthống nhất Từ phân tích trên có thể thấy giới hạn và hệ thống hóa các yếu tố địa lýthực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) là hợp lý Theo đó châu Á nằm trên haimiền địa lý sinh vật thì không thể là một yếu tố như quan điểm của Lê Trần Chấn và
cs (1999) Việc tồn tại ở hai miền địa lý như vậy chắc chắn phải thuộc nhóm liênnhiệt đới hoặc cổ nhiệt đới hoặc phân bố rộng
Dựa vào các tư liệu về thành phần hệ thực vật gần đây của các tác giả:Aubreville và cs (1960-1998); Phạm Hoàng Hộ (1991-1993); Averyanov, Nguyễn
Trang 36Tiến Bân (1996); Nguyễn Tiến Bân (1997); Phan Kế Lộc, Lê Trọng Cúc (1997);Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998) , tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đãđánh giá tính đa dạng cấu thành các yếu tố địa lý thực vật của các chi cây Hạt kín ởViệt Nam và kết quả là: ngoài yếu tố đặc hữu 0,9%, phần lớn thuộc yếu tố nhiệt đớichâu Á (26,38%), tiếp đó là yếu tố Cổ nhiệt đới 25,68%, yếu tố Liên nhiệt đới25,22%, còn yếu tố Ôn đới chỉ chiếm 18% Như vậy yếu tố thực vật nhiệt đới chiếm
ưu thế với 78,18% [86]
Từ phân tích trên có thể thấy sự phân chia các yếu tố địa lý thực vật củaNguyễn Nghĩa Thìn (2004) là hợp lý và có tính khoa học thuyết phục
1.3 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật
1.3.1 Các yếu tố làm suy giảm tính đa dạng thực vật
* Trên thế giới
Đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì hệ thống
tự nhiên và phát triển kinh tế, xã hội Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đa dạng sinhhọc nói chung và đa dạng thực vật nói riêng, đang bị suy giảm nghiêm trọng chủyếu là do các hoạt động của con người Các nhà khoa học đều thống nhất nguyênnhân gây suy giảm đa dạng thực vật bao gồm:
- Do khai thác quá mức:
Từ những năm 40 của thế kỷ XX, khai thác gỗ trụ mỏ, gỗ xẻ, đã tăng lênnhanh chóng phục vụ nhu cầu của con người Nguyên nhân này một phần có sự liênquan đến gia tăng dân số trên toàn thế giới: năm 1850 có 1 tỷ người, tăng lên 2 tỷngười vào năm 1930 và hiện nay đã có trên 6 tỷ người Tốc độ tăng dân số tuy thấp
ở các nước công nghiệp phát triển nhưng lại tăng cao ở các nước kém phát triển ởchâu Mỹ, châu Á, châu Phi, mà đây lại là nơi có thảm thực vật rừng rất phong phú
và đa dạng Theo số liệu của FAO (1991), 87 nước nhiệt đới ở ba châu lục (châu
Mỹ, châu Á, châu Phi), diện tích rừng hàng năm bị phá khoảng 170.000 ha, chiếm
tỷ lệ 0,9% so với diện tích tự nhiên Ở Băng La Đét, nhu cầu gỗ, củi và tre nứa tănglên rất nhanh từ giữa năm 1977 đến 1984, tăng 69% đối với gỗ, 152% đối với củi và115% đối với tre nứa (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005 [87])
- Chặt trắng trên diện tích lớn để kinh doanh:
Rừng biến thành đồng cỏ là nguyên nhân trước đây gây ra mất rừng đối vớicác nước Nam Mỹ Ở Brazin, 75% diện tích rừng bị chặt trắng làm đồng cỏ vào
Trang 37năm 1980 Rừng tiếp tục bị chặt trắng để xây dựng đồn điền Cao su, Cọ dầu, Mía,Chè, Cà phê Ở bán đảo Malaya phần lớn rừng bị chặt trắng để làm nông nghiệp,đặc biệt để trồng Cao su, Cọ dầu.
- Du canh, du cư và di dân:
Đây là nguyên nhân cơ bản gây mất rừng trong vùng nhiệt đới gồm: 70%rừng châu Phi, 50% châu Á, 35% châu Mỹ Việc du canh, du cư làm tăng diện tíchtrồng trọt rất nhanh liên quan đến gia tăng dân số Ở Madagasca dân số tăng từ 5-
12 triệu người và việc chặt phá rừng đã làm mất phần lớn diện tích rừng của đấtnước Trong thời đại ngày nay việc di dân theo yêu cầu mới cũng là những nhân tố
xã hội và chính trị gây mất rừng Ví dụ ở Brazin, Chính phủ động viên các chủ đấtvào rừng để sinh sống và chăn nuôi Sau một thời gian, vào cuối những năm 1970người ta thấy mỗi năm có 20.000km2 rừng bị mất đi, đặc biệt lưu vực sôngAmazon năm 1987 có khoảng 50.000km2 rừng đã bị đốt cháy (dẫn theo NguyễnNghĩa Thìn, 2005 [87])
- Hiện đại hóa đất nước:
Nhu cầu xã hội ngày càng tăng cao, việc hiện đại hóa nền kinh tế là hết sứccần thiết Nhiều diện tích rừng đã bị mất do xây dựng các nhà máy, hầm mỏ, đườnggiao thông và đó chính là nguyên nhân trực tiếp gây mất diện tích rừng nhiệt đới.Bên cạnh đó, việc hiện đại hóa đất nước còn kéo theo sự ô nhiễm môi trường do khíđộc hại, chất phế thải Ở Mỹ, hiện nay việc sử dụng thuốc trừ sâu tăng gấp 2 lầnnên đã làm hại đến các loài côn trùng có ích, hiện tượng mưa axit đã gây thiệt hạihàng trăm ha rừng mỗi năm (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005 [87])
* Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng thực vật chủyếu được thực hiện tại các Vườn Quốc gia (VQG), các Khu bảo tồn thiên nhiên(BTTN), nơi mà thảm thực vật và hệ thực vật còn khá phong phú và đa dạng
Hầu hết các tác giả đều cho rằng các nguyên nhân làm suy giảm đa dạngthực vật thuộc 2 nhóm: nguyên nhân trực tiếp (khai thác gỗ, dược liệu, củi đun,xây dựng công trình, cháy rừng, phá rừng làm rẫy…) và nguyên nhân gián tiếp(biến đổi khí hậu và nước biển dâng, dân số tăng, đói nghèo, phong tục tậpquán…) [62], [79], [101]
- Nguyên nhân trực tiếp:
Trang 38Nguyễn Thị Thoa (2010) điều tra ở Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng(tỉnh Thái Nguyên) cho thấy việc khai thác và vận chuyển trái phép các loại gỗ trònngày càng gia tăng: năm 2010 là 51,6m3 ; năm 2011 (490,1 m3); năm 2012 là 470,2
m3 Riêng các loại gỗ thuộc loài quý hiếm bị khai thác tương ứng với thời gian trên
là 45,3 m3 ; 138 m3 và 126,5m3 Đối với cây dược liệu tác giả thống kê có 42 loàicây thuốc được người dân thường thu hái như Hoàng đằng, Bình vôi, Sa nhân…;Năm 2012, Hạt Kiểm lâm của Khu BTTN đã tịch thu 211 kg củ Bình vôi khai tháctrái phép mang đi tiêu thụ Bộ phận sử dụng cây thuốc cũng rất đa dạng : rễ, thân,
lá, củ, cả cây…nên đã làm cho nhiều loài không còn khả năng tái sinh, có thể dẫnđến tuyệt chủng [90]
Nguyễn Anh Hùng (2014), khi phỏng vấn 50 người dân trong khu vực ATKĐịnh Hóa (tỉnh Thái Nguyên) có tới 80% cho biết họ thường khai thác các loại gỗ(Đinh, Sến, De, Giổi…) để bán lấy tiền do đời sống còn rất khó khăn Trong giaiđoạn điều tra từ 2005-2014, một người khỏe mạnh có thể khai thác được 10m3
gỗ/tháng Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ như củi đun cũng diễn ra hàngngày, qua điều tra tại 4 xã trong khu vực tác giả cho biết có 82,8% lượng củi đượcngười dân khai thác từ rừng tự nhiên, 95% số hộ sử dụng củi để sao chè và lượngcủi dùng sao chè hàng năm là 590,4 ste [40]
Nguyễn Thanh Nhàn (2017), khi nghiên cứu ở VQG Pù Mát (tỉnh Nghệ An)cho thấy nạn khai thác gỗ trái phép diễn ra quanh năm, họ thường khai thác các loài
gỗ quý như Pơ mu, Dổi, Táu mật, Sao, Sưa… ; đặc biệt loài gỗ Sưa bán qua biêngiới với giá từ 8-10 triệu đồng/kg, hoặc gỗ Muồng trắng bán giá 60 triệu đồng/m3.Việc khai thác lâm sản ngoài gỗ (dược liệu, rau rừng, củi…) cũng diễn ra hàng ngàyvới mức thu nhập từ 150-300 ngàn đồng/ người/ngày Ngoài ra, hoạt động xây dựng
2 nhà máy thủy điện nhỏ trong phạm vi VQG này cũng làm thay đổi sinh cảnh sốngcủa nhiều loài sinh vật do bị ngập nước, một số diện tích đất rừng bị chuyển đổimục đất sử dụng… [62]
- Nguyên nhân gián tiếp:
Các nguyên nhân gián tiếp cũng góp phần quan trọng làm suy giảm đa dạngthực vật ở nhiều vùng của nước ta
Trang 39nặng nề do biến đổi khí hậu (BĐKH) Hậu quả của BĐKH đã làm suy giảm diệntích rừng, trong đó rừng ngập mặn bị suy giảm nghiêm trọng Chỉ tính riêng các tỉnhven biển đồng bằng sông Hồng giai đoạn từ năm 2000-2006 diện tích rừng ngậpmặn đã giảm 9.990 ha do nước biển dâng Do nhiệt độ tăng cao cùng với các đợtnắng nóng xảy ra nhiều hơn làm tăng nguy cơ cháy rừng ở nước ta Trong vài thập
kỷ qua, cháy rừng đã làm mất đi 16.000 ha rừng mỗi năm BĐKH đã làm sâu bệnh,dịch bệnh và sâu bệnh hại ngoại lai phát triển Tại Bắc Giang có 160 ha rừng Thôngđuôi ngựa bị sâu róm phá hoại, ở Đồng Nai xuất hiện bệnh nguy hiểm như khô cànhlàm 11.000 ha rừng Bạch đàn bị thiệt hại BĐKH còn làm thay đổi cơ cấu tổ chứcrừng và ranh giới phân bố của các hệ sinh thái rừng tự nhiên Sự tăng nhiệt độ Tráiđất khiến nhiều loài thực vật trên dãy Hoàng Liên Sơn đang phải dịch chuyển sựphân bố lên vùng cao hơn để tồn tại Điển hình là loài thông Vân sam trước đây chỉsinh trưởng ở độ cao 2.200-2.400 m, thì nay có thể gặp ở độ cao 2.400-2.700 m sovới mực nước biển [44]
Theo Nguyễn Thị Thoa (2010), ở Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (tỉnhThái Nguyên) tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, chiếm 38,97% cao hơn bình quân chungcủa toàn tỉnh Thái Nguyên (16,69%) Hầu hết là người dân tộc thiểu số, thu nhậpchỉ dựa vào nông nghiệp, không có nghề phụ, tỷ lệ tăng dân số bình quân1,4%/năm Vì vậy họ phải vào rừng khai thác gỗ và các lâm sản ngoài gỗ để cảithiện đời sống [90]
Nguyễn Thanh Nhàn (2017) thống kê tại 9 bản của người dân tộc Đan Laitrong khu vực VQG Pù Mát (tỉnh Nghệ An) cho thấy họ có cuộc sống đói nghèo vàlạc hậu Sản xuất mang tính tự túc, tự cấp, thu nhập bình quân đầu người chỉ 2,5triệu đồng/người/năm, mỗi năm chỉ đủ ăn khoảng 3-4 tháng, còn lại dựa vào trợ cấpcủa Nhà nước và dựa vào rừng Mặt khác, mức tăng dân số trên địa bàn khá cao, tỷ
lệ trung bình là 2,6%/năm, đặc biệt có 3 bản người Đan Lai trung bình mỗi cặp vợchồng có 5-6 con, có gia đình 8-9 con Đó là những nguyên nhân cơ bản gây suygiảm tài nguyên rừng ở VQG này [62]
Ngoài ra, nhiều tác giả khác cũng thống nhất với các nguyên nhân trực tiếp
và gián tiếp nêu trên đã gây suy giảm nghiêm trọng tài nguyên đa dạng thực vật ởnhiều vùng của đất nước, như Trần Duy Rương (2001) [70], Nguyễn Thị Yến(2015) [101], Đặng Quốc Vũ (2016) [100]…
Trang 40Như vậy, nguyên nhân làm suy giảm đa dạng thực vật ở trên thế giới cũngnhư ở nước ta có khá nhiều Tuy nhiên, chúng ta phải xác định những nguyên nhân
cơ bản nhất để có những biện pháp đồng bộ, hiệu quả, vừa bảo vệ được nguồn tàinguyên đa dạng thực vật, vừa nâng cao được đời sống kinh tế xã hội của nhân dân
1.3.2 Các yếu tố làm tăng tính đa dạng thực vật
1.3.2.1 Phục hồi bằng trồng rừng (phục hồi nhân tạo)
Phùng Ngọc Lan (1991) cho rằng, việc trồng rừng thuần loại mà chúng xuấthiện trong các chuỗi diễn thế thứ sinh như rừng Mỡ, rừng Bồ Đề là không hợp lý vì
về phương diện sinh thái học thì đó là mô hình cấu trúc của rừng ôn đới, do vậy cầnphải trở lại mô hình hỗn loài, nhưng không phải là mô hình hỗn loài phức tạp nhưcủa tự nhiên và mô hình nông - lâm kết hợp [45]
Lâm Phúc Cố (1994), khi nghiên cứu về phục hồi rừng đầu nguồn Sông Đàtại Mù Cang Chải (Yên Bái) đã nhận xét: Ở những nơi đất khó có khả năng tái sinh
tự nhiên thì trồng rừng là giải pháp kỹ thuật lâm sinh cần thiết, nên chọn phươngthức trồng rừng hỗn giao nhiều loài với những cây thích nghi với điều kiện đồi núitrọc [28]
Nguyễn Tiến Bân (1997) cho rằng cần thiết phải phục hồi hệ sinh thái rừngnhiệt đới bằng các loài cây bản địa để duy trì, bảo vệ nguồn gen và tạo ra được hệsinh thái rừng hỗn loài bền vững [4]
Theo Hà Chu Chử (1997) cần nâng cao độ che phủ, bù đắp diện tích rừng đãmất, song rừng trồng không thể so sánh với rừng tự nhiên về chủng loại gỗ, về sinhkhối và về tác dụng phòng hộ [25]
Hoàng Chung (2004), khi nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi phía Bắc ViệtNam đã có kết luận: Trong các mô hình để phục hồi rừng nên tạo rừng hỗn giaonhiều loài ưu thế nhiều tầng trong cấu trúc Trong quá trình phát triển loại mô hìnhnày sẽ tự phức tạp hóa lên thành phần loài, dạng sống và tạo điều kiện cho cây bảnđịa tự tái sinh thêm [23]
1.3.2.2 Phục hồi rừng tự nhiên
Phục hồi rừng tự nhiên là quá trình diễn thế thứ sinh phục hồi thảm thực vật.Tất cả các quần xã thực vật sinh ra từ rừng mưa nhiệt đới, qua quá trình diễn thế thứsinh từ trảng cỏ, trảng cây bụi, trảng cây bụi xen cây gỗ, đến rừng thứ sinh nếu