Luận án hệ thống một số vấn đề lý luận về vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay ở một số một số nội dung cơ bản sau: thứ nhất, hệ thống một số vấn đề lý luận về nhân cách, cấu trúc nhân cách tiền đề hình thành phát triển nhân cách, thứ haitrình bày khái niệm thế hệ trẻ, nhân cách thế hệ trẻ; vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ hiện nay;thứ ba,những nhân tố tác động đến vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ.
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM THỊ THẮM
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO THẾ HỆ TRẺ
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2019
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM THỊ THẮM
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO THẾ HỆ TRẺ
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 9229001
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS,TS Nguyễn Đình Tường
2 PGS,TS Bùi Thị Thanh Hương
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình trên là do chính tôi thực hiện với sự
hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Đình Tường; PGS,TS Bùi Thị Thanh Hương Các số liệu, tài liệu trong luận án là hoàn toàn trung thực
Tác giả
Phạm Thị Thắm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1 Các công trình nghiên cứu về gia đình, nhân cách, thế hệ trẻ 5
1.1 Các công trình nghiên cứu về gia đình 5
1.2 Các công trình nghiên cứu về nhân cách 9
1.3 Các công trình nghiên cứu về thế hệ trẻ 11
2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở Việt Nam và tỉnh Hải Dương 15
2.1 Các nghiên cứu về thực trạng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ỏ Việt Nam 15
2.2 Những đánh giá về thực trạng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương 19
3 Những nghiên cứu về định hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay 21
4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 22
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO THẾ HỆ TRẺ 24
1.1 Nhân cách và tiền đề hình thành, phát triển nhân cách 24
1.1.1 Khái niệm và cấu trúc nhân cách 24
1.1.2 Tiền đề hình thành, phát triển nhân cách 39
1.2 Thế hệ trẻ, nhân cách của thế hệ trẻ và vai trò của gia đình đối với việc hình thành, phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ 46
1.2.1 Khái niệm “thế hệ trẻ”, “nhân cách thế hệ trẻ” 46
1.2.2 Gia đình và vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ 54
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của gia đình đối với sự hình thành, phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ hiện nay 66
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO THẾ HỆ TRẺ Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 81
2.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội, đặc điểm nhân cách thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay 81
Trang 52.1.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội tác động tới việc thực hiện vai trò của gia đình với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh
Hải Dương hiện nay 81
2.1.2 Đặc điểm nhân cách thế hệ trẻ ở tình Hải Dương hiện nay 91
2.2 Thực trạng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay 94
2.2.1 Vai trò của gia đình trong chăm sóc sức khỏe, phát triển thể chất tạo nên nền tảng sinh học cho nhân cách cá nhân 95
2.2.2 Vai trò của gia đình trong giáo dục, truyền thụ những tri thức, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất đối với hình thành nhân cách cá nhân 105
2.2.3 Vai trò của gia đình trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, tâm lý, tình cảm tạo nên nền tảng tinh thần cho sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ 113
2.2.4 Vai trò của gia đình trong định hướng và điều chỉnh quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ 123
2.3 Một số vấn đề đặt ra về vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay 127
Chương 3: MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO THẾ HỆ TRẺ Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 134
3.1 Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các gia đình ở tỉnh Hải Dương 134
3.2 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình đối với sự hình thành, phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ 141
3.3 Nhóm giải pháp kết hợp phát huy giá trị gia đình truyền thống và gia đình hiện đại 146
3.4 Nhóm giải pháp kết hợp gia đình, nhà trường, xã hội trong giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ 151
KẾT LUẬN 160
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
PHỤ LỤC 172
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người là mục tiêu trung tâm của mọi sự phát triển xã hội Nội dung xuyên suốt của học thuyết Mác – Lênin là giải phóng và phát triển con người toàn diện Mục tiêu suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vì sự nghiệp giải phóng cho “đồng bào” lao khổ, đấu tranh giành hạnh phúc nhân dân, xây dựng con người mới phát triển toàn diện, một nội dung quan trọng là xây dựng nhân cách vừa “hồng” vừa “chuyên” Nhân cách hình thành và phát triển từ chính chủ thể - cá nhân mỗi con người, đồng thời lại bị chi phối, đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển của xã hội ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể Xã hội ngày càng phát triển con người ngày càng vượt xa bản tính tự nhiên - bản năng của mình, hướng tới trình độ xã hội hóa, ngày càng phát triển toàn diện hơn
Trong bất cứ giai đoạn phát triển nào, thế hệ trẻ đều có vai trò vô cùng quan trọng, họ là chủ nhân của tương lai mỗi quốc gia – dân tộc Đất nước ta trong 30 năm đổi mới đã cho thấy sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội, đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao Thế hệ trẻ đang được hưởng thụ nhiều thành quả to lớn về điều kiện vật chất, tinh thần, khoa học - công nghệ,
kỹ thuật Đồng thời họ luôn bộc lộ những mặt ưu việt so với những thế hệ đi trước như: khả năng cập nhật, tiếp thu, phát triển khoa học công nghệ, trình
độ ngoại ngữ khá, có tinh thần làm chủ, chủ động tìm kiếm cơ hội; nhanh nhạy tiếp thu hệ giá trị mới; có ý thức hoàn thiện bản thân và phát triển cộng đồng… Tuy nhiên do tác động của cơ chế kinh tế thị trường; thời kỳ quá độ còn tồn tại đan xen các yếu tố cũ, lạc hậu và những giá trị mới, tiến bộ, sự phát triển của thế hệ trẻ đang gặp một môi trường nhiều cơ hội song cũng ẩn chứa rất nhiều thách thức Việc hình thành một nhân cách tốt đẹp, tiến bộ cho thế hệ tương lai là tối cần thiết, phụ thuộc lớn vào sự kết hợp của gia đình, nhà trường, xã hội, trong đó gia đình là một nhân tố đặc biệt
Gia đình với tính cách là một “xã hội thu nhỏ” "mỗi gia đình là một tế bào của xã hội", một môi trường tác động trực tiếp và thường xuyên đối với mỗi cá nhân, có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách ở mỗi con người Mỗi
"tế bào của xã hội" phát triển khỏe mạnh thì mới tạo ra một xã hội "thực sự khỏe mạnh" Vai trò của gia đình đối với sự hình thành, phát triển nhân cách
con người được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI: “Gia đình là
môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” Gia đình góp phần chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước,
Trang 7có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính Trong ý thức
hệ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gia đình bao giờ cũng được coi là tổ
ấm, là môi trường đầu tiên làm phát sinh, nuôi dưỡng thể lực; trí lực; những tình cảm trong sáng, tốt đẹp, hình thành nên nhân cách con người Việt Nam Tuy nhiên trước sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội đặt ra rất nhiều thách thức trong việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của gia đình hiện nay Một bộ phận thế hệ trẻ và gia đình của họ đang rơi vào tình trạng lúng túng, hoang mang, mâu thuẫn trong quá trình giáo dục, định hướng, lựa chọn và phát triển nhân cách cho con em của mình
Hải Dương là tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế của miền Bắc, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh đã và đang có sự phát triển mạnh, đời sống nhân dân đã được cải thiện đáng kể, thế hệ trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt hơn vừ được tiếp cận cơ hội học tập tiến bộ Nhưng bên cạnh đó, len lỏi vào trong mỗi gia đình, hiện đang tồn tại những vấn đề mang tính báo động, đó là sự xuống cấp về nhân cách của một bộ phận dân cư, đặc biệt là thế hệ trẻ Trong một số gia đình đang có những biểu hiện khủng hoảng về giá trị đạo đức, trong
đó phải kể đến những giá trị gia đình truyền thống tốt đẹp đang dần bị xói mòn bởi sự thao túng của đồng tiền; biểu hiện của lối sống thiếu văn hóa, những tình trạng ly thân, ly hôn, ngoại tình, tình trạng bạo lực gia đình đều đang hiện diện
ở mức độ đáng báo động; tỷ lệ thanh thiếu niên hư, bạo lực học đường, bỏ học, rơi vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật có xu hướng tăng Điều này đang có nguy cơ trở thành vấn nạn các gia đình, xã hội, đặc biệt là những biểu hiện lệch lạc trong sự hình thành và phát triển nhân cách và sự bất ổn trong tâm lý của một
bộ phận thế hệ trẻ hiện nay
Không ít gia đình ở Hải Dương hiện nay (và Việt Nam nói chung) nhận thức chưa đúng về vai trò của mình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ, còn coi đó là nhiệm vụ của nhà trường, xã hội, nên đã tạo ra những hậu quả đối với gia đình mình và gây ảnh hưởng lớn cho xã hội Vì vậy, việc phát huy vai trò gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách hoàn thiện cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương là một yêu cầu cấp bách hiện nay
Với mong muốn góp một phần vào giải quyết vấn đề thực tế này, tôi chọn:
“Vai trò của gia đình đối với việc hình thành và phát triển nhân cách cho thế
hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học
Trang 82 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ lý luận và thực trạng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương, luận án đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên luận án tập trung vào các nhiệm vụ sau đây: + Phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
+ Phân tích, làm rõ lý luận về nhân cách, sự hình thành và phát triển nhân cách, thế hệ trẻ và gia đình, vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
+ Phân tích thực trạng vai trò của gia đình và những vấn đề đặt ra đối với
sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay
+ Đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu về vai trò của gia đình đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian, luận án tập trung nghiên cứu vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay Luận án chủ yếu nghiên cứu đối tượng thế hệ trẻ là thanh, thiếu niên trong độ tuổi từ 0 – 18 tuổi; lứa tuổi diễn ra sự hình thành, phát triển nhân cách quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi con người; đồng thời cũng là lứa tuổi cần sự nuôi dưỡng, chăm sóc lớn nhất từ phía gia đình
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới liên quan đến gia đình, vai trò của gia đình đối với việc hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Luận án kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các công trình nghiên cứu có liên quan
Trang 94.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Phương pháp cụ thể: phương pháp logic và lịch sử; phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp; điều tra xã hội học; quan sát, thống kê; tổng kết thực tiễn; tham vấn …
5 Những đóng góp mới của luận án
- Vận dụng sáng tạo lý luận mác – xít về vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ vào thực tiễn tỉnh Hải Dương
- Phân tích, làm rõ lý luận về nhân cách, sự hình thành và phát triển nhân cách, thế hệ trẻ và gia đình, vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
- Luận án góp phần làm rõ thêm những luận cứ và luận chứng cho các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ hơn tầm quan trọng của gia đình đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ từ hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội
6 Ý nghĩa của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm những luận điểm, các vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình, vai trò của gia đình Luận án đóng góp thêm tài liệu để các bậc cha mẹ tham khảo nhằm phát huy vai trò của gia đình đối với quá trình nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết
Trang 10TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 Các công trình nghiên cứu về gia đình, nhân cách, thế hệ trẻ
1.1 Các công trình nghiên cứu về gia đình
Gia đình - “tế bào xã hội” là cấu trúc quan trọng tác động to lớn tới sự hình thành và phát triển xã hội Chính vì vậy gia đình là một lĩnh vực được rất nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Các nghiên cứu này góp phần thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của gia đình đồng thời góp phần làm cho phát triển tiến bộ xã hội con người Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về gia đình tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đi sâu tìm hiều những nghiên cứu về gia đình liên quan đến nội dung tác động sự hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ Những công trình này
là tài liệu quan trọng, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển những nội dung nghiên cứu của tác giả Cụ thể:
Khuất Thu Hồng (chủ biên) xuất bản năm 1996, "Gia đình truyền thống"
[36] Cuốn sách cung cấp một cách nhìn khoa học về hôn nhân gia đình truyền thống của người Việt Nam thông qua phỏng vấn sâu các cụ ông, cụ bà ở thành thị nông thôn, với mong muốn gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình Bên cạnh đó cũng thấy được những biểu hiện của những phong tục không thích hợp với cuộc sống hiện đại ngày nay
Trần Hữu Tòng – Trương Thìn (Chủ biên): “Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới” [97] Sách tập trung làm rõ một số vấn đề cơ bản về
văn hoá gia đình và gia đình văn hoá Nêu ra một số bài học kinh nghiệm và định hướng cho công tác xây dựng gia đình văn hoá Việt Nam trên con đường xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh Sách còn phản ánh thực tiễn các vấn đề gia đình hiện nay đang được xã hội quan tâm
Lê Thi (2002), "Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới"
[105] Trong cuốn sách tác giả đã làm rõ quá trình đổi mới đất nước đã và đang làm cho gia đình có những biến đổi về cấu trúc, quy mô, chức năng của gia đình Trong đó mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình đã có nhiều thay đổi
Vũ Tuấn Huy (chủ biên) xuất bản năm 2003, "Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và những yếu tố ảnh hưởng", [38] Mâu thuẫn và sự căng thẳng trong
quan hệ vợ và chồng trong đời sống hôn nhân và gia đình xảy ra do sự không
Trang 11phù hợp giữa kỳ vọng và sự thực hiện các vai trò Mặc dù có nhiều hành vi do những mâu thuẫn bên trong, ở đề tài này tác giả chủ yếu xem xét những mâu thuẫn bên ngoài liên quan đến vấn đề hôn nhân Mâu thuẫn thường là nhiều chiều và phức tạp Trong quan hệ hôn nhân nếu người này không chú ý đến nhu cầu của người kia, mâu thuẫn không được giải quyết dẫn đến xung đột liên tục sẽ làm cho hôn nhân trở nên xấu đi Trong cuốn sách tác giả gợi mở cho bạn đọc kiểm soát và giải quyết các xung đột Đây là cơ sở quan trọng để tác giả luận án nhìn nhận đánh giá mối quan hệ vợ chồng – thế hệ cha mẹ, ông bà từ những mâu thuẫn này sẽ ảnh hưởng tới quá trình giáo dục, tâm lý, tình cảm và định hình nhân cách của thế hệ trẻ khá lớn
Vũ Tuấn Huy (2004) “ Xu hướng gia đình ngày nay” (một vài đặc điểm từ
nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Hải Dương) [39] Công trình nghiên cứu đã phân tích về sự biến đổi về gia đình, nhấn mạnh đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế -
xã hội, các ảnh hưởng yếu tố thị trường, công nghệ - khoa học, sự di cư và biến đổi của định hướng giá trị đã tác động đến sự hình thành hôn nhân, quan hệ giữa các thế hệ, phân công lao động gia đình, số con và khoảng cách sinh con Đây
là cơ sở lý luận quan trọng, tác giả luận án đánh giá thực tiễn gia đình Hải Dương, trên cơ sở đó làm rõ tác động biến đổi của gia đình đối với thế hệ trẻ trong sự hình thành và phát triển nhân cách
Lê Thi (chủ biên), xuất bản năm 2006, “Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam”, [107] Cuốn sách bao gồm 3 chương Chương 1:
Văn hoá ứng xử và tổ chức cuộc sống gia đình Cụ thể: ứng xử trong gia đình
và giao tiếp xã hội; gia đình trẻ và quan niệm về tự do và trách nhiệm; tổ chức cuộc sống và phát huy truyền thống gia đình Chương II: Các vấn đề đặt ra trước gia đình Việt Nam hiện nay Cụ thể: quan hệ giới và khoảng cách giữa các thế hệ; mối liên hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội; gia đình trước các vấn
đề xã hội Chương III: Hôn nhân và gia đình Việt Nam trước những biến động của thời đại Cụ thể: thích ứng với công nghiệp và hiện đại hoá; thúc đẩy công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Cuốn sách là cơ sở tác giả kế thừa phân tích giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình truyền thống và gia đình trẻ hiện đại; những khó khăn thách thức của gia đình trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường; biến động gia đình
Trang 12Đặng Phương Kiệt (2006) viết cuốn “Gia đình Việt Nam: Những giá trị truyền thống và các vấn đề tâm – bệnh lý xã hội”, [43] Cùng với sự phát triển
của xã hội, gia đình hiện đại cũng có những sự phát triển nhanh chóng Bên cạnh việc nâng cao của đời sống vật chất và tinh thần thì trong một bộ phận gia đình cũng xuất hiện những vấn đề tâm lý, bệnh lý phức tạp mà xã hội và gia đình phải đối mặt Từ những phân tích đó tác giả chỉ ra vai trò, hạn chế giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam trước sự biến động của tâm – bệnh lý xã hội hiện đại Tuy nhiên tác giả chưa phân tích biến động phức tạp của tâm – bệnh lý mà thế hệ trẻ trong gia đình hiện nay phải đối mặt
Vũ Anh Tuấn; Nguyễn Xuân Mai (2007) “Những biến đổi kinh tế xã hội của hộ gia đình”, [96] Tác giả cuốn sách chỉ ra những biến đổi tích cực và hạn
chế điều kiện kinh tế gia đình và tham gia các hoạt động xã hội của hộ gia đình trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, với sự tồn tại nhiều thành phần kinh
tế Đời sống kinh tế có sự cải thiện rõ rệt, sự phát triển kinh tế gia đình với những hình thức rất phong phú, đa dạng Tác giả kế thừa những phan tích biến động kinh tế hộ gia đình và phát triển cở sở đánh giá thực trạng kinh tế hộ gia đình của tỉnh Hải Dương có biến động lớn trong giai đoạn đổi mới (1986 - nay) đối với việc nuôi dạy thế hệ trẻ
Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý, (2007) viết sách: "Gia đình học" , [49]
Đây là công trình nghiên cứu rất công phu, với những luận chứng cụ thể được tổng hợp từ những tài liệu uy tín trong, ngoài nước để đưa ra những vấn đề lý luận, thực tiễn trong bức tranh đa sắc màu về gia đình ở Việt Nam và các kiểu gia đình trên thế giới Tác giả đã phân tích, làm rõ những đặc trưng, vai trò, chức năng của quá trình hình thành và phát triển của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại trên cơ sở nghiên cứu xã hội học về gia đình Các tác giả đã nêu lên những định hướng giải pháp và điều kiện thực hiện những giải pháp xây dựng gia đình Việt Nam phù hợp với yêu cầu của giai đoạn hiện nay Cuốn “Gia đình học” thực sự là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu và là cuốn giáo trình tương đối đầy đủ, khái quát cho những ai quan tâm nghiên cứu trau dồi kiến thức về ngành khoa học mới, ngành gia đình học
Lê Thi (2009) nghiên cứu về “Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân gia đình giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay”, [108] Tác
giả chỉ ra sự khác biệt trên cơ sở những giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa
Trang 13hiện đại; giữa hai thế hệ người lớn tuổi và thế hệ trẻ trong gia đình hiện nay về hôn nhân Từ đó tác giả luận án nhận thấy sự thay đổi những hệ giá trị trong gia đình; sự khác biệt của thế hệ trẻ khi nhìn nhận vấn đề tình yêu, hôn nhân hiện đại; từ đó tác động tới sự hình thành lối sống, nhân cách với những nét khác biệt
so với thế hệ trước
Đặng Thị Linh (2009), biên soạn “Những vấn đề lý luận về gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” [55] Tập bài giảng phân tích quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về sự hình thành, phát triển gia đình, xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên xã hôi xã hội chủ nghĩa Tác giả luận án kế thừa cơ sở quan niệm về gia đình; vận dụng, phát triển những cơ sở lý luận về quá trình xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ với những khó khăn, phức tạp trong nhìn nhận, đánh giá các gia đình hiện nay
Trịnh Duy Luân; Helle Rydstrom; Wil Burghoom đồng chủ biên (2011)
nghiên cứu về:“Gia đình nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, [52] Các
tác giả nghiên cứu về các gia đình khu vực nông thôn với những biến đổi lớn trong quá trình đổi mới ở Việt Nam Tác giả luận án kế thừa trên cơ sở tổng hợp, phân tích những nội dung nghiên cứu đa dạng như hôn nhân, tổ chức cư trú, phân công lao động, quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình, di cư, giáo dục con cái, tình dục, bạo lực gia đình… trong hơn hai thập niên qua; để trên cơ sở
đó nghiên cứu thực trạng biến động của các gia đình khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương
Lê Thị Quý xuất bản cuốn sách năm 2011về: “Quản lý nhà nước về gia đình, lý luận và thực tiễn”, [79] Là tập hợp nhiều bài biết của nhiều chuyên gia
trong lĩnh vực gia đình, trong đó tác giả luận án đặc biệt quan tâm tới những chuyên đề về vai trò của gia đình trong giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức và các giá trị truyền thống trong gia đình Bên cạnh đó là những yếu tố tác động đến gia đình hiện nay Tuy nhiên ở đây các tác giả đề cập một cách khái quát các nội dung, trên cơ sở những nghiên cứu này tác giả luận án đi sâu phân tích vai trò và yếu tố tác động đến vai trò của gia đình trong điều kiện cụ thể ở tỉnh Hải Dương hiện nay
Lê Văn Ngọc cho ra đời cuốn sách xuất bản năm 2012, “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”, [77] Trong nghiên cứu xã hội học, gia đình có
ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước,
Trang 14sự tồn vong của dân tộc Ở Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, gia đình đã và đang biến đổi nhanh chóng, đa dạng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Tác giả luận án kế thừa những một số vấn đề cơ bản về gia đình, biến đổi gia đình, đề xuất xây dựng gia đình ở Việt Nam; trên cơ sở đó triển khai phân tích đánh giá thực trạng trên cơ sở tính đặc thù của các gia đình
ở Hải Dương
1.2 Các công trình nghiên cứu về nhân cách
So với các ngành khoa học khác khoa học về nhân cách là một lĩnh vực nghiên cứu mới trên thế giới nhưng đến nay đã được rất nhiều ngành, lĩnh vực tập trung nghiên cứu
Tâm lý học Liên Xô là một nền tâm lý học lớn được thế giới công nhân, nhiều công trình nghiên cứu tâm lý học được các nước phương tây kế thừa, phát triển Ngay trong quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới các nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô đã quan tâm về “Chủ nghĩa
xã hội và nhân cách” tập 1, 2 [16], [17] Trong đó đã phân tích nội dung về sự hình thành và phát triển nhân cách trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Ở Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu về nhân cách từ những năm 1960 Nhưng công trình quan trọng có nội dung liên quan tới vấn đề mà tác giả nghiên cứu gồm:
Phạm Minh Hạc chủ nhiệm đề tài nghiên cứu (2001-2005) về: "Xây dựng con người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường", [31] Đề tài nghiên cứu các nội dung: Cơ sở lý luận hình thành nhân
cách, quan điểm giá trị và mô hình nhân cách theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghiên cứu tính cách con người Việt Nam qua các tài liệu lịch sử; Nghiên cứu thái độ, quan điểm giá trị của người Việt Nam ở nước ngoài; Điều tra tìm hiểu sự thay đổi về quan điểm giá trị của người Việt Nam hiện nay; Đo đạc một số đặc điểm nhân cách của một số tầng lớp người Việt Nam hiện nay; Nghiên cứu một
số vấn đề tiềm năng con người Cuốn sách đã phân tích những ưu điểm, hạn chế cần khắc phục của người Việt Nam hiện nay – đây là cơ sở quan trọng giúp tác giả luận án phân tích những thành tựu và hạn chế của các bậc ông bà, cha mẹ trong gia đình tác động tới con cái trong sự hình thành và phát triển nhân cách
Trang 15Lê Văn Hồng (2008), “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” [37] Đây là cuốn sách phân tích tâm lý lứa tuổi và tác động giáo dục phù hợp với tâm
lý lứa tuổi cho lứa tuổi từ 0 – 18 tuổi Tác giả luận án kế thừa cở sở phân tích đặc điểm tâm lý học các giai đoạn lứa tuổi của trẻ em, lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông và cách giáo dục của nhà trường phù hợp với đặc tính lứa tuổi; để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình các gia đình phát huy vai trò của mình đối với sự hình thành, phát triển nhân cách hiện nay
Nguyễn Xuân Thức (2013) “Tâm lý học đại cương” [100], đây là cuốn giáo trình cơ bản về tâm lý học, trong đó giành một chương phân tích về nhân cách, sự hình thành và phát triển nhân cách Trên cơ sở đó tác giả luận án tham khảo về nhân cách trên khía cạnh tâm lý học con người, từ đó đưa ra khái niệm tổng hợp về nhân cách ở lĩnh vực triết học
Nguyễn Thơ Sinh (2008), “Các học thuyết tâm lý nhân cách” [83], cuốn sách là tài liệu quan trọng hệ thống quan điểm của 22 nhà tâm lý học về những học thuyết tâm lý nhân cách Đây là một trọng những cuốn sách tập hợp những nghiên cứu sâu sắc, phong phú nhất về những khía cạnh của tâm lý nhân cách con người
Hoàng Anh (2012), “Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách
ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay”, [1] Tác giả trình bày những lý luận chung về nhân cách, nhân cách sinh viên, thực trạng sinh viên Việt Nam; vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên
Nghiên cứu gần đây nhất với nhiều bài viết liên quan đến nội dung nhân cách, đạo đức, lối sống trong văn hóa Việt Nam của hai tác giả: Trần Đặng Sinh – Nguyễn Chu Sâm xuất bản năm 2014 về: “ Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam” [84] Cuốn sách gồm 3 phần: Phần 1 – Lý luận chung về đạo làm người; Phần 2- Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam; Phần 3- Đạo làm người trong xã hội hiện nay
Trên đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhân cách, nhưng
đa số là những nghiên cứu của tâm lý học về nhân cách, những nghiên cứu triết học về nhân cách vẫn còn rất ít Đặc biệt do sự phát triển kinh tế - xã hội và yếu
tố lịch sử nên nhiều nghiên cứu về xây dựng nhân cách con người hiện đại hiện nay còn nhiều yếu tố chưa hợp lý, chưa cụ thể, có những hệ giá trị phát triển
Trang 16nhân cách cá nhân đã trở nên lỗi thời không phù hợp.Song đây cũng là cơ sở quan trọng để tác giả kế thừa và phát triển nghiên cứu của mình về nhân cách của thế hệ trẻ hiện nay
1.3 Các công trình nghiên cứu về thế hệ trẻ
Thế hệ trẻ là thế hệ tương lai của đất nước, là thế hệ cần được mỗi gia đình và cả xã hội quan tâm, chăm lo phát triển Đến nay đã có nhiều tài liệu nghiên cứu quan trọng về đối tượng này Cụ thể:
Đinh Thị Vân Chi (2003) đã có nghiên cứ về “Nhu cầu giải trí của thanh niên: Sách tham khảo”, [20] Nhu cầu vui chơi, giải trí của thanh niên là một
nhu cầu tất yếu và cần được cha mẹ quan tâm, định hướng cho thế hệ trẻ Bởi vì tuổi trẻ nhu cầu vui chơi, giải trí, tiếp thu học hỏi những cái mới bên ngoài xã
hội rất cao và rất dễ bị ảnh hưởng bởi “thần tượng”, trò chơi, bởi những người
nổi tiếng Cho nên bố mẹ cần đặc biệt quan tâm, hướng dẫn, định hướng cho thế
hệ trẻ trong lĩnh vực này
Trần Thị Cẩm (2005), “Tâm lý trẻ và giáo dục trong gia đình”,[21] Đây
là cuốn sách tâm lý bổ ích, trang bị cho gia đình những hiểu biết nhất định về con trẻ ở “lứa tuổi từ sơ sinh” đến “tuổi vào đời”; từ đó tác giả đưa ra những phương pháp giáo dục phù hợp với các tình huống, những vấn đề tâm lý ở trẻ và
bố mẹ gặp phải trong nuôi dạy con cái trong gia đình Đây là cơ sở nghiên cứu quan trọng giúp cho tác giả kế thừa phân tích về thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của gia đình ở tỉnh Hải Dương hiện nay
Đặng Vũ Cảnh Linh (2003) về: “Vị thành niên và chính sách đối với vị thành niên” [55], cuốn sách đã phân tích đặc điểm lứa tuổi vị thành niên
Trên cơ sở những đặc trung riêng có của lứa tuổi này tác giả phân tích thực tế những chính sách đã và đang áp dụng từ đó đề ra một số giải pháp đối với trẻ
Viện Chiến lược và chương trình giáo dục; Văn phòng UNESCO (2006)
có: “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: Tài liệu hướng dẫn giáo viên” [124] Trẻ em sinh sống trong xã hội phát triển cần phải được
Trang 17trang bị những kỹ năng thích hợp để hòa nhập với cộng đồng ,với xu thế toàn cầu hóa Đặc biệt đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn cần phải được giáo dục một số giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống càng quan trọng bởi vì các em là những đối tượng cần tự mình vươn lên trên hoàn cảnh Giai đoạn còn nhỏ tuổi là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động,…Vì vậy, việc giáo dục giá trị sống ,rèn luyện kỹ năng sống cho thế hệ trẻ nói chung là rất cần thiết Kỹ năng sống cơ bản của trẻ em bao gồm kỹ năng ứng xử hợp lí với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm ; kỹ năng rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe; kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội; suy nghĩ và hành động tích cực; học tập tích cực…
Tác giả Campbell, Ross; Suggs, Rob; với cuốn: “Teen cần gì ở cha mẹ?:
Để teen thật sự cân bằng trong thế giới mất cân bằng” do Phương Oanh: Dịch; Phương Thảo: Hiệu đính (2007), [15] Tuổi Teen - cụm từ gợi lên cảm xúc và
những câu hỏi phức tạp đối với các bậc cha mẹ: "Thời gian đã qua ư?" thường kéo theo "Đứa con thân yêu của tôi đã đi những đâu?" Thời gian trôi đi trong gia đình những đứa trẻ lớn lên; đồng thời bố mẹ cũng không gẫn gũi, ôm ấp như khi con còn nhỏ và tưởng chừng như khoảng cách xa hơn giữa cha mẹ và con cái
Xã hội biến đổi nhanh chóng từng ngày, các phương tiện truyền thông và những thay đổi về tâm sinh lý khiến những bạn trẻ tuổi vị thành niên phải chịu nhiều áp lực hơn bao giờ hết Ngược lại, các bậc phụ huynh thì vẫn coi con cái mình như những đứa trẻ khiến chúng cảm thấy cuộc sống trở nên thật tồi tệ Vậy cha mẹ cần phải làm gì? "Teen cần gì ở cha mẹ?" trở thành cuốn sách hướng dẫn cung cấp cho bạn những phương thức tích cực để giải quyết vấn đề khó khăn trong nuôi dạy con cái Luôn cho con cái thấy rằng bạn yêu chúng chừng nào và đang giúp chúng kiểm soát sự giận dữ của mình một cách tích cực Đó chính là nền móng để bạn trở thành những ông bố bà mẹ lý tưởng của con cái tuổi Teen trong thế kỷ XXI Bác sỹ Ross Campell với hơn 30 năm kinh nghiệm tư vấn cho hàng ngàn gia đình nói rằng các bậc phụ huynh vẫn có một ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con cái mình khi chúng đã đến tuổi vị thành niên "Teen cần gì ở cha
Trang 18mẹ?" không chỉ đưa ra những phân tích thực tế trong bối cảnh đời sống của tuổi vị thành niên hiên nay mà còn chỉ ra những phương hiệu quả để dạy dỗ con cái trong giai đoạn có nhiều xáo động này Bạn sẽ học được cách: Nhận ra sự cáu giận bất thường của con và phương pháp giải quyết tình trạng đó; Cân bằng tự do và kỷ luật một cách linh hoạt; Giúp con bạn tìm ra ý nghĩa đúng đắn và đích thực của tình dục; Hiểu về sự tác động của truyền thông đối với thế hệ @
Những nghiên cứu của tác giả Lưu Song Hà (2008) về: “Cách thức cha
mẹ quan hệ với con và hành vi lệch chuẩn của trẻ”, [32] Bộ phận thanh niên vi
phạm đạo đức và có những hành vi lệch chuẩn có sự tác động rất lớn từ môi trường sống, đặc biệt là từ gia đình Đặc biệt là mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Những kết quả nghiên cứu cho thấy trong nhiều gia đình có con ở độ tuổi học sinh trung học cơ sở cùng song song tồn tại 3 kiểu quan hệ: tin tưởng – bình đẳng; bàng quan – xa cách và nghiêm khắc - cứng nhắc Trên thực tế, tồn tại một
tỷ lệ đáng lo ngại học sinh trung học cơ sở có hành vi lệch chuẩn Những học sinh trung học cơ sở bị cha mẹ đối xử bàng quan – xa cách có xu hướng vi phạm nhiều chuẩn mực hành vi hơn những em được cha mẹ đối xử tin tưởng - bình đẳng Qua nghiên cứu này, tác giả luận án tiếp thu kế thừa trong phát triển vai trò của gia đình trong vai trò tâm lý, tình cảm hình thành phát triển tâm hồn, phẩm chất trong nhân cách của thế hệ trẻ hiện nay
Đồng chủ biên Ngô Đức Anh; Ross, Micheal W.; Ratliff, Eric A (2009)
xuất bản cuốn sách về: “Ảnh hưởng của Internet lên thực hành tình dục trong thanh thiếu niên Hà Nội, Việt Nam”[2] Trong khi những ảnh hưởng của Internet
vấn đề tình dục có nhiều tác động làm thay đổi tư duy, lối sống của nhiều bộ phận người dân trong xã hội Việt Nam so với truyền thống Nhưng với thế hệ trẻ - thế hệ kế thừa sự phát triển giao thoa của truyền thống xã hội phương Đông và sự bùng nổ ồ ạt của nguồn tri thức, thông tin của xã hội hiện đại phương Tây qua Internet đã và đang làm cho giới trẻ hoang mang, lo lắng, “hỗn loạn” trong sự giáo dục, trong thực tiễn của gia đình và xã hội Những câu chuyện của thanh thiếu niên cũng chỉ ra cách họ sử dụng Internet như một phương tiện để thể hiện nhân dạng và ham muốn tình dục Qua những phát hiện trong nghiên cứu, cuốn sách cho rằng nên mở rộng giáo dục tình dục để có thể
đề cập được những vấn đề quan trọng với thanh thiếu niên như cảm xúc và các
Trang 19mối quan hệ, hơn là đơn giản chỉ tập trung bó hẹp trong sức khoẻ sinh sản, y tế công cộng và các mối quan tâm khác của nhà nước
Viện Gia đình và Giới (2013) đã nghiên cứu vấn đề: “Nuôi dưỡng trẻ nhỏ
ở một số địa phương của Việt Nam: Thực tiễn và Hàm ý chính sách” [127] Tài
liệu được thực hiện trên cơ sở nguồn dữ liệu khảo sát tiến hành tại 8 tỉnh/thành phố của Việt Nam vào năm 2012 về vấn đề dinh dưỡng chăm sóc trẻ nhỏ của các gia đình Tài liệu cho thấy thói quen và tư duy chăm sóc sức khỏe dinh dưỡng cho trẻ nhỏ ở nước ta trong những năm gần đây có sự phát triển lớn về tư duy và
sự đầu tư về thời gian và tiền bạc Tuy nhiên tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục
từ ngay trong nhận thức về chăm sóc Tác giả kế thừa những nội dung nghiên cứu trên để phát triển nội dung vai trò gia đình trong chăm sóc sức khỏe, phát triển thể lực cho thế hệ trẻ hiện nay
Luật thanh niên – 2005, Nhà xuất bản Lao Động [58], quy định trách nhiệm và nghĩa vụ công dân đối với thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến ba mươi tuổi Trên cơ sở luật mà nhà nước ban hành là cơ sở để tác giả nghiên cứu về những quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân của thế hệ trẻ ỏ độ tuổi đủ tuổi thanh niên; đồng thời đây là cơ sở để tác giả nhìn nhận những vấn đề thực tiễn khi thế hệ trẻ bị lợi dụng, lạm dung, bị xâm hại…hay tham gia vào các
tệ nạn xã hội và hành vi vi phạm pháp luật
Trên đây là những công trình nghiên cứu khái quát về đặc điểm tâm sinh
lý của thế hệ trẻ và những chính sách, pháp luật và sự quan tâm của toàn xã hội
vì mục tiêu phát triển thế hệ nguồn nhân lực kế cận tương lai của đất nước Những nghiên cứu đã đưa ra những những đánh giá toàn cảnh về sự phát triển của thế hệ trẻ đặc biệt là đối tượng trẻ em dưới 18 tuổi, nhưng có nhiều thực trạng biến đổi trong sự phát triển của thế hệ trẻ hiện nay chưa được nhắc đến như tình trạng bạo lực học đường, chảy máu chất xám ở độ tuổi ngày càng nhỏ,… Hay nhiều tác động tiêu cực từ gia đình mà trong thực tế xã hội lại cho rằng đó là vai trò tích cực như: việc hy sinh của cha mẹ để nuôi con ăn học ngay cả khi con trưởng thành trên 18 tuổi làm cho thế hệ trẻ nước ta nói chung thiếu tự lập; thiếu tinh thần trách nhiệm và ỷ lại vào gia đình; hay việc làm thay con mọi công việc
mà lẽ ra trẻ phải làm tùy thuộc vào độ tuổi để tự chăm sóc bản thân và có trách nhiệm với gia đình và cộng đồng và gia đình coi đó là sự yêu thương con cái hết mực,… Cho nên trên thực tế còn nhiều người trưởng thành trên 30 tuổi vẫn còn chưa có trách nhiệm với chính bản thân mình mà còn phụ thuộc vào cha mẹ
Trang 20Tuy nhiên, đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tác giả nghiên cứu về những yếu tố đặc điểm thể chất, tâm lý, sinh lý và các yếu tố tác động tới sự hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ
2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở Việt Nam và tỉnh Hải Dương
2.1 Các nghiên cứu về thực trạng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ỏ Việt Nam
Gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong suốt cuộc đời mỗi con người từ khi sinh ra, trường thành và già cả Gia đình có những chức năng riêng biệt mà không một tổ chức, đảng phái, đoàn thể… nào có thể thay thế được Chính vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của gia đình ở nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau Dưới đây là những nghiên cứu về vai trò của gia đình đối với con cái – thế hệ trẻ trong gia đình
Nhà xuất bản Phụ nữ phát hành năm (1980) cuốn sách: "Dạy con yêu lao động" [74] Nội dung cuốn sách tập trung phân tích vai trò của lao động và chỉ ra
phải giáo dục lao động cho trẻ ở từng độ tuổi Muốn cho con cái của chúng ta lớn lên được mạnh khỏe, vui tươi, yêu đời và cống hiến được nhiều cho xã hội, thì lúc còn nhỏ phải được giáo dục về lao động Hoạt động lao động bao gốm: lao động học tập, lao động gia đình và lao động xã hội Cuốn sách bổ sung cho
cơ sở lý luận quan trọng cho tác giả : lao động là nguồn gốc quan trọng của ý thức, của sự tách biệt con người ra khỏi thế giới loài vật và hình thành, phát triển các phẩm chất xã hội, nhân cách ở trẻ em Từ đó tác giả luận án đưa ra các giải pháp cụ thể trên cơ sở lao động là một trong những nguồn gốc cơ bản của sự phát triển ý thức và lao động xây dựng nên những nhân cách cá nhân
Tác giả Klein, Ted; Nguyễn Khánh Du: Dịch và xuất bản 1991 về: “Cẩm nang của người cha” [95] Cuốn sách trang bị những kiến thức chăm sóc, dạy
bảo con cái dành riêng cho người cha trong gia đình Đồng thời phân tích tâm lý trẻ em trong mối quan hệ với cha mẹ; trong vai trò người làm cha trong gia đình mỗi ông bố cần phải biết Đây là cơ sở lý luận giúp tác giả nghiên cứu về vai trò người cha trong giáo dục, tác động tới đời sống tâm lý, tính cách, tâm hồn thế hệ trẻ; và đây là cơ sở nhận thấy vai trò của người cha trong gia đình truyền thống và hiện đại có sự khác biệt
Trang 21Giai.Not, H.G,“Thuật ứng xử giữa cha mẹ và con cái; do Nguyễn Văn
Toại: Dịch (1993), [75] Cuốn sách trang bị cho các bậc cha mẹ về nghệ thuật ứng xử của cha mẹ với con cái trong xã hội hiện đại Đây là tài liệu hỗ trợ quan trọng cho các gia đình trong nuôi dạy và giáo dục thế hệ trẻ Cuốn sách là cẩm nang đầy tính thực tiễn, đưa ra các biện pháp rất cụ thể cung cấp cho mỗi cha mẹ cách giải quyết hàng loạt vần đề nảy sinh thường xuyên giữa cha mẹ và con cái như: việc tiếp xúc trò chuyện, ngợi khen - phê bình, cha mẹ phải tìm hiểu ý thức trách nhiệm, tính tự lập của trẻ, những giới hạn kỷ luật cho phép, hay tính ghen
tị, nỗi sợ hãi trẻ thơ Là cha mẹ phải tìm hiểu và khi hiểu được trẻ, cha mẹ có thể thông cảm và san sẻ mọi điều với trẻ dưới góc độ là những “người bạn lớn” Đây là cơ sở tác giả luận án kế thừa đưa ra những nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp trong gia đình hiện nay
Nguyễn Thị Hoài Đức: Biên soạn xuất bản 1997: “Cha mẹ với tuổi vị thành niên” [23] Tác giả phân tích những biến đổi về tâm sinh lý của con trẻ
trong độ tuổi vị thành niên Độ tuổi có sự nhạy cảm về tâm lý, sự thay đổi sinh
lý Chính bản thân mỗi con người khi đổi mặt với giai đoạn này cũng gặp rất nhiều vấn đề trở ngại Tác giả đã chỉ ra những đặc điểm của lứa tuổi này và sự cần thiết phải quan tâm, chăm sóc, hiểu biết của các bậc cha mẹ với con cái họ
Lê Thi (1997), "Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam" , Nhà xuất bản Phụ nữ [106] Tập thể các tác giả
cho rằng, những thành tựu to lớn của cách mạng khoa học và công nghệ trong những năm cuối thế kỷ XX, đang đưa lại những khả năng sáng tạo, trí thông minh tuyệt vời cho con người và hứa hẹn đem lại những tiến bộ vượt bậc cho cuộc sống của cá nhân, gia đình, xã hội cả về vật chất và tinh thần Các tác giả cũng khẳng định sự phát triển của xã hội không thể tách rời sự phát triển của con người và vai trò của con người trong việc bồi dưỡng, xây dựng nhân cách con người
Lê Như Hoa (2001) có nghiên cứu về: “Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em” [34] Tác giả đi sâu nghiên cứu những giá trị văn hóa trong gia đình tác động tới sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em Tác giả đã chỉ rõ tác động hai chiều của văn hóa tới nhân cách trẻ em, tuy nhiên chưa khái quát được quá trình biến đổi hệ giá trị văn hóa xã hội và giá trị gia đình là tất yêu trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó tác giả triển khai, làm
rõ những yếu tố tác động từ văn hóa gia đình truyền thống và giá trị gia đình
Trang 22hiện đại trong các gia đình hiện nay, ảnh hưởng tới sự hình thành, phát triển nhân cách lớp thế hệ trẻ
Nguyễn Thanh Bình: Chủ biên xuất bản 2001 nghiên cứ về: “Những vấn
đề cấp bách trong giáo dục con ở tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay”, [7] Tác giả phân tích điều kiện kinh tế - xã hội tác động các gia đình thành
phố, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa làm cho gia đình có sự biến đổi lớn Đặc biệt lứa tuổi thiếu niên trong gia đình là độ tuổi nhạy cảm, chịu những tác động nhanh từ điều kiện tác động bên ngoài Từ đó tác giả chỉ ra các vấn đề cấp bách phải giáo dục con cái trong độ tuổi thiếu niên
Nguyễn Linh Khiếu (Chủ biên), (2003), “ Gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên”, [48] Tác giả nghiên cứu chỉ rõ vị trí, vai trò đặc
biệt quan trọng của việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên Đồng thời phân tích những tích cực, hạn chế yếu kém của gia đình trong việc trang bị cho con cái những kiến thức về sức khỏe sinh sản Tác giả cũng đưa ra những giải pháp nâng cao nhận thức cho các thành viên trong gia đình về sức khỏe sinh sản
Văn Thị Kim Cúc - Chủ biên xuất bản năm 2003: “Những tổn thương tâm
lý của thiếu niên do bố mẹ ly hôn”, [19] Trẻ em trong những gia đình có bố mẹ
ly hôn có những tác động tâm lý rất lớn, cuốn sách trang bị kiến thức bổ ích cho những gia đình có vấn đề về hôn nhân Từ những tổn thương tâm lý này tác giả cũng chỉ ra đó có thể là những nguyên nhân của tệ nạn xã hội, tội phạm vị thành niên, bạo lực gia đình… và là nguyên nhân của bệnh lý tinh thần sau này
Trịnh Văn Thắng (2004) đã nghiên cứu khía cạnh “tế nhị” trong gia đình
-“Giao tiếp giữa bố mẹ và vị thành niên về tình dục: Nội dung, rào cản và động
cơ giao tiếp” [103] Tình dục là một vấn đề “khó nói” trong các gia đình Việt
Nan hiện nay nói chung bởi rào cản về phong tục tập quán và văn hóa Trong những năm gần đây vấn đề này đã bước đầu được đem giảng dạy trong nhà trường, ngoài xã hội và các bậc cha mẹ quan tâm Tuy nhiên thực tế hiện nay việc trao đổi, giao tiếp giữa các bậc cha mẹ và con cái với vấn đề tình dục còn nhiều hạn chế so với sự phát triển của xã hội cùng những sự phát triển nói riêng
về khía cạnh tình dục trọng cuộc sống ngày nay Nhìn chung hiểu biết về tình dục của cả bố mẹ và con cái tuổi vị thành niên con nhiều hạn chế tồn tại Cho nên thông qua cuốn sách tác giả cũng đã trang bị cho các gia đình kiến thức quan
Trang 23trọng về vấn đề được coi là “tế nhị” mà các thành viên trong gia đình cần phải được trang bị
Ngoài những công trình nêu trên còn có một số luận án nghiên cứu về vai trò của gia đình như:
Lê Thị Thủy: “Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách của con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay”,[111], Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000 Tác giả phân tích vai trò của đạo đức trong sự hình thành nhân cách con nguời Việt nam về thực trạng đạo đức xã hội hiện tại tác động tích cực và sự xuống cấp của đạo đức
xã hội ảnh hưởng tới nhân cách con người Từ đó tác giả đưa ra những giải pháp nâng cao vai trò của đạo đức với sự hình thành nhân cách con người trọng giai đoạn tiếp theo
Nguyễn Đức Mạnh, Luận án tiến sĩ xã hội học, (2003), Vai trò của gia đình đối với việc giáo dục trẻ em hư ở thành phố; qua nghiên cứu ở Hà Nội, [71] Cũng là những nghiên cứu về chức năng giáo dục của gia đình nhưng ở đây tác giả nghiên cứu đối tượng, phạm vi là trẻ em hư ở thành phố, qua nghiên cứu
ở khu vực thủ đô Hà Nội
Không có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp nhưng có những đánh giá, tài liệu sơ lược về vai trò của gia đình đối với sự hinh thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ Tuy nhiên các nghiên cứu trên đã đưa ra những vị trí, chức năng, vai trò của gia đình của gia đình đối với sự phát triển chung của trẻ và các mối quan hệ của gia đình tác động tới sự phát triển nói chung và nhân cách thế hệ trẻ nói riêng Cho nên, những nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để tác giả kế thừa
trong những nghiên cứu của đề tài
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhân cách, giáo dục nhân cách, vai trò của gia đình, giáo dục đạo đức, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình
khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách trực tiếp có hệ thống về: “Vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay” Vì vậy đề tài luận án không trùng lặp với các công trình đã
được công bố Những tài liệu trên giúp ích cho tác giả trong việc tham khảo để nghiên cứu đề tài viết luận án
Trang 242.2 Những đánh giá về thực trạng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương
Thứ nhất, các tài liệu đánh giá về gia đình thực trạng phát triển gia đình
Hải Dương trong những năm gần đây
Chưa có những công trình nghiên cứu bài bản về việc thực hiện vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây Tuy nhiên có những báo cáo, tống kết, đánh giá trên quy mô toàn tỉnh về công tác gia đình, xây dựng phát triển gia đình Cụ thể các báo cáo tổng kết công tác xây dựng và phát triển gia đình trền tất cả các lĩnh vực của Sở Văn hóa Hải Dương các năm: Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Hải Dương: Báo cáo công tác gia đình năm 2015, [85];
Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Hải Dương: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 49-CT/TW ngày 21/01/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
“Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” trên địa bàn tỉnh Hải Dương, [86]; Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Hải Dương: Tình hình thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
2030 và các văn bản, đề án thực hiện công tác gia đình giai đoạn 2011-2015, [87]; Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Hải Dương: Báo cáo tình hình thực hiện “Đề án tuyên truyền truyền giáo dục đạo đức, lối sống tròn gia đình Việt Nam giai đoạn 2010 -2015” [89]; Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Hải Dương: Báo cáo kết quả thực hiện công tác gia đình năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ năm
2017, [90]; Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Hải Dương: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hải Dương năm
2016, [91]; Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Hải Dương: Báo cáo đánh giá kết quả công tác gia đình giai đoạn 2011 - 2015; Mục tiêu, phương hướng và giải pháp thực hiện giai đoạn 2016 – 2020, [93]; Ủy ban nhân dân tỉnh Hải
Dương, (2015) , Báo cáo: Tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội năm 2015, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2015 – 2020,
[115]; Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương, Báo cáo: Tình hình thực hiện nhiệm vụ
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, [116]; Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Hải Dương, (2017), Báo cáo: Tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, [94]; Ủy
ban nhân dân tỉnh Hải Dương, Báo cáo: Tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch
Trang 25phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm
2018, [117]; Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương, Báo cáo: Tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 3 tháng đầu năm và một số nhiệm
vụ trọng tâm trong quý 2 năm 2018, [118]
Các tài liệu trên đã cung cấp cho tác giả những tài liệu, số liệu tổng hợp quan trọng về điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh và các gia đình ở tình Hải Dương trong tỉnh giai đoạn 2015 – 2017; những thành tựu đạt được, hạn chế cần khắc phục; những thuận lợi và khó khăn cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của gia đình trong những năm gần đây Đồng thời cũng chỉ ra những phương hướng giải pháp tháo gỡ khó khăn và phát triển gia đình trong giai đoạn tiếp theo Trên cơ sỏ kế thừa các số liệu tổng hợp đánh giá, tác giả luận án phân tích
cơ sở lý luận, mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần của xã hội Với những số liệu báo cáo như trên giúp tác giả luận chứng cho những nghiên cứu, đánh giá, tổng hợp của mình
Thứ hai, những tài liệu về thực trạng phát triển học tập và rèn luyện đạo
đức, lối sống của thế hệ trẻ Hải Dương trong những năm gần đây của ban chấp hành đoàn tỉnh Hải Dương: Ban chấp hành đoàn tỉnh Hải Dương, (2015) Báo cáo kết quả công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm giai đoạn 2010 – 2015,
[12]; Ban thường vụ tỉnh đoàn (2016), Báo cáo kết quả công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2016, [13]; Ban thường vụ tỉnh đoàn (2017); Ban chấp
hành đoàn tỉnh Hải Dương, (2017), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Tỉnh đoàn Hải Dương khóa XII tại Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh
Hải Dương lần thứ XIII – năm 2017: Xây dựng đoàn vững mạnh; tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng; đạo đức, lối sống văn hóa cho thể hệ trẻ; cổ vũ thanh niên thi đua học tập, khởi nghiệp, sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng tỉnh Hải Dương giàu mạnh, văn minh, [14] Các báo cáo cung cấp cho tác
giả sự tổng hợp các hoạt động của các đoàn viên, thanh thiếu niên, nhi đồng trong tỉnh Hải Dương từ năm 2010 đên nay Bên cạnh đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiên, đề ra các phương hướng giải pháp nhằm phát triển toàn diện thế hệ trẻ trong tỉnh Đây là căn cứ quan trọng để tác giả đưa ra các giải pháp cụ thể phát huy vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay
Trang 26Các báo cáo này cung cấp số liệu thực tế quan trọng giúp tác giả đánh giá quy mô, cơ cấu sự phát triển của gia đình và thế hệ trẻ; bên cạnh đó là sự phát triển về y tế, giáo dục, văn hóa xã hội của tỉnh đối với gia đình và thế hệ trẻ của tỉnh Từ đó tác giả đi tới nghiên cứu đề tài nhằm phát huy vai trò của gia đình ở Hải Dương hiện nay tới sự hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ trong tỉnh
3 Những nghiên cứu về định hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay
Nghiêm Sĩ Liêm, Luận án tiến sĩ triết học, (2001) “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay”, [53] Luận án đã nghiên cứu chức năng giáo dục của gia đình thực trạng, một số vấn đề đặt ra và giải pháp đẩy mạnh vai trò giáo dục của gia đình đối với sự phát triển của thế hệ trẻ hiện nay Tác giả kế thừa những nghiên cứu về biện pháp nâng cao chức năng giáo dục của gia đình – chức năng cơ bản của sự hình thành và phát triển nhân cách cho con người
Dương Văn Bóng, Luận án tiến sĩ triết học, (2003)“Đổi mới việc thực hiện chức năng giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ trong gia đình nông dân Việt Nam hiện nay, [3] Đề tài đã đi sâu nghiên cứu chức năng giáo dục của gia đình với thế hệ trẻ nhưng đối tượng, phạm vi nghiên cứu hẹp hơn đó là những gia đình nông dân sống tập trung khu vực nông thôn Tác giả kế thừa, cụ thể những giải pháp phát huy vai trò giáo dục của gia đình nhằm hình thành, phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Nguyễn Đức Mạnh, Luận án tiến sĩ xã hội học, (2003) “Vai trò của gia đình đối với việc giáo dục trẻ em hư ở thành phố; qua nghiên cứu ở Hà Nội, [71] Cũng là những nghiên cứu về chức năng giáo dục của gia đình nhưng ở đây tác giả nghiên cứu đối tượng, phạm vi là trẻ em hư ở thành phố, qua nghiên cứu
ở khu vực thủ đô Hà Nội Tác giả luận án kế thừa những hướng biện pháp tiếp cận giải quyết các trẻ em đặc biệt trong gia đình có trẻ em hư
Những nghiên cứu trên đa phần tập trung đưa ra những giải pháp nhằm thực hiện vai trò giáo dục của gia đình đối với sự phát triển của trẻ em Tuy nhiên gia đình có nhiều vai trò, chức năng đặc biệt tác động toàn diện đến sự phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ chưa được các tác giả nghiên cứu rõ Trên cở
Trang 27sở những nghiên cứu trên, tác giả kế thừa và vận dụng, phát triển đưa ra những giải pháp phù hợp phát huy vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát
triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Riêng ở tỉnh Hải Dương trong những báo cáo về công tác phát triển gia đình ở tỉnh Hải Dương - đã vạch ra những phương hướng quan điểm chỉ đạo, giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia đình nói chung với mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ Tác giả luận án trên cơ sở đó kế thừa phát triển những phướng hướng, biện pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò trách nhiệm của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay
4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án cho thấy vấn đề này đã được nghiên cứu ở các phương diện sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về gia đình phản ánh cơ bản và hệ
thống về sự phát triển và biến đổi của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Trong các nghiên cứu về gia đình, nội dung chủ yếu được nói đến vai trò giáo dục của gia đình Các công trình này chưa đi sâu nghiên cứu vào nội dung cụ thể phát huy từng vai trò: chăm sóc sức khỏe, phát triển thể chất tạo nền tảng sinh học cho nhân cách thế hệ trẻ; vai trò nuôi dưỡng phát triển tâm hồn cho mỗi cá nhân; vai trò giáo dục tri thức, kinh nghiệm sống, kỹ năng sống cơ sở hình thành, phát triển nhân cách thế hệ trẻ; vai trò của gia đình trong điều chỉnh
và định hướng sự phát triển nhân cách của thế hệ trẻ
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về vai trò của gia đình đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ đã tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nhưng đều tập trung vào nội dung giáo dục đạo đức bao gồm nhiều nội dung như: giáo dục đạo đức, văn hóa, thẩm mỹ, tâm lý, giới tính, nghề nghiệp… nhưng chưa chỉ ra thực trạng hiện nay nội dung giáo dục trong gia đình gặp rất nhiều mâu thuân, thậm chí khủng hoảng lựa chọn hệ giá trị; xem nhẹ giáo dục lao động chân tay; chưa ý thức rõ vai trò và chưa đầu tư thỏa đáng hoạt động rèn luyện thể chất cho thế hệ trẻ, quá đề cao việc học tri thức lý thuyết, sách vở; hoang mang giữa sự phát triển bùng nổ của những thông tin đa chiều…
Trong từng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay, tác giả phân tích những điểm
Trang 28mới, vấn đề mới trong vai trò của gia đình trước quy luật phát triển tất yếu của gia đình hiện nay Từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp sát với thực tế của sự
phát triển của gia đình, thế hệ trẻ và nhân cách của thế hệ trẻ
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu và làm rõ những vấn đề sau:
1 Làm rõ khái niệm: “gia đình”, “nhân cách”, “thế hệ trẻ”, “nhân cách thế
hệ trẻ” “việc hình thành và phát triển nhân cách”, “vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ”
2 Phân tích thực trạng vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ và một số vấn đề đặt ra ở tỉnh Hải Dương hiện nay
3 Đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Hải Dương hiện nay
Trang 29Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ
CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
NHÂN CÁCH CHO THẾ HỆ TRẺ 1.1 Nhân cách và tiền đề hình thành, phát triển nhân cách
1.1.1 Khái niệm và cấu trúc nhân cách
1.1.1.1 Quan niệm về nhân cách
Nhân cách là một phương diện đặc biệt quan trọng của mỗi con người, là mặt xã hội, là bản chất xã hội của con người Nhân cách tồn tại trong mỗi cá nhân cụ thể Nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như triết học, xã hội học, kinh tế - chính trị học, luật học, tâm lý học, y học, giáo dục học…
Trong lịch sử triết học, quan niệm về nhân cách không tách rời quan niệm
về con người Các triết gia trong nhiều giai đoạn chưa đề cập trực diện và sâu sắc
về nhân cách, chẳng hạn họ chưa đưa ra quan niệm nhân cách là gì, nhân cách được hình thành như thế nào, gồm những yếu tố nào … Tuy vậy quan niệm của
họ về con người, bản chất con người là cơ sở lý luận quan trọng để tìm hiểu về nhân cách con người
a Quan niệm về con người, bản tính con người trong lịch sử triết học trước C.Mác:
Trong triết học phương Đông, các triết gia từ Trung Hoa cổ đại đến Ấn
Độ cổ đại đều xây dựng những hình mẫu con người điển hình, mẫu mực để mỗi người trong xã hội theo đó mà phấn đấu và hoàn thiện mình
Quan điểm của triết học Trung Hoa cổ đại gắn với những nhà tư tưởng
lớn: Khổng Tử cho rằng bản chất con người do trời quyết định, con người tồn tại
và hoạt động là do “thiên mệnh” chi phối Người quân tử phải biết được “mệnh” của mình, để sợ mệnh, thuận mệnh và phụng mệnh Dựa theo mức độ tu dưỡng đạo đức, ông cho rằng xã hội gồm ba loại người: thánh nhân là bậc hiền giả, người thể hiện và chuyển giao chân lý minh triết; quân tử là người cao nhã, luôn phấn đấu để làm điều chân chính; tiểu nhân là những kẻ hèn mọn, hành động không màng tới đạo đức Sống trong xã hội, theo Khổng Tử, bậc quân tử phải thường xuyên trau dồi và thực hiện ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; phải giữ gìn ngũ luân: quân - thần, phụ - tử, phu - phụ, trưởng - ấu, bằng - hữu theo
Trang 30những tiêu chuẩn được xã hội quy định: quân - thần hữu lễ, phụ - tử hữu thân, phu - phụ hữu biệt…
Ở Ấn Độ, Phật giáo là học thuyết có quan điểm về con người sâu sắc và
ảnh hưởng rộng hơn cả Theo đó, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc Trong đó “sắc” là những yếu tố cấu tạo nên cơ thể vật chất của con người; còn
“danh” gồm thụ, tưởng, hành, thức chính là yếu tố tinh thần Trong sự vận động
vô thường của thế giới, sự tồn tại của con người vô cùng mong manh Trong chuỗi nhân - quả tất yếu chi phối vạn vật, kể cả con người, bản thân con người cũng sinh - trụ - dị - diệt, cũng khổ về bản chất, cũng bị chi phối bởi nghiệp báo
và vì thế mà trôi nổi trong vòng luân hồi bất tận Vậy mẫu người nào được Phật giáo hướng tới và giáo hóa xã hội? Đó là những con người sống thiện, luôn từ -
bi - hỷ - xả, sống chân chính theo “bát chính đạo” và có thể thực hiện các phép tu khác như giới, định, tuệ … để đạt được Niết bàn, thoát khổ
Quan điểm triết học phương Đông về con người mang tính nhị nguyên: có những quan điểm duy vật ngây thơ, chất phác nhưng cũng có quan điểm duy tâm, thần bí Có quan điểm nhân văn, cảm thông và muốn thực hiện bình đẳng đối với con người, nhưng phổ biến hơn cả là những quan điểm bảo vệ và chứng minh sự bất bình đẳng xã hội theo kiểu “quân tử hướng đến nghĩa, tiểu nhân hướng đến lợi”, bảo vệ lợi ích cho những thế lực đang thống trị xã hội Mặc dù vậy, không thể phủ nhận rằng, những hình mẫu con người mà các triết gia xây dựng là những nhân cách người điển hình cho xã hội đương thời Điều kiện của
xã hội luôn quy định những nhân cách của cá nhân trong xã hội đó
Quan niệm về con người và bản tính con người trong triết học phương Tây trước C.Mác rất phong phú, đa dạng
Triết học Hy Lạp cổ đại hình thành từ cái nôi di sản tinh túy truyền thống
của sáng tác dân gian, thi ca, thần thoại, của những tri thức khoa học tự nhiên, trong điều kiện một xã hội chiếm hữu nô lệ phát triển Trong quan điểm về con người, các nhà triết học đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của tất cả các triết gia, và được diễn đạt điển hình trong quan niệm của Prôtago: con người là thước đo tất thảy mọi vật
Xôcrat là triết gia được người Hy Lạp được hâm mộ và kính trọng Xôcrat không chú tâm nghiên cứu thế giới như toàn bộ các triết gia Hy Lạp khác, bởi
Trang 31một lẽ đơn giản, theo ông thế giới đã được thần thánh an bài, đã hoàn hảo lắm rồi Ông hướng triết học vào nghiên cứu con người, cho rằng triết học là nhận thức của con người về chính bản thân con người Ông kêu gọi “con người hãy nhận thức chính mình” Trên cơ sở nhận thức bản thân mình con người mới hiểu được cái thiện và cái ác để từ đó mà hành động có đạo đức Ông đặc biệt đề cao vai trò của tri thức, khái niệm trong hoạt động của con người Tri thức là nền tảng của đạo đức; tri thức giúp con người sống hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách Triết học phải giúp con người trang bị tri thức, từ đó sống tốt, sống thiện Như vậy, trong lý tưởng và chủ trương của Xôcrat, con người phải có hiểu biết,
có tri thức, sống có đạo đức, chính tri thức của mỗi người là điều kiện để con người sống có đạo đức và từ đó đóng góp cho xã hội Hiểu biết là nền tảng và điều kiện để con người thường xuyên “tự nhận thức mình”, điều chỉnh mình cho hợp với “cái thiện phổ biến” Tư tưởng của Xôcrat được rất nhiều học trò của ông truyền bá và ảnh hưởng lớn đến xã hội Tây Âu Bản thân Xôcrat là một nhân cách lớn đương thời, với kiến thức sâu rộng, uyên bác, với sự thông minh, tế nhị
và khiêm tốn, luôn được đông đảo học trò cũng như người dân Hy Lạp cổ đại ngưỡng mộ
Suốt thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, được sự cổ vũ của sản xuất công nghiệp, của giai cấp tư sản cách mạng, của vô số các thành tựu khoa học, các triết gia Tây Âu, trong khi vẫn miệt mài
“hướng ngoại” để nghiên cứu, tiến tới chinh phục, làm chủ thế giới đã có những bước tiến quan trọng trong triết học xã hội, trong đó những nội dung liên quan đến con người và nhân cách con người
Các triết gia thời Phục hưng quan niệm con người là một thực thể có trí
tuệ và hướng con người tới sự tự do, sáng tạo Triết học thời kỳ này mang tính cách mạng chống lại những quan điểm duy tâm tôn giáo một cách triệt để, hướng tới giải thoát con người ra khỏi những khuôn khổ, gông cùm của xã hội phong kiến và giáo hội, khôi phục và phát triển thêm những quan điểm tiến bộ về con người, bản chất con người của triết học Hy Lạp, La Mã cổ đại
Hầu hết các triết gia tư sản thời cận đại đều đưa ra những chủ trương mở
mang hệ thống giáo dục, nâng cao dân trí, hoàn thiện pháp luật, khắc phục tha hóa xã hội … để xây dựng các cá nhân tự do, có tri thức, nhờ tri thức của mình,
Trang 32các cá nhân đó trở thành những chủ thể đầy sức mạnh, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên để phục vụ nhu cầu của chính mình
Triết học cổ điển của Đức với những đại biểu vĩ đại Kant, Hegel, Feuerbach đặc biệt quan tâm và đề cao con người, xuất phát từ con người để triển khai các nội dung triết học khác Những con người - cá nhân với nhân cách điển hình cho xã hội được các triết gia xây dựng theo lập trường của mình
Nhìn chung, các quan niệm trong triết học trước C.Mác, dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên hay duy vật siêu hình đều không phản ánh đúng về con người và bản chất con người Các quan niệm đã có đều xem xét con người chung chung, trừu tượng, hoặc là tuyệt đối hoá mặt tinh thần
- xã hội, hoặc là tuyệt đối hoá mặt thể xác - tự nhiên, sinh học của con người Ngoài ra có thể thấy triết học phương Đông và phương Tây có những quan niệm
về con người và tính người khác nhau Nếu như triết học phương Đông nhìn nhận, đánh giá con người chủ yếu theo cách hòa trộn con người, chính trị và đạo đức, chủ yếu đề cập đến những con người chính trị - xã hội, quan niệm con người và tự nhiên có quan hệ hài hòa thống nhất, con người nương tựa, thuận theo tự nhiên; thì triết học phương Tây lại đề cao tinh thần đấu tranh vươn lên làm chủ thế giới, con người luôn được xem xét từ vị trí chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên để tự nhiên phục vụ chính mình
Quan niệm về con người và nhân cách con người trong triết học Lênin: Kế thừa có chọn lọc những thành tựu tinh thần của các thế hệ trước, từ
Mác-lập trường duy vật và phương pháp biện chứng, C.Mác, Ph.Ăngghen và sau này
là V.I.Lênin đã xây dựng quan niệm khoa học về con người, cá nhân và nhân
cách con người Trong tác phẩm Luận cương về Feuerbach, C.Mác chỉ ra hạn
chế của Feuerbach trong việc xem xét con người như là một cơ thể sinh vật có ý thức và tình cảm, như tình yêu, tình bạn, không thấy mặt xã hội và hoạt động thực tiễn của con người C.Mác vạch rõ: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [61, 11]
Sự hình thành con người xã hội là một quá trình lâu dài diễn ra trong lịch
sử Trên cơ sở Học thuyết tiến hóa của Đác Uyn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân
tích sâu sắc quá trình tiến hóa để hình thành loài người Có thể khái quát: để duy trì sự tồn tại của mình, con người phải ăn, uống, chống lại cái đói, có chỗ ở phù
Trang 33hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu… điều đó thúc đẩy con người phải tiến hành lao động, sản xuất vật chất để thỏa mãn những nhu cầu đó Trong quá trình lao động, tay chân của con người dần trở nên khéo léo, đồng thời trí não cũng phát triển, sự cố kết giữa những con người ngày càng chặt chẽ hơn, xuất hiện ngôn ngữ Như vậy lao động, việc chế tạo những công cụ lao động, sự cố kết cộng đồng, ngôn ngữ, tư duy chính là các nhân tố quyết định sự biến đổi loài vượn thành người Sau đó, cũng chính từ quá trình sản xuất vật chất, dẫn đến sự xuất hiện và phát triển của các yếu tố hôn nhân, gia đình, đạo đức, nhà nước … khiến cho xã hội loài người hình thành và ngày càng đa dạng Quá trình sản xuất vật chất của loài người không hề hỗn độn, vô trật tự mà do các quy luật xã hội chi phối, những hiện tượng tinh thần, chính trị, ý thức xuất hiện, biến đổi xét đến cùng do trình độ sản xuất của con người quy định
Toàn bộ diễn biến của lịch sử là kết quả của hoạt động của con người, các thế hệ người nối tiếp nhau
Quan niệm về con người của triết học Mác - Lênin dựa trên những yếu tố hợp lý mà các triết gia trong lịch sử đã đưa ra, lọc bỏ những yếu tố chưa hợp lý
trong quan niệm của họ Theo đó, triết học Mác - Lênin khẳng định con người là một thực thể sinh học - xã hội và mang bản chất xã hội
Mặt sinh học của con người được hiểu là, con người là một động vật cao
cấp nhất, là kết quả của sự tiến hóa lâu dài của bản thân giới tự nhiên Con người gắn bó hữu cơ với giới tự nhiên, là một bộ phận của thế giới tự nhiên, vận động
và phát triển gắn liền với thế giới tự nhiên Con người dù muốn hay không cũng phải chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên - sinh vật: di truyền, biến dị, trao đổi chất, sinh - lão - bệnh - tử Con người có những nhu cầu cơ bản - sinh tồn như:
ăn, uống, ở, đi lại, sinh con
Mặt xã hội của con người thể hiện ở chỗ, con người luôn tồn tại trong
cộng đồng xã hội, họ chịu sự quy định của các quy luật xã hội và các mối quan
hệ hết sức đa dạng trong xã hội Sự chi phối của hệ thống quy luật xã hội và quan hệ xã hội đối với con người dẫn tới hình thành những kiểu con người, kiểu
cá nhân cụ thể của mỗi thời đại lịch sử Chẳng hạn, con người ở thời kỳ nguyên thủy là con người tiến hành những hoạt động săn bắt, hái lượm; còn con người ở thời kỳ tư bản là con người gắn với sản xuất công nghiệp Mặt xã hội còn thể hiện ở những quy luật tự nhiên sinh tồn của con người không diễn ra một cách
Trang 34bản năng tự nhiên như các loài vật, mà các hoạt động sinh tồn hàng ngày đã được xã hội hóa, đã được phát triển một cách khoa học, tiến bộ mang bản chất xã hội Chẳng hạn hoạt động ăn uống trong sự phát triển của nó trở thành nghệ thuật
ẩm thực; hoạt động tạo chỗ ở trở thành khoa học kiến trúc; hoạt động di chuyển bằng đôi chân phát triển trở thành ngành giao thông hiện đại… Mặt tự nhiên sinh học của con người đã được mang bản chất xã hội
Bản chất xã hội của con người, như C.Mác quan niệm, là tổng hòa các mối quan hệ xã hội (xét trong tính hiện thực của nó) Do bản chất xã hội, mỗi con người luôn luôn tồn tại cụ thể, xác định, trong một điều kiện lịch sử - cụ thể nhất định Trong điều kiện lịch sử cụ thể đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình
Trong khi khẳng định bản chất xã hội của con người, triết học Mác - Lênin không phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người mà chỉ muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người với động vật trước hết ở bản chất xã hội Tất
cả các hoạt động sinh học của con người đều mang bản chất xã hội Con người giữ vai trò chủ thể trong mọi hoạt động Tuy nhiên bản chất con người và vai trò chủ thể của mỗi con người là khác nhau, từ đó tạo ra những nhân cách cá nhân con người trong xã hội Trong hai yếu tố mặt tự nhiên và mặt xã hội thì bản chất
xã hội là yếu tố quyết định hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người
Quan niệm về nhân cách con người:
Trong nghiên cứu khoa học thuật ngữ nhân cách (Personality) xuất phát từ tiếng Latinh cổ đại là Persona (cá tính) và tiếng Latinh trung cổ là Personalitas Nghĩa gốc là mặt nạ; chỉ vẻ bên ngoài của một cá nhân
Đến nay có rất nhiều ngành khoa học nghiên cứu về nhân cách và bản thân nhân cách là khái niệm có nội dung rất rộng Mỗi ngành khoa học nghiên
cứu về nhân cách ở những khía cạnh khác nhau
Khoa học Tâm lý có khá nhiều quan niệm về nhân cách Một số đại diện
tiêu biểu của Học thuyết tâm lý nhân cách đưa ra quan điểm riêng của mình Nhà
tâm lý học, bác sĩ tâm thần S.Feurd cho rằng, bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật của con người, nhân cách được coi như bản năng tính dục mà ai cũng
Trang 35có, chính bản năng đó chi phối hành động của mỗi người; Nhà nghiên cứu tâm lý C.G Jung xem nhân cách là sự vô thức tập thể G.Allport quan niệm: bản chất nhân cách là nhân tính con người; nhân cách là động cơ tự động điều hành hoạt động con người Điểm chung của những quan niệm vừa nêu là nhấn mạnh tính chất vốn có, bản năng, tự động của nhân cách Theo quan niệm này, nhân cách của mỗi người là đỉnh cao của sự phát triển cao nhất của tâm lý, của ý thức, có tính thuần túy sinh học, bẩm sinh, con người không thể chọn lựa, rèn luyện nhân cách cho mình, con người chịu sự chi phối tuyệt đối của những yếu tố bản năng, sinh học đó; nhân cách theo quan niệm này không liên quan hoặc liên quan rất mờ nhạt đến hoạt động sống, đến giáo dục, môi trường sinh sống, trưởng thành của con người
Một số nhà tâm lí học theo quan điểm mác - xít đã đưa ra những định nghĩa về nhân cách được sử dụng rộng rãi, chẳng hạn, theo A.G.Gôvaliôp:
“Nhân cách làm một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội
và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định”[114,155] E.V.Sôrôkhôva cho rằng: “Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lí đang qui định những hình thức hoạt động và những hành vi có
ý nghĩa xã hội”[114, 155]
A.V.Pêtơroopxki quan niệm: “Con người vượt ra khỏi giới động vật nhờ lao động và được phát triển trong xã hội, tham gia giao lưu với những người khác nhờ tiếng nói, đã trở thành nhân cách - chủ thể của nhận thức và cải tạo tích cực hiện thực” [114, 154]
Mặc dù hình thức, cách diễn đạt định nghĩa có sự khác nhau nhất định, nhưng các nhà tâm lí học mác - xít đều thống nhất: nhân cách là một hệ thống các quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh và với bản thân; nhân cách hình thành là do hoạt động, nó có tính xã hội - lịch sử Quan điểm này khác căn bản với S.Feurd, G.Allport, C.G Jung ở chỗ, không coi nhân cách là phạm trù thuần tâm lý, điều chỉnh hành vi con người một cách hoàn toàn bản năng mà coi nhân cách là một phạm trù xã hội Có thể thấy rằng đây là cách quan niệm hợp lý và đúng hơn với thực tế
Từ quan niệm về con người (như đã phân tích), triết học Mác – Lênin
xem xét con người tồn tại trong xã hội với tư cách là các cá nhân
Trang 36Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định và được phân biệt với các cá nhân khác bởi đặc điểm, trình độ, năng lực, chức năng xã hội mà họ thực hiện Các cá nhân hình thành nên xã hội Mỗi cá nhân sống và hoạt động trong các nhóm, cộng đồng và tập đoàn xã hội khác nhau, mang tính lịch sử do hoàn cảnh lịch sử chi phối Yếu tố xã hội là đặc trưng
cơ bản để hình thành nên cá nhân
Cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất vừa mang tính cá biệt vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động của quan hệ xã hội và của quá trình nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội Mỗi cá nhân có đời sống riêng, có những quan
hệ xã hội nhất định; có vị trí, vai trò; trách nhiệm, nghĩa vụ và quan hệ lợi ích riêng nhưng nằm trong khía cạnh, tính chung của mỗi cá nhân trong xã hội và mang bản chất xã hội
Trong mối quan hệ với xã hội, cá nhân có những đặc trưng cơ bản: cá nhân là biểu hiện tồn tại cụ thể của loài người, không có con người nói chung
mà chỉ có con người cá nhân cụ thể; cá nhân là phần tử đơn nhất, riêng lẻ, tạo thành cộng đồng xã hội, là cơ sở hình thành lịch sử xã hội loài người; cá nhân
là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách, biểu hiện trong phẩm chất sinh lý và tâm lý riêng biệt của mỗi con người; trong mối quan hệ với xã hội cá nhân là một hiện tượng lịch sử vận động và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, cho nên cá nhân không bao giờ tách rời xã hội, mỗi điều kiện hoàn cảnh lịch
sử sản sinh ra một kiểu cá nhân đặc thù thậm chí đi ngược lại tính đặc thù của
xã hội đó [11, 477]
Như vậy, cá nhân là con người với những nhân cách riêng được quy định về mặt xã hội Triết học Mác - Lênin xem nhân cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, bị quy định bởi những điều kiện lịch sử - cụ thể của đời sống xã hội Với tinh
thần đó: “nhân cách là những phẩm chất, những trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong của từng cá nhân Đó là thế giới của cái “tôi”do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội hết sức riêng biệt tạo nên để cá nhân đó có thể tồn tại và hoàn thành trách nhiệm của mình đối với bản thân và xã hội” [10, 264]
Hay: “Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân Bởi vậy nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa cá thể với giống loài thì nhân cách là khái niệm
Trang 37chỉ sự khác biệt giữa các cá nhân Cá nhân là phương thức biểu hiện của giống loài còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểu hiện của mỗi cá nhân riêng biệt.” [11, 476]
Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng quan tâm nghiên cứu và xây dựng khái niệm nhân cách Đại biểu tâm lý học nhân cách Việt Nam - Nguyễn Ngọc
Bích cho rằng: nhân cách là toàn bộ mối quan hệ của cá nhân con người; nhân cách được hiểu đồng nhất với khái niệm con người; nhân cách được hiểu như cá nhân con người với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức.[5, 119]
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Uẩn: “Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.” [114, 155 ]
Từ điển Tâm lý do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên đưa ra định nghĩa :
“nhân cách là tổng hòa tất cả những gì hợp thành một con người, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét: đặc điểm thể chất, tài năng, phong cách, ý chí đạo đức, vai trò xã hội, là một cá nhân có ý thức về bản thân, đã tự khẳng định được, giữ được phần nào tính nhất quán trong mọi hành vi” [123, 190]
GS Phạm Minh Hạc cũng đưa ra định nghĩa về nhân cách như sau: “Nhân cách là tổ hợp các thái độ, thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của từng người với tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với bản thân” [30, 21]
Trong Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên, nhân cách được định nghĩa là “tư cách và phẩm chất, đạo đức của con người”
Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa nhân cách: “bộ mặt tâm lý, tổ hợp thái độ riêng, thuộc tính riêng biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạt động, giao tiếp Người ta sinh ra là người nhưng nhân cách chỉ hình thành trong hoạt động và giao tiếp Về thực chất, đó là quá trình xã hội hóa cá nhân, tiếp thu các giá trị văn hóa của gia đình, cộng đồng, xã hội và tăng dần (hay ngược lại) mức phù hợp thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị cùa bản thân và cộng đồng, xã hội Nhân cách mang tính xã hội đồng thời cũng mang tính cá biệt, với những kinh nghiệm, nếp suy nghĩ, tình cảm, hoài bão, niềm tin định hướng giá trị, tính cách riêng, tạo ra tính đa dạng của các nhân cách Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và hoạt động, giao tiếp giữ vai trò
Trang 38quyết định đối với diện mạo của nhân cách Lịch sử đã từng có những kiểu nhân cách khác nhau, đại diện cho kiểu văn hóa và lối sống khác nhau” [40, 231]
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm triết học và tâm lý học về
nhân cách, chúng tôi cho rằng: Nhân cách là phẩm chất và năng lực tạo nên cái
“tôi” của mỗi cá nhân; được tổng hợp từ các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội hình thành nên đặc trưng của mỗi cá nhân; trên cơ sở đó mỗi cá nhân trở thành chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định, tự điều chỉnh các hành vi, hoạt động của mình
Nhân cách con người biểu hiện sinh động trong một cá nhân cụ thể Nhân cách biểu hiện cái “tôi” của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng về di truyền, về sinh lý thần kinh, về hoàn cảnh sống của cá nhân theo cách riêng của mình Mỗi cá nhân tiếp thu những giá trị phổ biến của văn hóa xã hội, từ đó, thông qua sự tự chọn lọc, tự tiếp nhận của
cá nhân để hình thành các giá trị định hướng cho sự tồn tại và phát triển của mình Các giá trị như lý tưởng, niềm tin, quan hệ lợi ích, nhận thức về hành động được mỗi cá nhân lựa chọn để xác lập các hành vi cụ thể, hình thành nhân cách trong quan hệ xã hội
Nhân cách là khái niệm được sử dụng hàng ngày trong cuộc sống để nhìn nhận, đánh giá về những giá trị bản thân một con người cụ thể hay cũng có thể đánh giá, nhận xét một nhóm, một tầng lớp người nào đó trong xã hội Vậy thông thường có thể hiểu nhân cách là những giá trị làm người; là tổng hòa các phẩm chất làm người và năng lực của cá nhân Nhưng trong đó yếu tố được đa số mọi người đánh giá quan trọng và quyết định một nhân cách cá nhân có lẽ chính là những phẩm chất làm người Bởi trong cuộc sống hàng ngày dễ gặp phải những
nhận xét: “tài, giỏi mà không có nhân cách”; “giỏi mà nhân cách có vấn đề”…
Tuy nhiên 2 yếu tố phẩm chất, năng lực hay “đức”, “tài” có mối quan hệ bổ sung,
hỗ trợ lẫn nhau tạo nên nhân cách một con người Vậy nhân cách là tổng hòa các giá trị phẩm chất, năng lực cá nhân được xã hội ghi nhận và đánh giá
1.1.1.2 Cấu trúc của nhân cách:
Cấu trúc nhân cách là sự liên kết của các yếu tố tâm lý con người vừa có tính thống nhất, ổn định vừa có tính linh hoạt, đa dạng; mỗi cách liên kết và tác động các yếu tố tâm lý khác nhau sẽ hình thành nên những nhân cách khác nhau
Trang 39Trên góc độ tâm lý, một số nhà nghiên cứu, điển hình là A.G Côvaliov cho rằng “cấu trúc của nhân cách bao gồm: các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý cá nhân” [114,158]
Một số nhà tâm lý học khác quan niệm nhân cách gồm 4 nhóm tâm lý điển hình: xu hướng, năng lực, tính cách, khí chất “Cũng giống như một véc tơ lực có phương, chiều, cường độ và tính chất của nó; xu hướng nói lên phương hướng phát triển của nhân cách; năng lực nói nên cường độ của nhân cách; tính cách, khí chất nói lên tính chất phong cách của nhân cách” [114, 80]
Từ những quan niệm trên, có thể thấy cấu trúc nhân cách đa dạng và phức tạp, bao gồm nhiều thành tố có mối quan hệ ràng buộc ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau; từ đó hình thành lên những nhân cách cá nhân tồn tại ở một mô hình tương đối ổn định nhưng cũng có sự linh hoạt cơ động
Ở nước ta khi nghiên cứu về nhân cách phần lớn các nhà nghiên cứu sử dụng mô hình “đức” - phẩm chất và “tài” - năng lực Trong đó phẩm chất xã hội (đức) bao gồm phẩm chất chính trị, tức là thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập trường, thái độ chính trị, thái độ lao động; phẩm chất cá nhân; phẩm chất ý chí; cung cách ứng xử Năng lực (tài) là năng lực xã hội hóa; năng lực khách thể hóa; năng lực hành động; năng lực giao tiếp
Theo quan niệm của Tâm lý học hiện đại, hai thành phần “đức” và “tài” cũng được coi như phẩm chất rất quan trọng của nhân cách và sự sắp xếp những động cơ chủ đạo theo những thứ bậc thành một đường hướng nhất định sẽ quyết định xu hướng phát triển của nhân cách con người
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới con người và nhân cách con người, cuộc đời của Người là minh chứng cho một nhân cách vĩ đại Người đề cập đến
thuật ngữ nhân cách: “Muốn giữ vững nhân cách, tránh khỏi hủ hóa, thì phải thực hành bốn chữ, đó là Cần, Kiệm, Liêm, Chính” [69, 122], Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là cái gốc của nhân cách, Người đã viết: “Cũng như sông chỉ có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [69, 416] Sau này, trong
nhiều dịp khác, Người luôn luôn nhấn mạnh đến đạo đức cách mạng Tuy nhiên, khi coi trọng và nhấn mạnh đến cái Đức của con người, Hồ Chí Minh không hề
Trang 40đối lập nó với cái Tài: “Có Tài mà không có Đức, tham ô hủ hóa thì chỉ có hại cho nước Có Đức mà không có Tài ( ), không giúp ích được cho ai”[79,347]
Quan niệm của Hồ Chí Minh là sự phát triển sáng tạo quan niệm truyền thống dân tộc và phù hợp với cách hiểu phổ biến của nhân dân ta về giá trị con người, trong đó đề cao giá trị đạo đức Đó là quan niệm cách mạng và khoa học,
kế thừa được tinh hoa truyền thống nhưng cũng đồng thời loại bỏ được những yếu tố cũ, lạc hậu mang bản chất phong kiến trong quan niệm truyền thống Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị về mặt đạo đức học mà còn đặt nền tảng
để xây dựng khoa học nhân cách mang bản sắc Việt Nam
Trên cơ sở quan điểm tâm lý học hiện đại; kế thừa quan điểm triết học Mác – Lênin về bản chất, vai trò, nhân cách con người; tư tưởng Hồ Chí Minh,
tác giả luận án quan niệm cấu trúc nhân cách bao gồm phẩm chất và năng lực
Trong đó:
Phấm chất bao gồm những yếu tố làm nên giá trị, tính chất bên trong con
người, được tổng hợp từ các phương diện sinh học, tâm lý, xã hội; để góp phần
hình thành nên nhân cách cá nhân
Phẩm chất của mỗi cá nhân thể hiện ở đạo đức, thế giới quan, lối sống, trách nhiệm, kỷ luật …
Phẩm chất được hình thành từ các yếu tố sinh học - thể chất, tâm lý, xã
hội Đặc điểm sinh học - thể chất, tâm lý là tình trạng của sức khỏe tâm lý, sinh
lý, hệ thần kinh của mỗi cá nhân Đây là điều kiện vật chất có vai trò quan trọng đối với nhân cách mỗi cá nhân, là điều kiện rất quan trọng quyết định chất lượng cuộc sống, nhân cách, sự thành công, sự hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người
Đặc điểm xã hội của cá nhân thể hiện ở yếu tố đạo đức, thế giới quan, lập trường, lối sống, quan niệm thẩm mỹ …trong các mối quan hệ của cá nhân với
cộng đồng
Đạo đức là yếu tố quan trọng nhất tạo nên phẩm chất của con người Đó
là những quan niệm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự đánh giá và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của mình và của xã hội Đối với mỗi cá nhân, đạo đức biểu hiện tình yêu thương con người,