MỤC LỤC PHẦN I: BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA 1 BẢN CHẤT KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ThS Đỗ Thị Thanh Hà Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA
1
BẢN CHẤT KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC - LÊNIN
ThS Đỗ Thị Thanh Hà Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
2
2
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN – NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ
NAM CHO HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ThS Nguyễn Hồ Thanh
Bộ môn Giáo dục quốc phòng, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
ThS Dương Thị Bích Thủy Trường Chính trị Tôn Đức Thắng An Giang
7
3
CHỦ NGHĨA GIÁO ĐIỀU – BIỂU HIỆN TRÁI NGƯỢC BẢN CHẤT
KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
ThS Nguyễn Văn Nòn
Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
16
4
TƯƠNG LAI CỦA CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI NHÌN TỪ GÓC
ĐỘ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 (CMCN 4.0)
ThS Hoàng Thị Kim Liên
Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
ThS Võ Thị Như Huệ
Trường Đại học Quảng Nam
24
5
HỌC THUYẾT MÁC VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN
DIỆN VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC TOÀN DIỆN Ở TRƯỜNG ĐẠI
HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY
TS Trần Đình Phụng Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
29
Trang 26
QUAN ĐIỂM MÁC - LÊNIN VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ
ThS Đỗ Công Hồng Ân Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
39
7
GIÁ TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRONG TIẾN
TRÌNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1920 ĐẾN NAY)
ThS Võ Thị Như Huệ; ThS Hoàng Thị kim Liên
Trường Đại học Quảng Nam
48
8
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THEO MÔ HÌNH DÂN CHỦ NHÂN DÂN –
THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
ThS Nguyễn Thành Tín Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
73
PHẦN II: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA
HỌC MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 81
11
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ BỘ MÔN
CHÍNH TRỊ - PHÁP LUẬT TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
ĐÀ NẴNG
ThS Lê Đức Thọ Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng
89
Trang 3MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC
TẬP CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VIỆC HỌC CÁC MÔN KHOA
HỌC MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY
Nguyễn Thị Tú Trinh Trường Đại học Quảng Nam
102
15
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY CÁC
MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG
NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
ThS Nguyễn Thị Thanh Mai Khoa Các Môn chung - Trường Đại học Quảng Nam
110
16
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC MÁC - LÊNIN CHO SINH
VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG HIỆN NAY
Nguyễn Văn Thúc
Bộ môn Giáo dục quốc phòng, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
116
17
GIÁO DỤC NIỀM TIN ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Huỳnh Ngọc An Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
124
18
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY, HỌC TẬP TRIẾT
HỌC MÁC - LÊNIN Ở ĐẠI HỌC AN GIANG HIỆN NAY
ThS Đỗ Công Hồng Ân Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
131
19
KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀO
VIỆC GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
Nguyễn Thị Minh Hải Phòng Thanh tra - Pháp chế, Trường ĐH An Giang, ĐHQG-HCM
137
Trang 420
GIÁ TRỊ CỦA TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG VIỆC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA
HỌC MÁC - LÊNIN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG HIỆN
NAY
ThS Từ Thị Thanh Mỵ Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
143
21
CÁCH TIẾP CẬN MỚI MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG MÔN HỌC
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN CHƯƠNG TRÌNH KHÔNG
CHUYÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ THEO TINH THẦN ĐỔI MỚI
CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ThS Nguyễn Thị Thanh Mai Khoa Các Môn chung - Trường Đại học Quảng Nam
149
22
NHỮNG YÊU CẦU TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Bùi Văn Tuyển
Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
154
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Hội thảo khoa học với chủ đề “Bản chất cách mạng và khoa học của chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” đã nhận được tổng cộng 22 bài viết
có giá trị của các tác giả từ các trường Đại học, Cao đẳng, Học viện trong nước Nội dung bài viết rất phong phú, đa dạng xoay quanh chủ đề, gồm 2 phần cụ thể:
Phần I: Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Phần II: Nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay
Trong quá trình biên tập bài viết, Ban biên tập chỉ chỉnh sửa lỗi kỹ thuật, chính tả và một số lỗi câu cho rõ nghĩa Còn nội dung của bài viết, Ban biên tập nhất trí với quan điểm của tác giả Bản quyền thuộc về Trường Đại học An Giang, tuy nhiên quan điểm trình bày trong kỷ yếu này là quan điểm của tác giả Trường Đại học An Giang không đảm bảo tính chính xác của các dữ liệu trình bày trong kỷ yếu và không chịu bất cứ trách nhiệm nào do việc sử dụng các dữ liệu này gây ra
Thay mặt Ban tổ chức Hội thảo khoa học, chúng tôi chân thành cám ơn sự hợp tác của các tác giả, các nhà khoa học, các giảng viên, sinh viên và sự hợp tác của các thành viên tổ chức Hội thảo
Trân trọng!
BAN BIÊN TẬP
Trang 71
PHẦN I BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ KHOA HỌC
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Trang 82
BẢN CHẤT KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
ThS Đỗ Thị Thanh Hà
Tóm tắt: Nói tới chủ nghĩa Mác - Lênin là nói tới thế giới quan, hệ tư tưởng, phương
pháp luận của giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Việc nghiên cứu và làm sáng tỏ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin chẳng những cần thiết cho việc đổi mới nhận thức lý luận, phát triển lý luận mà còn cung cấp những luận chứng khoa học góp phần trong cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận trên thế giới hiện nay, nhằm bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Từ khóa: Cách mạng; chủ nghĩa Mác – Lênin; khoa học
1 Mở đầu
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm lý luận và phương pháp luận khoa học được kế thừa và phát triển những giá trị của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở hiện thực của thời đại Đây là “học thuyết duy nhất từ trước đến nay đặt mục tiêu, chỉ rõ con đường giải phóng triệt để cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên
giá trị bền vững và là di sản vô giá sống mãi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ chỉ nam cho hành động của Đảng cùng cách mạng Việt Nam Bản thân chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất,
học và cách mạng không tách rời nhau, trong tính khoa học đã bao hàm tính cách mạng và ngược lại Bởi lẽ, tính khoa học đòi hỏi phải chỉ ra được quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử, ngoài ra nó còn đấu tranh chống lại mọi sự lạc hậu, phản động, bảo thủ Tính cách mạng đòi hỏi phải xây dựng xã hội để chống lại xã hội cũ nhất thiết phải tôn trong và hành động theo quy luật khách quan, tức dựa vào khoa học Thêm nữa, cần nhận thấy, bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin mang tính mở, không cứng nhắc, không bất biến mà đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới theo sự phát triển của dòng chảy trí tuệ của nhân loại Tức nó gắn liền với phong trào cách mạng, với thực tiễn vận động của lịch sử
Trang 93
2 Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
2.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận khoa học, thể hiện trong toàn bộ các nguyên lý cấu thành học thuyết
Ba bộ phận cấu thành nên chủ nghĩa Mác - Lênin là Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học đều là những hệ thống lý luận khoa học thống nhất về mục tiêu, biện pháp, con đường thực hiện sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới thoát khỏi sự áp bức bất công, xây dựng
xã hội mới tốt đẹp hơn Ba bộ phận này không hoạt động tách rời, riêng lẻ mà nó là một chỉnh thể thống nhất với đầy đủ nội dung cốt lõi của toàn bộ học thuyết Mác - Lênin
Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết với sự sáng lập của C.Mác và
Ph.Ăngghen đã kế thừa có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các nhà triết học trước Mác nếu họ tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng thì các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
đã làm cuộc cách mạng triệt để trong lĩnh vực triết học khi sáng lập một nền triết học mới gắn kết chặt chẽ hai yếu tố đó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất Phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện đầy đủ trong tự nhiên, xã hội và tư duy với
tư cách là phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới, phương pháp này thấm sâu vào từng
bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác - Lênin, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ học thuyết Mác - Lênin với tư cách là một chỉnh thể nhất quán không thể tách rời
Ngoài ra, vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, chủ nghĩa Mác - Lênin đã mở ra một sự đột phá mang tính cách mạng và ý nghĩa lịch sử trong toàn bộ quan niệm về xã hội loài người đó chính là chủ nghĩa duy vật lịch sử, làm cho chủ nghĩa duy vật biện chứng trở nên hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức toàn bộ xã hội loài người Trong đó học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội được xem là một trong những phát kiến vĩ đại của các ông Đây là cơ sở vững chắc để xem xét sự phát triển của xã hội như một quá trình lịch sử -
tự nhiên với sự phát triển trước hết của lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định trong việc thay đổi phương thức sản xuất, dẫn đến thay đổi toàn bộ quan hệ xã hội và chế độ xã hội cũng như sự thay đổi từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội
khác
Thứ hai, trên phương diện kinh tế chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm một bước
đột phá về tư duy lý luận khi đưa ra luận điểm về học thuyết giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản Quan điểm trên đã chỉ ra quy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản, vạch trần bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư do sức lao động của những người lao động làm thuê tạo ra Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng bóc lột giá trị thặng dư là bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa tư bản, là đầu mối của mọi
mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
Thứ ba, nghiên cứu từ thực tế và điều kiện kinh tế - xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã
đưa ra học thuyết về vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản Các ông chỉ ra rằng:
“Trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai
Trang 104
cấp thật sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công
năng giác ngộ về vai trò sứ mệnh lịch sử của mình để giải phóng toàn bộ xã hội khỏi chế
độ tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
2.2 Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất nêu lên mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với con đường, lực lượng và phương thức rõ ràng để đạt được mục tiêu đó
Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất đặt ra mục tiêu, chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới thoát khỏi tình trạng bị nô dịch và bóc lột Đồng thời cũng chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng trên là giai cấp công nhân cùng với sự liên minh với toàn thể nhân dân lao động để đem lại thắng lợi cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tiến tới chủ nghĩa cộng sản Mặt khác, các ông chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát triển xã hội, đó là quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác không phải diễn ra một cách tự phát mà phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp
Từ quá trình nghiên cứu mâu thuẫn nội tại trong lòng xã hội tư bản, chủ nghĩa Mác - Lênin đưa ra những quan điểm về cách mạng vô sản, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản trong cuộc chiến giành chính quyền để xây dựng xã hội mới Lý luận về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đã nghiên cứu những điều kiện lịch sử và những quy luật lật đổ xã hội tư sản, xây dựng xã hội cộng sản Nó làm sáng tỏ vai trò của giai cấp vô sản và quần chúng lao động do Đảng Cộng sản lãnh đạo trong quá trình đấu tranh nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng hình thái kinh tế - xã hội mới: chủ nghĩa cộng sản Đặc biệt, khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền và chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã phát hiện ra quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản Từ đó, người đưa ra dự báo rằng “cách mạng
vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi ở một nước (có thể vài nước), nơi tập trung những mâu thuẫn gay gắt nhất của nhân loại và cũng là nơi có lực lượng cách mạng to lớn, phong trào
hiện thực với thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại 1917
Bên cạnh đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin còn chỉ ra rằng để chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản được xây dựng thành công còn tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm riêng của từng quốc gia, dân tộc và cần trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, những giai đoạn đó đều khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực của bản thân giai cấp công nhân, toàn thể nhân dân cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng tiên phong Về vấn đề này, vận dụng vào Việt Nam, Đảng ta cũng từng nhận định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự
1
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 610
2 Nguyễn Thế Nghĩa & Thái Thị Thu Hương (đồng chủ biên, 2014), Những vấn đề cơ bản và cấp bách của Triết học Mácxít, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 296
Trang 115
nghiệp khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều
Như vậy, có thể thấy, chủ nghĩa Mác - Lênin đã dựa trên điều kiện thực tiễn cùng quá trình nghiên cứu trực tiếp sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa để tìm ra quy luật mang tính khoa học và cách mạng về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng như thắng lợi của chủ nghĩa xã hội như một tất yếu khách quan thông qua cuộc cách mạng xã hội
2.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mở không ngừng đổi mới, phát triển trong điều kiện thực tiễn của thế giới
Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin còn được thể hiện bởi
sự đổi mới và phát triển của một hệ thống mở gắn liền với tri thức của nhân loại C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin từng khẳng định học thuyết của các ông không phải là cái đã xong xuôi Ph.Ăngghen đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, lý luận của chúng tôi không phải giáo điều, mà là kim chỉ nam cho hành động, về phía V.I.Lênin, ông cũng nêu quan điểm:
“Tuyệt đối không coi lý luận của C.Mác là một cái gì đó nhất thành bất biến và thần thánh hóa không thể xâm phạm, hoàn toàn trái lại, chúng ta tin rằng nó chỉ đặt cơ sở cho một khoa học, những người xã hội chủ nghĩa nếu không muốn lạc hậu với đời sống thực tế, cần
Chủ nghĩa Mác - Lênin thật chất không phải “là liều thuốc vạn năng được bốc sẵn để chữa trị mọi căn bệnh trong
Do
đó, học thuyết Mác - Lênin là học thuyết mở, theo nghĩa là nó “luôn được nạp năng lượng
Hiện nay, công việc phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là trách nhiệm của thế
hệ kế tiếp Mặt khác, khi vận dụng các nguyên lý cơ bản của học thuyết Mác - Lênin, nhất thiết phải dựa vào điều kiện lịch sử - cụ thể của từng nước trong từng thời kỳ cách mạng để vận dụng một cách sáng tạo và phát triển không ngừng
Tuy nhiên, cần nhận thấy, dù là học thuyết mở và cần có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới nhưng thế giới quan, phương pháp luận, nội dung mang tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn luôn là chân lý bền vững, đã, đang và
sẽ là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động đối với tất cả các cuộc cách mạng lấy con người làm mục đích cuối cùng từ khi ra đời đến nay
3 Thay lời kết
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin tạo nên những biến chuyển có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Lần đầu tiên giai cấp vô sản trên thế giới có một
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia,
Trang 126
lý luận tiên phong mang bản chất khoa học, cách mạng, soi sáng, dẫn đường Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng để giai cấp công nhân nhận thức, cải tạo thế giới, đưa nhân dân lao động từ địa vị nô lệ trở thành chủ nhân của chế độ xã hội mới Toàn bộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị bền vững trong sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa tính đảng và tính khoa học, sự thống nhất giữa triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của điều kiện kinh tế - xã hội, học thuyết Mác - Lênin đang đứng trước thời cơ và thách thức Do vậy, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, bảo vệ tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin trong xã hội hiện đại không chỉ là sự phát triển tự thân của chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn là đòi hỏi cấp bách đối với những người Mác- xít chân chính trong thời đại ngày nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hoàng Chí Bảo, Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2010)
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (1995) [3] Nguyên Bá Dương Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác, Nxb
Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, (2018)
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2001)
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2002)
[6] Nguyễn Thế Nghĩa & Thái Thị Thu Hương, Những vấn đề cơ bản và cấp bách của Triết học Mácxít, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2014)
[7] Mạch Quang Thắng, “Một số điểm nhận thức trên tư duy mới về chủ nghĩa Mác”,
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, 2015, số 3, 3-11
Trang 137
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN – NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM
CHO HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ThS Nguyễn Hồ ThanhThS Dương Thị Bích Thủy
Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ sở và những giá trị bền vững khẳng định chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nguyên tắc của Đảng, là nguyên nhân mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Qua đó, đề xuất một số nguyên tắc cần quán triệt khi vận dụng, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin hiện nay
Từ khóa: Chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam, Đảng Cộng sản
Việt Nam
1 Đặt vấn đề
Thực tiễn và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta nói chung cũng như sự trưởng thành, lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 90 năm qua nói riêng là kết quả tổng hợp của rất nhiều yếu tố Nhưng có một thực tế không thể phủ nhận, đó là nhờ Đảng
ta đã được vũ trang bằng lý luận cách mạng và khoa học: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh Trong thời kỳ cách mạng mới, việc tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam vẫn là một tất yếu khách quan, là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết Đảng Cộng sản Việt Nam “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, thể hiện bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Đảng, thể hiện lập trường kiên định của Đảng trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của tình hình, đồng thời là tiêu chuẩn cơ bản phân biệt Đảng Cộng sản với các đảng phái khác
2 Cơ sở khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến rất nhiều nơi, từ Pháp, Người đã đến nhiều nước khác ở Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ Và Người đã đến quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với bản
Bộ môn Giáo dục quốc phòng, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
Trường Chính trị Tôn Đức Thắng An Giang
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 4
Trang 148
Luận cương của Lênin và như Người đã nói: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái
Trong quá trình vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Người tiếp tục khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ
Tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử hoạt động lãnh đạo của Đảng và của quá trình xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XI (1/2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp
tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
Khẳng định trên được xây dựng trên những cơ sở:
2.1 Xuất phát từ tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
2.1.1 Cơ sở của tính cách mạng và tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin có căn cứ cơ sở khoa học, là một hệ thống các quan điểm lý luận và phương pháp khoa học, khách quan được kết tinh và là đỉnh cao thành tựu trí tuệ của loài người, của tinh hoa văn hóa nhân loại
Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi nô dịch và bóc lột, khỏi đói nghèo và tha hóa về nhiều mặt Đồng thời, học thuyết đó chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển
xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niềm tin vào khả năng
và sức mạnh của chính mình
Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện đây là học thuyết mở không cứng nhắc, bất biến, mà đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới, phát triển trong dòng phát triển trí tuệ của nhân loại Toàn bộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị bền vững xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học và nhân đạo Chủ nghĩa Mác - Lênin sống mãi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới và là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam
2.1.2 Sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học trong chủ nghĩa Mác - Lênin
Tính khoa học - khách quan; tính cách mạng - chống cái cũ, bảo thủ, xây dựng cái mới Thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học trong chủ nghĩa Mác-Lênin là thống nhất biện chứng Tính khoa học đã bao hàm và đòi hỏi trong nó tính cách mạng, bởi
1
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 562
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr.563
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr 88
Trang 159
lẽ khoa học phải bảo vệ cái mới hợp quy luật; ngược lại tính cách mạng cũng đòi hỏi và bao hàm trong nó tính khoa học, bởi lẽ có khách quan, khoa học mới xây dựng được cái mới hợp quy luật
2.2 Chủ nghĩa Mác - Lênin là một nhân tố quyết định sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Chủ nghĩa Mác - Lênin là bộ phận cấu thành, giữ vai trò then chốt, quyết định sự ra đời của Đảng
Chỉ từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng sáng tạo, truyền bá vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước mới làm cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhận thức được bản chất bóc lột, thối nát của chế độ thực dân, phong kiến và nhận thức được vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình Từ đó, làm chuyển biến phong trào công nhân từ tự phát lên tự giác, phong trào yêu nước từ lập trường dân tộc sang lập trường giai cấp Chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa giai cấp công nhân Việt Nam lên vũ đài chính trị và trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng thông qua lãnh tụ chính trị, đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam
2.3 Thực tiễn hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và các đảng cộng sản khác trên thế giới
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành
và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, coi đây là cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong xây dựng và hoạt động của Đảng Vì vậy, Đảng luôn có cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược… đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Lịch sử chứng minh, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng thì sẽ lúng túng trong hoạch định chủ trương, đường lối, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong hành động Thực tiễn cách mạng nước ta cũng chứng minh trong mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi lĩnh vực công tác, mỗi địa phương nếu xa rời hay vận dụng một cách giáo điều, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin thì kết quả lãnh đạo của Đảng ở giai đoạn đó, lĩnh vực đó, nơi
đó bị hạn chế, cách mạng sẽ khó khăn, thậm chí thất bại
Kinh nghiệm ở Liên Xô, Đông Âu đã chứng minh quan điểm đúng đắn của Đảng ta: mọi thành công hay thất bại của cách mạng đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, bất cứ nơi nào và lúc nào, đảng nào xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách giáo điều, duy ý chí, vi phạm những nguyên lý
về đảng của giai cấp công nhân, thì nhất định trước sau đảng đó sẽ phạm sai lầm, đội ngũ đảng chia rẽ, mất uy tín trước quần chúng và có thể đưa cách mạng đến thất bại Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng, phát triển sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã trải
Trang 1610
qua nhiều thử thách, trở thành một đảng mácxít kiên cường, vững vàng trước những biến
Hiện nay bọn cơ hội xét lại và giai cấp tư sản đang tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có học thuyết về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân, thì việc nghiên cứu nắm vững thực chất những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin càng có ý nghĩa to lớn, giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nắm vững những cơ sở lý luận để quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới, chính sách, góp phần xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh
3 Những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin - cơ sở, nền tảng tư tưởng
lý luận, kim chỉ nam cho hành động cách mạng đối với lịch sử phát triển của cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam
3.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết phát triển
Về bản chất, chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết phát triển, là hệ thống mở với bản chất vốn có là luôn luôn được bổ sung, phát triển Ph Ăngghen đã chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải
V I Lênin bổ sung, phát triển nhiều luận điểm của chủ nghĩa Mác cho phù hợp với điều kiện thực tiễn cũng như sự phát triển của khoa học cùng với cuộc đấu tranh chống lại các loại hình kẻ thù của chủ nghĩa Mác V.I Lênin khẳng định: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc
những nước kinh tế lạc hậu
Sớm xóa bỏ kinh tế thị trường; kinh tế kế
hoạch hóa tập trung; một hình thức sở hữu
công cộng (nhà nước)
Kinh tế nhiều thành phần; kết hợp kế hoạch với thị trường; chấp nhận đa dạng hóa hình thức sở hữu trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu
1
Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 42-43
2 C Mác và Ph Ănghen (1995), Toàn tập, t.36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 776
3 V I Lênin (1974), Toàn tập, t.4, Nxb Tiến bộ, Matxcơva-Sự thật, tr 232
Trang 1711
bức đoàn kết lại
Và khi khẳng định lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận phát triển không có nghĩa
là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin không ổn định Có những luận điểm
cụ thể nào đó do thực tiễn chính trị - xã hội, cũng như do sự phát triển của kinh tế, của khoa học, đã đổi thay mà cần phải được bổ sung, phát triển, thậm chí loại bỏ
3.2 Chủ nghĩa nhân văn vì con người
Chủ nghĩa Mác - Lênin xuất phát từ con người và cũng nhằm mục đích giải phóng con người Chủ nghĩa Mác - Lênin không có mục tiêu nào khác là giải phóng con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột Nhưng để giải phóng con người, trước hết phải giải phóng giai cấp công nhân Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng tỏ ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa nhân văn vì con người của chủ nghĩa Mác - Lênin
3.3 Phương pháp biện chứng duy vật
Cho đến nay nhân loại đã biết tới nhiều phương pháp nhận thức khác nhau nhưng hiện tại chưa có phương pháp nào có thể thay thế được phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin Phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa trong lịch sử phát triển của phương pháp biện chứng từ thời cổ đại đến thời đại của Mác
Phương pháp biện chứng duy vật còn được bổ sung bởi những thành tựu vĩ đại của khoa học tự nhiên đương thời cũng như cơ sở thực tiễn là phong trào đấu tranh cách mạng của phong trào công nhân thế giới Các nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển, lịch
sử - cụ thể và thực tiễn của Phương pháp biện chứng duy vật vẫn còn nguyên giá trị phương pháp luận khoa học Cụ thể:
Một là, nguyên tắc khách quan
Nguyên tắc này yêu cầu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan; tôn trọng quy luật khách quan, hành động theo quy luật khách quan; nhìn thẳng vào sự thật; xem xét sự vật một cách trung thực như nó vốn có, không tô hồng, không bôi đen Chống chủ quan duy ý chí Không lấy mong muốn chủ quan thay cho hiện thực khách quan
Hai là, nguyên tắc phát triển
Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật trong sự vận động, biến đổi, phát triển Chống bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới, yêu cầu phải tin tưởng tương lai; Trong thực tiễn phải
có tầm nhìn chiến lược, dự báo được các tình huống có thể xảy ra để có các phương án dự phòng tối ưu; nếu có khó khăn thất bại tạm thời phải bình tĩnh, tự tin tin vào tương lai vì quy luật chung là phát triển đi lên
Trang 1812
Ba là, nguyên tắc toàn diện
Nguyên tắc này đòi hỏi xem xét sự vật phải xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật Tuy nhiên, cần phải có trọng tâm, trọng điểm Trong hoạt động thực tiễn muốn giải quyết vấn đề gì phải thực hiện đồng bộ các giải pháp Chống bệnh phiến diện cực đoan, một chiều Chống chiết trung, ngụy biện dàn đều bình quân chủ nghĩa
Bốn là, nguyên tắc lịch sử - cụ thể
Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật phải vừa cụ thể (trong không gian, thời gian xác định, mối liên hệ cụ thể) vừa lịch sử (trong hoàn cảnh lịch sử, tính lịch sử, điều kiện lịch sử cụ thể) Chống giáo điều, rập khuôn, máy móc, chung chung đại thể
Năm là, nguyên tắc thực tiễn
Xem xét sự vật gắn với nhu cầu thực tiễn Lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của lý luận, chủ trương, đường lối Coi trọng tổng kết thực tiễn, để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận Chống bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí
3.4 Quan niệm duy vật về lịch sử
Quan niệm duy vật về lịch sử này đã chấm dứt sự lộn xộn và tùy tiện vẫn thống trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị Quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác lần đầu tiên trong lịch sử đã thấy được căn nguyên của những động cơ vật chất, đặc biệt là động cơ lợi ích kinh tế trong hoạt động lịch sử của con người
Quan niệm duy vật về lịch sử cũng xuất phát từ trình độ phát triển của nền sản xuất vật chất xã hội để lý giải những quan niệm tư tưởng cũng như những điều kiện xã hội của của đời sống của quần chúng nhân dân cùng vai trò của họ trong lịch sử Quan niệm duy vật về lịch sử đã xem xét xã hội một cách chỉnh thể, toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế - xã hội
Quan niệm duy vật về lịch sử xuất phát từ đời sống vật chất để lý giải đời sống tinh thần của xã hội Quan niệm duy vật về lịch sử trong khi khẳng định vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, kinh tế đối với chính trị,… đã không hề hạ thấp mà còn nhấn mạnh sự tác động trở lại của đời sống tinh thần đến đời sống vật chất, của chính trị đối với kinh tế, Do vậy, chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác về bản chất cũng là chủ nghĩa duy vật biện chứng
3.5 Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
Học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế - xã hội mà điểm cốt lõi của nó là quy luật
về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất C Mác đã vận dụng quy luật này để phân tích về sự vận động và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa; đồng thời chỉ ra xu hướng phát triển tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa (giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa)
Học thuyết C Mác về hình thái kinh tế - xã hội đã được thực tiễn khắc nghiệt kiểm nghiệm Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cùng những thiếu
Trang 19Với những ý nghĩa đó, có thể nói rằng, không phải thời đại chúng ta đã bỏ qua học thuyết C Mác mà chính học thuyết C Mác đã vượt qua ngay cả thời đại chúng ta Điều đó không có nghĩa là mọi luận điểm mà học thuyết C Mác nêu ra đều đúng Nếu chỉ xét học thuyết C Mác trong phạm trù hình thái kinh tế - xã hội ta đã thấy rằng: cho đến nay chưa
ai có thể phủ nhận sự phân tích mác xít về tiến trình lịch sử Nhưng do những hạn chế thời đại của mình, C Mác và những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác chưa bao giờ luận chứng được rõ ràng, cụ thể lực lượng sản xuất mà xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cần phải thiết lập
3.6 Học thuyết giá trị thặng dư
C.Mác là nhà kinh tế học đầu tiên phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ông đã thành công trong việc chỉ ra nguồn gốc của giá trị thặng dư Các học giả tư sản dù muốn cũng chưa một ai đưa ra được một lý thuyết nào khả
dĩ có thể bác bỏ được học thuyết giá trị thặng dư của C Mác
G Sôrốt là nhà tỷ phú đầu cơ chứng khoán, một người chống chủ nghĩa Mác nhưng cũng phải thừa nhận: “C Mác và Ph Ăngghen đã cho một phân tích rất tốt về hệ thống tư
Trong giai đoạn hiện nay, cần bổ sung (sở hữu trí tuệ, bản quyền; quảng cáo; quản lý phí của chính nhà tư bản, ) nhưng về bản chất học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị khoa học
3.7 Về vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân
C Mác và Ph Ăngghen đã chỉ rõ, trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp
tư sản chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng có vai trò, sứ mệnh lịch sử lật
đổ giai cấp tư sản thiết lập một chế độ xã hội mới không còn người bóc lột người Mặc dù cuộc sống có tiến bộ hơn, nhưng bản thân người công nhân hiện đại vẫn là người làm thuê hiện đại, vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư
Xét về nội dung kinh tế giai cấp công nhân vẫn là chủ thể chủ yếu của quá trình sản xuất vật chất trong nền công nghiệp hiện đại, vẫn là người gắn với lực lượng sản xuất hiện đại, có những phẩm chất như tinh thần đồng đội, tập thể, có tầm nhìn xa trông rộng, có tính
kỷ luật cao, có khả năng quy tụ, lãnh đạo các giai cấp khác Xét về nội dung chính trị - xã hội cho thấy chỉ có giai cấp công nhân mới có thể liên minh với nhân dân lao động khác do
1 Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 51
Trang 2014
đảng cộng sản lãnh đạo để xây dựng xã hội mới; mới giải quyết được các vấn đề chính trị -
xã hội trong quá trình xây dựng xã hội mới Xét về nội dung văn hóa, tư tưởng, chỉ có giai cấp công nhân mới là lực lượng xác lập được các hệ giá trị mới như lao động, công bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do để thay thế cho hệ giá trị tư sản cũ
3.8 Học thuyết về chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa xã hội với tư cách là một lý tưởng vẫn sống mãi, sự sụp đổ của chủ nghĩa
xã hội ở Liên Xô, Đông Âu là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội giáo điều, cứng nhắc, không phải sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung
Chủ nghĩa xã hội với tư cách là một phong trào hiện thực vẫn tồn tại, với tư cách là một chế độ chính trị - xã hội vẫn tồn tại, phát triển ở Việt nam, Trung Quốc, Cu Ba, Mặc dù quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen về chủ nghĩa xã hội mới chỉ mang tính phác thảo về những nguyên tắc chung nhất cơ bản nhất: có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; nền đại công nghiệp với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, phân phối theo lao động; Nhà nước của dân, do dân, vì dân; dân chủ xã hội chủ nghĩa, vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn
Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội và sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản là do tất yếu kinh tế quy định và đều tất yếu như nhau; cách thức khác nhau của các quốc gia, dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là kết quả phát triển tổng hợp của tinh hoa mọi thời đại, mọi dân tộc
4 Vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin góp phần bảo
vệ nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam
4.1 Tính tất yếu phải vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin
Thứ nhất, chỉ có phát triển, thông qua phát triển và bằng phát triển chủ nghĩa Lênin mới thể hiện được sức sống của mình đối với thời đại
Mác-Thứ hai, thời đại ngày nay đang có nhiều biến động sâu sắc đòi hỏi chủ nghĩa Mác - Lênin phải luôn không ngừng được vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển để phù hợp với tình hình biến đổi của thực tiễn
Thứ ba, bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin hàm chứa những luận điểm mà để giải quyết chúng, chúng ta phải tìm ở chính thực tiễn ngày hôm nay, chứ không có tiền lệ trong lịch
sử, nghĩa là chúng ta phải luôn luôn tìm tòi, vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin
Thứ tư, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam qua tổng kết thực tiễn Việt Nam và thế giới đã có những nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về chủ nghĩa Mác-Lênin,
và đã có những bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin về một loạt vấn đề lý luận
4.2 Một số nguyên tắc cần quán triệt khi vận dụng, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin
Một là, vận dụng sáng tạo góp phần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là phủ định mà tiếp tục làm sáng tỏ, làm giàu thêm và khẳng định bản chất, cách mạng, khoa học vốn có của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện thực tiễn mới
Trang 2115
Hai là, vận dụng sáng tạo góp phần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phải đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ba là, vận dụng sáng tạo góp phần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, những quan điểm nhân danh phát triển để chống lại chủ nghĩa Mác - Lênin
Bốn là, vận dụng sáng tạo góp phần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phải trên cơ sở tổng kết một cách khoa học thực tiễn đổi mới đất nước và thực tiễn khu vực cũng như thế giới
5 Thay lời kết
Học thuyết Mác - Lênin có sức sống mãnh liệt và có giá trị thời đại, bởi vì đây là học thuyết khoa học và cách mạng Học thuyết đó là cơ sở thế giới quan, cơ sở phương pháp luận khoa học của nhân loại và gợi mở cho sự nghiên cứu tiếp tục trong tương lai của loài người Học thuyết Mác - Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, thực sự trở thành nền tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng ta trong lãnh đạo
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đây là học thuyết khoa học và đúng đắn, nhưng học thuyết Mác - Lênin cũng là sản phẩm của thời đại, của hoàn cảnh lịch sử nhất định, nên không thể đưa ra những giải pháp đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ đối với mọi vấn đề, ở mọi thời đại, của mọi quốc gia Do vậy, cần phải xem học thuyết Mác - Lênin là học thuyết mở, cần được bổ sung, phát triển không ngừng cùng với tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân loại Khi vận dụng các nguyên lý cơ bản của học thuyết đó, nhất thiết phải dựa vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước để vận dụng một cách sáng tạo Những thắng lợi mang tính lịch sử của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo là minh chứng thuyết phục nhất về sự vận dụng sáng tạo và sự đóng góp của Đảng ta, của nhân dân ta cho sự phát triển học thuyết Mác - Lênin Vận dụng lý luận vào thực tiễn là con đường cam go, khúc khuỷu, phải có cơ chế thích hợp và đòi hỏi thái độ khách quan, khoa học, trung thực thì mới thành công
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
[3] Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
[4] C Mác và Ph Ănghen (1995), Toàn tập, t.36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
[6] V I Lênin (1974), Toàn tập, t.4, Nxb Tiến bộ, Matxcơva-Sự thật
Trang 2216
CHỦ NGHĨA GIÁO ĐIỀU – BIỂU HIỆN TRÁI NGƯỢC BẢN CHẤT KHOA
HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
ThS Nguyễn Văn Nòn
Tóm tắt: Chủ nghĩa Mác ra đời từ giữa thế kỷ XIX đã tạo nên một bước ngoặt cách
mạng trong lịch sử triết học Với bản chất khoa học, cách mạng của mình nó đã trang bị cho loài người và nhất là giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới Với tư cách là một hệ thống mở cần được bổ sung và phát triển ở không - thời gian khác nhau với tinh thần biện chứng Tuy nhiên thực tiễn chủ nghĩa xã hội hiện thực khi vận dụng lại rơi vào máy móc, giáo điều đã dẫn đến những cơn địa chấn chính trị làm tan rã hệ thống Vì vậy, nhìn nhận thực chất chủ nghĩa giáo điều từ những thành công và thất bại của chủ nghĩa xã hội để có sự linh hoạt, sáng tạo trong việc tìm ra
mô hình phát triển phù hợp với thực tiễn để đưa đất nước phát triển là một vấn đề thật sự cần thiết để hướng đến mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh
Từ khóa: Chủ nghĩa giáo điều; bước ngoặt cách mạng; bản chất khoa học
1 Mở đầu
Sự nghiệp đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập đặt ra hàng loạt vấn đề về nhận thức, trong đó có cả việc đánh giá các sai lầm lý luận trong quá khứ, rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai Nhìn lại chủ nghĩa giáo điều - một trong những tác nhân đưa đến sự khủng hoảng lý luận của chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô và Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX - có thể thấy rằng khi nào giá trị khoa học của một học thuyết bị biến thành tín điều, thành thứ chân lý tuyệt đỉnh, không cần đến sự thẩm định và sự phản biện của cuộc sống, không cần tiếp tục được bổ sung, phát triển sáng tạo, cụ thể hóa trên mảnh đất trần tục, hiện thực, thì khi ấy tính định hướng, tính gợi mở của nó biến thành tính giáo huấn thuần túy, một chiều, và nếu học thuyết - tín điều đó trở thành lý luận nền tảng, chính thống, thì sự tác động của nó đến sinh mệnh chính trị của cả một dân tộc, một chế độ xã hội là khó tránh khỏi, để lại hậu quả cho nhiều thế hệ, nhất là khi nó đi vào lối sống, tác phong công việc, đóng vai trò những chuẩn mực, những giá trị không thể bác bỏ Vậy thực chất chủ nghĩa giáo điều là gì? Đâu là cội nguồn lịch sử của nó? Có hay không hiện tượng “chủ nghĩa giáo điều mới”, hay những
biến tướng của chủ nghĩa giáo điều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn hiện nay?
Trang 2317
2 Nội dung
2 1 Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Một là, triết học mácxít là sự thống nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản là tách biệt nhau Chủ nghĩa duy vật tuy có ẩn giấu một số tư tưởng biện chứng nhất định, song về cơ bản là phương pháp siêu hình giữ vai trò thống trị, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVII Công lao lịch sử của Hêghen là đã phát triển phép biện chứng từ trình độ tự phát trở thành một khoa học, từ tản mạn thành hệ thống, đem đến cách hiểu hiện đại về phép biện chứng như học thuyết về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, vượt qua cách hiểu mang nặng tính chủ quan về phép biện chứng như “nghệ thuật đối thoại”, xuất phát từ người Hy Lạp Phép biện chứng, với tính cách như trên, được Hêghen trình bày trong “Khoa học lôgíc”, hay “Lôgíc học” theo nghĩa rộng, hàm chứa sự thống nhất phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học Tuy nhiên phép biện chứng Hêghen lại được hình thành trên cơ sở thế giới quan duy tâm, do đó tỏ ra không triệt để và đầy mâu thuẫn Phoiơbắc phê phán chủ nghĩa duy tâm tư biện Hêghen, khôi phục truyền thống duy vật, kết hợp với thuyết nhân bản đặc trưng của mình Song thứ chủ nghĩa duy vật ấy lại chịu sự chi phối của phương pháp tư duy siêu hình Để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng, C Mác và Ph Ăngghen đã cải tạo cả chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng duy tâm Giải phóng chủ nghĩa duy vật siêu hình và giải thoát phép biện chứng ra khỏi chủ nghĩa duy tâm Hai ông
đã thống nhất thế giới quan duy vật với phép biện chứng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật Cơ sở của sự thống nhất nằm ở sự thống nhất vật chất của thế giới Ở đây, chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật, còn phép biện chứng duy vật là khoa học về sự phát triển
Hai là, triết học mácxít là sự thống nhất giữa triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng được thể hiện một cách sinh động và sáng tạo trong việc phân tích tiến trình lịch sử - xã hội, làm sáng tỏ các quy luật vận động và phát triển của nó Khắc phục quan niệm duy tâm và siêu hình về lịch sử, triết học mácxít thực sự trở thành chủ nghĩa duy vật triệt để trong quan niệm về tự nhiên, xã hội
và tư duy Chủ nghĩa duy vật lịch sử không phải đơn thuần là sự vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào tìm ra bản chất vận động của đời sống xã hội, mà nó còn là sự tổng kết sâu sắc lịch sử nhân loại, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ sở khái quát thực tiễn của thời đại mới
Ba là, triết học mácxít là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Thế giới quan duy vật biện chứng nổi bật và khác biệt với các loại thế giới quan khác
ở chỗ nó không chỉ là lý luận khoa học phản ánh đúng đắn bản chất, quy luật vận động và phát triển của thế giới mà còn là học thuyết khoa học cải tạo thế giới “Các nhà triết học đã
1 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 157
Trang 24Bốn là, triết học mácxít thống nhất giữa tính cách mạng với tính khách quan khoa học; vũ khí lý luận của giai cấp vô sản
Với tư cách là thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật triết học mácxít đã mang trong mình bản chất khoa học và cách mạng Bản chất của triết học mácxít thể hiện ở chỗ nó không chỉ giải thích đúng đắn thế giới mà còn cải tạo thế giới Ở đây, triết học mácxít trở thành vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp vô sản cách mạng, còn giai cấp vô sản cách mạng là vũ khí vật chất của triết học mácxít trong cuộc đấu tranh giải phóng con người và loài người C Mác viết: “Dưới dạng hợp lý của nó, phép biện chứng chỉ đem lại sự giận dữ và sự kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng gia giáo điều của chúng mà thôi, vì trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xem xét trong sự vận động, tức
là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái
tư duy Vì vậy, triết học vừa có tính độc lập vừa có mối liên hệ thống nhất với các khoa học cụ thể Thực tiễn phát triển khoa học của nhân loại đã xác nhận rằng những thành tựu nghiên cứu của khoa học là có cơ sở, tiền đề cho những khát quát phổ biến của triết học, còn những kết luận của triết học trở thành thế giới quan khoa học và phương pháp luận định hướng cho sự phát triển của các khoa học cụ thể Trong thời đại ngày nay sự tác động này trở nên rõ ràng hơn nhờ sự phát triển mạnh mẽ của tri thức khoa học, rất cần sự định
1 PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa: Những nguyên lý triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr 101
Trang 2519
hướng ở tầm mức của lý luận triết học, vượt ra khỏi ranh giới hẹp tương đối của khoa học chuyên biệt
2.2 Tính giáo điều trái với bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin
Triết học Mác - Lênin là một hệ thống mở, cần được tiếp tục bổ sung, phát triển theo tinh thần kế thừa và cả “lọc bỏ” biện chứng Mọi ý đồ tầm thường hóa triết học Mác - Lênin bằng sự phân tích một chiều, mang nặng tính giáo huấn, là trái với con đường biện chứng vốn có của nó Ngay trong hai tác phẩm viết chung đầu tiên của Mác và Ăngghen là
“Gia đình thần thánh” và “Hệ tư tưởng Đức” hai ông đã đưa ra tuyên ngôn về triết học
mới thay cho thứ triết học “bay lượn cao trên cuộc sống”, tức triết học tư biện của Hêghen
và phái Hêghen trẻ Phê phán đồ thức luận lôgíc của Hêghen, Mác và Ăngghen nhấn mạnh rằng không phải cuộc sống diễn ra theo những đồ thức luận sẵn có của tư duy, mà ngược lại những đồ luận ấy cần thường xuyên điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn luôn biến đổi
Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác và Ăngghen đề cập đến sự vận dụng sáng tạo
các nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản vào điều kiện cụ thể của mỗi nước với những chiến lược và sách lược thích Như vậy ở bình diện nhận thức và hoạt động thực tiễn những người sáng lập chủ nghĩa Mác luôn nhấn mạnh sự cần thiết đổi mới thường xuyên phương thức tiến hành cách mạng vô sản, không chấp nhận sự khuôn mẫu, giáo điều Phép biện chứng duy vật, được vận dụng vào việc phân tích tiến trình lịch sử - xã hội và hiện thực hoá các lý tưởng dân chủ, nhân văn, đã là minh chứng sống động cho tính mở và tính sáng tạo của chủ nghĩa Mác
V I Lênin và Hồ Chí Minh là mẫu mực của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác vào điều kiện cụ thể của mỗi nước Chống lại những toan tính tầm thường hóa chủ nghĩa Mác, Lênin chỉ ra hiểm họa của việc biến chủ nghĩa Mác thành thứ tôn giáo đặc biệt, mà ở đó những người cộng sản đóng vai những linh mục đỏ, còn học thuyết mácxít thì được soạn lại thành những mệnh đề mang tính giáo huấn, như những lời thiêng trong Kinh Thánh Lênin nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu
họ không muốn trở thành lạc hậu so với cuộc sống… Lý luận của C Mác chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy thì, xét riêng từng nơi, ở Anh
Con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc để đưa dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và đấu tranh chống đế quốc Mỹ thống nhất nước nhà cũng là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn cách mạng ở các nước thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng, đó là sự nhận thức đúng đắn biện chứng lý luận chung vào cái riêng và cái đặc thù Chỉ bốn năm sau khi tìm thấy con đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra và phê phán những biểu hiện của sự rập khuôn máy móc, của tính hình thức trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác vào các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Người đòi hỏi “bổ sung cơ sở lịch sử của chủ
1 PGS,TS Đinh Ngọc Thạch: Lịch sử triết học Phương Tây, 2014, tr 218
Trang 2620
nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông”, nghĩa là bằng sự hiểu biết về truyền thống văn hóa, lối sống, tính cách, tâm lý, bản sắc của người phương Đông, cụ thể hóa và cải biến những luận điểm có tính định hướng chung thành hệ thống lý luận thích hợp cho từng
nước Trong tác phẩm Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ viết năm 1924, Người
khẳng định: Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu Mà châu Âu là gì? Đó chưa thể là toàn thể nhân loại
Thuật ngữ “chủ nghĩa giáo điều” (dogmatism, xuất phát từ tiếng Hy Lạp - dogma, nghĩa là kiến giải, học thuyết, lời dạy, phán quyết v v…) dùng để chỉ một kiểu tư duy phản lịch sử, phản biện chứng, sơ đồ hoá một cách cứng nhắc, mà ở đó sự phân tích và đánh giá các vấn đề lý luận và thực tiễn đã không tính đến những diễn biến hiện thực cụ thể, bối cảnh không gian và thời gian, do đó rơi vào phương pháp luận siêu hình, chủ nghĩa duy tâm, duy ý chí và tín ngưỡng luận Ở phương diện triết học thuật ngữ “chủ nghĩa giáo điều” do các nhà sáng lập chủ nghĩa hoài nghi tại Hy Lạp cổ đại là Pirôn (Pyrrhon) và Dênông (Zenon) đưa ra
Cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa giáo điều là thái độ một chiều đối với chân lý, biến tất cả các yếu tố hàm chứa trong nó thành cái tuyệt đối, siêu việt, không chịu sự quy định của những điều kiện không - thời gian lịch sử, xem nhẹ tính tương đối Vì thế chủ nghĩa giáo điều không tránh khỏi căn bệnh chủ quan, võ đoán và sự áp đặt trong đánh giá
sự vật Ở phương diện tâm lý, chủ nghĩa giáo điều hình thành là do sự sùng bái mù quáng các tư tưởng, học thuyết, các phương pháp nhận thức và hoạt động thực tiễn, được xác lập
một lần, trong những điều kiện lịch sử nhất định Sự sùng bái đó một khi trở thành thói
quen, lối sống, chuẩn mực và định hướng đối với cá nhân thì thật khó từ bỏ Cội nguồn xã hội của chủ nghĩa giáo điều gắn liền với nhu cầu của một giai cấp, tầng lớp, cá nhân duy trì
và củng cố lập trường, quan điểm, cũng như vị thế của mình Chủ nghĩa giáo điều xuất hiện khi một lực lượng xã hội vì mục đích “bảo vệ các nguyên lý” đã không chấp nhận sự phản biện của xã hội, triệt tiêu tinh thần tranh luận, cắt đứt mối liên hệ với các học thuyết, trào lưu tư tưởng khác, và kết quả là lý luận tách rời thực tiễn
Chủ nghĩa giáo điều có mối liên hệ với chủ nghĩa bảo thủ và phương pháp siêu hình, tức xem xét các sự vật, hiện tượng trong trạng thái ngưng đọng, bất chấp những đòi hỏi của thực tiễn, biến các nguyên lý khoa học thành những công thức cứng nhắc, bất biến Ở
phương diện lý luận biểu hiện dễ thấy nhất của chủ nghĩa giáo điều là quá trình chuẩn hóa
sinh hoạt tư tưởng một cách máy móc nhân danh “thống nhất quan điểm”, song thực ra là ngăn chặn sự hình thành cái mới, cái tiến bộ, cái phù hợp với thực tiễn luôn biến đổi Chủ nghĩa giáo điều thông qua chuẩn hóa tư tưởng một cách cứng nhắc là hiện tượng phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Liên Xô, Việt Nam thời kỳ trước đổi mới cũng không phải là ngoại lệ Một khi các yếu tố của chủ nghĩa giáo điều trong lý luận đóng vai trò định hướng đối với hoạt động thực tiễn, thì hậu quả của nó là tạo nên sự ngưng đọng trong các lĩnh vực hoạt động của con người, từ kinh tế đến chính trị, xã hội
Trang 2721
Hậu quả đó đã được biết đến qua sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Liên Xô, mô
hình mà nhiều nhà lý luận gọi là chủ nghĩa cực quyền, còn đối với chúng ta, đó là thứ chủ
nghĩa xã hội bị biến dạng bởi sự thống trị của chủ nghĩa giáo điều và những sai lầm lý luận khác Về kinh tế, đó là quá trình “nhất thể hóa” các quan hệ kinh tế, loại trừ sở hữu cá nhân, buộc cá nhân “kết án kẻ tư hữu trong bản thân mình”, dù cái bị kết án ấy trên thực tế lại “thể hiện những lợi ích hiện thực của hàng triệu người” Về chính trị, đó là sự tự cô lập trong hệ thống khép kín, đóng cửa đối với phần còn lại của thế giới Tất cả đều được biện minh bằng các luận chứng một chiều Những ý kiến mang tính gợi mở có thể bị quy chụp
là thiếu lập trường, còn những dự định đổi mới trong kinh tế, chính trị có thể bị xem là xa rời con đường xã hội chủ nghĩa Cùng với chủ nghĩa giáo điều, quan điểm bảo thủ chính trị, ở Việt Nam và các nước khác theo mô hình chủ nghĩa xã hội cửa quyền, quan liêu, bao cấp, còn tồn tại cả chủ nghĩa chủ quan, hay chủ nghĩa không tưởng chính trị Cả hai thái cực này đã được Đảng ta nhận diện, phê phán trong Đại hội lần thứ VI (1986): “Trong lĩnh vực tư tưởng, đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh duy ý chí, giản đơn hóa, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta mới ở chặng đường đầu tiên Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan; do đó, không chú ý vận
căn bệnh chủ quan, duy ý chí đã dẫn đến chỗ nhận thức và vận dụng một cách lệch lạc quy
luật xã hội phổ biến - quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đảng ta chỉ rõ tác hại của chủ nghĩa giáo điều, sự duy trì quá lâu
những cách thức tiếp cận và phương pháp tổ chức đời sống xã hội, bất chấp những biến đổi của thực tiễn, và nhấn mạnh tính cấp thiết của đổi mới tư duy, nhận thức lại mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam
2.3 Nhận diện chủ nghĩa giáo điều trong giai đoạn hiện nay
Từ những thành công và thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô, những khó khăn khủng hoảng của đất nước ta thời kỳ trước đổi mới, Đảng ta đã rút ra được nhiều bài học trong quá trình đổi mới đưa đất nước vượt qua những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua Trở lại với những nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và với tinh thần “nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật” (diễn đạt của Đại hội VI) Đảng ta
đã kiên quyết vượt qua những giáo điều máy móc để đề ra những chủ trương đúng đắn, hiệu quả đưa đất nước vượt qua “cơn chấn động chính trị”, vững bước đi lên, đạt được nhiều thành công trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, từ đối nội đến đối ngoại Những thành công đó chứng tỏ sự nhận thức và vận dụng đúng đắn biện chứng cái phổ biến - cái đặc thù, vừa chủ động và tích cực hội nhập với thế giới, phù hợp với xu thế vận động chung của lịch sử, vừa kiên định sự lựa chọn con đường phát triển căn cứ trên những nét đặc thù lịch sử và điều kiện cụ thể của đất nước Tiếp nối tinh thần đổi mới qua các kỳ đại hội, Báo cáo chính trị của Đảng tại Đại hội lần thứ XII nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi
1 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987 tr4,
27
Trang 2822
mới mạnh mẽ tư duy, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo chính xác và kịp thời có chủ trương, chính sách xử lý hiệu quả những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, giải quyết tốt các mối quan hệ lớn
trệ kéo dài nên những yếu tố bảo thủ, giáo điều vẫn còn tồn tại Giáo điều do hạn chế về nhận thức, không đủ khả năng tiếp thu, nắm bắt cái mới vận dụng vào cuộc sống Chấp nhận cái sẵn có một cách máy móc, thiếu tinh thần phê phán, phản biện; giáo điều do ngại đụng chạm, sợ bị quy chụp là thiếu lập trường, thiếu quan điểm giai cấp, buộc phải chấp nhận những luận điểm mà mình cho là không còn phù hợp, nói khác đi, không dám đấu tranh chống lại cái lỗi thời, mà tuân theo “chân lý của số đông” Nên gọi đây là “giáo điều thụ động”, ngoài ý muốn Đó cũng là hậu quả của cơ chế cũ, mà sự loại trừ nó đòi hỏi quá trình liên tục, bền bỉ, lâu dài Ngoài ra cần tính đến thứ chủ nghĩa cơ hội được nguỵ trang một cách tinh vi bằng khẩu hiệu “trung thành tuyệt đối với những nguyên lý đã có sẵn”, nhưng lại vì lợi ích cá nhân, sẵn sàng quy chụp người khác để đạt được mục đích chính trị
Đó là chủ nghĩa giáo điều “tự giác”; chủ thể ý thức được thế nào là giáo điều, nhưng lại duy trì nó, sử dụng nó như phương tiện cần thiết cho việc đạt được mục đích Chủ nghĩa cơ hội trong vỏ bọc “trung thành tuyệt đối” là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố: trình độ nhận thức, bản lĩnh chính trị và động cơ cá nhân Điều này đặc biệt nguy hiểm, bởi lẽ nó nuôi dưỡng thói đạo đức giả, bè phái, tạo nên sự mục ruỗng của hệ thống chính trị, nếu không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời Cần phê phán không khoan nhượng những kẻ đóng vai trung thành với các nguyên lý mácxít đến mức máy móc, nhưng trên thực tế mưu lợi cho mình, tìm mọi cách loại bỏ những nhân tố mới Những biến thái trên của chủ nghĩa giáo điều không khó nhận ra trong thực tiễn hiện nay ở nước ta với những vụ việc gắn với Dương Chí Dũng, Trịnh Xuân Thanh, vấn đề mang tính thời sự như sửa điểm thi trung học phổ thông quốc gia ở Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình, tham ô nâng giá vật tư y tế trong tình hình dịch bệnh, đến lùm xùm lợi ích nhóm trong xuất khẩu gạo và bảo đảo an ninh lương thực quốc gia, bảo kê đường sá ở Đồng Nai,… Do vậy, đề cập đến nhiệm vụ công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, Đại hội XII vạch rõ: “Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước….Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng…Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống
và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè
trong quá trình đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Trang 2923
3 Kết luận
Sự nghiệp đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tìm mô hình phù hợp với thực tiễn đất nước trong thời đại mới cũng cần nhìn lại những sai lầm trong quá khứ Chủ nghĩa giáo điều – một trong những sai lầm trái với bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác đã gây ra những biến động đối với sự sụp đổ của mô hình và hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây Nhận diện chủ nghĩa giáo điều và những biến thái của nó để tiếp tục những thành công của sự nghiệp đổi mới rất cần những đột phá trong lĩnh vực tư duy lý luận, khuyến khích tinh thần hoài nghi, phê phán, xác lập cơ chế phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, xoá dần những vùng cấm không đáng có, chấm dứt tình trạng bao sân về lý luận như hiện nay, ngăn chặn những biểu hiện giáo điều lẫn không tưởng chính trị, căn bệnh cố chấp, áp đặt, lẫn chủ nghĩa phiêu lưu chính trị, không chỉ chống “diễn biến hòa bình”, mà cần cảnh giác đối với “tự diễn biến hòa bình” dưới những biến thái tinh vi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2004
[2] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1987
[3] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Văn
phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016
[4] PGS.TS Đinh Ngọc Thạch: Lịch sử triết học Phương Tây, 2014
[5] PGS TS Nguyễn Thế Nghĩa (chủ biên): Những Nguyên lý triết học, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2014
[6] Nhiều tác giả: Chuyện thời Bao cấp, Nhà xuất bản Thông Tấn, Hà Nội, 2007
Trang 3024
TƯƠNG LAI CỦA CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 (CMCN 4.0)
ThS Hoàng Thị Kim LiênThS Võ Thị Như Huệ
Tóm tắt: Đến nay, học thuyết Mác ra đời hơn 170 năm, lịch sử loài người đã trải qua nhiều
biến đổi lớn Đặc biệt, CMCN 4.0 đang diễn ra sẽ tiếp tục đưa nhân loại sang một thời kỳ phát triển mới chưa từng có Đối với các nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội CMCN 4.0 là thời cơ lớn và sẽ tạo những tiền đề quan trọng để thiết lập phương thức sản xuất (PTSX) mới - PTSX xã hội chủ nghĩa, hơn nữa cuộc cách mạng này cũng đặt ra những yêu cầu về sự bình đẳng trong xã hội mà bản thân PTSX tư bản chủ nghĩa hiện thời không thể giải quyết được Bài viết bước đầu làm rõ những vấn đề cơ bản đã nêu trên
Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội; Cách mạng công nghiệp 4.0
1 Đặt vấn đề
Lịch sử xã hội loài người đến nay đã và đang trải qua các cuộc cách mạng lớn trong lực lượng sản xuất (LLSX), những thay đổi trong công nghệ sớm muộn cũng dẫn đến sự thay đổi cách mạng trong PTSX Nó chứng minh cho chúng ta thấy quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa LLSX và quan hệ sản xuất (QHSX), và chủ nghĩa xã hội (CNXH) ra đời thay thế chủ nghĩa tư bản (CNTB) xét đến cùng do đòi hỏi của LLSX hiện đại Nhân loại đến nay đã trải qua bốn hình thái kinh tế - xã hội và hiện nay đang thực hiện bước quá độ từ CNTB lên CNXH và không có một sức mạnh nào có thể đẩy lùi được quy luật ấy Khi nói về tương lai của CNXH Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển
nay, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc CMCN 4.0 tương lai của CNXH sẽ ra sao? Cuộc cách mạng
ấy sẽ tạo ra những cơ hội và tiền đề gì để loài người bước vào kỷ nguyên của CNXH? Đây là những câu hỏi lớn mà không phải chúng ta có thể trả lời được ngay, tuy nhiên trong phạm vi bài tham luận chúng tôi dựa trên những thời cơ mà CMCN 4.0 mang lại sẽ đưa thêm những luận cứ
góp phần luận giải thêm về tương lai của CNXH Chúng tôi gửi đến hội thảo bài tham luận
“Tương lai của chủ nghĩa xã hội nhìn từ góc độ cách mạng công nghiệp 4.0”
Khoa LLCT - Trường ĐH Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
Khoa Kinh tế - Du lịch, Trường Đại học Quảng Nam
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 65
Trang 31ra sự phân biệt thời đại kinh tế này với thời đại kinh tế khác không phải xem người ta sản xuất cái
gì, mà phải xem họ sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào Song Mác không dừng lại ở lực lượng sản xuất, công cụ lao động, kỹ thuật mà đã chứng minh rằng sự thay đổi căn bản quan hệ sản xuất, đặc trưng là chế độ sở hữu và sự thay đổi toàn bộ hình thái kinh tế xã hội
Do lực lượng sản xuất không ngừng phát triển nên không một chế độ kinh tế, một chế độ xã hội nào có thể tồn tại vĩnh cửu Chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến và chế độ tư bản cũng sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội mới cao hơn do đòi hỏi của lực lượng sản xuất xã hội hóa cao độ
Hiện nay, CMCN 4.0 đã đang và sẽ tiếp tục làm thay đổi cách thức sản xuất và chế tạo, làm thay đổi căn bản phương thức phân phối, tiêu dùng, cách thức tổ chức làm việc của con người, các
“nhà máy thông minh” ra đời và dần sẽ thay thế những nhà máy truyền thống Dưới tác động của cuộc CMCN 4.0 đã làm cho tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đều thay đổi nhanh chóng Theo đó, quá trình phân công lao động xã hội cũng có sự thay đổi theo hướng lao động trí tuệ ngày càng tăng, giảm lao động chân tay và đặc biệt là rô – bốt gắn với trí tuệ nhân tạo ra đời sẽ giải phóng sức lao động của con người Nó làm cho tính chất của lao động ngày mang tính chất xã hội hóa sâu sắc, việc tổ chức sản xuất trực tiếp giữa các nhà máy, xí nghiệp có thể diễn ra trên quy
mô toàn thế giới, các máy móc được kết nối internet và liên kết với nhau qua một hệ thống được điều khiển bởi rô – bốt thông minh được lập trình toàn bộ quy trình sản xuất có thể thay thế dần các dây chuyền sản xuất trước đây CNTB hiện đại ngày nay quá trình tổ chức sản xuất, phân công lao động theo mô hình các công ty xuyên quốc gia, xét tới cùng là do đòi hỏi của lực lượng sản xuất xã hội hóa cao Cùng với lực lượng sản xuất hiện đại, sự tổ chức và phân công lao động ngày càng tinh vi, khoa học có tính xã hội hóa cao của các công ty xuyên quốc gia mâu thuẫn ngày càng gay gắt với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN Kinh tế số, kinh tế tri thức, kinh tế thông minh, sự tổ chức quản lý sản xuất khoa học kiểu công ty xuyên quốc gia đang phổ biến trên thế giới hiện nay đòi hỏi chế độ sở hữu mới đối với tư liệu sản xuất – chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chỉ có thể được thực hiện trong PTSX xã hội chủ nghĩa
Bên cạnh đó, với những thành quả mà CMCN 4.0 mang lại làm cho năng xuất lao động tăng lên rất nhanh, chi phi sản xuất thấp, giá thành sản phẩm hạ, thúc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, đổi mới công nghệ CMCN 4.0 còn là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhảy vọt, làm cho tính chất và trình độ lực lượng sản xuất ở thế kỷ XXI thay đổi căn bản C.Mác đã nói mọi sức sản xuất hiện đại và sản phẩm do lực lượng sản xuất ấy tạo ra đều là sức mạnh đã vật hóa của trí thức Những tác động mà CMCN 4.0 mang lại cũng đã làm thay đổi căn bản phương thức phân phối tiêu dùng cách tổ chức làm việc của con người, làm xuất hiện những “nhà máy không người”, với công nghệ mới có thể cung cấp và đáp ứng được mọi hàng hóa và dịch vụ mà con người cần Cách thức làm việc cũng có thay đổi vượt bật với sự trợ giúp của Rô – bốt gắn trí tuệ nhân tạo, nhờ đó sẽ thay thế con người không những ở những nơi nguy hiểm, độc hại mà còn cả với lĩnh vực cơ quan, bệnh viện, nhà máy…Tuy nhiên điều này không có nghĩa ở các nước tư bản chỉ “bóc
Trang 3226
lột máy” không cần bóc lột lao động sống, người lao động sẽ thành nhà tư bản Vì cho dù khoa học kỹ thuật có phát triển như thế nào chăng nữa thì bóc lột giá trị thặng dư vẫn là phương thức tồn tại cơ bản của chủ nghĩa tư bản Những vấn đề mà C Mác đề cập trong học thuyết về giá trị thặng dư vẫn giữ nguyên giá trị Mẫu thuẫn giữa CNTB với lao động làm thuê vẫn diễn ra trên quy
mô toàn thế giới Trong thời kỳ CMCN 4.0, lao động sống của công nhân vẫn là nguồn gốc cơ bản của giá trị thặng dư và sự giàu có của giai cấp tư sản cũng chủ yếu nhờ vào việc bóc lột được ngày càng nhiều giá trị thặng dư Đây là mâu thuẫn cơ bản về lợi ích giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản và là cốt lõi của bất công và đấu tranh giai cấp trong xã hội hiện đại Mâu thuẫn ấy không thể điều hòa và chỉ có thể được giải quyết bằng việc xóa bỏ chế độ bóc lột giá trị thặng dư trên cơ sở xác lập một quan hệ sản xuất mang tính chất công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu Chính lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa đã chỉ ra biện pháp giải quyết ấy, tính chất xã hội hóa ngày càng tăng của sản xuất cũng làm nảy sinh những nhân tố mang tính chất xã hội trong quá trình phát triển Theo C Mác, đây chính là yếu tố duy vật cho chủ nghĩa xã hội hiện đại, cái tính chất mà trước cuộc CMCN 4.0 chưa xuất hiện trên thực tế
2.2 CMCN 4.0 với sự phát triển của khoa học công nghệ đặt ra yêu cầu về sự bình đẳng
xã hội
CMCN 4.0 sẽ đem đến cho nhân loại nền kinh tế thông minh, đây là bước tiến lớn của loài người Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ dưới tác động của CMCN 4.0 cũng đặt ra yêu cầu gay gắt về sự công bằng bình đẳng xã hội nhất là trong giai đoạn hiện nay Với sự phát triển nhanh chóng của CMCN 4.0 trình độ khoa học công nghệ vô cùng hiện đại, thông minh đã tác động lớn đến lĩnh vực sản xuất, vì vậy của cải vật chất và hàng hóa đủ khả năng giải quyết trên phạm vi toàn cầu các vấn đề bức xúc của loài người, công nghệ mới cho phép có thể cung cấp mọi hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho những người cần đến chúng Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay số người đói nghèo, thiếu các phương tiện sinh hoạt tối thiểu, không nhà ở, thiếu nước sạch sinh hoạt và không dịch vụ y tế vẫn rất phổ biến kể cả những nước tư bản phát triển, trong khi đó một bộ phận khác của xã hội sống trong cảnh tiện nghi thừa thãi, của cải lãng phí không thương tiếc
Sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại “người máy” “rô - bốt” lẽ ra phải đem lại cho con người sự giải phóng về sức lao động trong những công việc nặng nhọc và những hoạt động sản xuất trực tiếp, làm chủ và điều khiển quá trình sản xuất, tuy nhiên thực tế lại không như vậy, chính sự hiện đại của máy móc, khoa học công nghệ đã làm cho hàng triệu lao động trên thế giới bị mất việc làm, bị gạt ra khỏi hệ thống sản xuất và phải sống nhờ vào việc bố thí Có thể khẳng định, CNTB không đủ khả năng giải quyết những vấn đề bức xúc nói trên vì bản chất của nó, chính vì vậy chỉ có thể giải quyết những vấn đề nói trên thông qua chế độ xã hội chủ nghĩa
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ dưới tác động của cuộc CMCN 4.0 thì yêu cầu về tính xã hội, về công bằng bình đẳng càng bức xúc Những hậu quả về xã hội do cuộc cách mạng này để lại sẽ vô cùng nghiêm trọng nếu không giải quyết được vấn đề công bằng và bình đẳng trong sáng tạo khoa học - công nghệ, trong phân phối lợi ích do cuộc cách mạng này mang lại Do đó, CMCN 4.0 đặt ra yêu cầu loài người nhất định sẽ vượt qua CNTB tiến tới CNXH Chỉ có CNXH, hàng tỷ người trên thế giới vốn bị gạt ra ngoài cuộc sống văn minh, hiện đại mới có điều kiện tham gia sáng tạo khoa học công nghệ, tiếp cận những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ Dưới CNXH bản thân khoa học công nghệ sẽ là phương tiện mưu cầu hạnh
Trang 3327
phúc con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc
dụng, kiểm soát những thành tựu của CMCN 4.0 đang trở nên gay gắt từ khi con người có khả năng chế tạo những vũ khí hủy diệt như vũ khí nguyên tử, vũ khí hóa học, vũ khí sinh học, các vũ khí công nghệ cao, vũ khí nanô Những thành tựu đó nếu sử dụng dưới chế độ công bằng, bình đẳng và cho phép xã hội kiểm soát và sử dụng vào những mục đích chính đáng, đem lại lợi ích cho con người thì đó chính là chủ nghĩa xã hội Còn nếu sử dụng với những mục đích đen tối, vì lợi ích ích kỷ thì nó sẽ đem lại những hậu quả khôn lường, hậu quả của hai cuộc chiến tranh thế giới đã chứng minh cho nhân loại điều đã nói Như vậy, từ những vấn đề bức xúc đó buộc nhân loại phải lựa chọn hệ thống xã hội mới nhân bản hơn, có tổ chức hơn đủ sức gánh vác trách nhiệm giải quyết các vấn đề xã hội đang bức xúc, xã hội mới đó chỉ có thể là CNXH
Tóm lại, CMCN 4.0 với những tiền đề mà nó tạo ra sẽ cho thấy những bước tiến mới của chủ nghĩa xã hội hiện thực Hiện nay, hầu hết các quốc gia đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều rất quan tâm và quyết tâm mạnh mẽ hướng tới CMCN 4.0, đây cũng là một con đường phát triển rút ngắn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH
2.3 CMCN 4.0 với quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay
Như đã phân tích ở trên, CMCN 4.0 có tác động mạnh mẽ và trên nhiều lĩnh vực đến tất cả các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Nó mang lại nhiều cơ hội và cả thách thức đối với quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, sự nghiệp đổi mới hơn 30 năm đạt nhiều thành tựu lớn tuy nhiên những khó khăn thách thức cũng rất gay gắt Để đạt được mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh chúng ta sẽ tận dụng những lợi thế của cuộc CMCN 4.0 như thế nào để đạt được mục tiêu của CNXH Đây là một bài toán rất khó, bởi Việt Nam đi lên CNXH từ một điểm xuất phát thấp nên đòi hỏi phải có nhiều nổ lực trong việc nắm bắt những thời cơ do CMCN 4.0 mang lại để có thể “đi tắt” “đón đầu” trong công nghệ tránh tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Để tận dụng tốt những cơ hội do CMCN 4.0 mang lại và vượt qua thách thức, Nghị quyết
52 - NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0 đã khẳng định: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại cả cơ hội
và thách thức Phải nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội… Chủ động phòng ngừa, ứng phó để hạn chế các tác động tiêu cực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn, công bằng xã hội và
mặt không chỉ về kinh tế, công nghệ sản xuất, mô hình quản lý mà còn cả các tác động về xã hội Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ giúp các quốc gia có cơ hội phát triển thịnh vượng hơn, kết nối và hội nhập nhanh chóng, dễ dàng hơn, giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội đồng thời cũng phải đối diện với những thách thức về quyền lao động việc làm, bất bình đẳng trong xã hội Hiện nay, Việt Nam thuộc nhóm nước đang trong giai đoạn quá độ của quá trình chuyển đổi của cuộc CMCN 4.0 với nhiều cơ hội về phát triển đặt biệt là trong lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ…
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 9, tr.131
2 Nghị quyết 52 – NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham
gia cuộc CMCN 4.0
Trang 3428
Sự phát triển và áp dụng các thành tựu mới về công nghệ sẽ mang lại tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam, góp phần xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng CNXH
3 Kết luận
Nhìn từ góc độ cuộc CMCN 4.0, CNTB trong vài thập niên tới chưa có khả năng diễn ra những biến động lớn Tuy vậy, sự phát triển của CNTB sẽ không thuận buồm xuôi gió mà thông qua những biến động phức tạp và những mâu thuẫn nội tại không thể khắc phục nổi, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã phát triển vượt bật với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn còn tồn tại phổ biến trên thế giới CMCN 4.0 đã làm cho lực lượng sản xuất có bước nhảy vọt về chất, song quan hệ sản xuất vẫn chưa có sự thay đổi tương ứng, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở tầm quốc gia cũng như quốc tế Dó đó, cuộc CMCN 4.0 đã tạo ra những điều kiện, tiền
đề để xây dựng phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất XHCN, dưới chế độ XHCN sẽ giải quyết triệt để những vấn đề xã hội mà CNTB không thể làm được Do đó, tương lai nhất định
sẽ thuộc về CNXH
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
[2] Hồ Chí Minh, (2000), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[3] Bộ Chính trị, (2019), Nghị quyết 52 – NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một
số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0 Website:
ngay-2792019-cua-bo-chinh-tri-ve-mot-so-chu-truong-chinh-sach-chu-dong-tham-gia-cuoc-cach-mang-cong-5715
Trang 35http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-52-nqtw-29
HỌC THUYẾT MÁC VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC TOÀN DIỆN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY
TS Trần Đình Phụng
Tóm tắt: Học thuyết Mác khẳng định con người phát triển toàn diện không chỉ là
chủ thể sáng tạo của quá trình sản xuất vật chất, là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội, mà còn là chủ thể đích thực của tiến trình phát triển lịch sử Phát triển con người toàn diện là một trong những quan điểm cơ bản không thể thiếu để bảo đảm tính nhân văn và tính hiện thực của xã hội mới Học thuyết Mác về bản chất con người và phát triển con người toàn diện, cùng với những quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là cơ sở lý luận quan trọng của việc coi trọng phát triển con người toàn diện trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Từ khóa: Con người toàn diện; Giáo dục toàn diện; Học thuyết Mác; Phát triển;
Trường đại học
1 Mở đầu
Phát triển con người toàn diện cho cá nhân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam là một trong những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội Việt Nam Đó cũng là đặc trưng cơ bản của xã hội mới trong những phác thảo mang tính dự báo của C Mác, Ph.Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội Theo đó, bên cạnh xu hướng phát triển cao về kinh tế thì chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội giải phóng và tạo điều kiện để con người có thể phát triển một cách tự do hơn, toàn diện hơn và nhân văn hơn Tuy nhiên, thực hiện mục tiêu đó trong điều kiện Việt Nam hiện nay là một quá trình lâu dài, đầy thách thức nếu chỉ dừng ở khát vọng, ý chí chủ quan là hoàn toàn không đủ, đòi hỏi có sự chuẩn bị những tiền đề, điều kiện vật chất khách quan cần thiết khác Vì vậy, nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác về bản chất con người và phát triển con người toàn diện, cùng với những quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa phương pháp luận cho việc xây dựng hoạch định chính sách phát triển con người toàn diện trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay
2 Nội dung
2.1 Quan điểm của học thuyết Mác về phát triển con người toàn diện
C.Mác cho rằng, bản chất đặc thù của con người không phải ở thân xác, máu thịt của con người mà là ở phẩm chất xã hội của con người Bản chất con người không phải là những yếu tố sinh vật của con người mà bản chất con người là tổng hòa tất cả các quan hệ xã hội
“Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của những cá nhân riêng biệt
Khoa Luật và Khoa học chính trị, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
Trang 3630
quan niệm này, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã “xóa tan lớp sương mù mờ ảo, thần bí vây quanh con người, đồng thời vạch ra sức mạnh đích thực, đầy sức thuyết phục về con người” và tạo cơ sở cho các quan niệm đúng đắn để phát triển con người toàn diện
Thứ nhất, học thuyết Mác về phát triển con người toàn diện với tư cách sự phát triển phong phú của bản chất con người
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại trước khi có học thuyết Mác thì không có một học thuyết nào đặt ra nhiệm vụ là phải giải phóng con người để con người được phát triển phong phú bản chất của mình Chỉ có học thuyết Mác, đặt mục tiêu cho công cuộc xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tương lai, là xây dựng một chế độ xã hội công bằng, văn minh, không còn hiện tượng người bóc lột người, không còn hiện tượng con người bị tha hóa, mọi người đều bình đẳng, đều có quyền hưởng tự do và cuộc sống hạnh phúc Chỉ
có chủ nghĩa cộng sản mới có thể thủ tiêu một cách tích cực chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu, và cũng có nghĩa là thủ tiêu vĩnh viễn tình trạng tha hóa con người Xóa bỏ sự tha hóa, xóa bỏ sự phân công lao động một cách phiến diện, mục tiêu cao nhất của chế độ xã hội mới là để phát triển con người toàn diện Sự phát triển toàn diện không có nghĩa là biến mỗi cá nhân thành một thiên tài tổng hợp nào đó và làm được tất cả, không có nghĩa hôm nay có thể làm bác sĩ, ngày mai làm kiến trúc sư, ngày kia làm nhà chế tạo, Tính toàn diện trong con người được hiểu là sự tổng hợp khả năng, nhu cầu,
sự phát triển tinh thần của nó, những cái đó được hình thành trên cơ sở sự cân đối và hoàn chỉnh của con người Đó là những con người hoàn toàn mới, được phát triển toàn diện cả
về đức, trí, thể, mỹ, không còn lệ thuộc vào bất cứ sự phân công nào, có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, có thể chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác theo nhu cầu của xã hội tùy theo sở thích của chính bản thân mình
Thứ hai, học thuyết Mác về phát triển con người toàn diện với tư cách yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất
Khi luận giải bản chất con người, vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử của con người, C.Mác đã nói tới việc lấy sự phát triển toàn diện của con người làm thước đo chung cho sự phát triển xã hội Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã mô tả xã hội tương lai mà giai cấp vô sản có sứ mệnh xây dựng là xã hội trong đó, lần đầu tiên con người tổ chức đời sống của
họ một cách tự giác Theo các ông, con người cuối cùng do đó mà làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản thân mình, trở thành người tự do Trong quan niệm của các ông nếu không có con người với tư cách là chủ thể sinh động nhất của xã hội, thì sẽ không thể có sự vận động của xã hội Nếu không có những con người sáng tạo chân chính ra lịch sử thì cũng không thể có lịch sử của con người Trên cơ sở những quan điểm khoa học này, các ông đi tới khẳng định chỉ có trong chủ nghĩa cộng sản, con người mới có thể “phát triển bản tính chân chính của mình”, trở thành những cá nhân phát triển toàn diện Bởi vậy, phát triển sản xuất vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn cho mỗi thành viên
1 C.Mác và Ph.Ăngghen (2004) Toàn tập, tập 3 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.11
Trang 3731
trong cộng đồng xã hội và phát triển con người toàn diện là một quá trình thống nhất để
“làm tăng thêm nền sản xuất xã hội”, “sản xuất ra những con người phát triển toàn diện”
Và hơn nữa, các ông còn coi sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sản xuất và phát triển con người là một trong những biện pháp mạnh nhất để xây dựng xã hội cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là xã hội xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, học thuyết Mác về phát triển con người toàn diện với tư cách chủ thể sáng tạo lịch sử và xây dựng xã hội mới
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định, con người vừa là diễn viên, vừa là tác giả của vở kịch do mình dàn dựng và hoàn cảnh chỉ có thể tạo ra cho con người trong chừng mực con người tạo ra chính hoàn cảnh ấy Do vậy, con người phải tạo ra “hoàn cảnh hợp tính người” để phát triển bản chất và hoàn thiện nhân cách của chính mình Con người tạo ra “bước nhảy” cho chính mình “từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do” khi con người làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội “một cách thật sự và có ý thức” Con người với khả năng lao động và năng lực sáng tạo tiềm tàng, đã làm nên các cuộc cách mạng trong những thời đại văn minh của nó, từ nền văn minh cổ đại đến văn minh hiện đại Với khả năng và năng lực đó, con người chính là động lực cho sự phát triển kinh tế -
xã hội và là chủ thể sáng tạo nên những nền văn minh trong lịch sử nhân loại
2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục con người toàn diện
Dưới sự chỉ dẫn của học thuyết Mác, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi con người
là nhân tố quan trọng nhất bảo đảm cho sự phát triển bền vững Việc đầu tư cho sự phát triển của con người không chỉ vì mục tiêu nhân văn mà còn là sự đầu tư có lợi nhất cho sự phát triển bền vững
Nhân loại đang ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, đã chứng kiến những bước tiến diệu kỳ của khoa học và công nghệ, những đóng góp của nó cho nền sản xuất vật chất xã hội tạo nên nền kinh tế tri thức Tài nguyên thiên nhiên là cái hữu hạn, dù giàu có nhưng khai thác mãi cũng cạn kiệt; nguồn vốn tư bản không phải quốc gia nào cũng phong phú, chỉ có tri thức của nhân loại ngày càng trở nên bất tận Hơn nữa, trong quá trình phát triển bản thân nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác tự nó không thể tham gia các quá trình phát triển kinh tế – xã hội Chỉ thông qua hoạt động thực tiễn của con người bằng sức mạnh của trí tuệ kết hợp với các nguồn lực mới có thể tạo nên sự tăng trưởng và tăng trưởng bền vững Để khai thác các nguồn vốn, các nguồn tài nguyên và cả nguồn nhân lực một cách hiệu quả tạo nên chất lượng của sự tăng trưởng thì yếu tố con người đóng vai trò đặc biệt quan trọng
Quan điểm con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đã được khẳng định trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991- 2000 được Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991 và tiếp tục được khẳng định lại trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI, XII và
đó cũng là quan điểm cơ bản để phát triển chủ nghĩa xã hội Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta đã xác định “ xã hội xã hội chủ nghĩa mà ta nhân
Trang 3832
dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh; do nhân
dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có
dung khác, quan điểm giải phóng con người, hướng người dân tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện tiếp tục được duy trì, khẳng định như những nét
cơ bản không thể thiếu trong chủ nghĩa xã hội Việt Nam
Trong những năm đổi mới vừa qua, chỉ số phát triển con người Việt Nam liên tục có những bước cải thiện đáng kể song tốc độ còn hạn chế nên trong những thập niên đầu thế
kỷ XXI, Việt Nam cần đẩy mạnh các giải pháp cần thiết cải thiện tốc độ phát triển nhanh
và bền vững hơn Phát triển con người không dừng lại ở yếu tố tự nhiên, sinh học, bởi lẽ con người còn là thực thể tự nhiên mang tính xã hội, như có nhà nghiên cứu đã từng viết:
“lịch sử của con người là lịch sử không ngừng văn minh hoá những hành vi có tính động
những tiền đề, quy luật sinh học vốn có của con người Xa rời nguyên tắc cơ bản ấy là sự thoát ly hiện thực, chủ quan, duy ý chí
Khi nói đến con người, C.Mác đã chỉ rõ: “con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người, là nhà nước,
kiện văn hoá, chính trị, xã hội Việt Nam
Con người phát triển trí lực gắn liền với khả năng lao động sáng tạo Từ góc độ khác,
sự trau dồi tri thức, làm giàu trí lực của mỗi cá nhân đã là một hình thức lao động đặc biệt của con người Mặt khác, dù ở xã hội nào con người cũng cần lao động – một loại lao động đặc biệt đã từng được nhấn mạnh như một khía cạnh đặc trưng của loài là dấu hiệu có tính bản chất Tuy vậy, nhấn mạnh sự phát triển con người từ góc độ lao động không đồng nhất với việc sử dụng lao động để bóc lột, dùng lao động để tha hoá, nô dịch con người Lao động trong chủ nghĩa xã hội còn được coi là quyền cơ bản của con người được thể chế bằng pháp luật Xã hội tạo điều kiện để con người được thực hiện quyền cơ bản đó như một yếu tố để con người có điều kiện bảo đảm cuộc sống cá nhân, phát triển, hoàn thiện nhân cách
Xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI cần phải có những con người phát triển toàn diện, không chỉ về thể lực, trí lực, khả năng lao động mà cần có đạo đức, văn hoá của xã hội mới Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định: Con người Việt Nam mới “là con người có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe và lao động
Trang 3933
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, mục tiêu chiến lược về văn hoá, xã hội khẳng định: “ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến
bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng
Như vậy phát triển con người toàn diện cả về phương diện sinh học và phương diện
xã hội là xây dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam theo hướng không ngừng nâng cao thể trạng con người Việt Nam theo các chỉ số có tính quốc tế, bồi dưỡng, hoàn thiện các giá trị xã hội theo hướng: không mơ hồ về lý tưởng, về con đường xây dựng đất nước mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta lựa chọn và dày công xây đắp; có năng lực trí tuệ ngang tầm thời đại; có đạo đức cách mạng trong sáng; có ý thức công dân, tuân thủ pháp luật; có bản lĩnh văn hoá để có thể tiếp biến một cách chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại mà không đánh mất bản sắc của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay
2.3 Coi trọng giáo dục con người toàn diện trong nhà trường đại học hiện nay
Lý luận của chủ nghĩa Mác về bản chất con người và phát triển con người toàn diện, cùng với những quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là cơ sở lý luận quan trọng của việc coi trọng phát triển con người toàn diện trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay Song trong thực tế vấn đề giáo dục con người toàn diện trong nhà trường hiện nay chưa được quán triệt đầy đủ Giáo dục nhà trường, đặc biệt là ở nhà trường đại học, việc giáo dục chỉ coi trọng truyền thụ kiến thức mà coi nhẹ rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng tự học suốt đời, chỉ coi trọng kiến thức chuyên môn mà coi nhẹ giáo dục đạo đức, chính trị tư tưởng, chỉ coi trọng dạy chữ, dạy nghề mà coi nhẹ dạy người… Điều đó cho thấy thực tiễn nền giáo dục của Việt Nam, đặc biệt là giáo dục đại học vẫn còn nhiều bất cập, chưa nhận thức và hành động đúng quan điểm giáo dục con người toàn diện mà Đảng ta đã đề ra Sẽ
là sai lầm nghiêm trọng khi nghĩ rằng, chỉ cần trang bị kiến thức chuyên môn, thao tác kỹ thuật nghiệp vụ mà lại không chú trọng giáo dục nhân cách làm người Về vấn đề này Albert Einstein, trong một bài trả lời phỏng vấn trên tờ “New York Time”, đã từng nhận xét: “Là một sự thiếu sót nếu chỉ dạy cho con người một ngành chuyên môn Bằng cách đó anh ta chỉ trở thành một loại máy có thể sử dụng được Nhưng điều quan trọng là anh ta phải có một cảm giác sinh động về cái gì đáng giá để phấn đấu… Về cái gì đẹp và tốt về mặt đạo lý Nếu không anh ta với kiến thức chuyên môn hóa sẽ giống như một con chó được huấn luyện tốt hơn là một con người phát triển hài hòa Anh ta phải hiểu biết về động cơ của con người, những ảo tưởng và đau khổ của họ để có một thái độ đúng với người đồng loại và với cộng đồng”
Trang 40“Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau:
Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; Có ý thức tập thể, đoàn kết, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trong kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái; Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội; Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết,
là đào tạo SV trở thành những người có trình độ khoa học cao, những chuyên gia giỏi cho các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ của quốc gia từ đó làm phát triển nền kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học của đất nước
2.3.2 Phải đảm bảo nội dung giáo dục toàn diện: giáo dục ý thức công dân, giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, quốc phòng an ninh
Căn cứ vào mục đích giáo dục và yêu cầu khách quan của đất nước, của thời đại, mà xác định nội dung giáo dục toàn diện trong nhà trường Cùng với việc giáo dục các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn nhất định cho SV, nhà trường đại học phải chú trọng giáo dục toàn diện cho SV các những nội dung giáo dục cơ bản khác như: giáo dục ý thức công dân, giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, quốc phòng an ninh… (1) Giáo dục ý thức công dân Ý thức công dân là phạm trù tinh thần, nói lên trình độ nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ của người dân đối với nhà nước và được thể hiện bằng nhận thức và hành vi cụ thể trong cuộc sống của mỗi người Ý thức công dân là một sản phẩm tinh thần được hình thành nhờ có giáo dục và sự từng trải của cá nhân trong hoạt động thực tiễn và đây là một phẩm chất quan trọng của nhân cách Nội dung của giáo dục
ý thức công dân bao gồm giáo dục ý thức chính trị, giáo dục ý thức pháp luật và giáo dục ý thức đạo đức…
Giáo dục ý thức chính trị cho người học là giáo dục ý thức về chủ quyền dân tộc, về
sự tồn tại và toàn vẹn lãnh thổ, về sự giàu mạnh của đất nước; ý thức về việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân; ý thức về nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Trong nội dung của ý thức
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998) Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội Tr 58 – 59