Trong Hợp đồng quy định: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết trước tòa án Việt Nam hoặc trọng tài VIAC theo quy tắc tố tụng của Trung tâm này”.Hãy cho biết thỏa thuận này có hiệu lực không? Nếu có thì cơ quan giải quyết tranh chấp nào có thẩm quyền?
Trang 1Điều khoản trọng tài
Đề bài:
Trong Hợp đồng quy định: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết trước tòa án Việt Nam hoặc trọng tài VIAC theo quy tắc tố tụng của Trung tâm này”
Câu 1 Hãy cho biết thỏa thuận này có hiệu lực không?
Câu 2 Nếu có thì cơ quan giải quyết tranh chấp nào có thẩm quyền?
Câu 3 Hãy bình luận và đưa ra quan điểm của mình đối với quy định của pháp luật VN
về vấn đề này
Bài làm Câu 1 Hãy cho biết thỏa thuận này có hiệu lực không?
Vấn đề pháp lý: Liệu thỏa thuận “Mọi tranh chấp phát sinh từ quy định giải quyết
trước tòa án Việt Nam hoặc trọng tài VIAC theo quy tắc tố tụng của Trung tâm này” có hiệu lực hay không?
Căn cứ pháp lý: Bộ luật dân sự 2015 (điều 116, 117, 385), Luật Trọng tài thương mại
2010 ( Điều 18,19)
Nội dung:
Trong những năm gần đây, chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của Tư pháp quốc tế trong đời sống pháp luật thế giới Tư pháp quốc tế là một ngành luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, chính vì vậy, xét về phương pháp điều chỉnh,
Tư pháp quốc tế sử dụng phương pháp điều chỉnh giống như ngành Luật Dân sự Một trong những đặc trưng cơ bản nhất của Tư pháp quốc tế đó là tôn trọng sự tự do thỏa thuận, tự nguyện ký kết và tự định đoạt Đặc trưng này được Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới tôn trọng và dành cho hẳn những điều luật riêng để quy định Quay trở lại vấn đề pháp lý, để biết được một thỏa thuận sử dụng Tòa án hoặc Trọng tài có hợp lệ
Trang 2hay không Ta phải căn cứ vào các điều kiện có hiệu lực để một thỏa thuận lựa chọn Tòa
án hoặc Trọng tài làm phát sinh hậu quả pháp lý Đáng tiếc thay, trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật Việt Nam, em nhận thấy Luật Việt Nam không có bất cứ một quy định minh thị nào nói rõ về điều kiện để một thỏa thuận sử dụng Tòa án và Trọng tài
là hợp lệ Vì vậy, em xin phép được tự suy ra theo những điều khoản luật gián tiếp
TH1: Thỏa thuận “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được
giải quyết trước tòa án Việt Nam hoặc trọng tài VIAC theo quy tắc tố tụng của Trung tâm này” là có hiệu lực
Căn cứ theo điểu 385 Bộ luật dân sự 2015 về khái niệm hợp đồng thì “Hợp đồng là sự
thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự” Căn cứ điều 116 về khái niệm giao dịch dân sự, ta có thể nhận thấy, thỏa thuận lựa
chọn Tòa án hoặc Trọng tài là một thỏa thuận có trong hợp đồng nên bản chất của thỏa thuận này chính là một giao dịch dân sự Vì vậy, để biết thỏa thuận Tòa án và Trọng tài
có hiệu lực hay không, ta cần phải xem xét đến điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự
Căn cứ Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, một
giao dịch có hiệu lực khi các chủ thể tham gia có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, tự nguyện tham gia, nội dung và mục đích giao dịch không trái với pháp luật…
Cần lưu ý thêm rằng, để tránh trường hợp bỏ sót pháp luật Tức là trong trường hợp giao dịch dân sự không có hiệu lực, hợp đồng vô hiệu dẫn đến thỏa thuận tòa án không
còn giá trị pháp lý thì thỏa thuận trọng tài có thể vẫn có hiệu lực bình thường theo Điều
19 luật Trọng tài thương mại 2010 nếu như thỏa thuận trọng tài ấy thỏa mãn yêu cầu về
hình thức theo Điều 16 và không thuộc các trường hợp vô hiệu như Điều 18 của bộ luật này
Từ những phân tích trên đây, ta có thể đưa ra kết luận:
Trang 3Nếu thỏa thuận trong đề bài được xây dựng đựa trên tinh thần tự nguyện, bởi những cá nhân thỏa mãn đầy đủ những điều kiện về năng lực chủ thể, nội dung, hình thức đúng với yêu cầu của pháp luật đề ra, thì ta có thể khẳng định, đây là một giao dịch dân sự có hiệu lực Ngoài ra, trong trường hợp thỏa thuận Tòa án bị vô hiệu do không thỏa mãn
điều 117 Bộ luật dân sự 2015 nhưng thỏa thuận Trọng tài lại hợp lệ do đáp ứng đầy đủ
yêu cầu theo Điều 16 và điều 18 luật trọng tài thương mại 2010 Thì thỏa thuận của đề
bài vẫn là có hiệu lực
TH2: Thỏa thuận “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ
được giải quyết trước tòa án Việt Nam hoặc trọng tài VIAC theo quy tắc tố tụng của Trung tâm này” là không có hiệu lực
Ngược lại với trường hợp 1, nếu thỏa thuận của các bên không thỏa mãn một trong các tiêu chí để giao dịch dân sự có hiệu lực và thỏa thuận Trọng tài cũng vô hiệu luôn do
không thỏa mãn Điều 16 và điều 18 luật Trọng tài thương mại thì mặc nhiên, đây là một
thỏa thuận không hợp lệ và không có giá trị pháp lý
Câu 2 Nếu thỏa thuận có hiệu lực thì cơ quan giải quyết tranh chấp nào có thẩm quyền?
Vấn đề pháp lý: Nếu thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng là có hiệu lực thì Tòa án
hay Trọng tài sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp?
Cơ sở pháp lý: Nghị quyết số 01/2014/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao
Nội dung:
Tranh chấp là việc khó tránh khỏi trong quan hệ thương mại và không một doanh nhân nào muốn trong quá trình kinh doanh xảy ra tranh chấp Trước khi tranh chấp xảy ra, các bên có quyền lựa chọn cho mình các biện pháp giải quyết tranh cấp cũng như lựa chọn
cơ quan sẽ giúp mình giải quyết tranh chấp ấy Để tránh các phát sinh không đáng có về
Trang 4sau, các bên tham gia quan hệ thương mại thường thỏa thuận rõ ràng luôn cơ quan tranh chấp mà họ sẽ chọn trong Hợp đồng
Đa số các trường hợp, các bên chỉ thống nhất chọn một cơ quan giải quyết tranh chấp là Tòa án hoặc Trọng Tài cho thuận tiện Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi thị trường kinh doanh trở nên đa dạng và tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn, trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn cả Tòa án và Trọng tài làm cơ quan để giải quyết tranh chấp là không hề hiếm Điều này làm phát sinh ra câu hỏi, vậy khi xảy ra tranh chấp trong trường hợp này thì cơ quan giải quyết tranh chấp nào sẽ được ưu tiên lựa chọn hơn?
Trước hết, phải khẳng định rõ ràng luôn, cho đến nay không có bất cứ một quy định minh thị nào về loại thỏa thuận này Ngay cả Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
và Luật trọng tài thương mại năm 2010 cũng không hề đề cập đến nó Ở đây, trong nội tại Hợp đồng có tranh chấp, vì các bên thỏa luận lựa chọn cả hai hình thức cho nên xảy
ra nhiều trường hợp trớ trêu Ví dụ, một bên kiện ra tòa còn bên còn lại thì kiện ra trọng tài, hay một bên kiện ra trong tài thì bên còn lại tìm mọi cách để hủy phán quyết trọng tài và kiện ra tòa án Sớm lường trước những rắc rối phức tạp này có thể phát sinh, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã có quy định về chủ đề này và dưới đây là những quy định đó
Cụ thể, theo khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 01/2014: “Trường hợp người khởi kiện yêu
cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp khi Tòa án chưa thụ lý vụ án quy định tại điểm b khoản 4 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài Thương mại để từ chối thụ lý, giải quyết” và “trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mà phát hiện tranh chấp
đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết trước thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện”
Trang 5Điểm b khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 01/2014 cũng xác định “trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện mà Tòa án xác định người bị kiện, người khởi kiện đã yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện”
Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra kết luận: Nếu một tranh chấp vừa được
yêu cầu tại Tòa án nhân dân và tại Trọng tài thương mại thì Trọng tài thương mại được
ưu tiên hơn và Tòa án phải từ chối giải quyết Do vậy, nếu thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng là có hiệu lực thì Trọng tài sẽ là cơ quan giải quyết tranh chấp được ưu tiên hơn
3 Hãy bình luận và đưa ra quan điểm của mình đối với quy định của pháp luật VN
về vấn đề này.
Các căn cứ pháp lý được sử dụng: Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, Bộ luật Tố tụng
dân sự Pháp, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày
24/02/2017 về Hòa giải thương mại
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiều các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, em nhận thấy việc ưu tiên sử dụng Trọng tài hơn Tòa án trong trường hợp thỏa thuận hợp đồng cho phép lựa chọn cả Trọng tài và Tòa án làm cơ quan giải quyết tranh chấp là có căn cứ phù hợp và đáng khích lệ, bởi những lẽ sau:
Thứ nhất, ngay như đã đề cập đến ở phần 1, Tư pháp quốc tế được coi như một ngành
luật dân sự có yếu tố nước ngoài, nhắc đến dân sự ta nghĩ ngay đến câu nói “Việc dân sự cốt ở đôi bên” Cho nên có thể suy rộng ra, sự thỏa thuận của các bên tham gia vào quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được pháp luật của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới rất đề cao và tôn trọng
Cụ thể, theo pháp luật Việt Nam, khoản 2 Điều 3 BLDS 2015 khẳng định: “cá nhân,
pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự
Trang 6do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” và “Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”
Theo pháp luật nước Pháp, ở Pháp có một thỏa thuận là thỏa thuận tiền tố tụng, tức là nếu như trong hợp đồng hoặc điều lệ công ty… các bên có quyền quy định sẽ có một thủ tục thương lượng bắt buộc với nhau trước khi khởi kiện ra Tòa án Khi có điều kiện tiền
tố tụng, Tòa án sẽ từ chối thụ lý vụ án Điều này được quy định theo Điều 122 và 124
Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp.
Phân tích như vậy để thấy, Tòa án chính là “chủ thể khác” nên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên Bản thân Trọng tài là cơ quan giải quyết tư, nguồn gốc sâu xa của nó cũng bắt nguồn từ các thương nhân mà ra Vì các thương nhân là lúc nào cũng muốn mọi tranh chấp phát sinh phải được giải quyết nhanh chóng, gọn lẹ và bí mật nên bản thân họ
đã tự mời các chuyên gia có kinh nghiệm và năng lực làm “thẩm phán” riêng cho mình, lâu dần điều này trở thành tập quán Vì Trọng tài được hình thành do ý chí và thỏa thuận của thương nhân, cho nên nó phải được ưu tiên hơn so với Tòa án trong trường hợp thỏa thuận hợp đồng các bên lựa chọn cả 2 cơ quan
Thứ hai, có thể khắng định rằng trong những năm gần đây, Tòa án Việt Nam đang thực
sự quá tải, chỉ tính riêng năm 2019, cả nước ta có 600.000 vụ việc mà Tòa án đang phải thụ lý Nhiều thẩm phán đã xin nghỉ việc vì “bệnh nặng”, do phải làm việc cả Thứ 7 và Chủ nhật ( tóm tắt lại lời Chánh án Toà án Nhân dân tối cao Nguyễn Hoà Bình) Vì vậy, khi trong hợp đồng có thỏa thuận dùng cả Tòa án và Trọng tài, để Tòa án bớt quá tải thì các vụ việc nên được san bớt sang cho Trọng tài nên phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được ưu tiên hơn
Thứ 3, nước ta đang khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án Trong
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 có đề cập đến việc “khuyến khích việc giải quyết một số
tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định
Trang 7công nhận việc giải quyết đó” Năm 2017, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số
22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 về Hòa giải thương mại với chính sách là: “khuyến
khích các bên tranh chấp sử dụng hòa giải thương mại để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại và các tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại” (khoản 1 Điều 5) Tóm lại, việc ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài vừa tránh được sự quá tải cho tòa án, vừa khuyến khích các bên tham gia tranh chấp tự giải quyết vụ việc với nhau
Kết luận và đề xuất:
Với hướng giải quyết như đã phân tích, phải khẳng định rằng pháp luật của chúng ta đã được cải tiến và ngày càng xích lại gần hơn với các thông lệ chung trên thế giới như Pháp và Anh Trong tương lai, cá nhân em cho rằng Nhà nước cần xây dựng và có cơ chế, chính sách phù hợp cho các cán bộ, công chức ngành Tòa án Nên tăng lương và các chế độ đãi ngộ cho họ để tránh tình trạng các thẩm phán phải xin nghỉ việc vì quá tải, để họ bớt “ghen tị” với thiết chế Trọng tài vì giải quyết ít việc mà lương vẫn cao Và hơn tất cả, tăng chế độ đãi ngộ với cán bộ công chức Tòa án để họ thấy công sức của mình bỏ ra là xứng đáng, tránh trường hợp thẩm phán giải quyết sự vụ một cách qua loa
vì quá phẫn uất và mệt mỏi, dẫn đến những vụ án oan sai không đáng có