1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số lưu ý khi rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào văn nghị luận cho học sinh trung học cơ sở

46 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 315 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm đề xuất hệ thống bài tập gồm: Bài tập nhận biết vàphân tích tác dụng của phương thức biểu cảm trong văn nghị luận; Bài tập tạolập văn bản nghị luận có sử dụng yếu t

Trang 1

PHẦN 2: NỘI DUNG

I CƠ SỞ CỦA VIỆC RÈN LUYÊN KĨ NĂNG ĐƯA YẾU TỐ BIỂU CẢM

1.3 Vai trò của phương thức biểu cảm trong văn nghị luận 15

2 2 Cơ sở thực tiễn: Khảo sát nội dung chương trình sách giáo

II RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐƯA YẾU TỐ BIỂU CẢM VÀO VĂN NGHỊ LUẬN 191

1 Lựa chọn bài tập rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào

1.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 20

2

2 Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu

2.1 Bài tập nhóm 1: Nhận biết và phân tích tác dụng của các

yếu tố biểu cảm trong văn nghi luận 232.2 Bài tập nhóm 2: Tạo lập văn bản nghị luận có sử dụng

2.3 Bài tập nhóm 3:Bài tập phát hiện và chữa lỗi về kĩ năng

sử dụng yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận 383

3 Tổ chức rèn luyện kĩ năng sử dụng phương thức biểu cảm

3.1 Rèn luyện qua một số bài học trên lớp 41

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ngữ văn là một trong ba môn học (Ngữ văn, Toán và Ngoại ngữ) có sốgiờ học cao nhất ở nhà trường Phổ thông Nó vừa là môn học về khoa học xãhội nhân văn (cung cấp cho học sinh những kiến thức về Tiếng Việt, Văn học vàLàm văn, đồng thời hình thành ở học sinh những năng lực sử dụng Tiếng Việt,năng lực tiếp nhận các tác phẩm văn học ), vừa là môn học công cụ (trang bịcho học sinh công cụ để học tập, sinh hoạt và nhận thức xã hội…) Nhiệm vụ

của môn Ngữ văn là hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực: nghe,

nói, đọc, viết tiếng Việt Những năng lực này ở học sinh được hình thành và phát

triển theo 3 bậc học: Tiểu học, THCS và THPT Ở bậc học THSC, môn Ngữ vănbao gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn Mỗi phân môn cómột nhiệm vụ chức năng riêng và cùng hướng tới thực hiện nhiệm vụ chung củamôn Ngữ văn Đối với phân môn Tập làm văn nhiệm vụ cơ bản bước đầu cung

cấp những kiến thức cơ bản về đặc điểm và kĩ năng tạo lập các loại văn bản Để

thực hiện được cả hai hoạt động này, quá trình dạy học cần tích hợp tri thức và

kĩ năng của cả ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn Đồng thời còn

cần huy động kiến thức của nhiều môn học khác nữa

1.2.Phân môn Làm văn cấp THCS có bản chất là dạy học sinh nói, viết

một văn bản hoàn chỉnh Tức là dùng hoạt động nói, viết để tạo ra văn bản Hoạtđộng này giữ vai trò là trung tâm, là trục chính của môn Ngữ văn Chương trìnhTập làm văn cấp THCS nhằm cung cấp kiến thức cơ bản về đặc điểm và cáchtạo lập các kiểu văn bản: Tự sự; miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh vàmột số văn bản hành chính thông dụng

1.3 Nắm chắc kiến thức cơ bản về đặc điểm và có kĩ năng xây dựng cáckiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh là cả một quá trình đòi hỏi sự

nỗ lực của học sinh Nhưng tạo lập một văn bản nghị luận còn khó khăn hơn đối

với học sinh.Văn bản nghị luận sử dụng phương thức biểu đạt chính là nghị

luận Nghị luận là việc tác giả nêu ra một quan điểm nào đó rồi nêu ra những sự

thực và vận dụng những phương thức tư duy lôgic như khái niệm, phán đoán,suy lí để bình luận nhằm đạt được mục đích khiến người ta tin theo Đây là loạivăn bản vừa tác động vào lí trí vừa tác động tình cảm nên văn bản nghị luận

không chỉ sử dụng phương thức nghị luận mà cần sử dụng kết hợp nhiều phương thức biểu đạt khác như: Thuyết minh, miêu tả, biểu cảm, tự sự Trong đó cần

thiết nhất là biểu cảm Đây là phương thức hỗ trợ cho phương thức nghị luận,

nhằm tăng cường tính biểu cảm cho văn bản nghị luận

Trang 3

1.4 Qua thực tế dạy học, tôi thấy rằng, Khi học và rèn luyện kĩ năng tạo lậpvăn bản nghị luận học sinh gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là kĩ năng sử dụng kếthợp các phương thức biểu đạt trong văn bản nghị luận Vì vậy dẫn đến bài viếtvăn nghị luận của học sinh thường khô khan, thiếu sự thuyết phục hoặc viết theovăn mẫu.

Xuất phát từ lí do trên nên tôi đã lựa chọn đề tài Sáng kiến kinh nghiệm là:Một số lưu ý khi rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào văn nghị luận chohọc sinh Trung học cơ sở, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việcnâng cao năng lực tạo lập văn bản cho học sinh THCS, để từ đó góp phần nângcao chất lượng môn Ngữ văn nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung

2 Mục đích nghiên cứu

Khi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Một số lưu ý khi rèn luyện kĩ năng đưa yếu

tố biểu cảm vào văn nghị luận cho học sinh Trung học cơ sở, nhằm mục đích:

- Cung cấp kiến thức cơ bản về đặc điểm và cách tạo lập văn bản nghị luận

- Rèn kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận, kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vàobài văn nghị luận

- Thông qua việc rèn luyện kĩ năng sử dụng yếu tố biểu cảm trong bài vănnghị luận, nhằm góp phần hoàn thiện năng lực giao tiếp cho học sinh Bởi vì,văn bản nói chung và văn bản nghị luận nói riêng vừa là phương tiện vừa là sảnphẩm giao tiếp

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với khả năng và tài liệu cho phép, tôi xác định Sáng kiến kinh nghiệmnhững nhiệm vụ chính như sau:

3.1 Xây dựng những tiền đề lí thuyết và thực tiễn làm cơ sở khoa học choviệc rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận cho học sinhTHCS

3.2 Đề xuất nội dung, phương pháp và các hình thức rèn luyện kĩ năng đưayếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận

3.3 Tổ chức thực nghiệm dạy học để kiểm tra khả năng thực thi và hiệuquả của các giải pháp được đề xuất

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết được tiến hành trên cơ sở tìm hiểu thuthập nghiên cứu phân tích những thành tựu về lí thuyết đã có để làm tiền đề chogiả thuyết khoa học mà mình đặt ra Có thể khẳng định rằng, bất kì một côngtrình nghiên cứu khoa học nào cũng phải dựa trên một cơ sở lí thuyết nhất định

Do vậy, nghiên cứu lí thuyết là một phương pháp quan trọng trong quá trình tôi

Trang 4

thực hiện đề tài Những lí thuyết mà tôi nghiên cứu ở đây bao gồm: lí thuyếtgiao tiếp, lí thuyết về tạo lập văn bản và lí thuyết về văn bản nghị luận.

4.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Thông thường để đi đến một kết luận, một nhận định đúng đắn ngườinghiên cứu phải thông qua các khâu kiểm tra khảo sát thực tế Bởi vì những con

số biết nói là cơ sở tạo niềm tin cho đề tài nghiên cứu Với phương pháp này, tôichọn đối tượng khảo sát là Học sinh lớp 8

Quá trình khảo sát, tôi tiến hành cho học sinh viết bài thuộc kiểu văn bảnnghị luận, rồi thu thập kết quả theo tiêu chí: hình thức bài viết, nội dung bài viết,

kĩ năng sử dụng yếu tố biểu cảm Bên cạnh việc khảo sát bài làm của học sinh,tôi cũng tiến hành khảo sát giáo viên thông qua dự giờ thăm lớp theo tiêu chíđánh giá các hoạt động dạy học được tổ chức trên lớp

Sáng kiến kinh nghiệm đề xuất hệ thống bài tập gồm: Bài tập nhận biết vàphân tích tác dụng của phương thức biểu cảm trong văn nghị luận; Bài tập tạolập văn bản nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm; Bài tập phát hiện và sửa chữalỗi về kĩ năng sử dụng phương thức biểu cảm trong văn nghị luận

6 Kết cấu của sáng kiến kinh nghiệm

Trang 5

1.1.1.1 Khái niệm văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là loại văn bản quan trọng, cần thiết và cũng rất quenthuộc với chúng ta Ta có thể gặp văn nghị luận dưới dạng các ý kiến nêu ratrong các cuộc họp, trong các bài xã luận, bình luận, bài phát biểu ý kiến trênbáo chí…về mọi lĩnh vực, từ đời sống xã hội đến văn học nghệ thuật

Về khái niệm văn bản nghị luận, có một số cách hiểu như sau:

"Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ,quan điểm của người viết một cách trực tiếp về các lĩnh vực văn học hoặc chínhtrị, đạo đức, lối sống… nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trongsáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục" "Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc (ngườinghe) một tư tưởng quan điểm nào đó Muốn thế văn nghị luận phải có quanđiểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục"

"Văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫnchứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức bàn luận mà làm chongười đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo nhữngđiều mà mình đã đề xuất"

Như vậy, tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng cơ bản các tác giảđều đã thống nhất được rằng: Văn nghị luận là loại văn trình bày ý kiến củangười viết, thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lí lẽ và lập luận

1.1.1.2 Đặc điểm của văn bản nghị luận

Khác với các loại văn bản - sản phẩm của tư duy hình tượng, văn bản nghịluận - sản phẩm của tư duy lôgic, có những đặc điểm riêng như sau: Văn bảnnghị luận sử dụng kết hợp các thao tác lập luận; Luận điểm của bài văn nghịluận thể hiện rõ tư tưởng quan điểm chủ trương đánh giá của người viết; Và lậpluận trong văn nghị luận rất chặt chẽ hùng hồn, giàu sức thuyết phục

(1) Mỗi văn bản nghị luận thường tập trung làm sáng tỏ một vấn đề nào đó,

có thể là vấn đề xã hội hoặc vấn đề văn học Để làm sáng tỏ vấn đề và thuyếtphục được người đọc (người nghe), người viết cần soi chiếu vấn đề từ nhiều góc

độ, mỗi góc độ soi chiếu, người viết cần thực hiên những thao tác nghị luận cụthể như giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp… và những cách trình bày

Trang 6

như diễn dịch, qui nạp…Nhưng cần lưu ý rằng, trong bài văn nghị luận các thaotác trên không tách riêng mà luôn kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn.Đồng thời, không phải bất kì văn bản nghị luận nào cũng cần huy động đầy đủcác thao tác Tuỳ thuộc vào vấn đề, tuỳ thuộc vào đối tượng tiếp nhận, tuỳ thuộcvào người viết giả định mà có thể lựa chọn một số thao tác nhất định Thôngthường, trong một đoạn văn, bài văn nghị luận sẽ có một hoặc hai thao tác chínhđóng vai trò nòng cốt tạo nên mạch lập luận của vấn đề đưa ra nghị luận, vànhững thao tác khác phối hợp giúp cho lập luận được sinh động, có chiều sâu.Bên cạnh đó không phải chỉ có các thao tác lâp luận được sử dụng kết hợp trongvăn nghị luận mà nhiều khi cả những yếu tố miêu tả, tự sự biểu cảm cũng cầnđưa vào, khiến cho bài viết vừa lôgic trong tư duy vừa có sự sinh động tươi tắnhấp dẫn của những hình ảnh hình tượng Bài văn nghị luận hay là bài văn vừagiàu sức thuyết phục luận lí, vừa giàu hình ảnh Hình ảnh làm tăng sức thuyếtphục, làm cho chân lí sáng tỏ thấm thía.

Ví dụ: HAI BIỂN HỒ

Người ta bảo ở Palenxtin có hai biển hồ… Biển hồ thứ nhất gọi là biểnChết Đúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanhbiển hồ này Nước trong hồ không có một loại cá nào có thể sống nổi Ai ai cũngđều không muốn sống gần đó Biển hồ thứ hai là Galilê Đây là biển hồ thu hútnhiều khách du lịch nhất Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, conngười có thể uống được mà cá cũng sống được Nhà cửa được xây cất rất nhiều

ở đây Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này

Nhưng điều kì lạ là cả hai biển hồ này đều đón nhận nguồn nước từ sôngGioócđăng Nước sông Gioócđăng chảy vào biển chết Biển chết đón nhận vàgiữ riêng cho mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặnchát Biển hồ Galilê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Gioócđăng rồi từ đótràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy mà nước trong hồ này luôn sạch vàmang lại sự sống cho cây cố,i muông thú, con người

Một định lí trong cuộc sống mà ai cũng đồng tình: một ánh lửa sẻ chia làmột ánh lửa lan toả, một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi, đôi môi

có hé mở nụ mới thu nhận được nụ cười, bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồnmới tràn ngập vui sướng

Thật bất hạnh cho ai cả cuộc đời chỉ biết giữ cho riêng mình "Sự sốngtrong họ rồi cũng sẽ chết dần chết mòn như nước trong lòng biển Chết…"

(TheoQuà tặng cuộc sống)

Vấn đề đưa ra bàn luận ở văn bản này là hai cách sống trái ngược nhau, vàvấn đề này được triển khai qua các thao tác: chứng minh, giải thích, phân tích,

Trang 7

bình luận xung quanh một câu chuyện về hai biển hồ Đoạn văn cũng nêu lí lẽ vàbằng chứng xác thực qua những lời văn tự sự, miêu tả Lập luận của đoạn vănnhẹ nhàng mà thấm thía Đoạn văn có tác động sâu xa đến lí trí và tình cảm củangười đọc

(2) Văn bản nghị luận là loại văn trình bày, tư tưởng quan điểm của ngườiviết Tư tưởng, quan điểm này phải được thể hiện trong luận điểm của bài vănnghị luận Do đó luận điểm được coi là linh hồn, là trí tuệ của bài văn nghị luận.Luận điểm thường thể hiện dưới hình thức những câu văn ngắn gọn với phánđoán có tính chất khẳng định hoặc phủ định

Luận điểm của văn nghị luận thực chất là ý kiến của người viết, vì thế bàivăn nghị luận phải nêu được ý hay Ý hay là ý phải đúng, phải sâu, phải mới,phải riêng, phải tập trung, phải nổi bật và có cơ sở khoa học, cơ sở đạo lí vữngchắc, đáp ứng đòi hỏi của thực tế, có sức thuyết phục với người nghe, ngườiđọc Do vậy tìm được luận điểm đúng, sâu, mới, riêng là công việc quyết địnhnhất, khó khăn nhất của người viết văn nghị luận

Muốn tìm được luận điểm mới mẻ, độc đáo, đúng đắn, người viết phải xuấtphát từ thực tế cuộc sống, từ kho tàng tư tưởng đạo lí của dân tộc và nhân loại.Đồng thời điều đó còn phụ thuộc vào trình độ vốn sống, vốn văn hoá khác nhaucủa người viết

Ví dụ:

Khi viết tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn ra ngay từ đầulời văn hùng hồn ở hai bản tuyên ngôn bất hủ của Pháp và Mĩ Bản Tuyên ngôncủa Mĩ: "Tất cả mọi người sinh đều ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họnhững quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyềnđược sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" Bản tuyên ngôn củaPháp: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được

tự do và bình đẳng về quyền lợi" Từ đó Bác khẳng định: "Dân tộc nào cũng cóquyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do" Từ "những lẽ phải không ai cóthể chối cãi được" ấy, Bác đã lật ngược lại vấn đề để tố cáo tội ác của thực dânPháp: "Thế mà, hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bìnhđẳng, bác ái đến cướp nước ta…" Ta thấy, cách nêu luận điểm của Bác rất đúng,rất mới, rất độc đáo và sâu sắc

(3) Nghị luận là bàn luận, là nói lí lẽ, là thuyết phục người đọc người nghebằng lập luận lôgic chặt chẽ Vì thế, có luận điểm mới mẻ, độc đáo là hết sứcquan trọng nhưng để bài văn có sức thuyết phục cao thì riêng luận điểm thôichưa đủ mà còn phải cần đến vai trò của lập luận Nghệ thuật lập luận phụ thuộcrất nhiều vào cách nêu vấn đề, cách dẫn dắt người đọc, cách phân tích bằng

Trang 8

nhiều thủ pháp nhỏ như so sánh, liên hệ, đối chiếu, nêu dẫn chứng thực tế, đưa

số liệu thống kê…

Nghệ thuật lập luận còn phụ thuộc vào hành văn, giọng văn, cách dùng từ,đặt câu Văn nghị luận ít dùng câu mô tả, trần thuật, mà chủ yếu dùng câu khẳngđịnh, phủ định với nội dung hầu hết là phán đoán, nhận xét, đánh giá chắc chắn,sâu sắc Để tạo nên tính chặt chẽ trong lập luận văn nghị luận thường sử dụng hệthống từ lập luận Hệ thống từ lập luận này có vai trò liên kết các ý, các vế, cácđoạn nghị luận Để tăng tính thuyết phục, tính hấp dẫn, tác động thấm thía tớingười đọc văn nghị luận có thể dùng những từ ngữ giàu hình ảnh, có sức gợicảm, truyền cảm cao Đặc biệt, văn nghị luận thực chất là những cuộc đối thoạingầm nên hành văn của văn nghị luận thường mang sắc thái tranh luận Nhờ đó,những ý kiến mà tác giả đưa ra vừa có được chiều sâu của ý tưởng vừa có được

độ sắc sảo của tư duy Ngoài ra văn nghị luận cũng có thể dùng giọng văn mỉamai, hài hước…Những bài nghị luận có thêm chất giọng này sẽ giúp tác giả bày

tỏ sâu sắc tư tưởng thái độ của mình trước những vấn đề có tính chất mặt trái

Ví dụ:

"Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà khôngbiết thẹn Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạcthái thường để đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm Hoặc lấy việc chọi gà làmvui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặcquyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên đi việc nước, hoặc ham săn bắn

mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát Nếu có giặc MôngThát tràn sang thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờbạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều,tấm thân quí nghìn vàng khôn chuộc, vả lại vợ bìu con díu, việc quân cơ trăm sựích chi; tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ khôn đuổiđược quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát haykhông thể làm giặc điếc tai Lúc bấy giờ ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biếtchừng nào!" (Hịch tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn)

Đoạn văn trên có luận điểm là: Đã làm tướng sĩ thì phải có trách nhiệm vớitriều đình Luận điểm được triển khai bằng các luận cứ: Sao các ngươi nhìn chủnhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn… Sao các ngươi chỉbiết vui chơi cờ bạc, rượu chè, tiêu khiển… Nếu có giặc Mông Thát tràn sang thìhậu quả sẽ bi đát biết nhường nào… Từ các luận cứ này tác giả hướng tới mộtkết luận ngầm: Các ngươi có xứng đáng làm tướng sĩ của triều đình không? Đócũng chính là cách lập luận chặt chẽ khéo léo nhằm hướng tới mục đích thuyếtphục cao nhất đối với người nghe, người đọc của tác giả

Trang 9

1.1.2 Các phương thức biểu đạt của văn bản nghị luận

"Có người đã chỉ ra rằng: Nội dung khác nhau thì cần phương thức khácnhau để biểu đạt Phản ánh sự phát triển của sự kiện, sự di chuyển của khônggian và qúa trình trưởng thành của nhân vật thì thường dùng phương thức tự sự.Viết về cảnh vật, miêu tả hoàn cảnh tự nhiên và xã hội, khắc hoạ hình tượngnhân vật thì vận dụng phương thức miêu tả Bình luận về người và việc, nêu rõ lí

lẽ thì dùng phương thức nghị luận Giải thích, trình bày về tính chất, trạng thái,đặc trưng, công dụng, cách dùng của sự vật thì sử dụng phương thức thuyếtminh Bày tỏ tình cảm thì dùng phương thức biểu cảm (trữ tình)…”

Thông thường những phương thức biểu đạt này không đứng riêng màchúng kết hợp với nhau trong các kiểu văn bản Khi dùng kết hợp trong một vănbản, tuỳ thuộc vào kiểu văn bản mà sử dụng một phương thức biểu đạt chính,còn các phương thức biểu đạt khác sẽ là phụ trợ

Theo quan điểm nêu trên, văn bản nghị luận có phương thức biểu đạt chính

là nghị luận (lập luận) và các phương thức biểu đạt phụ trợ là tự sự, miêu tả,biểu cảm và thuyết minh

Ví dụ: CHẾ ĐỘ LÍNH TÌNH NGUYỆN

Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi: Dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương

từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khoá, sưu sai, tạp dịch, bằngcưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ 1915-1916 tớinay, lại còn phải chịu thêm cái vạ mộ lính nữa

Những biến cố trong mấy năm gần đây là cái cớ để người ta tiến hànhnhững cuộc lùng ráp lớn về nhân lực trên toàn cõi Đông Dương Những người bịbắt đều bị nhốt vào trại lính với đủ thứ tên: lính khố đỏ, lính thợ chuyên nghiệp,lính thợ không chuyên nghiệp…

Theo ý kiến của tất cả các cơ quan có thẩm quyền không thiên vị được giaocho sử dụng ở châu Âu “vật liệu biết nói” châu á, thì vật liệu này đã không đưalại kết quả tương xứngvới chi phí rất lớn về chuyên chở và bảo quản

Sau nữa, việc săn bắt thứ "vật liệu biết nói" đó, mà lúc bấy giờ người ta gọi

là "chế độ lính tình nguyện" (danh từ mỉa mai một cách ghê tởm) đã gây ranhững vụ lạm dụng hết sức trắng trợn

Đây! Chế độ lính tình nguyện ấy được tiến hành như thế này: Vị "chúatỉnh" - mỗi viên công sứ ở Đông Dương quả là một vị "chúa tỉnh" - ra lệnh chobọn quan lại dưới quyền, trong một thời hạn nhất định phải nộp cho đủ một sốngười nhất định Bằng cách nào, điều đó không quan trọng Các quan cứ liệu màxoay xở Mà cái ngón xoay xở thì các ông tướng ấy thạo hết chỗ nói, nhất làxoay xở làm tiền

Trang 10

Thoạt tiên, chúng tóm lấy những người khoẻ manh, nghèo khổ, nhữngngười này chỉ chịu chết thôi không còn kêu cứu vào đâu được Sau đó chúngmới đòi đến con cái nhà giàu Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp đểsinh chuyện với họ hoặc với gia đình họ, và nếu cần, thì giam cổ họ lại cho đếnkhi họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đường: "đi lính tình nguyệnhoặc xì tiền ra (Nguyễn Ái Quốc, Thuế máu)

Đoạn trích này thuộc kiểu văn bản nghị luận Luận điểm là: Vạch trần sựtàn bạo và giả dối của bọn thực dân trong cái gọi là "mộ lính tình nguyện".Trong phần văn bản này tác giả đã sử dụng các yêú tố thuộc các phương thức tự

sự và miêu tả khi kể và tả về nỗi thống khổ về thuế của dân lao khổ xứ ĐôngDương ; những thủ đoạn bắt lính của bọn quan lại và cảnh khổ sở của người bịbắt lính Yếu tố tự sự là lời kể về các loại thuế và diễn biến cảch bắt lính Yếu tốmiêu tả là hình ảnh bọn bắt lính và hình ảnh người bị bắt lính

Cùng với tự sự và miêu tả ta còn nhận thấy yếu tố biểu cảm và thuyết minhđược tác giả sử dụng trong phần văn bản nghị luận này Yếu tố biểu cảm thểhiện ở giọng văn mỉa mai và những từ ngữ mỉa mai: vật liệu biết nói, chế độlính tình nguyện, vị chúa tỉnh…Yếu tố thuyết minh thể hiện ở những từ ngữ cótính chất chú giải: Mỗi viên công sứ ở Đông Dương quả là một vị "chúa tỉnh"…Tác dụng của những yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh trongphần văn bản trên là: khắc hoạ rõ ràng cụ thể chi tiết cảnh bắt lính, bày tỏ cảmxúc, thái độ bất bình của tác giả trước cảnh bắt lính, một cách tự nhiên chânthành và giải thích giới thiệu chi tiết về bộ mặt của bọn bắt lính Qua đó sức tốcáo của đoạn trích trở nên mạnh mẽ hơn, tác động mạnh hơn tới cả cảm xúc và lítrí của người đọc

Khi sử dụng kết hợp các phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm và thuyếtminh trong vă nghị luận cần lưu ý rằng: những yếu tố thuộc các phương thứcbiểu đạt nêu trên chỉ đóng vai trò phụ trợ, không được tách biệt khỏi quá trìnhnghị luận và không được làm mờ nhạt vai trò của nghị luận Các yếu tố tự sự,miêu tả, biểu cảm và thuyết minh cũng chỉ được đưa vào bài văn nghị luận khinhờ chúng mà nội dung nghị luận trở nên rõ ràng, đáng tin cậy và sắc bén hơn

1.2 Vai trò của phương thức biểu cảm trong văn nghị luận

Những phương thức biểu đạt nêu trên khi được sử dụng trong văn bản nghịluận, chúng có những tác dụng khác nhau Trong đó biểu cảm có những tác dụngđặc biệt quan trọng, góp phần tạo nên sức thuyết phục mạnh mẽ cho văn bảnnghị luận

Biểu cảm là một nhu cầu tất yếu của con người trong cuộc sống Biểu cảmthể hiện ở sự phô diễn những cung bậc tình cảm của con người như: niềm vui

Trang 11

nỗi buồn tình yêu thương lòng căm giận… Để biểu hiện những cung bậc tìnhcảm ấy người ta có rất nhiều phương tiện khác nhau, trong đó phương tiện quantrọng nhất là ngôn ngữ (thông qua văn bản biểu cảm).

Biểu cảm có nghĩa khái quát là: "Biểu hiện tình cảm, cảm xúc"

Hiện nay, biểu cảm được coi là một phương thức biểu đạt, sử dụng khingười viết muốn biểu hiện trực tiếp hoặc gián tiếp những tư tưởng, tình cảm,cảm xúc, thái độ, sự đánh giá của mình với đối tượng được nói tới Biểu cảmtrực tiếp là cách thức bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ thầm kín bằng những từngữ trực tiếp gợi lên những tình cảm ấy Biểu cảm gián tiếp là cách biểu hiệntình cảm thông qua những hình ảnh miêu tả, những câu chuyện hoặc gợi ranhững suy nghĩ liên tưởng (nghĩa là không gọi thẳng cảm xúc ra)

Khi biểu cảm bằng phương tiện ngôn ngữ, tức là biểu cảm bằng văn, cầnphải lưu ý rằng không phải tình cảm nào cũng đưa vào văn Những tình cảm tầmthường đưa vào văn người ta chê cười và không có ai đồng cảm Những tìnhcảm đưa vào văn phải là tình cảm cao đẹp, nhân ái, cao thượng, tinh tế

Biểu cảm là phương thức biểu đạt chính của văn bản biểu cảm và là phươngthức biểu cảm phụ trợ quan trọng của nhiều văn bản khác, tiêu biểu là văn bảnnghị luận

Mặc dù nghị luận và biểu cảm là hai phương thức biểu đạt và hai kiểu vănbản có nhiều đặc điểm khác biệt nhau, (Biểu cảm thiên về tư duy hình tượng,bộc lộ cảm xúc và tác động vào tình cảm Nghị luận thiên về tư duy lôgic, trìnhbày lí lẽ, thuyết phục bằng lập luận và tác động vào lí trí) nhưng thực tế chúngkhông hoàn toàn khác biệt nhau mà chúng liên quan đến nhau, hoà hợp vớinhau, bổ trợ cho nhau Bởi vì, trong con người chúng ta tình cảm và lí trí khônghoàn toàn đối lập, ánh sáng của trí tuệ của lí trí giúp tình cảm, cảm xúc thêm bềnvững, sâu sắc Ngược lại tình cảm giúp cho những điều mà lí trí nêu ra có thêmsức lay động, cảm hoá lòng người Thực tế cũng cho thấy, những bài văn nghịluận hay là những bài văn được viết ra không chỉ bằng sự sáng suốt mạch lạcchặt chẽ của lí trí, trí tuệ mà còn bằng cả sự nhiệt tình, sự tha thiết của tâm hồn.Đồng thời người đọc cũng chỉ thấy một bài nghị luận hay là khi bài đó khôngchỉ làm đầu óc mình sáng tỏ lên mà còn làm trái tim mình rung động Nghĩa làngười đọc không chỉ "ngộ ra" (nhận ra) chân lí mà còn "thấm thía" (xúc động)

về chân lí đó

Phương thức biểu cảm có những yếu tố biểu cảm thuộc về phương diệnhình thức (cái biểu đạt) và phương diện nội dung (cái được biểu đạt) Ở phươngdiện hình thức, yếu tố biểu cảm thể hiện rõ nhất ở những từ ngữ chỉ cảm xúc,những câu văn cảm thán và ở giọng điệu của bài văn Còn ở phương diện nội

Trang 12

dung, biểu cảm là cảm xúc chân thành của người viết Chính cảm xúc chânthành mới làm cho bài nghị luận chinh phục được tình cảm của bạn đọc.

Sử dụng biểu cảm trong văn nghị luận là đưa những yếu tố biểu cảm vàobài văn nghị luận Tác dụng của biểu cảm là tác động mạnh mẽ tới tình cảm củangười nghe người đọc Tác dụng đó thể hiện ở khả năng "gây được hứng thúhoặc cảm xúc đẹp đẽ, mãnh liệt, sâu lắng", nghĩa là có khả năng nhiều nhấttrong việc làm nên cái hay, tạo nên sự hấp dẫn cho văn bản nghị luận Do đóbiểu cảm giúp văn nghị luận đạt hiệu quả thuyết phục cao hơn

Nếu thiếu yếu tố biểu cảm sức thuết phục của nghị luận nhất định sẽ giảm

đi Tuy nhiên, không phải cứ biểu cảm, cứ sử dụng bất kì yếu tố biểu cảm nàocũng làm cho sức thuyết phục của bài nghị luận tăng lên Vì thế yêu cầu sử dụngbiểu cảm chỉ với vai trò phục vụ cho công việc của nghị luận Yếu tố biểu cảmtrong một bài văn nghị luận sẽ không được xem là có giá trị khi nó làm mạchnghị luận bị phá vỡ đứt đoạn quẩn quanh Và người nghị luận sẽ không thể biểucảm với ai nếu bản thân không có cảm xúc chân thành Do vậy người làm bàinghị luận phải thực sự có tình có tình cảm, cảm xúc đối với điều mình nói ra.Hơn nữa cảm xúc ấy phải truyền đến người đọc thông qua ngôn ngữ Tức là phảitìm ra cách biểu lộ tình cảm bằng ngôn ngữ và tập cho thành thạo cách biểu hiệncảm xúc bằng phương tiện ngôn ngữ sao cho có tính truyền cảm Mặt khác, tìnhcảm của người viết sẽ không được tiếp nhận khi người đọc chưa tin nó là chânthành, nên yêu cầu người viết phải chú ý làm cho cả cảm xúc và sự diễn đạt cảmxúc phải thật chân thực

Ví dụ: CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI BẢN XỨ

Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên mít" bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trịnhà ta Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biếnthành những đứa "con yêu", những người "bạn hiền" của các quan cai trị phụmẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa.Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là

"An-nam-"chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do" Nhưng họ đã phải trả bằng một cái giá khá đắtcái vinh dự đột ngột ấy, vì để bảo vệ cho cái công lí và tự do mà chính họ khôngđược hưởng một tí nào, họ đã phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộnghoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trườngchâu Âu Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiếncảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáybiển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái Một số khác đã bỏ xác tại nhữngmiền hoang vu thơ mộng vùng Ban- căng, lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước

Trang 13

mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ, - chả thế sao lại đemnướng họ ở những miền xa xôi ấy? Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân chongười ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, hoặc trong bãi lầy miền Săm-bơ-nhơ, đểlấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xươngmình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế.

Cuối cùng, ở hậu phương, những người làm kiệt sức trong các xưởng thuốcsúng ghê tởm, tuy không phải hít hơi ngạt của bọn "bô-sơ" nhưng lại nhiễm phảinhững luồng khí độc đỏ ối của người Pháp; đằng nào cũng thế thôi, vì những kẻkhốn khổ ấy cũng đã khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy.Tổng cộng có bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; vàtrong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quêhương đất nước mình nữa (Nguyễn Ái Quốc, Thuế máu)

Đoạn trích có luận điểm là: Vạch trần bộ mặt tàn bạo của chính quyền thựcdân Pháp trong việc dùng người dân nước thuộc địa làm vật hi sinh cho quyềnlợi của mình trong các cuộc chiến tranh thảm khốc Triển khai luận điểm trên,tác giả đã sử dụng kết hợp các yếu tố biểu cảm như: giọng văn mỉa mai thái độcủa các quan cai trị thực dân khi so sánh sự đối sử của chúng đối với người dânnước thuộc địa trước và sau khi cuộc chiến tranh nổ ra Trước chiến tranh chúngcoi người bản xứ là giống người hạ đẳng, đối sử với họ như với súc vật Khichiến tranh bùng nổ lập tức chúng tâng bốc họ lên, phong cho họ những danhhiệu cao quí nhằm lừa bịp họ biến họ thành vật hi sinh Đằng sau giọng văn mỉamai là nỗi căm phẫn cực độ của tác giả trước trò bịp bợm của chính quyền thựcdân Giọng văn mỉa mai và thái độ căm phẫn của tác giả được nhấn sâu ở những

từ ngữ biểu cảm có tính chất "nhại lại" như: "những tên da đen bẩn thỉu, nhữngtên "An-nam-mít" bẩn thỉu"; "những đứa con yêu, những người bạn hiền" Đó

là những từ ngữ lột tả bản chất của bon thực dân

Cùng với thái độ căm phẫn là nỗi lòng đau xót của tác giả trước cảnh ngườidân bản xứ bị biến thành vật hi sinh cho quyền lợi của bọn thực dân Nỗi đau xótthể hiện ở những hình ảnh: Họ phải "đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộnghoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường"; họ

đã được "xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái"; một số khác

"đã bỏ xác tại những miền hoang vu"…Đây là những hình ảnh giàu sức biểu cảm,vừa thể hiện nỗi thương cảm vừa thể hiện nỗi đau vừa thể hiện lòng căm thù củatác giả Những cảm xúc ấy dồn lên đến đỉnh điểm với hàng loạt câu câu hỏi tu từ vàcâu văn so sánh bình luận: "…chả thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôiấy?; "…để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấyxương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế…" Những câu văn

Trang 14

hàm chứa cả nỗi đau, miền ai oán và lòng căm thù Tất cả hợp thành một sức mạnh

tố cáo đanh thép tội ác của bọn thực dân Pháp

Đoạn trích "chiến tranh và người bản xứ" đã tác động mạnh đến người đọckhông chỉ ở lí lẽ và lập luận mà còn ở cảm xúc chân thành của tác giả Cảm xúc

ấy đã truyền đến người đọc bằng những yếu tố biểu cảm sử dụng hợp lí trongđoạn văn

Tóm lại, biểu cảm không thể thiếu trong văn nghị luận Biểu cảm góp phầnquan trọng vào thành công của bài nghị luận Nhờ biểu cảm, bài nghị luận khôngchỉ thuyết phục người đọc bằng lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứngxác thực mà còn thuyết phục người đọc bằng tình cảm, cảm xúc chân thành thathiết Tức là thuyết phục bằng cả trái tim và khối óc

1.3 Cách đưa yếu tố biểu cảm vào bài nghị luận

Về phương diện ngữ nghĩa, biểu cảm là một thành phần ý nghĩa rất quantrọng của từ ngữ Tự nó đã tồn tại một ý nghĩa biểu cảm nhất định và giới hạnphạm vi sử dụng cho con người

1.3.1 Loại từ có khả năng biểu đạt cảm xúc rõ ràng nhất là những từ, ngữ cảm thán như: Chao ôi, hỡi ôi, than ôi, biết bao, xiết bao, biết chừng nào

Loại từ này được sử dụng để bày tỏ trực tiếp cảm xúc của người viết (người nói)

Để tạo ra tính truyền cảm và thu hút sự chú ý của người nghe (người đọc),chúng ta cũng có thể sử dụng loại từ này để tạo nên các câu cảm thán hay kếthợp với một nội dung thông báo nào đó trong bài văn nghị luận

Bên cạnh đó, các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt cũng có khả năng bộc lộthái độ, tình cảm của người nói (người viết) một cách rất mạnh mẽ Vì thế, loại

từ này cũng có thể sử dụng và phát huy hiệu quả biểu cảm trong bài văn nghịluận, nhất là nghị luận xã hội.Trong đó, các đại từ ngôi thứ nhất số nhiều như:Nhân dân ta, đất nước ta, ta, chúng ta, đồng bào thường biểu thị tinh thần đoànkết, thống nhất trong suy nghĩ và hành động Các đại từ ngôi thứ hai, thứ ba số íthoặc số nhiều như: Bọn, bọn bay, chúng, chúng bay, bọn chúng thường bày tỏ

sự căm thù, khinh bỉ, đối nghịch

Để công khai bày tỏ quan điểm, thái độ của mình, người làm văn nghị luậncũng có thể sử dụng các từ mang ý nghĩa khẳng định (sự thật là, tin rằng, chắcchắn rằng, quả quyết rằng ) hay phủ định (không, không chịu, không được ),các từ biểu thị sự quyết tâm, kiên quyết (nhất định, quyết, phải được ) Những

từ này vừa có khả năng biểu đạt cảm xúc, thái độ mạnh mẽ vừa làm cho lời văntrở nên đanh thép hơn

Trang 15

Ngoài ra, trong bài làm văn nghị luận, người viết còn có thể sử dụng thêmnhững từ, cụm từ đậm phong cách khẩu ngữ vào câu văn nghị luận nhằm tạođược sự chú ý cho người đọc.

1.3.2 Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với các loại câu nhiều thành phần có kết cấu cân xứng

Ngoài từ ngữ, sức mạnh biểu cảm trong bài văn nghị luận còn được tạo nênbởi cách sử dụng và tạo lập câu của người viết Trong văn nghị luận, người viếtphải cố gắng đi tìm những cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo

Bên cạnh những câu ngắn dùng để nhấn mạnh, người viết có thể sử dụngnhững câu dài, nhiều thành phần có kết cấu cân xứng nhằm ra nhịp điệu và sứclan tỏa mạnh hơn

Trong một số trường hợp, người viết có thể dùng câu đơn không gắn vớicác thành phần phụ hay tách các vế câu ra thành câu độc lập nhằm mục đíchnhấn mạnh một nội dung nào đó

Ngoài ra, người viết văn nghị luận cũng cần đặt những câu có tính chất hộithoại, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày nhằm thu hút sự chú ý và hứng thúcủa người đọc, từ đó góp phần tăng thêm tính biểu cảm cho lời nói

“Nhằm tạo ra tính biểu cảm cho bài văn nghị luận, việc sử dụng câu khôngtheo một mô hình hạn định nào mà phụ thuộc vào năng lực sử dụng ngôn ngữcủa người viết Đôi khi, không cần quá cầu kì trong câu văn nhưng người viết

vẫn có thể tạo ra một bài văn nghị luận chặt chẽ, sâu sắc và truyền cảm” 1.3.3.

Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với một số biện pháp tu từ

Biểu cảm và tạo hình là hai chức năng chính của các biện pháp tu từ Bất cứbiện pháp tu từ nào, ngoài tác dụng gợi hình, còn có tác dụng gợi cảm Trong mỗiloại văn bản, biện pháp tu từ được sử dụng với những mục đích khác nhau Nếunhư trong ngôn ngữ nghệ thuật, việc sử dụng biện pháp tu từ chỉ cốt yếu tạo ra tínhhình tượng thì trong văn bản nghị luận, nó lại được sử dụng nhằm tăng thêm sứcmạnh cho sự đánh giá, bình luận và tăng thêm tính truyền cảm cho lời văn…

Vì vai trò quan trọng đó, không một bài văn nghị luận nào, nhất là các văn bảnchính luận lại không sử dụng các biện pháp tu từ Một số biện pháp tu từ thườngđược sử dụng trong bài văn nghị luận nhằm tạo ra hiệu quả biểu cảm như sau:

So sánh trong văn nghị luận chủ yếu làm cho vấn đề nghị luận hiện lên cụthể, vừa gần gũi vừa ấn tượng, dễ đi vào lòng người đọc hơn

Điệp ngữ là sự “lặp đi lặp lại có ý thức những từ, ngữ nhằm mục đích nhấnmạnh ý, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòngngười đọc, người nghe Nhờ điệp ngữ, câu văn mới tăng thêm tính cân đối,nhịp nhàng, hài hòa, có tác dụng nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa, tình cảm nào

Trang 16

đó, làm nổi bật những từ quan trọng, khiến cho lời nói trở nên sâu sắc, thấm thía,

có sức thuyết phục mạnh Với khả năng đó, điệp ngữ được sử dụng nhằm tạo rađược tính truyền cảm cho văn bản nghị luận

Câu hỏi tu từ là loại câu có hình thức nghi vấn nhưng nội dung của nó đãbao hàm ý trả lời Xét về hiệu quả biểu cảm, câu hỏi tu từ dùng để khẳng địnhhay phủ định một vấn đề nào đó được đề cập đến trong câu và tăng cường tínhdiễn cảm của lời nói

Ngoài ra, người viết cũng có thể sử dụng thêm nhiều phương tiện và biệnpháp tu từ khác nhằm tăng thêm tính biểu cảm và thuyết phục cho văn bản nghịluận như phép đối, phép sóng đôi, liệt kê

Khẳng định biểu cảm thể hiện một cách hết sức đa dạng trong văn nghị luận,muốn sử dụng hiệu quả yếu tố này này, học sinh không những phải hiểu rõ về khảnăng biểu cảm của các đơn vị ngôn ngữ, các biện pháp tu từ mà còn phải có mộtthái độ nghiêm túc, một tình cảm chân thành thiết tha với vấn đề nghị luận

Sử dụng kết hợp yếu tố biểu cảm nói riêng và các phương thức biểu đạt nóichung là yêu cầu tất yếu của quá trình tạo lập văn bản nghị luận Vì vậy, chươngtrình sách giáo khoa Ngữ văn sau năm 2015 nên dành thời lượng nhiều hơn nữacho việc dạy học về sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản nóichung và văn bản nghị luận nói riêng ở THCS và THPT Ngoài ra, mỗi giáo viêncũng phải tìm những biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo củahọc sinh trong việc sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt vào việc tạo lậpvăn bản như thay đổi cách ra đề, cách đánh giá và giúp các em không còn lệthuộc những bài vẫn mẫu để tạo nên những “tác phẩm” thực sự của mình

2 Cơ sở thực tiễn: Khảo sát nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THCS hiện hành

Để có cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất nội dung rèn luyện kĩ năng đưa yếu

tố biểu cảm vào bài văn nghị luận cho học sinh THCS tôi không thể không khảosát chương trình và SGK Ngữ văn THCS Bởi chúng được xây dựng và biênsoạn theo nguyên tắc đồng tâm, nâng cao

Riêng với phần Làm văn, ở cấp THCS, học sinh vừa được ôn tập, củng cố,nâng cao, mở rộng kiến thức, kĩ năng về những kiểu văn bản đã học ở Tiểu họcnhư: Miêu tả, Tự sự; vừa được học những kiểu văn bản mới như: Biểu cảm,Thuyết minh, Nghị luận… Lên cấp THPT, những kiểu văn bản này lại tiếp tụcđược ôn tập, củng cố nâng cao, mở rộng và bổ sung những tri thức kĩ năng mới

Để từ đó hoàn thiện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trước khi bước vàocuộc sống học tập và lao động

Trang 17

Trong những kiểu văn bản học sinh được học ở nhà trường Phổ thông, kiểuvăn bản nghị luận chiếm một dung lượng lớn và được học trong một quá trìnhlâu dài từ lớp 7 đến lớp 9 với các nội dung:

- Lớp 7: Đặc điểm và cách tạo lập văn bản nghị luận; luận điểm luận cứ,phương pháp lập luận; nghị luận giải thích và nghị luận chứng minh Thực hànhnói viết đoạn, bài nghị luận giải thích hoặc chứng minh

- Lớp 8: Triển khai luận điểm luận cứ trong văn nghị luận; các yếu tố biểucảm tự sự miêu tả trong văn nghị luận Thực hành nói, viết đoạn bài văn nghịluận có sử dụng các yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả

- Lớp 9: Nghị luận về một hiện tượng, sự việc trong đời sống, về một vấn

đề tư tưởng, đạo lí, về một tác phẩm truyện (đoạn trích), về một bài thơ (đoạnthơ); Cách làm bài nghị luận về một hiện tượng, sự việc trong đời sống,về mộtvấn đề tư tưởng, đạo lí, về một tác phẩm truyện, thơ; Thực hành nói, viết vănbản nghị luận về một hiện tượng, sự việc trong đời sống, về một vấn đề tưtưởng, đạo lí, về một tác phẩm truyện, thơ

Nhìn nhận lại nội dung chương trình SGK Ngữ văn THCS về phần Làmvăn chúng tôi thấy, học sinh được cung cấp tri thức về các kiểu văn bản và đượchình thành các kĩ năng để tạo lập các kiểu văn bản đó Càng lên cao thì yêu cầu

về tạo lập các kiểu văn bản càng cao Riêng kiểu văn bản nghị luận THCS, họcsinh được học cả kiến thức lí thuyết và kĩ năng thực hành Lớp 8, bước đầu họcsinh được rèn luyện kĩ năng đưa các yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả vào bài vănnghị luận Tuy nhiên thời lượng dành cho rèn luyện kĩ năng không nhiều Mỗiloại kĩ năng chỉ được luyện tập trong một tiết Điều đó dẫn đến những khó khănkhông thể tránh khỏi đối với cả người dạy và người học

Đối chiếu với chuẩn kiến thức, kĩ năng do Bộ Giáo dục và Đào tạo banhành về mức độ cần đạt của học sinh lớp 8 khi học kiểu văn bản nghị luận(Hình thành kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận/ Hiểu yêu cầu và biết cách đưacác yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả vào bài văn nghị luận), tôi thấy nhiệm vụ vàtrách nhiệm của giáo viên khi dạy phần làm văn lớp 8 là vô cùng nặng Giáoviên cần suy nghĩ lựa chọn và tìm ra phương pháp dạy học thích hợp nhất mới

có thể đáp ứng được yêu cầu của chuẩn kiến thức, kĩ năng nêu trên

Nguyên tắc dạy học tạo lập văn bản là phải gắn lí thuyết với thực hành Dovậy, sau mỗi bài học lí thuyết đều có bài tập thực hành và giờ luyện tập thựchành Tuy nhiên, qua tìm hiểu SGK, sách bài tập và một số sách tham khảo vềNgữ văn 8, tôi cũng nhận thấy rằng, bài tập luyện tập thực hành chưa nhiều,

chưa biên soạn thành hệ thống Riêng đối với bài Luyện tập Đưa yếu tố biểu

cảm vào bài văn nghị luận (Chương trình Ngữ văn 8), tôi thấy sách giáo khoa

Trang 18

chỉ đưa ra 1 bài tập luyện tập Như vậy rất khó giúp học sinh hình thành được

kĩ năng Do vậy, để việc rèn luyện kĩ năng vận dụng tốt cách đưa yếu tố biểucảm vào bài văn nghị luận cần xây dựng hệ thống bài tập phong phú có hệ thống

và cụ thể hơn

Tóm lại, qua khảo sát nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn vàthực tiễn dạy học của giáo viên, học sinh về văn nghị luận lớp 8, tôi thấy rằng đểnâng cao chất lượng làm văn nghị luận cho học sinh cần phải tổ chức rèn luyệncác kĩ năng phục vụ cho việc viết văn nghị luận Trong đó có kĩ năng sử dụngkết hợp các phương thức biểu đạt là rất quan trọng đối với hành văn khi tạo lậpvăn bản nghị luận

II RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐƯA YẾU TỐ BIỂU CẢM VÀO BÀI VĂNNGHỊ LUẬN

1 Lựa chọn bài tập rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào văn nghị luận

1.1 Vị trí và tác dụng của bài tập

"Mục tiêu của môn Ngữ văn THCS chủ yếu là hình thành và nâng cao nănglực đọc hiểu văn bản và làm văn" cho học sinh Để nâng cao năng lực làm văncần trang bị cho học sinh tri thức và kĩ năng về các kiểu văn bản và tạo lập cáckiểu văn bản đó Tri thức rất quan trọng nhưng không phải tất cả tri thức về cáckiểu văn bản đều trở thành kĩ năng tạo lập các kiểu văn bản ấy Muốn có kĩ năngthì phải làm, phải thực hành Không phải chỉ làm một lần mà phải làm nhiều lần,làm đi làm lại cho thành thạo Như vậy, kĩ năng chỉ hình thành khi có quá trìnhrèn luyện, luyện tập, thực hành

Việc rèn kĩ năng làm văn cho học sinh nói chung và việc rèn kĩ năng đưayếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận cho học sinh lớp 8 nói riêng luôn đòi hỏiphải xác định được nội dung luyện tập thực hành, đồng thời phải xác định được

cách thức luyện tập thực hành Nội dung luyện tập thực hành chính là hệ thống

bài tập Còn cách thức luyện tập là phương pháp tổ chức cho học sinh luyện tập

của giáo viên

Bài tập trong dạy học môn Làm văn rất quan trọng, giữ vị trí trung tâm của quátrình dạy học bộ môn này Bởi vì “bản chất của làm văn là thực hành, lí thuyết làmvăn cũng là lí thuyết thực hành” Kiến thức lí thuyết được hình thành trên cơ sở giảiquyết các bài tập tình huống Kiến thức ấy lại được củng cố hoàn thiện bằng bài tậpluyện tập Điều đó thể hiện ở qui trình dạy học: sau mỗi giờ học cung cấp kiến thức líthuyết bao giờ cũng có giờ thực hành luyện tập bằng bài tập, qua đó hình thànhnhững kĩ năng, năng lực tạo lập văn bản cho học sinh

Trang 19

Bài tập trong làm văn có tác dụng làm rõ kiến thức lí thuyết, khắc sâunhững vấn đề lí thuyết đã được học cho học sinh Đồng thời, bài tập cũng làphương tiện để học sinh biến kiến thức thành kĩ năng, năng lực giải quyết nhữngvấn đề trong thực tế Thông qua bài tập học sinh cũng được đo lường về trình độkiến thức, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn (Nghĩa là bài tập còn làphương tiện để kiểm tra đánh giá kết quả học tập bộ môn của học sinh)

Trên cơ sở vị trí và tác dụng của bài tập trong dạy học làm văn chúng tôinhận định rằng: Để rèn luyện tốt kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghịluận cho học sinh lớp 8, vấn đề trọng tâm là phải xây dựng được hệ thống bàitập và phải sử dụng được hệ thống bài tập đó vào thực tiễn dạy học Đây là loại

kĩ năng khó, phức tạp nhưng có ý nghĩa quyết định sự thành công của bài vănnghị luận xét trên quan điểm giao tiếp

1.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập

Khi xây dựng hệ thống bài tập thực hành, rèn luyện các kĩ năng tạo lập vănbản nói chung, rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận nóiriêng cần phải đảm bảo những nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: Hệ thống bài tập phải bám sát mục tiêu môn học

Mục tiêu là điểm xuất phát và chi phối toàn bộ các yếu tố khác trong mộtqui trình dạy học Bài tập vừa là nội dung vừa là công cụ kiểm tra đánh giá Vìthế xây dựng hệ thống bài tập vừa phải chú ý bám sát mục tiêu chung của giáodục, của môn học vừa phải chú ý bám sát mục tiêu riêng của từng bài học cụ thể

Nguyên tắc 2: Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính khoa học

Nguyên tắc này thể hiện ở tính chính xác, tính hệ thống của nội dung bàitập Cụ thể là mỗi bài tập đưa ra phải đúng về tri thức, phải đủ về yêu cầu vàphải nhất quán giữa các câu hỏi

Nguyên tắc 3: Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính sư phạm

Đây là nguyên tắc có tính bắt buộc, đòi hỏi hệ thống bài tập phải bám sátnội dung chương trình và sách giáo khoa, hệ thống bài tập phải có tính kế thừa,nâng cao phù hợp với lứa tuổi, với trình độ học sinh, hệ thống bài tập phải đadạng, hấp dẫn, có tác dụng gợi mở từ dễ đến khó, không áp đặt và phát huy đượctính chủ động, sáng tạo của học sinh

Nguyên tắc 4: Hệ thống bài tập phải đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục.

Nghĩa là phải thể hiện được tinh thần tích hợp Phải phân hoá được sinh trongquá trình dạy học

Những nguyên tắc nêu trên là yêu cầu và định hướng để chúng tôi xây dựng

hệ thông bài tập rèn kĩ năng sử dụng phương thức biểu cảm và thuyết minhtrong văn bản nghị luận

Trang 20

2 Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào văn nghị luận

Hệ thống bài tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận được tôi xâydựng thành 3 nhóm chính

Nhóm 1: Bài tập nhận biết và phân tích tác dụng của các yếu tố biểu cảm

trong văn nghị luận

Nhóm 2: Bài tập tạo lập văn bản nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm Nhóm 3: Bài tập phát hiện và chữa lỗi về kĩ năng sử dụng yếu tố biểu cảm

trong văn nghị luận

Trong 3 nhóm bài tập nêu trên, nhóm bài tập thứ 2 được chúng tôi quanniệm là nhóm bài tập cần được tổ chức rèn luyện nhiều và lâu dài, bởi mục tiêucủa dạy học làm văn lớp 8 là hình thành năng lực tạo lập văn bản nghị luận chohọc sinh Nhóm bài tập 1 là cơ sở để thực hiện nhóm bài tập 2 và nhóm bài tập

3 là phương tiện để củng cố hoàn thiện cho nhóm bài tập 2 Sau đây là sơ đồ(mô hình chung) của hệ thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng phương thức biểu cảm

và thuyết minh trong văn bản nghị luận:

Trang 21

Hệ thống bài tậpĐưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận

Bài tập nhóm 1

Nhận biết và phân tích tác dụng

Bài tập nhóm 2Tạo lập văn bản

Bài tập nhóm 3Phát hiện và chữa lỗi

Đoạn văn

nghị luận

Văn bản nghị luận

Đoạn văn nghị luận

Văn bảnnghị luận

Lỗi không

sử dụng

Lỗi sử dụngkhông hợp lí

Bài văn nghị luận văn học

Trang 22

2.1 Bài tập nhóm 1: Nhận biết và phân tích tác dụng của các yếu tố biểu cảm trong bài văn nghi luận

Mục đích của bài tập nhóm 1: Giúp học sinh nắm vững đặc trưng cơ bản

của văn bản nghị luận là tác động đến người đọc bằng cả lí trí và tình cảm;Giúp học sinh xác định được các yếu tố biểu cảm sử dụng trong bài văn (đoạnvăn) nghị luận và phân tích được tác dụng của các yếu tố biểu cảm đó trongviệc nâng cao hiệu quả thuyết phục của văn bản nghị luận

Nội dung của bài tập nhóm 1 gồm 2 phần:

Phần dẫn ngữ liệu: Đây là phần quan trọng quyết định sự thành công của

bài tập nhóm 1, vì thế tôi đã lựa chọn những ngữ liệu điển hình là đoạn văn

và bài văn nghị luận có sử dụng các yếu tố biểu cảm và thuyết minh

Phần trình bày yêu cầu: Phần này gồm 3 yêu cầu chính khi luyện tập

thực hành: Thứ nhất là yêu cầu xác định nội dung nghị luận; Thứ 2 là yêu cầuxác định các yếu tố biểu cảm đựơc đưa vào bài nghị luận; Thứ 3 là yêu cầuphân tích được tác dụng của những yếu tố biểu cảm đó

Ngoài ra tôi đề xuất thêm phần hướng dẫn làm bài tập: Đây là phần nêu

những gợi ý cho học sinh khi làm bài tập

Các dạng bài tập cụ thể của nhóm 1: Để tích hợp với các bài học về nghị

luận xã hội và nghị luận văn học trong chương trình làm văn 8, tôi chia bàitập nhóm 1 thành 2 dạng cụ thể: (1) Bài tập nhận biết và phân tích tác dụngcủa yếu tố biểu cảm trong đoạn văn nghị luận; (2) Bài tập nhận biết và phântích tác dụng của yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận

2.1.1 Bài tập nhận biết và phân tích tác dụng của yếu tố biểu cảm trong đoạn văn nghị luận

Bài tập 1:

Ngữ liệu:

"Ngày còn nhỏ, tôi đã được nghe một câu chuyện rất xúc động Chuyện

kể về một cậu bé nghèo với bài văn tả mẹ - người phụ nữ đã che chở cuộc đời

em Cậu bé viết về một người mẹ với mái tóc pha sương, với đôi tay ram ráp nhăn nheo nhưng hiền dịu và ấm áp Cậu kết luận răng: bà ngoại là người phụ nữ đã nâng đỡ em trong suốt hành trình của cuộc đời Bài văn lạc đề, phải về nhà viết lại Nhưng đó mới chính là một tác phẩm thành công, bởi đó chất chứa tình yêu thương của đứa cháu mồ côi dành cho bà ngoại Liệu có thành công nào, tình cảm nào thiêng liêng hơn thế?"

Yêu cầu: Hãy đọc đoạn văn và cho biết cảm xúc của em? Cảm xúc đó

được khơi gợi từ những yếu tố nào trong đoạn văn? Hãy chỉ ra yếu tố đó và

Trang 23

phân tích tác dụng biểu đạt của chúng? Theo em, đoạn văn đó thuộc kiểu vănbản gì, vì sao?

ra bằng tất cả tình cảm yêu thương, trân trọng, ngưỡng mộ chân thành nhất.Cảm xúc ấy còn gợi lên từ ý kiến nhận định của tác giả về bài văn lạc đề, phải

về nhà viết lại: Đó mới chính là tác phẩm thành công, bởi ở đó chất chứa tình

yêu thương của đứa cháu mồ côi dành cho bà ngoại Liệu có thành công nào, tình cảm nào thiêng liêng hơn thế? Câu hỏi tu từ khép lại đoạn văn, chứa chất

biết bao tình cảm dâng lên nghẹn ngào! Như vậy, biểu cảm đâu phải là bằngnhững từ ngữ câu văn mĩ miều mà biểu cảm phải bằng chính cảm xúc chânthành của người viết, bằng sự diễn đạt giản dị và chân thật nhất

Mặc dù đoạn văn chứa đầy tình cảm, nhưng nó vẫn không phải là đoạnvăn bản biểu cảm Mà nó là một đoạn văn nghị luận Vì mục đích của đoạnvăn không phải là bộ lộ cảm xúc Mục đích của đoạn văn là trình bày ý kiến

quan điểm về bản chất của thành công Với tác giả, thành công của cậu học

sinh nghèo ấy, không phải là bài văn viết đúng, được điểm cao, mà là bài vănchứa đầy tình yêu thương, cất lên từ đáy lòng Bản chất của thành công là nhưvậy, là nói lên được lòng mình một cách chân thành!

Bài tập 2:

Ngữ liệu:

"Ở màn đầu chương XIII, cảnh nhà vợ chồng địa chủ Nghị Quế, Ngô Tất

Tố cho bưng vào đấy một cái rổ nhún nhín bốn chó con { } Quái thay là Ngô Tất Tố Mới xem ai cũng thấy vợ chồng địa chủ cũng chỉ như mọi người khác thích chó, yêu chó, yêu gia súc, tưởng người lành hoặc kẻ bất lương cunggx không khác nhau gì lắm trong việc nuôi chó con Thằng chồng le te cho chó ăn cơm, vợ hắn và hắn bù khú { } với nhau trên câu chuyện chó con ấy thế rồi là đùng đùng giở giọng chó má ngay với mẹ con chị Dậu đứng đấy Đoạn này, khá lắm, bác Tố ạ! Cho thằng nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới càng hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra."

Yêu cầu: Hãy đọc đoạn văn và cho biết thái độ của người viết đối với tác

giả và nhân vật của "Tắt đèn"? Thái độ đó thể hiện ở những yếu tố biểu cảmnào? Theo em, đoạn văn thuộc kiểu văn bản gì? Vì sao?

Ngày đăng: 10/06/2020, 07:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w