Mô tả bản chất của sáng kiến: 3.1.Trình trạng giải pháp đã biết: * Trình trạng giải pháp đã biết: Ở chương trình sinh lớp 9, kiến thức lý thuyết ở các chương đều khó, việchình thành v
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số (do Thường trực HĐ ghi):……… ………
1 Tên sáng kiến: “ Phương pháp giúp học sinh hình thành khái niệm và
nắm vững kiến thức trọng tâm bài học ở lớp”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn sinh học.
3 Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1.Trình trạng giải pháp đã biết:
* Trình trạng giải pháp đã biết:
Ở chương trình sinh lớp 9, kiến thức lý thuyết ở các chương đều khó, việchình thành và nắm được các khái niệm mới cũng như khắc sâu kiến thức sau tiếthọc là vấn đề được giáo viên bộ môn quan tâm, phải có biện pháp giúp các nhẹnhàng hơn sau mỗi tiết học, từ đó tạo tiền đề ham thích môn học, ham tìm tòi,khám phá
Trang 2- Chỉ có tác dụng đối với học sinh chịu chú ý trong giờ học, còn học sinh lười họcchỉ cần chú ý ở cuối bài, giáo viên và các bạn chốt kiến thức nào thì chỉ cần chú ýkiến thức đó, nên không phát huy được khả năng tự giác, tính tích cực tư duy củahọc sinh trong học tập.
Vì vậy, để khắc phục hạn chế nêu trên, ngay trong từng tiết học giáo viên phải
có phương pháp nhẹ nhàng để hình thành các khái niệm mới và khắc sâu kiến thứctrọng tâm bài học một cách ngắn gọn, hệ thống Bản thân tôi và một số đồng nghiệpmạnh dạn vận dụng hình ảnh sẵn có hoặc tự vẽ và áp dụng sơ đồ tư duy vào củng
cố kiến thức ở cuối giờ học, hướng dẫn học sinh cách tự học theo phương pháp này
để các em tự hệ thống kiến thức bài đã học, qua đó phát huy tính tích cực, khả năngsuy luận, so sánh, khái quát kiến thức một cách logic hơn
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
b Nội dung của giải pháp:
b.1.Tính mới của giải pháp:
Vận dụng phương pháp này giảm bớt thời gian hình thành khái niệm, nắmđược nội dung các khái niệm cùng lúc Vận dụng sơ đồ để củng cố, khắc sâu kiếnthức được học, tiết học, thay thế cho việc chỉ đọc, hoặc phát đề cương,… góp phầnhạn chế trình trạng mất thời gian, giúp học sinh tư duy tốt hơn kiến thức đã họctheo một cách có hệ thống Học như vậy giúp tất cả các đối tượng học sinh hiểu,nhớ lâu, nắm chắc kiến thức bộ môn, giúp các em tự tin và đạt kết quả cao hơn
b.2 Sự khác biệt so với giải pháp cũ:
Là phương pháp dạy học tích cực, nhằm phát huy tính tự giác tích cực của họcsinh trong học tập, tạo nền để các em có phương pháp học tập bộ môn tốt hơn ở cácbài, các chương của chương trình sinh học lớp 9, cũng có thể vận dụng cho cácmôn học xã hội khác, các em sẽ giảm áp lực về thời gian, mà vẫn nắm chắc kiếnthức cơ bản của môn sinh học nói riêng và các môn học xã hội nói chung
Trang 3- Qua giảng dạy thực tế và nắm bắt tình hình học tập của học sinh.
- Qua kiểm tra đánh giá, thống kê, so sánh kết quả phương pháp đang thực hiện
ở lớp 9/3 với hai lớp 9/1, 9/2 dạy theo phương pháp cũ, thấy có sự chênh lệch như sau:
Điể
mLớp
Lớp 9/1- 9/2
Sỉ số : 69
1217,39%
2333,33%
2739,13%
710,15%
Lớp 9/3
Sỉ số : 33
824,24%
1339,39%
1030,30%
26,06%
b.4 Cách bước thực hiện của sáng kiến:
Ở chương trình sinh học lớp 9, hầu hết các bài, các chương đều có khái niệmmới, có nội dung khá tương đồng, cần phải phân biệt rõ mới không bị nhầm lẫn Ví
dụ ở chương I Các thí nghiệm của MenĐen có các nội dung: Phương pháp phântích các thế hệ lai với phép lai phân tích; định luật đồng tính với định luật phântính; qui luật phân li với qui luật phân li độc lập; ý nghĩa của qui luật phân li với ý
nghĩa của qui luật phân li độc lập; khái niệm về kiểu gen với kiểu hình; thể đồng
hợp với thể dị hợp…
* Hình thành một số khái niệm:
Ví dụ: khi dạy bài 3 Lai một cặp tính trạng
Khi dạy khái niệm về thể đồng hợp và thể di dị hợp, giáo viên viết kiểu gen: AA,
BB, CC, Aa, Bb, Cc, aa, bb, cc lên bảng, sau khi học sinh đọc thông tin ở sách giáokhoa, giáo viên nêu vấn đề:
+ Em hãy ghi ra kiểu gen nào là thể đồng hợp, kiểu gen nào là thể dị hợp?
Sau khi ghi xong, các bạn khác cho ý kiến thống nhất, khi đó giáo viên mới hỏi: + Thế nào là thể đồng hợp?
+ Thế nào là thể dị hợp?
3
Trang 4Học sinh dựa vào các kiểu gen đã chọn, đọc ra được:
+ Kiểu gen gồm 2 gen tương ứng giống nhau là thể đồng hợp Ví dụ: AA, BB, CC,
aa, bb, cc
+ Kiểu gen gồm 2 gen tương ứng khác nhau là thể dị hợp Ví dụ: Aa, Bb, Cc
+ Dựa vào các kiểu gen của thể đồng hợp, em có thể xếp chúng thành mấy nhóm?Gọi tên các nhóm đó
Dựa vào kiểu gen của thể đồng hợp, học sinh chia 2 nhóm
Ví dụ: khi dạy bài 8 Nhiễm sắc thể
Khi dạy khái niệm cặp nhiễm sắc thể tương đồng, bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội và
bộ nhiễm sắc thề đơn bội, giáo viên vẽ hình 8.1 và hình 8.2 lên bảng
Sau khi học sinh đọc xong thông tin trong sách giáo khoa, giáo viên nêu vấn đề: + Thế nào là cặp nhiễm sắc thể tương đồng?
Trang 5Từ hình vẽ, học sinh dễ dàng nêu được:
- Cặp nhiễm sắc thể tương đồng: là cặp nhiễm sắc thể giống nhau về hình thái,kích thước, khác nhau về nguồn gốc
- Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội: là bộ nhiễm sắc thể chứa các cặp nhiễm sắc thểtương đồng ( kí hiệu 2n)
- Bộ nhiễm sắc thể đơn bội: là bộ nhiễm sắc thể mà trong giao tử chỉ chứa mộtnhiễm sắc thể của mỗi cặp tương đồng ( kí hiệu n)
Giáo viên mở rộng về số lượng nhiễm sắc thể trong bộ đơn bội (n) chỉ bằng ½
số lượng nhiễm sắc thể trong bộ lưỡng bội (2n)
* Củng cố kiến thức trọng tâm sau các bài học:
Bài học mới có nhiều nội dung, có thể có liên quan với các bài học trước
Do đó đòi hỏi học sinh cần nắm chắc kiến thức lý thuyết Việc nắm được kiến thức
cơ bản của các bài học rất quan trọng, giúp các em vận dụng vào các bài tập trắc nghiệm, giải các bài tập cơ bản hoặc suy luận vấn đề có liên quan Ví dụ khi dạy chương III ADN và Gen, nội dung đầu tiên các em được học là cấu tạo hóa học của phân tử ADN, sau đó các em lại học cấu tạo hóa học của ARN và Prôtêin, do
có sự giống nhau về cấu trúc bài học, nên khi học xong bài 15 ADN, giáo viên dành khoảng 10 phút củng cố thật kỹ nội dung bài theo một trật tự bằng sơ đồ sau:
Trang 6Dựa vào từng ý được viết ra, giáo viên gọi học sinh lần lượt trả lời, các học sinhtrong lớp theo dõi Sau đó giáo viên cho học sinh xung phong trình bày tấ cả nộidung bài học qua sơ đồ hoàn chỉnh ở bảng Từ đó học sinh dễ dàng nắm được nộidung của bài, như sau:
+ Tên gọi: Axit đêôxiribônuclêic, là một loại axit Nuclêic
+ Được cấu tạo từ được cấu tạo từ 5 nguyên tố : C, H, O, N,P
+ Là đại phân tử( kích thước lớn, khối lượng lớn)
+ Được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân
+ Đơn phân là Nuclêôtit gồm 4 loại: A, T, G, X
+ Tính đa dạng: do trình tự sắp xếp khác nhau của bốn loại Nuclêôtit
+ Tính đặc thù: bởi thành phần, số lượng và trình tự sắp xếp khác nhau của cácloại Nuclêôtit
Khi học xong bài 16 ADN và bản chất của gen, ngoài nội dung được tóm tắt ởbảng trên, giáo viên thêm vào một ý nữa là chức năng của ADN
Bằng phương pháp này, học sinh sẽ hệ thống được toàn bộ nội dung được học ởtừng bài và ứng dụng để học cho các bài ARN và Prôtêin
Sang chương IV Biến dị, các em được học về các loại đột biến như: Đột biến
Trang 7biến Các bài học này có cấu trúc nội dung tương tự nhau Do đó, khi học sinh họcxong bài 21 Đột biến gen, giáo viên dành thời gian hướng dẫn các em tóm tắt nộidung chính của bài theo sơ đồ:
Ở bài 22 Đột biến cấu trúc Nhiễm sắc thể; bài 23 Đột biến Số lượngNhiễm sắc thể, về cấu trúc nội dung bài cũng theo trật tự giống bài 21 Do đó khihọc xong các em dễ dàng nắm được nội dung của bài Sang phần ôn tập
chương IV, giáo viên dùng sơ đồ chung cho các bài học này, dựa vào đó các emkhái quát kiến thức một các logic hơn
Phương pháp này sẽ kích thích học sinh hệ thống bài một cách trình tự dễ nhớ,
dễ thuộc sẽ góp phần tạo hưng phấn cho học sinh tìm hiểu kiến thức bài tiếp theokhi giáo viên dặn công việc chuẩn bị cho bài học sau ở nhà Khi đó nhiều em sẽ tựsoạn bài mới, tự tóm tắt nội dung cho bài soạn của mình, giúp các em có bướcchuẩn bị bài mới tốt hơn, học tập say mê hơn và đặc biệt là minh họa sơ đồ do mìnhtạo ra trước tập thể lớp
3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp:
Phương pháp này có thể áp dụng ở hầu hết các chương của môn sinh học lớp 9,
áp dụng riêng cho môn sinh toàn cấp Phương pháp này có thể áp dụng trong bồidưỡng học sinh giỏi bộ môn, phát hiện học sinh năng khiếu và các môn xã hộikhác
3.4 Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp:
Qua nội dung và biện pháp thực hiện trên, ở lớp áp dụng đề tài, đa số các emđều nắm vững kiến thức cơ bản đã học Biết hệ thống kiến thức, khắc sâu kiến thức
đã học, dễ thuộc, dễ nhớ, phát huy tính tích cực tư duy, sáng tạo Hạn chế được
7
Trang 8trình trạng học vẹt, không bị nhầm lẫn kiến thức, không mất nhiều thời gian ôn tập
mà kết quả đạt được cao
Kết quả: So sánh học kỳ I năm 2017 - 2018 khi áp dụng sáng kiến so với học
kỳ I năm 2018 - 2019, kết quả đạt được cụ thể như sau:
3.5 Tài liệu kèm theo gồm: Không có
Chợ Lách, ngày 08 tháng 02 năm 2019
Trang 11
Khi học xong bài 16 ADN và bản chất của gen, giáo viên dành 5 phút, gọi vàihọc sinh xung phong vẽ sơ đồ tư duy và trình bày nội dung I ADN tự nhân đôitheo nguyên tắc nào?
Học sinh vẽ sơ đồ rồi trình bày nội dung tiếp thu được theo trật tự của sơ đồ, cáchọc sinh khác chú ý, nhận xét sơ đồ của bạn Sau khi nhận xét các sơ đồ và cách hệthống kiến thức của các em, giáo viên nhận xét chung và chiếu sơ đồ tư duy và điềuchỉnh kiến thức qua tiết học mà học sinh đã tiếp thu được Giáo viên dựa vào sơ đồ
tư duy chiếu cho các em quan sát và trình bày:
- Quá trình tự nhân đôi được trình bày như sau:
+ Nơi xảy ra: Quá trình tự nhân đôi của ADN diễn ra trong nhân tế bào tại các
nhiễm sắc thể thuộc kỳ trung gian, lúc nhiễm sắc thể ở dạng sợi dài, mảnh và duỗixoắn
+ Gen tháo xoắn tách dần thành 2 mạch đơn
+ Các nuclêôtit tự do trong môi trường nội bào liên kết với nuclêôtit trên cả haimạch đơn của gen theo nguyên tắc bổ sung, nhưng ngược chiều nhau dần dần thànhhai mạch ADN mới
+ Kết quả : Tạo được hai ADN con (2n) giống nhau và giống ADN mẹ
- Nguyên tắc tổng hợp :
+ Nguyên tắc khuôn mẫu: Dựa trên mạch đơn của gen làm mạch khuôn
+ Nguyên tắc bán toàn: Trong mỗi ADN con có một mạch của ADN mẹ vàmột mạch mới được tổng hợp
11
Trang 12Với các bài tiếp theo như: ARN, Prôtêin, các nội dung đều được trình bày theomột hệ thống tương tự như ở bài 15 và bài 16 Khi học xong bài 17- Mối quan hệgiữa gen và ARN, giáo viên cũng dành thời gian chiếu tổng kết nội dung bài họcbằng sơ đồ tư duy Giáo viên chiếu lần lượt từng nội dung, gọi học sinh trả lời, saucùng gọi một học sinh đại diện trình bày toàn bộ sơ đồ, các học sinh khác chú ýtheo dõi Các em sẽ dễ dàng trình bày được nội dung đã học: ARN là 1 loại axitRibônuclêic, được cấu tạo từ 5 nguyên tố : C, H, O, N,P Là đại phân tử được cấutạo theo nguyên tắc đa phân, mà đơn phân là Nuclêôtit gồm 4 loại: A, U, G, X.ARN cũng có tính đa dạng và đặc thù bởi thành phần, số lượng và trình tự sắp xếpcủa các Nuclêôtit.
Tùy chức năng, ARN được chia làm 3 loại: mARN, tARN và Rarn
ARN được tổng hợp từ 2 nguyên tắc: Nguyên tắc khuôn mẫu (là 1 mạch đơn củagen) và nguyên tắc bổ sung: A- U; T- A; G -X và X- G
Qua các sơ đồ, giáo viên cho học sinh chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa các cơ sơvật chất di truyền: ADN, ARN và Prôtêin về: tên gọi, nguyên tố cấu tạo, đơn phân,tính đa dạng, tính đặc thù, nguyên tắc tổng hợp và về chức năng Giáo viên kẻ bảng
so sánh sự khác nhau cơ bản về cấu tạo và chức năng giữa ADN, ARN vàPrôtêin Từ bảng so sánh giáo viên nhấn mạnh sự các nhau cơ bản của các cơ sởvật chất di truyền ở cấp độ phân tử, các em hệ thống được kiến thức cơ bản củatoàn chương
Trang 13Đặc điểm
Cấu trúc
- Là một chuỗi xoắn kép
- Đơn phân là nuclêôtít gồm 4 loại A, T, G, X
- Là một chuỗi xoắn đơn
- Đơn phân là nuclêôtít gồm 4 loại A,U,G,X
- Là 1 hay nhiều chuỗi axit amin
- Đơn phân là axit aminvới hơn 20 loại khác nhau
- Truyền đạt thông tin di truyền
- Vận chuyển axitamin
- Tham gia cấu trúc ri bô xôm
- Cấu trúc các bộ phận
cơ thể
- Enzim xuc tác các quá trình trao đổi chất
- Hooc môn điều hòa các quá trình trao đổi chất
-Vận chuyển ,cung cấp năng lượng…
I Bối cảnh của đề tài :
Ở đa số các môn học, đến thi học kì, số lượng bài học nhiều, đa số học sinh lại
có thói quen học thuộc lòng, đến khi quên một chỗ nào đó, học sinh phải đọc đi đọclại nhiều lần để cố nhớ ra nội dung tiếp theo, làm không ít học sinh bị mất nhiều thời gian, kết quả bài làm không tốt Nhằm tạo thuận lợi cho học sinh khắc sâu kiếnthức đã học để đạt kết quả tốt trong thi học kì, giáo viên cần hệ thống kiến thức đã học theo một trình tự nhất định, để học sinh khái quát kiến thức một cách logic, dễ nhớ, dễ học, tránh trình trạng học vẹt, vận dụng dễ dàng, giáo viên phải có phương pháp hệ thống kiến thức một cách cụ thể, nhằm giảm bớt áp lực về kiến thức, giúp các em, hệ thống kiến thức cơ bản, đạt kết quả thi học kì tốt nhất
II Lí do chọn đề tài :
13
Trang 14Ở chương trình sinh lớp 9 hiện tại, kiến thức lý thuyết ở các chương thường nhiều
và khó học, khó nhớ vì không gần gũi, thường gặp như kiến thức thực vật ở lớp 6, động vật ở lớp 7 và đều có bài tập vận dụng đi kèm Vì vậy giáo viên cần phải đầu
tư kiến thức giúp các em ôn tập có hiệu quả ở từng bài ,từng chương Đó là lí do tôi chọn đề tài này
III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu :
Kiến thức chương trình sinh học lớp 9, phần Di truyền và biến dị Ở đề tài này tôi chú trọng đến ôn tập kiến thức lý thuyết chương ADN và chương Biến dị
IV Mục đích nghiên cứu :
Giúp học sinh nắm vững kiến thức lý thuyết một cách hệ thống, dễ học, dễ nhớ kiếnthức đã học Vận dụng kiến thức vào bài thi một cách tốt nhất, đạt hiệu quả cao
V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu :
Việc hệ thống kiến thức đã học giúp tất cả các đối tượng học sinh hiểu sâu, nhớ lâu,nhằm nắm vững cơ bản kiến thức bộ môn, giúp các em tự tin nắm vững nội dung bài học và đạt kết quả cao hơn
PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
Ở chương trình sinh lớp 9, kiến thức lý thuyết ở các chương đều khó,vì vậy nếu đòihỏi ở học sinh chất lượng cao,có đủ kiến thức theo chuẩn với hai tiết ôn thi học kì thì không phải dễ Do đó giáo viên phải có phương pháp ôn tập một cách ngắn gọn, đảm bảo đủ kiến thức cơ bản của chương trình theo chuẩn kiến thức kĩ năng, nhằm giúp học sinh giảm áp lực về kiến thức, thời gian ôn tập,mà vẫn có thể đạt kếtquả đúng theo mong muốn
Trang 15Với thời gian học chính khóa ở lớp thì ngày nay học sinh còn học trái buổi một
số môn,thời gian chiếm khá nhiều ,nên các em ít có thời gian tự học thuộc
bài,chuẩn bị nội dung ôn tập ở nhà Đến kì thi đa số đều trong chờ vào đề cương ônthi mà giáo viên ôn tập, nhưng đối với các môn phòng giáo dục, sở giáo dục ra đề thì kiến thức ôn tập không phải ít Nhằm giúp các em giảm bớt áp lực về thời gian, bản thân tôi bằng kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy bộ môn sinh 9, tôi đã tóm tắt nội dung chương trình theo chuẩn kiến thức và hệ thống ngắn gọn,kết hợp với vận dụng bản đồ tư duy, giúp các em hệ thống, khắc sâu kiến thức cơ bản đã học
III Các biện pháp tiến hành :
III.1 Phương pháp chung :
- Về kiến thức lý thuyết ở từng bài, học sinh phải nắm được nội dung đã học
- Ở mỗi chương khi học xong các em cần có sự so sánh,giống nhau khác nhau giữa các cơ sở vật chất di truyền, các dạng biến dị Để giúp học sinh nắm vững kiếnthức đó ,giáo viên hướng dẫn học sinh cách lập bảng hệ thống và học theo bản đồ
tư duy
III 2 Phương pháp cụ thể:
Vấn đề 1: Kiến thức chương III ADN và gen
Ở chương ADN và Gen có tất cả 6 tiết ,các em được học về cấu tạo hóa học, cấu trúc không gian,nguyên tắc tổng hợp, tính đa dạng,tính đặc thù,mối quan hệ ,chức năng và nguyên tắc tổng hợp của các cơ sở vật chất di truyền ở cấp độ phân tử Do
có sự giống nhau về cấu trúc bài học, nên khi học xong bài 17 ARN, cuối giờ giáo viên dành thời cho học sinh kẻ bảng so sánh ADN với ARN về cấu tạo chức năng
Cụ thể như sau :
Bảng so sánh AND với ARN về cấu trúc và chức năng
Giáo viên chuẩn bị bảng phụ ghi kiến thức phần bài AND , yếu cầu học sinh dựa vào đó hoàn thành bảng so sánh
15