1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN vận DỤNG PHƯƠNG PHÁP dạy học TÍCH hợp một số bài học PHẦN LỊCH sử VIỆT NAM

15 48 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 138 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng giải pháp đã biết Lịch sử không chỉ là một môn khoa học cơ bản mà còn là một môn học có vị trí hàng đầu trong việc giáo dục nhân cách, tinh thần dân tộc, hun đúc nên lòng yêu

Trang 1

MÔ TẢ SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP

MỘT SỐ BÀI HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM”

Mã số: ………

Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn

A Tình trạng giải pháp đã biết

Lịch sử không chỉ là một môn khoa học cơ bản mà còn là một môn học có vị trí hàng đầu trong việc giáo dục nhân cách, tinh thần dân tộc, hun đúc nên lòng yêu nước Từ những hiểu biết về quá khứ, thông qua việc dạy và học môn lịch

sử sẽ góp phần hình thành cho học sinh về ý thức trách nhiệm của một công dân sau này đối với đất nước

Tuy nhiên, do có những nhận thức sai lệch về vị trí chức năng của môn lịch

sử, xem đây là môn phụ nên dẫn đến thái độ thờ ơ ít được phụ huynh cũng như học sinh quan tâm, từ đó dẫn đến sự giảm sút chất lượng bộ môn Đa phần học sinh gặp khó khăn khi giáo viên yêu cầu nhắc lại kiến thức lịch sử đã học và tình trạng này cũng khá phổ biến ở nhiều trường học hiện nay Mặc khác, việc dạy học lịch sử liên quan đến kiến thức của rất nhiều bộ môn( Toán, Vật lý, âm nhạc, mĩ thuật, văn học ) Vì thế việc khai thác tốt kiến thức của các bộ môn có liên quan không chỉ giúp tạo hứng thú cho các em mà còn tạo nên sự gắn kết kiến thức của các môn học, giữa nội dung học tập với thực tiễn cuộc sống, làm cho việc học tập lịch sử trở nên có ý nghĩa hơn đối với học sinh Từ đó góp phần nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những con người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại

* Ưu khuyết điểm của những giải pháp đã, đang áp dụng tại đơn vị

* Ưu điểm :

+ Giáo viên đã có vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử giúp tiết học thêm phần sinh động, học sinh hứng thú học tập;

Trang 2

+ Việc liên môn giúp các em nhìn thấy mối quan hệ giữa các môn học, khơi dậy sự tìm tòi, sáng tạo ở học sinh;

+ Giúp giáo viên khắc phục được tình trạng khô cứng trong dạy học tạo động lực cho học sinh học tập tốt hơn môn học của mình

* Hạn chế :

+ Việc vận dụng kiến thức liên môn thực hiện chưa sâu, chỉ tích hợp ở mức độ thấp, chung chung, chưa làm rõ trọng tâm hoặc liên hệ còn gượng ép;

+ Để chuẩn bị cho việc dạy học vận dụng kiến thức liên môn đòi hỏi giáo viên phải có vốn kiến thức rộng, phải đầu tư tìm tòi nghiên cứu tài liệu minh họa cho bài dạy mất nhiều thời gian và phải có sự chuẩn bị chu đáo cho mọi khâu của tiết học, việc vận dụng phải khéo léo, linh hoạt nếu không sẽ không mang lại tác dụng giáo dục như mong muốn

B Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

I Mục đích của giải pháp:

Lịch sử là một môn học có nội dung khá dài và tương đối khô khan đối với học sinh, đặc biệt là học sinh Trung học cơ sở Các em rất dễ nhàm chán với chuỗi những sự kiện lịch sử, với những mốc thời gian chằng chịt khó nhớ, chẳng lấy gì làm thích thú Chính vì thế việc tạo hứng thú học tập bộ môn lịch

sử cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết giúp các em yêu thích môn học, tích cực tham gia tìm hiểu, khai thác và tiếp thu được lượng kiến thức mà người giáo viên muốn truyền đạt Làm được việc đó chứng tỏ rằng tiết dạy- tiết học đã thành công

Hơn nữa dạy học liên môn tích hợp là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học hiện đại nói chung và dạy học lịch sử nói riêng Dạy học tích hợp liên môn nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục.Vì vậy, phương pháp này vừa thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp dạy học vừa đồng thời tạo ra cho thầy và trò một tâm thế tốt để truyền đạt và tiếp thu bài học lịch sử một cách hiệu quả nhất

Trang 3

Bên cạnh đó phương pháp này làm cho người học sử nhận thức được sự phát triển xã hội một cách liên tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, khắc phục được tính rời rạc trong kiến thức.Từ đó tạo nên sự gắn kết kiến thức của các môn học, giữa nội dung học tập với thực tiễn góp phần nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những con người

có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại

II Nội dung giải pháp

1 Tính mới

- Dạy học tích hợp góp phần làm cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, giúp học sinh khắc sâu các kiến thức lịch sử đã học, từ đó giúp các em có thể hiểu bài nhanh chóng, học bài nhanh thuộc và nhớ bài lâu hơn

- Phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh Phát triển ở học sinh kĩ năng thực hành, vận dụng được kiến thức từ các môn học khác vào giải quyết vấn đề thực tiễn trong học tập bộ môn lịch sử cũng như trong thực tiễn cuộc sống

- Góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh, hun đúc lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc

- Học sinh biết phân tích, đánh giá một vấn đề thực tiễn từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân trong cuộc sống.

2 Một số hạn chế, khó khăn trong quá trình dạy và học theo phương pháp cũ:

* Đối với giáo viên: Việc truyền thụ kiến thức mang tính chất áp đặt,

một chiều Nội dung bài dạy chỉ đơn thuần dựa vào nội dung kiến thức sách giáo khoa một cách khô khan cứng nhắc làm cho tiết học nhàm chán, kém sinh động Giáo viên cảm thấy chưa hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ giảng dạy của mình, chưa thật sự lôi cuốn được học sinh hứng thú tham gia vào tiết học,…

* Đối với học sinh:

- Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc Rập khuôn theo cách học thuộc lòng những nội dung kiến thức của giáo viên cung cấp

Trang 4

- Do kiến thức không được khắc sâu nên học sinh phải mất nhiều thời gian cho việc học thuộc bài trong khi nhiệm vụ học tập của các môn học khác thì rất nhiều đã tạo nên tâm lí mệt mỏi, chán nản

- Chưa vận dụng được các kiến thức đã học vào việc giải quyết các tình huống trong thực tiễn cuộc sống

3 Cách thức thực hiện

I BƯỚC MỘT : Tìm hiểu chương trình, SGK các môn học khác -> Chọn các nội dung có liên quan đến nội dung chương trình Lịch Sử Việt Nam

- Ý nghĩa : trong chương trình, sách giáo khoa các môn học khác có rất

nhiều nội dung kiến thức có thể tích hợp trong môn Lịch sử - nhất là môn Văn, Địa lí, Âm nhạc, giáo dục công dân Do vậy việc tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa các môn học khác để chọn các nội dung có liên quan đến bộ môn Lịch

sử là việc làm cần thiết giúp học sinh liên tưởng, củng cố các kiến thức của các môn học khác Đồng thời việc tìm hiểu chương trình giúp giáo viên thấy được vai trò, mối liên hệ giữa các môn với bộ môn Lịch sử, giúp sưu tầm tài liệu phù hợp

- Giáo viên cần thống kê những tác phẩm, tài liệu, nhân vật, các kĩ năng, nội dung giáo dục cần thiết của các bộ môn khác có liên quan đến việc liên môn, tích hợp vào bộ môn Lịch sử

II.BƯỚC HAI : Xác định địa chỉ tích hợp và chủ đề giáo dục tích hợp ở bài lịch sử có thể tich hợp.

- Đầu tiên giáo viên lập kế hoạch chung cho từng chủ đề : xác định kiến thức, việc rèn kĩ năng, kết hợp với giáo dục tích hợp có liên quan

- Sau đó giáo viên nghiên cứu kĩ bài học lịch sử xem bài học đó có liên quan đến kiến thức của bộ môn nào, nội dung nào, nằm ở khối lớp mấy, bài nào

- Giáo viên nghiên cứu sách giáo khoa, chương trình và nội dung bộ môn

đó rồi tích hợp vào bài học lịch sử.Nếu gặp khó khăn về kiến thức, giáo viên có

Trang 5

thể trao đổi với giáo viên các môn liên quan để nắm rõ hơn rồi nghiên cứu đưa vào giáo án cho phù hợp

MỘT VÀI NỘI DUNG TÍCH HỢP LIÊN MÔN MÀ CHÚNG TÔI ĐÃ NGHIÊN CÚU ÁP DỤNG TẠI ĐƠN VỊ

3.1: Tích hợp môn Ngữ văn vào giảng dạy lịch sử

Các tác phẩm văn học từ xưa

đến nay, có vai trò to lớn đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông Bằng những hình tượng cụ thể các tác phẩm văn học có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm người đọc, trình bày những nét đặc trưng tiêu biểu của các hiện tượng kinh tế, chính trị, những quy luật của đời sống xã hội Mặt khác,giữa văn học và sử học có mối liên hệ khăng khít Bởi lẽ trong khi sáng tác một tiểu thuyết, nhà văn phải nghiên cứu các tài liệu lịch sử Không ít tác phẩm văn học,

tự nó là một tư liệu lịch sử Vì vậy, khai thác yếu tố lịch sử trong một tác phẩm văn học có ý nghĩa quan trọng trong giảng dạy bộ môn lịch sử

Ví dụ khi dạy bài : “Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm 1873”

VD1 : Tìm hiểu nổi khốn khổ của nhân dân ta trong những ngày đầu thực dân Pháp tiến hành xâm lược

* Giải pháp cũ :

- Học sinh sẽ trả lời theo suy nghĩ của mình (nội dung này không có ghi nhận trong sách giáo khoa nên ít học sinh trả lời được)

- Hoặc là giáo viên sẽ cung cấp, giới thiệu luôn với học sinh về nổi khốn khổ của nhân dân ta trong những ngày đầu bị Pháp xâm lược

* Giải pháp mới :

- Giáo viên định hướng cho học sinh sưu tầm các tác phẩm văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX

- Giáo viên giúp học sinh lựa chọn những tác phẩm văn học có nội dung phù hợp với bài dạy( chạy Tây của Nguyễn Đình Chiểu )

- Phân tích các tác phẩm văn học đã chuẩn bị và rút ra câu trả lời

Trang 6

+ Khi tìm hiểu tình hình chiến sự tại Đà Nẵng, giáo viên định hướng và cho học sinh phân tích bài thơ của Phan Chu Trinh

“ Kìa đâu súng nổ đã nghe đùng

Cách bữa tàu Tây lại Vũng Thùng Nửa hạt Hòa Vang rân tiếng súng Mấy ngày Đà Nẵng đậu buồm bông”

( Phan Chu Trinh )

Qua bài thơ giúp học sinh hiểu rõ được tính chất ác liệt, khủng khiếp của cuộc chiến tranh, lần đầu tiên nhân dân ta phải đương đầu với các loại vũ khí hiện đại của bọn xâm lược tư bản phương Tây

+ Giáo viên cho học sinh thấy sự tan tác, hoảng loạn của người dân Nam bộ trước súng đạn, đại bác tấn công của kẻ thù khi thực dân Pháp tấn công vào Gia Định, đồng thời qua đó bày tỏ tình cảm của tác giả mong muốn có một vị anh hùng đứng ra chống giặc qua bài “Chạy giặc” của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu

“ Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,

Một bàn cờ thế phút sa tay.

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ổ bầy chim dáo dác bay.

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.

Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,

Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

( Nguyễn Đình Chiểu )

Trang 7

VD2 : Tìm hiểu tinh thần kháng chiến của nhân dân ta trong những ngày đầu chống quân Pháp xâm lược

* Giải pháp cũ :

- Học sinh có thể trả lời theo hiểu biết của mình là nhân dân ta đấu tranh kiên cường, bất khuất,… (trả lời theo cách hiểu rập khuôn, khẩu hiệu)

* Giải pháp mới :

- Giáo viên cung cấp cho học sinh một đoạn trích trong bài “ Văn tế nghĩa sĩ

Cần Giuộc”

Nhớ linh xưa :

Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; hai vòng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

(Trích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giộc -Nguyễn Đình Chiểu )

? Em có nhận xét gì về tinh thàn đấu tranh của nhân dân ta trong những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược?

Học sinh thấy được lòng căm thù quân xâm lược, thái độ căm ghét trước hành động bán nước của triều đình phong kiến nhà Nguyễn và tinh thần kháng

Trang 8

chiến của nhân dân ta trong công cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược không màn đến bổng lộc, bất chấp lệnh tổng bãi binh của triều đình phong kiến

3.2: Tích hợp môn Địa lí vào giảng dạy lịch sử

Không chỉ sử dụng tài liệu văn học hay trong lĩnh vực nghệ thuật, việc vận dụng liên môn với các lĩnh vực khoa học khác cũng đóng vai trò quan trọng Trong đó không thể không kể đến lĩnh vực địa lý Việc xác định điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình của một khu vực đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với lịch sử của khu vực đó

Ví dụ khi dạy bài : “Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm 1873”

Nội dung tìm hiểu : Tại sao Pháp chọn Đà Nẵng làm điểm tấn công đầu tiên ?

* Giải pháp cũ : Giáo viên sẽ cho học sinh khai thác từ sách giáo khoa

và nêu lí do Pháp xâm lược nước ta Tuy nhiên giải pháp này không rèn kĩ năng phân tích, đánh giá, nhận xét vị trí địa lý để giúp học sinh khắc sâu được kiến thức về nguyên nhân Pháp xâm lược

* Giải pháp mới :

- Giáo viên cho học sinh khai thác bản đồ các nước Đông Nam Á và bản đồ Việt Nam để xác định và nêu được tầm quan trọng của vị trí trí địa lí nước ta, vị trí của Đà Nẵng

+ Có nhiều cảng nước sâu, thuận lợi cho tàu chiến Pháp neo đậu

+ Cách kinh thành Huế 100km về hướng Bắc, gần Huế nên sẽ thực hiện được kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp,nhanh chóng buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng

+ Có đồng bằng Nam - Ngãi rộng lớn,…

=> Là những điều kiện thuận lợi để Pháp chọn Đà Nẵng làm điểm tấn công đầu tiên khi xâm lược nước ta

? Tại sau sau thất bại trong kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh ở Đà Nẵng, Pháp kéo quân vào Gia Định ?

- Tiếp tục khai thác bản đồ cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực

Trang 9

dân Pháp xâm lược (1858-1885) để thấy được Gia Định là điểm quan trọng thứ hai thực dân Pháp muốn tấn công sau khi thất bại ở Đà Nẵng Vì :

+ Gia Định xa Trung Quốc tránh được sự can

+ Xa kinh thành Huế tránh sự tiếp viện không kịp thời của triều đình Huế + Chiếm các cảng biển quan trọng ở miền Nam trước khi Anh tiến vào Từ Gia Định có thể dò đường lên chiếm Cao Miên và Trung Quốc

+ Là vùng trọng điểm ở Nam Kì, có đồng bằng Nam Bộ rộng lớn – là vựa lúa của triều đình nhà Nguyễn, chiếm được nơi này sẽ cắt được nguồn lương thực quan trọng của triều đình Huế

Hoặc khi dạy Bài 10 Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước

( LS Lớp 7) phần 1 Nhà Lý thành Lập: tìm hiểu nguyên nhân tại sao nhà Lý dời đô về Đại La,

* Phương pháp cũ: Gv cho HS khai thác kiến thức SGK để trả lời

* Phương pháp mới:

- Giáo viên sử dụng lược đồ nước Đại Việt thời Lý để hỏi học sinh : Tại sao nhà Lý dời Đô về Đại La ?

Học sinh quan sát lược đồ, xác định và so sánh vị trí Đại La và Hoa Lư và nêu được

+ Về vị trí địa lý: ở nơi trung tâm đất nước , đất rộng mà bằng phẳng, cao

mà thoáng, tránh được nạn lụt lội, chật chội

+ Về vị trí chính trị văn hóa: Là đầu mối giao lưu “chốn tụ hội của bốn

phương trời”, là mảnh đất hung thịnh “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”

Sau đó kết hợp với môn Ngữ văn, giáo viên khẳng định Dời đô từ vùng núi Hoa Lư ra vùng đồng bằng đất rộng chứng tỏ triều đình nhà Lý đủ sức chấm dứt nạn phong kiến cát cứ, thế và lực của dân tộc Đại Việt đủ sức sánh ngang hàng phương Bắc định đô ở Thăng Long là thực hiện nguyện vọng của nhân

Trang 10

dân thu giang sơn về một mối, nguyện vọng xây dựng đất nước độc lập, tự cường

* Khi dạy bài Các quốc gia cổ đại phương Tây( LS Lớp 6)

Hỏi : Nêu những diều kiện tự nhiên có sự tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển các quốc gia cổ đại phương Tây ?( HS dựa vào lược đồ trình bày):

Vị trí của bán đảo Ban-căng và I-ta-Li-a có những thuận lợi và khó khăn

* Thuận lợi: có nhiều hải cảng tốt thuận lợi cho việc buôn bán

* Khó khăn : ít đồng bằng, đất đồi khô cứng → công cụ sắt ra đời

đã hình thành nên các quốc gia cổ đại phương Tây gắn liền với nền sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp nhất là ngoại thương

3.3: Tích hợp môn Âm nhạc vào giảng dạy lịch sử

Âm nhạc giúp truyền tải cảm xúc và giúp giáo dục lòng yêu nước tự hào dân tộc

* Khi dạy Bài 22 Sự suy yếu của Nhà nước phong kiến tập quyền TK XVI- XVIII( Lịch sử Lớp 7), phần II.2 Chiến tranh Trịnh Nguyễn và sự chia cắt Đàng Trong đàng ngoài

+ Nói về hậu quả của chiến tranh là sự chia cắt đất nước , giáo viên liên

hệ Việt Nam sau năm 1954, nước ta bị chia cắt làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17, sông Bến Hải, cầu Hiền Lương làm ranh giới Sau đó cho học sinh nghe một đoạn trong bài hát “Câu hò bên bến Hiền Lương” của nhạc sĩ Hoàng Hiệp và hỏi: “ Em có suy nghĩ gì khi được sống và học tập trong 1 đất nước độc lập, tự do?” Từ đó giúp giáo dục học sinh ý thức chống chiến tranh,chống sự chia cắt,

và thêm quý trọng cuộc sống tự do ở hiện tại

* Khi dạy bài Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm Lược kết thúc ( 1953 – 1954) giáo viên cho học sinh nghe một đoạn trong bài

Ngày đăng: 09/06/2020, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w