Quá trình nghiêncứu nhằm giúp tôi tìm tòi để làm sao có được những biện pháp rèn đọc hay nhất,ngắn gọn nhất, hiệu quả nhất giúp học sinh dần dần hình thành kĩ năng, kĩ xảođọc đúng, đọc n
Trang 1MỤC LỤC Trang
A PHẦN MỞ ĐẦU .2
I Lý do chọn đề tài 2
II Mục đích nghiên cứu .3
III Đối tượng nghiên cứu .3
IV Đối tượng khảo sát, thực nghiệm 3
V Phương pháp nghiên cứu .3
VI Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 4 B NỘI DUNG SÁNG KIẾN 5 I Cơ sở lý luận: 5 1 Hệ thống ngữ âm chuẩn của Tiếng Việt .5
2 Cơ chế phát âm .5
3 Ý nghĩa của dạy Tập đọc .6
4 Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc lớp 2 6
5 Cơ sở của việc dạy Tập đọc 6
II Cơ sở thực tiễn 7
1 Chương trình và sách giáo khoa lớp 2 7
2 Quy trình dạy một bài Tập đọc 7
3 Thực trạng dạy và học Tập đọc hiện nay ở trường Tiểu học 8
III Các biện pháp thực hiện: 10
1 Phân loại học sinh 10
2 Xây dựng nề nếp học tập 11
3 Nghiên cứu kĩ bài dạy trước khi đến lớp 11
4 Rèn kĩ năng đọc đúng 12
5 Rèn kĩ năng đọc hay 17
6 Rèn kĩ năng đọc qua đọc mẫu của giáo viên 19
7 Rèn kĩ năng đọc qua tìm hiểu nội dung bài 20
8 Rèn kĩ năng đọc qua các trò chơi học tập 22
9 Rèn đọc qua các phân môn khác trong Tiếng Việt 23
10.Rèn đọc qua sách báo, truyện và qua tổ chức câu lạc bộ 26
IV Kết quả đạt được 27
V Những bài học kinh nghiệm 29
C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 30
I Kết luận 30
Trang 2II Khuyến nghị 31
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đất nước đi lên, xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi con người sốngtrong xã hội đó phải tiến lên kịp thời đại Con người cần phải hiểu biết, giaotiếp rộng hơn phát triển toàn diện hơn Dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểuhọc nói chung, dạy phân môn Tập đọc nói riêng có một vị trí đặc biệt quantrọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Nếu nói “Tiểuhọc là bậc học nền tảng” thì dạy Tập đọc có vị trí then chốt, đây là phân mônchủ đạo quyết định đến sự thành công của nhiều môn học khác Bởi lẽ “đọc” làmột đòi hỏi cơ bản đầu tiên của mỗi người đi học Trẻ có biết đọc thì mới họcđược các môn học khác Cho nên ngay từ những ngày đầu tiên đến trường trẻ
đã cần được “học đọc”, sau đó trẻ phải “đọc” để “học” Đọc trở thành nhiệm
vụ cấp thiết hàng đầu của mỗi người đi học Nhờ đọc mà mỗi người có thể bày
tỏ ý kiến của mình, có điều kiện tự học, tìm hiểu thế giới xung quanh và hiểubiết các môn học khác Như vậy có thể khẳng định rằng“đọc” là cầu nối củamọi tri thức, mọi môn học Học tập đọc không những giúp học sinh có kĩ năng
sử dụng tiếng mẹ đẻ, trau dồi ngôn ngữ, bồi dưỡng vốn kiến thức về đời sống,
là công cụ để học tốt các môn học khác, mà học tập đọc còn góp phần giáo dụcđạo đức, tính cách, tình cảm, mĩ cảm cho học sinh
Tập đọc là phân môn mang tính chất tổng hợp Thông qua Tập đọc, họcsinh sẽ được hình thành và phát triển kĩ năng đọc, một trong bốn kĩ năng quantrọng cần rèn (nghe, nói, đọc, viết) của năng lực thực tiễn hoạt động ngôn ngữ
Kĩ năng đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng đọc bộ phận: đọc đúng, đọc nhanh, đọc
có ý thức (đọc hiểu) và đọc diễn cảm Đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc
để tự học, học cả đời Bởi vậy dạy cho học sinh biết đọc, đọc đúng, đọc hiểu vàđọc hay là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy kĩ năng đọc của học sinh còn nhiềuhạn chế, có em còn chưa có kĩ năng đọc đúng chứ chưa nói đến đọc hay Vì vậyviệc rèn đọc đúng là một yêu cầu cơ bản hàng đầu của Tập đọc lớp 2 Khi đã đọcđúng một cách có định hướng thì rèn đọc hay cũng rất quan trọng Bởi lẽ chúng
ta đều thấy rằng: Đọc văn bản phải đọc đúng thì mới hiểu văn bản muốn nói gìvới ta Và khi đọc văn bản, không chỉ để hiểu mà còn để cảm nhận, chia sẻ, bộc
lộ những cảm xúc của bản thân, từ đó mà các em “tự lớn lên”
Tuy nhiên, với thực tế hiện nay, việc dạy Tập đọc ở trường Tiểu học đạt kếtquả chưa như mong muốn Bởi lẽ:
- Còn nhiều em chưa phân biệt được cách đọc thơ, cách đọc văn xuôi
- Học sinh đọc nhưng không biết diễn tả đúng ngữ điệu của từng kiểu câu
Trang 4- Các em chưa biết thay đổi giọng theo tính cách của nhân vật, đặc biệt làchỗ ngắt, nghỉ, nhấn giọng ở những từ gợi tả, gợi cảm…
mơ tốt đẹp cho học sinh, góp phần giáo dục học sinh phát triển toàn diện, đápứng được với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, phù hợp với nhu cầu phát triểncủa đất nước Trên cơ sở đó kết hợp với nghiên cứu lý luận, nghiên cứu các tàiliệu có liên quan đến dạy Tập đọc nói chung, đặc biệt là dạy Tập đọc lớp 2 nóiriêng, cùng với khảo sát thực trạng, tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy, bằngnhững kinh nghiệm của bản thân, tôi đã nắm bắt được nội dung, chương trìnhdạy Tập đọc lớp 2 cùng với yêu cầu và nhiệm vụ giảng dạy Quá trình nghiêncứu nhằm giúp tôi tìm tòi để làm sao có được những biện pháp rèn đọc hay nhất,ngắn gọn nhất, hiệu quả nhất giúp học sinh dần dần hình thành kĩ năng, kĩ xảođọc đúng, đọc nhanh tiến tới đọc hay các bài văn xuôi, các bài thơ trong chươngtrình học Từ đó nâng cao chất lượng đọc cho học sinh, giúp học sinh học tập đạthiệu quả cao nhất và hình thành được những phẩm chất nhân cách tốt, nhữngnăng lực trí tuệ của con người phát triển toàn diện như: Tính kỉ luật, tính cẩnthận, óc thẩm mĩ, ý thức tôn trọng người khác và tự trọng với chính bản thânmình
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Kĩ năng, kĩ xảo đọc được hình thành, thể hiện ở đọc đúng và đọc hay Đọcđúng bao gồm đọc đúng các âm, vần, tiếng, từ và cao hơn nữa là đọc đúng câu,đoạn, bài, biết ngắt, nghỉ hơi đúng ở từng văn bản cụ thể Đọc hay tức là họcsinh biết đọc thể hiện rõ từng giọng đọc, từng lời nhân vật, biết lên giọng, xuốnggiọng ở những từ gợi tả, gợi cảm, những từ giữ vai trò chủ đạo chứa đựng nộidung bài học để thể hiện được cái hồn của tác phẩm.Vì thế trong phạm vi đề tài
Trang 5này tôi đi sâu nghiên cứu về một số biện pháp tích cực để giúp học sinh lớp 2 có
kĩ năng đọc đúng, đọc hay
IV ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM:
Để đạt được mục đích nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 2, vớikinh nghiệm của bản thân khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã thực hiệnnghiên cứu, khảo sát, thực nghiệm trên đối tượng học sinh lớp 2 Sau đó tôi phổbiến áp dụng trong toàn khối 2 cùng với các cộng tác viên là các đồng chí giáoviên trong tổ chuyên môn
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để đúc rút được những kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh, tôi đã kết hợp sửdụng một số phương pháp sau:
1 Phương pháp nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài:
Tìm hiểu kĩ lưỡng về hệ thống ngữ âm chuẩn của Tiếng việt, cơ chế phát âm
để áp dụng vào bài dạy cụ thể Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếngviệt 2 và các tư liệu khác
2 Phương pháp điều tra:
Kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm về việc đọc của học sinh, phân loại đốitượng học sinh, ghi chép lại những điều cần thiết để tìm ra biện pháp thích hợp
4 Phương pháp đàm thoại, động não:
Tổ chức trò chuyện, giao lưu với học sinh dựa trên hệ thống câu hỏi đã đượcchuẩn bị Học sinh thảo luận, trao đổi, bày tỏ ý kiến về vấn đề đưa ra Hoặc đưacâu hỏi để học sinh độc lập suy nghĩ nêu ý kiến, phát huy tính tư duy sáng tạocủa học sinh
5 Phương pháp tổng kết các kinh nghiệm dạy học: Nghiên cứu rút ra cácbiện pháp cần thiết
6 Phương pháp thực nghiệm dạy học
VI PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
Trang 6Để có được những biện pháp thiết thực về rèn kĩ năng đọc đúng, đọc hay cho học sinh lớp 2 có hiệu quả tốt nhất, tôi đã có dự định và lập kế hoạch tiến hành nghiên cứu trong 2 năm gần đây: Năm học: 2015 - 2016; 2016 - 2017 đến nay đã thu được kết quả đáng khích lệ.
Trang 7B NỘI DUNG SÁNG KIẾN
I CƠ SỞ LÝ LUẬN: (Những vấn đề có liên quan đến đề tài)
1 Hệ thống ngữ âm chuẩn của Tiếng Việt:
Tiếng Việt là ngôn ngữ chung của toàn dân tộc Việt Nam Nhưng cũng như
các ngôn ngữ khác, do sự phát triển theo chiều dài lịch sử từ xưa đến nay, ngữ
âm Tiếng Việt không phải là hoàn toàn thống nhất từ Bắc chí Nam Hiện nayTiếng Việt có ba phương ngữ: miền Bắc (ở Bắc Bộ và Thanh Hoá), miền Trung(từ Nghệ An đến Huế) và miền Nam (từ Quảng Nam trở vào) Trong nhiềuphương ngữ đó lại có nhiều thổ ngữ khác nhau: trong phương ngữ Miền Bắc cóthổ ngữ Hà Nội, thổ ngữ Hải Phòng…, trong phương ngữ miền Trung có thổngữ Huế… trong phương ngữ miền Nam có thổ ngữ Quảng Nam, thổ ngữ BìnhĐịnh… Bức tranh thổ ngữ Tiếng Việt thực ra còn phức tạp hơn nhiều Trongthổ ngữ còn có những thổ ngữ nhỏ, những đảo ngữ mà danh giới của chúng đanxen nhau đến nay chưa xác định đầy đủ
- Dẫu có những khác biệt địa phương như vậy, nhưng Tiếng Việt vẫn là ngônngữ thống nhất của toàn dân Bởi vì trong các phương ngữ thổ ngữ ta vẫn tìmthấy những nét cơ bản chung làm cho người ba vùng có thể giao tiếp với nhau
dễ dàng bằng khẩu ngữ Tuy nhiên phải thấy rằng, những khác biệt ngữ âm, từvựng giữa các phương ngữ thổ ngữ có thể đưa tới hiểu lầm không lợi trong giaotiếp Huống chi trong quan hệ quốc tế, cần phải giới thiệu một thứ Tiếng Việttiêu biểu Vì vậy, vấn đề cần đặt ra là làm sao xây dựng một hệ thống ngữ âmtiêu biểu làm chuẩn cho Tiếng Việt
- Quan niệm về hệ thống ngữ âm chuẩn Tiếng Việt: Từ trước đến nay đã cónhiều ý kiến tranh luận về vấn đề chính âm Tiếng Việt Những ý kiến này mặc
dù có những điểm khác nhau, song ở mức độ nào đấy đều tán thành hệ thốngngữ âm chuẩn như sau:
+ Số lượng thành phần vị âm trong kết cấu âm tiết ở dạng đầy đủ nhất là 4(chưa kể thanh điệu )
+ Số lượng thanh điệu là 6
+ Có hệ thống phụ âm đầu, phụ âm cuối
2 Cơ chế phát âm:
Đặc điểm cơ bản của cơ chế phát âm là tiếng động Song trong khi phát âmmột số phụ âm, dây thanh cũng hoạt động và cung cấp thêm tiếng thanh Tuỳtheo tỉ lệ tiếng động và tiếng thanh mà người ta chia phụ âm thành các loại khácnhau Phụ âm vô thanh chỉ được cấu tạo bằng tiếng động mà thôi ( ví dụ: /p/,
Trang 8/t/, /d/ củaTiếng Việt) Loại phụ âm này gọi là phụ âm ồn, đối lập với loại thứ bavốn có đặc trưng cấu tạo này mà tỷ lệ tiếng thanh lớn hơn tiếng động gọi là phụ
âm vang ( ví dụ: /m/, /n/ trong Tiếng Việt)
- Khoang miệng và khoang mũi là hai cộng minh trường tiếp theo của bộmáy phát âm Khoang miệng và khoang mũi ngăn cách bởi một vách ngăn gọi làngạc
Những bộ phận của khoang miệng và khoang mũi đều có ảnh hưởng đến cấutạo âm thanh
- Các bộ phận của bộ máy phát âm của con người chia làm hai loại
+ Loại hoạt động được: lưỡi con, nắp họng, lưỡi, môi
+ Loại không hoạt động được: răng, lợi, ngạc
Khoang miệng và khoang mũi nhờ sự cộng hưởng của lưỡi và môi có thểthay đổi thể tích bất kì lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm có âm sắc khác nhau
3 Ý nghĩa của dạy Tập đọc:
Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có vai trò đặc biệt trong việc hình thành nănglực trong hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực này được thể hiện trongbốn hoạt động tương ứng bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Như vậy, đọc là mộtdạng hoạt động của ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói.Tập đọc là cách đọc văn bản từ đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu đến đọc hay
Tâm lý học cho thấy rằng muốn có kĩ năng, kĩ xảo con người phải trải qua
luyện tập, thực hành và càng phải luyện tập, thực hành những gì đã học
Dựa vào đặc điểm tâm lý học sinh lớp 2, tư duy cụ thể vẫn còn chiếm ưu thế,
tư duy trừu tượng chưa phát triển mạnh, khả năng tập trung còn yếu nên trongquá trình học, giáo viên cần phải luôn luôn chuyển đổi hoạt động để các em đỡmệt mỏi, học theo tinh thần: “ học mà chơi, chơi mà học” từ đó duy trì hứng thúcho học sinh.Vì vậy việc dạy Tập đọc có ý nghĩa rất lớn lao Đọc trở thành mộtnhu cầu, đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với trẻ ngay từ khi đi học Đầu tiên, trẻ phảihọc đọc, sau đó biết đọc để học Đọc tốt sẽ là một công cụ hữu hiệu để các emhọc tập tốt ở các môn học khác
4 Nhiệm vụ của môn Tập đọc lớp 2:
Phân môn Tập đọc ở lớp 2 tiếp nối những nhiệm vụ đã đặt ra từ lớp 1,song mức độ yêu cầu có cao hơn do việc dạy học gắn với hệ thống văn bản đềcập đến những vấn đề rộng rãi và sâu sắc hơn, độ dài của văn bản cũng lớn hơn.Nhiệm vụ cụ thể của phân môn Tập đọc lớp 2 là:
a Phát triển kĩ năng đọc và nghe cho học sinh
b Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sựhiểu biết của học sinh về cuộc sống
Trang 9c Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng.
5 Cơ sở của việc dạy Tập đọc:
Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng của nó là hìnhthành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đó thể hiện ở bốn yêu cầu: Đọc đúng,đọc nhanh, đọc có ý thức (đọc hiểu) và đọc hay Đọc là việc tiếp nhận thông tinbằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác Đọc bao gồm các yếu tốnhư tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thínhgiác và thông hiểu những gì đã đọc được Các nhà nghiên cứu đã chia việc hìnhthành kĩ năng đọc ra làm ba giai đoạn: Phân tích, tổng hợp và tự động hoá
* Quá trình đọc bao gồm các bước sau:
- Luyện đọc đúng: Bao gồm luyện phát âm và ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ.
- Luyện đọc hay: Là cách đọc làm rõ sắc thái biểu cảm của từ, câu văn, văn
bản Tùy thuộc vào nội dung của văn bản, thể loại và văn phong của tác giả
mà người đọc sử dụng ngữ diệu phù hợp, diễn tả sinh động những điều mà tácgiả muốn nói trong văn bản
Bên cạnh cơ sở ngôn ngữ học, phương pháp dạy học còn dựa trên lí thuyếtvăn học Việc đọc những bài văn, thơ ở Tiểu học được xây dựng trên cơ sởnhững qui luật chung về tác phẩm văn học và sự tác động của nó đến người đọc
II CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1 Chương trình và sách giáo khoa ở lớp 2
Chương trình sách giáo khoa phân môn Tập đọc được bố trí như sau:
Có 93 tiết chia làm 31 tuần, mỗi tuần 3 tiết
93 tiết được xoay quanh các chủ điểm: Em là học sinh - Bạn bè - Trườnghọc - Thầy cô - Ông bà - Cha mẹ - Anh em - Bạn trong nhà - Bốn mùa - Chimchóc -Muông thú - Sông biển - Cây cối - Bác Hồ - Nhân dân
Trong các chủ điểm trên có 85 bài văn, còn lại là 8 bài thơ
Ở mỗi bài Tập đọc sách giáo khoa trình bày gồm 3 phần: Văn bản đọc,chú giải, câu hỏi tìm hiểu bài, riêng đối với bài Tập đọc - Học thuộc lòng cóthêm yêu cầu học thuộc lòng
Nhìn chung, các văn bản đọc ở lớp 2 đều là những đoạn trích, bài thơ cónội dung phong phú, có giá trị nghệ thuật đặc sắc song nhiều bài có nội dunggắn với đời sống của trẻ, rèn khả năng giao tiếp
2 Quy trình dạy một bài Tập đọc:
Khi dạy một bài tập đọc, giáo viên thường tiến hành theo các bước sau:
2.1 Kiểm tra bài cũ
2.2 Bài mới
Trang 10a Giới thiệu bài.
b Luyện đọc
b1 Giáo viên đọc mẫu (hoặc học sinh giỏi đọc mẫu)
b2 Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện đọc, kết hợp giải nghĩa từ
- Đọc từng câu
+ Học sinh đọc nối tiếp từng câu
+ Giáo viên lưu ý cách đọc các câu dài, chú ý cách ngắt, nghỉ cho hợp lí
- Đọc từng đoạn trước lớp
+ Giáo viên chia đoạn và yêu cầu học sinh đọc nối tiếp theo đoạn
+ Giáo viên hỏi để học sinh giải nghĩa các từ ở phần chú giải và có thểgiải nghĩa thêm một số từ khác
- Đọc từng đoạn trong nhóm
- Đọc đoạn trước lớp
- Đọc cả bài (tuỳ từng văn bản có yêu cầu đọc ĐT)
c Hướng dẫn tìm hiểu bài
d Luyện đọc lại
Giáo viên đọc diễn cảm một đoạn (bài), sau đó hướng dẫn học sinh đọc hay.Hoặc cho học sinh luyện đọc phân vai hay luyện học thuộc lòng tùy từng bài 2.3 Củng cố - dặn dò
3 Thực trạng của việc dạy - học Tập đọc hiện nay ở trường Tiểu học:
- Trong giờ dạy vẫn còn có giáo viên phân bố thời gian luyện đọc chưa hợp
lý, có khi đặt yêu cầu về kiến thức lên trên, vì vậy thời gian giành cho luyện đọccòn ít
- Đôi khi giáo viên còn quá lệ thuộc vào sách hướng dẫn và câu hỏi trongsách giáo khoa mà chưa chú ý đến trình độ học sinh lớp mình, địa phương mình.Chẳng hạn ở địa phương học sinh đọc sai những tiếng có phụ âm đầu l/n nhưnggiáo viên lại yêu cầu học sinh luyện phát âm các tiếng có âm đầu tr/ch nhưhướng dẫn trong SGK Bởi vậy, chất lượng đọc của học sinh chưa cao
b Việc học.
Trang 11Nhìn lại các năm vừa qua, học sinh lớp 2 do tôi phụ trách cũng như toànkhối 2 nói chung, tôi nhận thấy hành trang của trẻ em khi bước vào lớp 2 là hoàntoàn không giống nhau: Còn một số em nói ngọng dẫn đến đọc ngọng, một số
em trong quá trình học không nắm được cách phát âm chuẩn, đọc còn nhầm lẫngiữa l/n, thanh hỏi, thanh ngã, khi đọc còn mang nặng tính địa phương, đọc ê a,ngắc ngứ, không đúng tốc độ đọc Ở những bài văn xuôi, học sinh thường mắclỗi ngắt nghỉ ở những câu dài, đọc thơ không biết cách ngắt nhịp thơ, cónhững
em khi đọc còn tự thêm tiếng hoặc tự bớt tiếng, đọc không đúng trọng âm, hoặc
có những em đọc mà không hiểu nội dung… Vì vậy kĩ năng đọc đúng, đọc haycủa học sinh còn rất hạn chế Sau đây là các lỗi mà học sinh hay mắc:
*Đọc sai do phát âm sai:
Ví dụ: Trong bài “Tự thuật”:
Đọc đúng: Nam, nữ - HS đọc sai: Lam, lữ…
*Đọc sai do không biết cách ngắt, nghỉ hợp lý:
Ví dụ: Trong bài : “Chuyện bốn mùa” có học sinh ngắt hơi sai như sau:
Cháu có công ấp ủ mầm sống để xuân /về cây cối đâm chồi nảy lộc.//
Hoặc khi đọc thơ, học sinh không tính đến nghĩa mà chỉ đọc theo áp lựccủa nhạc thơ
Ví dụ: Bài “Vè chim” có em đọc:
Hay chạy lon/ xon
Là gà mới/ nở
* Đọc sai do tự ý bớt tiếng hoặc thêm tiếng:
Ví dụ: Bài “Bím tóc đuôi sam” có câu:
Một hôm, Hà nhờ mẹ tết cho hai bím tóc nhỏ, mỗi bím buộc một cái nơ
Có học sinh đọc nhhư sau:
Một hôm, Hà nhờ mẹ tết cho hai bím tóc, mỗi bím buộc một cái nơ
* Việc đọc phân vai còn nhiều hạn chế: Bên cạnh các lỗi trên học sinh
còn hạn chế khi đọc các đoạn văn đối thoại Các em chưa biết phân biệt lời nhânvật, chưa biết cách thay đổi giọng tuỳ theo tính cách của nhân vật mà thườngđọc với giọng đều đều như nhau
Vậy nguyên nhân do đâu? Đi sâu vào tìm hiểu tôi nhận thấy có một sốnguyên nhân sau:
c Nguyên nhân chủ quan:
- Phía giáo viên:
+Việc tiếp cận với đổi mới phương pháp ở một vài đồng chí chưa được
coi trọng, chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học
Trang 12+ Đôi khi sự chuẩn bị bài giảng trước khi lên lớp của giáo viên chưa sâu.
Giáo viên thường giảng bài theo cách hiểu chung chung, chưa đi sâu vận dụng,sưu tầm đồ dùng dạy học phù hợp, chưa chú ý đến việc rèn đọc cho học sinh,chưa lường trước hoặc dự kiến những tình huống mà học sinh mang lại trongtừng bài học để đưa ra những biện pháp khắc phục hợp lý trong giờ học…
- Phía học sinh:
+ Do trình độ phát triển nhận thức của học sinh lớp 2 chưa cao: Các em
mới làm quen với phân môn Tập đọc ở lớp 1 chưa nhiều, vốn hiểu biết của các
em về thơ, văn còn quá ít, hơn nữa các em ít có thói quen đọc
+ Năng lực đọc của học sinh còn hạn chế, thiếu kiên trì Nhiều em chưa
có ý thức cao trong việc đọc, chưa tập chung trong quá trình đọc, không thíchđọc, đặc biệt là với những em có học lực trung bình…
d Nguyên nhân khách quan:
- Nhiều em do ảnh hưởng của tiếng địa phương đọc ngọng l - n, s - x, r - d
- gi, thanh hỏithành thanh nặng (chỉ - chị), thanh ngã thành thanh sắc ( ngã - ngá), vần “anh” thành vần “ăn”
- Do điều kiện vật chất cần thiết: Các thiết bị, phương tiện dạy học hiệnđại còn hạn hẹp
- Nhận thức của cha mẹ học sinh: Thái độ quan tâm đến con em mình tạomôi trường cho học sinh tiếp xúc, liên hệ mở rộng vốn từ chưa đúng mức
- Học sinh chưa thực sự chăm học…
Tất cả các nguyên nhân trên đều ảnh hưởng tới việc rèn kĩ năng đọc chohọc sinh Bởi vậy giáo viên giữ vai trò cơ bản chủ đạo trong việc khắc phục các
tồn tại trên.
Tìm ra được nguyên nhân, vậy làm thế nào để khắc phục được nguyênnhân đó? Làm thế nào để giúp các em học tập tốt phân môn Tập đọc Tôi đã đisâu nghiên cứu, tìm hiểu về những nét đặc trưng cơ bản của thơ, văn và tìm ranhững biện pháp dạy học sinh rèn đọc có hiệu quả nhất Tôi đã giúp các em từviệc rèn đọc đúng cho đến đọc lưu loát và đọc hay Sau đây là những biện pháp
mà tôi đã làm
III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
Như chúng ta đã biết, dạy Tập đọc là dạy một hệ thống các bài học nhằm
đảm bảo sự phát triển các kĩ năng đọc Chính vì vậy, để rèn cho học sinh có kĩnăng đọc đúng, đọc hay, tôi luôn chú ý đến các biện pháp sau:
1 Phân loại học sinh:
Mục đích:
Trang 13Để tháo gỡ những khó khăn trên, để tìm hiểu cụ thể từng nguyên nhân dẫn
đến học sinh đọc sai, đọc chưa hay, tôi xác định việc đầu tiên tôi phải làm làthống kê khảo sát đầu năm qua ba tuần học đầu tiên để phân loại học sinh Đây
là việc làm vô cùng quan trọng Chúng ta không nên lầm tưởng rằng phân loạihọc sinh chỉ có trong Toán hoặc Tiếng Việt Ở rèn đọc giáo viên cũng cần phânhọc sinh thành các đối tượng để rèn đọc Có như vậy việc rèn đọc mới có hiệuquả cao nhất và tốn ít thời gian nhất Với công việc này, tôi tiến hành bằng cách
ra một đề khảo sát: Đọc thành tiếng một đoạn văn hoặc một bài thơ để tìm hiểu
kĩ lưỡng trình độ đọc của từng học sinh, phân loại ra các đối tượng học sinhtrong lớp để tiện cho việc rèn đọc
Đọc đúng
Đọc chưa rõ ràng, ngắc ngứ
Khi đã phân loại được từng nhóm đối tượng học sinh, tôi đã đi sâu tìm hiểutâm lí riêng của từng em, tâm lí chung của từng nhóm đối tượng, từ đó đưa racách thức rèn và thời điểm rèn sao cho phù hợp nhất, hiệu quả nhất
Cụ thể như:
- Đối với các em đọc chưa rõ ràng, ngắc ngứ: Tâm lí các em rất ngại đọc, nhất
là các bài dài Vì thế không nên gây áp lực đọc cho các em, tôi thường kiên trìrèn luyện các em bằng cách: Hướng dẫn cụ thể hơn, đưa ra nhiều ví dụ để họcsinh luyện tập, thực hành đọc Cuối cùng cho học sinh về đọc lại nhiều lần hơn.Trong quá trình học một bài tập đọc có phần đọc nối tiếp câu, đây là lúc rèn tốtnhất cho các em Giáo viên động viên các em đọc tốt từng câu của mỗi bài Sau
đó nâng dần lên đọc đoạn, đọc bài Mặt khác khi đọc trong nhóm để các em giỏikèm cặp, các em thấy tự tin hơn Ngoài ra giáo viên có thể kết hợp với phụhuynh mua những quyển truyện tranh thiếu nhi cho các em đọc để gây hứng thú,ham đọc hơn cho các em
- Đối với các em đọc đúng (đọc rõ ràng): Tâm lý các em này ngại thể hiện, các
em nghĩ biết đọc là được Vì vậy trong giờ đọc giáo viên cần đánh giá đúngmức, khuyến khích sự cố gắng của các em như khen ngợi động viên để các em
Trang 14bạo dạn hơn Ngoài ra, cho các em tham gia đóng vai nhân vật trong giờ tập đọc
để lôi cuốn các em thích đọc
- Đối với các em đọc đúng, lưu loát, đọc hay: Tâm lý các em thích bộc lộ, tựtin Chính vì thế trong giờ học giáo viên cần động viên các em tự tìm cách đọcđúng, tiến tới đọc lưu loát, đọc hay, đòi hỏi các em ở mức độ cao hơn như là đọcphân vai Lấy các em là nhân tố tích cực từ đó phát triển thêm những em khác đểgiờ tập đọc trở nên nhẹ nhàng, thoải mái, lôi cuốn các em thích học giờ này
2 Xây dựng nề nếp học tập:
Mục đích:
Tôi nghĩ rằng để thực hiện hoạt động giáo dục có hiệu quả, bên cạnh sự nỗlực tận tình của người giáo viên, một yếu tố không thể thiếu để góp phần vào sựthành công đó là nếp học, ý thức tự giác học tập của người học Thầy có giỏi đếnmấy mà trò không có nếp học, không biết cách học, không có ý thức tự giác họcthì việc dạy cũng không đạt hiệu quả Thấy rõ được điều đó, nên tôi đã đưa việcrèn nề nếp học tập lên hàng đầu
Cách tiến hành:
Tôi kiên trì rèn cho các em có nề nếp trong học tập nói chung và đặc biệt là họcTập đọc nói riêng Cụ thể: Trong giờ Tập đọc tôi rèn cho các em ý thức biếtcách chú ý theo dõi và lắng nghe người khác đọc Chẳng hạn khi tôi đọc mẫu, tất
cả các em phải chú ý nhìn vào bài đọc và đọc thầm theo Khi có một em đọc, các
em khác phải chú ý đọc thầm theo và sẵn sàng đọc tiếp khi đến lượt Tôi hướngdẫn các em từ cách cầm sách, tư thế đọc, cách đọc thầm, cách đọc thành tiếng,tôi đặt ra một số quy ước khi đọc nối tiếp câu, nối tiếp đoạn, khi đọc nhóm thì
em nào sẽ đọc trước, em nào sẽ đọc sau, đọc như thế nào… để khi luyện đọcgiáo viên không mất thời gian gọi học sinh và bắt buộc học sinh phải chú ý theodõi bạn đọc để đọc tiếp Đây là bước giúp học sinh có nhiều thuận lợi khi đọc vỡbài đọc Bên cạnh đó tôi thành lập các nhóm đọc Mỗi nhóm từ 3 đến 6 em, cómột em nhóm trưởng là người có năng lực đọc trội hơn hẳn các bạn Các nhómđọc có thể giúp nhau rèn đọc trong giờ tự quản 15 phút truy bài đầu giờ hoặc giờhướng dẫn học, giờ sinh hoạt câu lạc bộ hoặc học nhóm chuẩn bị bài ở nhà…Tôi hướng dẫn cho em nhóm trưởng những công việc cần làm khi điều hànhnhóm, ví dụ như: có thể đọc mẫu cho các bạn nghe để bắt chước, lắng nghe cácbạn đọc để sửa sai cho các bạn khi cần…Ngoài ra tôi còn rèn cho các em ý thức,thói quen tự luyện đọc Trong mỗi tuần học có hai buổi học có tiết Tập đọc, vậytrước mỗi buổi có tiết Tập đọc các em phải tự giác luyện đọc bài ở nhà Em đọctốt có thể đọc ít lượt rồi tìm hiểu nghĩa từ, tìm hiểu nội dung, còn em đọc chưa
Trang 15tốt thì phải đọc nhiều lượt hơn cho quen mặt chữ Có như vậy việc rèn đọc mới
- Có đủ tranh minh hoạ, vật mẫu theo nội dung bài
- Soạn kĩ giáo án, nghiên cứu kĩ từng bài dạy để nắm bắt được ý định của tácgiả gửi gắm vào bài đọc, nắm được những âm, vần, tiếng, từ, câu mà HS hayphát âm sai, đọc nhầm lẫn hoặc ngắt nghỉ chưa hợp lý để có phương pháp rèn cụthể Dự kiến các tình huống có thể xảy ra trong từng giờ học và cách giải quyếttừng tình huống đó
VD: Nếu học sinh phát âm sai phụ âm l - n, s- x, tr - ch… thì cách sửa cụ thể
là: Hướng dẫn lại cách phát âm, cách đặt lưỡi, cách mở miệng đưa hơi thoát ranhư thế nào cho đúng, so sánh cách đọc giữa các phụ âm hay nhầm lẫn vớinhau…
Nếu học sinh đọc ngắt nghỉ câu dài sai thì cách sửa cụ thể là phải hướngdẫn học sinh tìm xem đến đâu là hết một cụm từ để ngắt hơi cho hợp lí…
4 Rèn kĩ năng đọc đúng:
Mục đích:
Như chúng ta đã biết: Đọc đúng là đọc phải thể hiện được hệ thống ngôn ngữ
chuẩn, tức là đọc đúng chính âm (phát âm chuẩn), không đọc thừa tiếng, thiếu
tiếng, lạc dòng, biết ngắt nghỉ hơi hợp lí Rèn kĩ năng đọc đúng là nhiệm vụ cơ
bản của tiết tập đọc, đồng thời cũng là nhiệm vụ chính của phân môn Tập đọc.Mặc dù các em học sinh đã được làm quen với phân môn Tập đọc ở những tuầncuối năm học lớp một, song lên lớp hai, yêu cầu đọc đối với các em đòi hỏi ởmức độ cao hơn: Tốc độ đọc phải nhanh hơn, lưu loát hơn, đọc phải hay hơn…
Mà trong thực tế, khả năng đọc của học sinh lớp hai còn có nhiều hạn chế Vì
Trang 16vậy, muốn học sinh đọc đúng, chuẩn giáo viên cần phải tìm hiểu nguyên nhândẫn đến việc đọc sai để từ đó có cách sửa thích hợp Có nhiều yếu tố ảnh hưởngđến việc đọc đúng, chuẩn của học sinh, nhưng có lẽ yếu tố cơ bản dẫn đến việcphát âm không chính xác đó là do hoạt động của bộ máy phát âm và tiếng địaphương.
Trước tiên, phải nói đến hoạt động của bộ máy phát âm Nếu bộ máy này có
khuyết tật sẽ ảnh hưởng đến kĩ năng đọc (đọc ngọng, nói lắp…)
Với học sinh lớp tôi, do ảnh hưởng của bộ máy phát âm có những em đọc dấungã thành dấu sắc, vần anh thành vần ăn, vần ach thành vần ăt …như em Quang
Hà , Đức Minh, em Minh Hiếu
VD: Khi học bài “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, khi học bài các em đọc: “cũng mau chán” thành “cúng mau chán”, “cầm quyển sách” thành “cầm quyển sắt” hoặc “thành một chiếc kim” thành “thằn một chiếc kim”
Cách tiến hành:
Để sửa lỗi này, tôi đã gọi những em đọc đúng, chuẩn trong lớp hoặc tôi đọcmẫu cho các em nghe và đọc theo Nếu các em vẫn chưa thể đọc đúng theo mẫuđược tôi yêu cầu các em phân tích tiếng chứa các dấu ghi thanh hoặc vần các emđọc sai sau đó đánh vần tiếng Khi hoc sinh đánh vần đúng mới đọc trơn tiếng,đọc trơn từ
Với cách sửa này, không phải chỉ học sinh đánh vần, đọc trơn một lần làsửa được ngay mà có khi các em phải đánh vần và đọc trơn vài lần mới đọcđúng tiếng đó Khi gặp các tiếng khác, nếu các em lại đọc sai, tôi lại tiến hànhsửa theo từng bước trên Đây không phải là việc làm trong ngày một, ngày hai
mà sửa được ngay Nó đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, bền bỉ sửa cho các emtrong từng tiết học, từng ngày học thì việc làm đó dần dần mới có kết quả
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến phát âm không chính xác, chưa biết cách phát
âm của học sinh là do tiếng địa phương Hàng ngày các em sống trong môitrường có một số người nói ngọng, nhầm lẫn cách phát âm nên các em cũng nóingọng theo thói quen giao tiếp hàng ngày Cụ thể ở lớp tôi phụ trách có một vài
em thường nói ngọng giữa âm “l” và “n”; giữa âm “ch” và “tr”; giữa âm “s”
và “x”; giữa âm “d”, “gi” và “r”) đến nói ngọng, nói lẫn lộn giữa các âm, vần,
đọc sai theo thói quen nói hàng ngày ở gia đình mà không biết Thấy được thực
tế đó, để sửa những lỗi phát âm này, trong từng bài dạy cụ thể, tôi đã chú trọnglựa chọn những tiếng, từ có phụ âm đầu là l, n, s, x, r, d hay gi để cho học sinhluyện phát âm, không nhất thiết phải lấy các tiếng, từ như trong sách giáo viên
đã hướng dẫn
Trang 17VD: Khi dạy bài “Quả tim khỉ”, sách giáo viên hướng dẫn luyện phát âm các
tiếng, từ như: leo trèo, quẫy mạnh, sần sùi, nhọn hoắt, lưỡi cưa, nước mắt, trấntĩnh, lủi mất…Nhưng khi dạy tôi đã chọn các từ cho học sinh luyện đọc như:nắng, leo trèo, trườn lên, ngồi lên lưng, lặn sâu xuống nước
Ngoài ra tôi còn sưu tầm thêm những câu thơ, đoạn văn có những tiếng, từchứa các chữ ghi âm, vần hay sai hoặc các bài tập dưới nhiều hình thức khácnhau cho học sinh luyện tập như: Điền vào chỗ trống l hay n; s hay x; d, r hay gihoặc giải các câu đố có các âm hay sai, yêu cầu học sinh luyện đọc đi đọc lạinhiều lần để rèn cho học sinh đọc đúng Tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề sửangọng cho các em trong từng bài dạy kể cả tiết chính khóa hay là tiết hướng dẫnhọc, để rèn cho học sinh kĩ năng, thói quen đọc đúng
VD: Với học sinh nhầm lẫn về hai phụ âm l - n Để khắc phục tình trạng trên
tôi đã cho học sinh so sánh cách phát âm của hai âm này và hướng dẫn tỉ mỉ chohọc sinh từ cách mở miệng đến cách đặt lưỡi cách đưa hơi từ trong cổ họng ra
để giúp các em nắm chắc được cách đọc:
Âm “l”: Khi phát âm, lưỡi cong lên, đầu lưỡi chạm vào chân răng, đưa hơi đi
ra hai bên lưỡi và rung ở cuống họng, sát nhẹ Phát âm âm l chỉ dứt khi chỗ đặtlưỡi ở chân răng bị phá vỡ Chú ý phát âm l thì lưỡi phải cong bật hẳn lên
Âm “n”: Khi phát âm, đầu lưỡi chạm lợi, lưỡi để thẳng, hơi phát ra qua cả
miệng và mũi Sau đó tôi đọc mẫu, yêu cầu các em nghe, quan sát cô đọc mẫuluyện đọc theo
Từ cách so sánh trên, học sinh lớp tôi đã phân biệt được sự giống và khác nhau về cách phát âm của hai âm l/ n Sau khi nắm chắc cách phát âm của hai
âm này để củng cố và giúp học sinh luyện đọc đúng, tôi sưu tầm các câu thơ có nhiều phụ âm l, n để cho các em luyện đọc nhiều lần trong các buổi học thứ hai trong ngày như:
“ Lúa nếp là lúa nếp non
Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng.” hoặc “Con lươn nó luồn trong lọ.” hoặc “Cái lọ lục bình nó lăn lông lốc.”… Lúc đầu khi học sinh mới đọc câu
này, tôi yêu cầu các em đọc chậm để phân biệt, đọc đúng Sau dần dần yêu cầu các em đọc với tốc độ vừa phải Khi các em đã đọc đúng được những câu đó rồi,tôi yêu cầu các em đọc nhanh hơn và nhắc các em khi đọc đến những tiếng có
“l” hoặc “n” cần lưu ý đọc cho đúng
* Cũng tương tự như cách trên, với những em ngọng các tiếng có phụ âm tr –
ch; s – x; r – d – gi, tôi đã kiên trì hướng dẫn tỉ mỉ cho học sinh từng cách phát
âm chuẩn từng tiếng đó Cụ thể với những tiếng từ có cặp phụ âm ch – tr, tôilàm như sau:
Trang 18Tiếng có phụ âm “ch”: Khi phát âm, lưỡi chạm lợi, rồi bật nhẹ, không có
tiếng thanh
Tiếng có phụ âm “tr”: Khi phát âm, đầu lưỡi chạm vào vòm cứng, bật ra,
không có tiếng thanh sau đó luyện đọc câu:
- Cha tôi ngồi trên chõng tre nói chuyện trồng chuối với chú Chín.
- Chưa đến trưa mà trời đã nắng chang chang.
- Trong chạn, mẹ để chén bát, chai lọ, xoong chảo…
Với cách làm này, điều quan trọng là phải có người đọc mẫu chuẩn để họcsinh nghe, đọc theo Có lẽ, người đọc chuẩn có sức thuyết phục tốt nhất đối vớihọc sinh không ai khác ngoài giáo viên chủ nhiệm Vì vậy mỗi giáo viên phải tựrèn luyện để bản thân mình luôn nói, đọc đúng, chuẩn trước học sinh để các emlấy đó làm tấm gương học tập, noi theo
Ngoài việc đưa những câu văn, câu thơ cho học sinh luyện đọc ở những tiếthướng dẫn học, khi giúp học sinh sửa ngọng, tôi còn lựa chọn một số bài tập đểcủng cố cho học sinh cách sử dụng các phụ âm còn hay nhầm ở trên
VD: Điền vào chỗ trống n hay l; s hay x; ch hay tr; d, r hay gi?
Quyển …ịch, chắc …ịch, …àng tiên, …àng xóm, …ên …on, công …ao
…oa đầu, ngoài …ân, chim …âu, …âu cá, nước …ôi, ăn …ôi, cây …oan Cây …e, mái …e, …ung thành, …ung sức, giò ả, …ả lại, con …ăn, cái …ăn
…a …ẻ, cụ …à, …a vào, cặp …a, con …ao, tiếng ao hàng, …ặt giũ
Hoặc tôi đưa ra các câu đố có lời giải đố là các tiếng có chứa phụ âm các emhay nhầm lẫn để cho học sinh tìm và ghi nhớ sâu sắc cách sử dụng các phụ âm này
VD: - Cây gì nho nhỏ - Con gì ăn no
Trang 19được tia mắt rồi thì tôi yêu cầu các em không dùng thước, không dùng que chỉhoặc ngón tay để chỉ nữa mà hoàn toàn nhìn bằng mắt để đọc nhằm nâng cao tốc
độ đọc, tránh tình trạng đọc như đếm từng tiếng một
Qua cách làm như vậy tôi thấy học sinh lớp tôi có tiến bộ hơn hẳn Điển hìnhnhư em Quang Hà , em Đức Minh, em Hiếu đầu năm đọc còn ngọng, đọc chưaphân biệt được dấu ghi thanh sắc,thanh ngã, vần anh, ach hoặc em Duy, em
Minh, em Bảo Châu còn ngọng giữa “n” và “l”, “s” và “x”, “ch” và “tr”, “d”,
“r” và “gi” nhưng sau thời gian kiên trì tập luyện các em tiến bộ rõ rệt Cách
dạy học này làm cho tiết học của các em nhẹ nhàng hơn, các em không còn engại hay xấu hổ khi đọc nữa mà các em đọc một cách mạnh dạn hơn, tự nhiênhơn Bên cạnh đó nó còn tạo điều kiện cho các em tự mình khám phá, tìm rakiến thức bài học mới, các em tự tin hứng thú hơn khi thấy mỗi tiết học là mộtcuộc khám phá đầy lý thú và bổ ích
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy ở học sinh lớp 2, còn nhiều em chưa biết cách ngắt giọng Vì vậy, bên cạnh việc giúp học sinh sửa ngọng, để giúp học sinh đọc
được lưu loát, tôi còn hướng dẫn học sinh biết cách ngắt, nghỉ hơi đúng, nhất làkhi đọc những câu dài, có cấu trúc phức tạp Trước hết tôi hướng dẫn các emnắm chắc kí hiệu dùng dấu một gạch chéo (/) để ngắt hơi, dấu hai gạch chéo (//)
để nghỉ hơi Sau đó học sinh cần biết nghỉ hơi ở những chỗ có dấu kết thúc câu(các dấu chấm, chấm hỏi, chấm than, hai chấm, chấm lửng ở cuối câu hoặc ngắthơi ở dấu ngăn cách các bộ phận câu với nhau các dấu phẩy, chấm phẩy, gạchngang, ngoặc đơn ở giữa câu) Khi gặp những dấu câu như dấu phẩy, dấu chấmphẩy, dấu gạch ngang, dấu ngoặc đơn ở giữa câu, học sinh cần nghỉ một quãngbằng khoảng thời gian phát âm một tiếng Trong trường hợp gặp dấu kết thúccâu như dấu chấm, dấu chấm hỏi… đồng thời cũng kết thúc một đoạn để xuốngdòng, quãng nghỉ sẽ dài gấp đôi khoảng thời gian phát âm một tiếng
VD: Một ngày đầu năm,/ bốn nàng tiên Xuân,/ Hạ,/ Thu,/ Đông gặp
nhau.//
( Bài: Chuyện bốn mùa)
Bên cạnh những dấu kết thúc câu hoặc ngăn cách các bộ phận câu, còn cómột số dấu câu có cách dùng đặc biệt, cụ thể là:
* Dấu chấm lửng thể hiện lời nói ngắt quãng
- Ngắt quãng giữa một tiếng
VD: Con gà trống gáy vang “ò…ó…o…,” báo cho mọi người biết trời sắp
sáng, mau mau thức dậy (Bài: Làm việc thật là vui.)
Trong trường hợp này, học sinh đọc không nghỉ hơi mà phát âm kéo dàichỗ có dấu chấm lửng
Trang 20- Ngắt quãng giữa các tiếng hoặc từ.
VD: Tiếp đến, người Thái, người Mường, người Dao, người Hmông,
người Ê-đê, người Ba-na, người Kinh,…lần lượt ra theo
Trong trường hợp này, học sinh đọc cần nghỉ ở chỗ có dấu chấm lửng mộtquãng bằng khoảng thời gian phát âm một tiếng
* Dấu ngoặc kép đánh dấu một số từ ngữ được dẫn nguyên văn từ lờingười khác hay những từ ngữ có cách hiểu đặc biệt
VD: - Sáng nay, biết Vua họp bàn việc nước ở dưới thuyền rồng, Quốc Toản quyết đợi gặp Vua để nói hai tiếng “xin đánh”.
- Vụt qua mặt trận
Đạn bay vèo vèo
Thư đề “Thượng khẩn”
Sợ chi hiểm nghèo
Trong trường hợp này, người đọc không nghỉ hơi mà vẫn đọc liền mạchnhưng dồn trọng âm vào những từ ngữ được để trong ngoặc kép
Sự nghỉ hơi cũng diễn ra ở giữa những cụm từ dài trong những câu dài đểcâu văn hoặc câu thơ thể hiện được ý nghĩa rõ ràng, mạch lạc Để giúp học sinhbiết cách ngắt giọng trong khi đọc, tôi hướng dẫn các em nhận biết khi ngắt hơiphải căn cứ vào nghĩa của từ và mối quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ Khi đọctuyệt đối không được tách từ ra làm hai, phải đảm bảo nghĩa của từ, cụm từ, đảmbảo cấu trúc ngữ pháp của câu Dạy đọc các bài văn xuôi, chỗ ngắt giọng phảitrùng hợp với danh giới ngữ đoạn Dạy đọc một bài thơ, chỗ ngắt nhịp phải tươngứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn Đọc sai chỗ ngắt giọng phản ánh một cáchhiểu sai nghĩa hoặc đó là đọc không để ý đến nghĩa Vì vậy đọc đúng ngữ điệu nóichung, ngắt giọng đúng nói riêng vừa là mục đích của dạy đọc thành tiếng vừa làphương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài đọc
VD: Không được đọc ngắt giọng:
Cây dừa / xanh tỏa nhiều tàu,
Quả dừa- đàn lợn / con nằm trên cao
(Bài: Cây dừa – Tiếng Việt 2 tập 2 trang 88)
Hay: Con ve cũng / mệt vì hè nắng oi…
Mẹ là / ngọn gió của con suốt đời
( Bài: Mẹ - Tiếng Việt 2 tập 1 trang 101)
Mà phải đọc ngắt giọng:
“Cây dừa xanh / tỏa nhiều tàu
Quả dừa – đàn lợn con/ nằm trên cao.”
Hay: “Con ve cũng mệt / vì hè nắng oi…
Trang 21Mẹ là ngọn gió / của con suốt đời.”
Trong quá trình dạy từng bài, khi gặp các câu văn hoặc câu thơ dài tôi thườnghướng dẫn học sinh ngoài cách ngắt nghỉ ở các dấu câu, các con cần ngắt hơi ởsau những cụm từ dài để sao cho khi đọc các câu đó ta có thể làm nổi bật lên ýnghĩa thông báo của câu
VD: Khi dạy học sinh bài: Sông Hương, có câu: Bao trùm lên cả bức
tranh là một màu xanh có nhiều sắc độ đậm nhạt khác nhau: màu xanh thẳm của
da trời, màu xanh biếc của cây lá, màu xanh non của những bãi ngô, thảm cỏ intrên mặt nước
Nếu học sinh đọc liền một mạch, không ngắt, nghỉ giữa các cụm từ thì sẽlàm cho các em cũng như người nghe không hiểu rõ ý câu, không thấy được vẻđẹp thơ mộng của dòng sông Hương và học sinh sẽ cảm thấy khó đọc, hụt hơikhi đọc dẫn tới ngắt nghỉ không đúng chỗ, làm mất đi ý nghĩa, cái hồn của câuvăn Vậy khi đọc tới những câu này tôi thường viết câu lên bảng, hoặc viết trướcvào thẻ câu, đưa lên bảng lớp, bước đầu tôi cho các em tự tìm, đánh dấu cáchngắt nghỉ trên câu, sau đó cho cả lớp quan sát nhận xét cách ngắt nghỉ hơi hợp línhất như:
Bao trùm lên cả bức tranh/ là một màu xanh/ có nhiều sắc độ đậm nhạt khácnhau:/ màu xanh thẳm của da trời,/ màu xanh biếc của cây lá,/ màu xanh non củanhững bãi ngô,/ thảm cỏ in trên mặt nước.//
Sau đó tôi cho học sinh luyện đọc
Khi hướng dẫn học sinh cách ngắt hơi giữa những cụm từ dài, giáo viên cầnlưu ý dự tính những chỗ học sinh hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyệnngắt giọng và nhắc các em đọc tự nhiên, tránh cường điệu, đọc nhát gừng quá, vìnếu ngắt giọng một cách máy móc hoặc đọc quá gượng ép thì làm cho câu vănhoặc câu thơ mất hết cái hồn tự nhiên, cái hay vốn có của nó
* Muốn luyện cho học sinh đọc đúng, giáo viên phải dựa vào hai cơ sở:
+ Cơ sở kiến thức: Học sinh phải hiểu nội dung bài học
+ Cơ sở kĩ năng: Học sinh phải phát âm đúng, ngắt nghỉ hơi đúng, đọc rõràng, lưu loát
* Do vậy, đọc đúng là yêu cầu cơ bản và quan trọng của Tập đọc lớp 2
Có đọc đúng mới hiểu đúng nội dung bài đọc và có hiểu đúng nội dung bài đọcthì học sinh mới có thể đọc hay, diễn tả được cảm xúc của tác giả gửi gắm trongtừng bài văn, bài thơ của mình
5 Rèn kĩ năng đọc hay:
Mục đích: