1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN rèn chữ đẹp cho học sinh lớp một ( cỡ chữ hai li)

28 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 26,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ.I/ CƠ SỞ KHOA HỌC: Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập để đưa đất nước thoát khỏi tìnhtrạng kém phát triển thì giáo dục và đào tạo phải gánh vác một trách nhiệm vô

Trang 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ.

I/ CƠ SỞ KHOA HỌC:

Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập để đưa đất nước thoát khỏi tìnhtrạng kém phát triển thì giáo dục và đào tạo phải gánh vác một trách nhiệm vôcùng to lớn đó là phải đào tạo cho đất nước một đội ngũ nhân lực có chất lượng

để đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập… Đó là điều mà tất cả những ngườilàm công tác trong ngành giáo dục nói chung và bản thân tôi nói riêng cũng rấttrăn trở và suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng học sinh, giúp các emnắm được kiến thức cơ bản ngay từ đầu lớp Một, giúp các em học tốt và thíchhọc nhất là giúp các em có một nền móng vững chắc trong học tập, bởi lớp Một

là nền móng cho sự phát triển của các em sau này ở các lớp kế tiếp, mà người ta

thường nói “ Cấp một là nền, lớp một là móng” vì thế móng có chắc thì nền

mới vững

Ngay từ buổi đầu tiên bỡ ngỡ bước vào lớp một, sau việc làm quen vớicác thầy cô, trường lớp và học một số nề nếp nội quy các em sẽ làm quen vớiviệc học đọc, học viết Đọc thông sẽ mở đường cho viết thạo, viết thạo sẽgiúp trẻ viết đúng tốc độ, kịp ghi lại những điều cần thiết và cả những điều trẻnghĩ Điều đó sẽ giúp trẻ học tốt hơn các môn học khác Hơn nữa viết đúng,viết thạo là cơ sở để các em tiến tới viết đẹp

Ở giai đoạn đầu lớp một trẻ viết cỡ chữ 2 li Chữ viết giai đoạn này rấtquan trọng, có tính quyết định đến kiểu chữ sau này của các em Chúng ta bắtđầu hình thành cho trẻ cách viết những nét chữ đầu tiên giống như người thợđặt viên gạch đầu tiên Móng có chắc mới có thể xây lên những ngôi nhà caođược Rèn viết đúng viết đẹp cho học sinh ngay từ đầu tập viết; để rồi sau đó

ta sẽ ngắm nhìn những dòng chữ ngay ngắn, mềm mại lòng ta lại dấy lên niềmvui, niềm tự hào, niềm tin vào tương lai của con trẻ Nhưng muốn viết thạo,viết đẹp trẻ phải khổ công rèn luyện dưới sự dìu dắt của thầy, cô

Trang 2

Chữ đẹp còn góp phần cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp như: rèntính cẩn thận, kiên trì, tỉ mỉ, rèn khả năng thẩm mĩ, chăm chỉ, chính xác Giúpcác em say mê học tập, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy, cô

giáo.Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói:” Nét chữ là biểu hiện của

nết người”

II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN

Chúng ta đang ở trong một thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Thời đại thông tin bùng nổ, mọi người ngồi với chiếc máy

vi tính của mình để soạn thảo văn bản thay vì cầm bút viết trên giấy Việc rènchữ viết của một số người chìm vào quên lãng Tuy nhiên, việc rèn kĩ năngviết đúng, viết đẹp không thể được xem nhẹ đặc biệt là ở cấp Tiểu học Saunày lớn lên dù các em có viết nhanh, viết tốc độ thì chữ các em vẫn sẽ mangdáng dấp, vẻ đẹp riêng được tôi luyện ở cấp Tiểu học

Nhiều năm trở lại đây, ngành giáo dục rất quan tâm, chú trọng việc rèn

chữ viết cho học sinh Tôi có thể khẳng định:” Lớp 1 không có học sinh viết

xấu chỉ cần thầy- trò có đủ thời gian, đủ nhiệt tình, kinh nghiệm, đủ kiên trì và bền bỉ”.Bởi vì luyện chữ không cần đòi hỏi phải tư duy, tố chất nhiều

như học toán mà chỉ cần kiên trì, cẩn thận thì bất cứ học sinh nào cũng có thểluyện được

Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy, qua các đợt kiểm tra định kì, kiểm tra vởsạch chữ đẹp, tôi thấy một số học sinh chưa được như mong muốn đặc biệt là

về mặt kĩ thuật, viết các dấu còn dài, nghiêng ngả, chưa đúng vị trí; các nétchữ chưa đúng mẫu chữ quy định,…

Điều đó chứng tỏ rằng các yếu tố: kinh nghiệm, lòng nhiệt tình say mê của

cô là chưa đủ hoặc là cô không có đủ thời lượng có thể kèm cặp hết được tất

cả một lớp học sinh đông, bởi vì việc rèn chữ cho học sinh phải liên tục, sai

đâu, xấu đâu sửa đấy.Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài “ Rèn chữ

đẹp cho học sinh lớp Một ( phần chữ 2 li)”.

Trang 3

III, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI

Trong phạm vi Trường tiểu học…… Học sinh lớp 1A4 năm học

2014-2015 Học sinh lớp 1A4 năm học 2014-2015- 2016

VI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

V, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu mọi điều kiện trước khi tập viết: cơ sở vật chất lớp học; đồdung học sinh, giáo viên; tư thế ngồi viết, cách cầm phấn, cầm bút; đặt vở…

- Nghiên cứu chữ viết học sinh phần cỡ chữ 2 li

VI, CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Khảo sát phân loại đối tượng

- Điều tra

- Khám phá

- Hỏi đáp ( tìm hiểu thực tế, phân tích chữ mẫu)

- Trực quan ( quan sát mẫu)

- Giảng giải làm mẫu

- Luyện tập làm mẫu

- Luyện tập thực hành Thi đua

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I- NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CHỮ VIẾT CỦA HỌC SINH CHƯA ĐẸP:

Học sinh lớp 1 như trang giấy trắng, uốn sao lên vậy Có thể khẳng địnhđầu vào của học sinh lớp 1 là như nhau Vậy tại sao khi nghiệm thu kết quảcuối kì I thì chất lượng chữ viết lại khác nhau; Lớp thì viết đúng, viết đẹp, lớpthì chất lượng viết chưa cao Chính vì vậy tôi có thể mạnh dạn khẳng địnhnguyên nhân học sinh lớp 1 viết chưa đúng, chưa đẹp lỗi chủ yếu là ở thầy cô

Trang 4

1, Về phía giáo viên:

Thứ nhất:

- Thấy cô còn hướng dẫn chưa kĩ, chưa gọt rũa đến từng chi tiết nhỏ nhất củacon chữ Chưa chú ý đến kĩ thuật viết đó là: điểm bắt đấu, điểm kết thúc; độ cao,

độ rộng; chưa chỉ rõ đến đâu thì uốn, uốn như thế nào cho đúng, cho đẹp; chưa

để ý đến nét nối giữa các con chữ; khoảng cách giữa các chữ; vị trí của dấu,…

- Một số học sinh khả năng, kĩ thuật viết quá kém có thể do tình hình sức khỏe,

do thể lực, do thuận tay trái,…

- Ngồi viết chưa đúng cách.; cách cầm bút, đặt vở còn sai

- Một số học sinh phần đọc chưa thông nên chắc chắn viết không thể thạo, nếuchữ có đẹp cũng chỉ là nhìn chép ( vẽ chữ)

II- ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG.

1, Về phía giáo viên:

*Ưu điểm:

- Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn

Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹnăng cho học sinh tiểu học v v… cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiêncứu, học hỏi, giảng dạy

Trang 5

- Được sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu trường: tổ chức thao giảng, dựgiờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn

để rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việcgiảng dạy

- Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, cónhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sànggiúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khókhăn hay xử lý các trường hợp học sinh cá biệt về học tập cũng như hạnh kiểm

- Giáo viên đều nhiệt tình , thương yêu học sinh

-Coi trọng việc rèn chữ cho học sinh

Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụhuynh có ý thức trách nhiệm không khoán trắng cho nhà trường cho giáoviên, và cùng với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: Chuẩn bịđầy đủ sách vở, đồ dùng học tập,thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốtcho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà

* Tồn tại:

- Một số em chóng quên, mải chơi

- Một số em kĩ thuật viết chưa cao

-Thiếu kiên trì, nhiều em còn cẩu thả, ý thức luyện chữ chưa cao

- Một số phụ huynh trong lớp rất bận về công việc , chưa quan tâm đúngmức đến việc học tập của con em mình, chưa tạo điều kiện tốt để kèm cặpcon em mình ở nhà

Trang 6

- Một số bảng chưa có phần kẻ ô to dành riêng bên cạnh cho GV viết mẫu.

III- CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH:

Để học sinh viết đúng và tiến tới viết đẹp tôi đã kiên trì thực hiện một sốbiện pháp sau:

1, Chuẩn bị điều kiện để học sinh viết đúng:

1.1- Hướng dẫn tư thế ngồi viết và cách đặt vở:

* Tư thế ngồi viết:

Ngay từ khi vào lớp 1tuần đầu tiên tôi đã hướng dẫn, làm mẫu và cho họcsinh thực hiện nhiều lần về tư thế ngồi viết một cách thoải mái nhất, không gò

bó dễ gây tê mỏi Lưng thẳng, đầu hơi cúi, không tì ngực vào bàn Hai tayphải đặt đúng điểm tựa quy định mới điều khiển được bút Nếu ngồi quá caođầu phải cúi gằm xuống Nếu ngồi quá thấp mắt phải nhìn lên Tuyệt đốikhông nằm soài, hay ngồi viết tùy tiện Khoảng cách để vở khoảng 25 đến 30

cm là vừa ( hơn một gang tay người lớn); không được nhìn quá gần vào vở sẽthiếu ánh sáng dẫn đến cận thị

Cột sống luôn ở tư thế thẳng đứng, vuông góc với mặt ghế ngồi Khôngngồi vặn vẹo, lâu dần thành có tật dẫn đến cong vẹo cột sống

Hai chân để thoải mái song song nhau, không ngả trái, ngả phải, khôngchân co, chân duỗi hay gác lên nhau Để chân đúng sẽ giúp học sinh đẩy đượclưng thẳng lên

Tay trái để xuôi theo chiều ngồi, giữ lấy mép vở cho khỏi bị xô lệch,đồng thời làm điểm tựa cho trọng lượng nửa người bên trái Tay phải cầm bút,tay phải đặt ít nhất 1/ 3trên mặt bàn Chú ý đấy vở lên khi khi viết gần tới cuốitrang

* Cách đặt vở:

Đặt vở nghiêng 15độ so với mép bàn giúp vai cử động thoải mái hơn.Nếu đặt vở thẳng đứng song song với mép bàn dẫn đến hai vai sẽ thu lại, khi

Trang 7

viết phải gò người, tay dễ bị căng cứng, chóng mỏi, chữ sẽ giảm độ mềmmại Hơn nữa đặt vở nghiêng 15 độ tạo khung hình tay thoải mái, mở rộnghơn tọa độ di chuyển của cánh tay, giảm độ gò bó căng cứng tạo thuận lợi choviệc di chuyển lên xuống của bút; làm cho nét chữ mềm mại hơn.

1.2- Hướng dẫn cách cầm bút đúng:

Tay phải cầm bút bằng ba ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa.Ngón cái và ngón trỏ ôm- giữ thân bút; ngón tay giữa có nhiệm vụ đỡ bút;thân bút ngả vào hóm của bàn tay

* Lưu ý:

- Đỡ bút ở chỗ phần mềm của ngón tay giữa ( ngay dưới đốt xươngcuối).Không được đỡ bút vào đúng đốt xương; điểm đó hơi cao khó điềukhiển bút và đốt xương rắn không thể là điểm tì lí tưởng, lâu dài được

- Thân bút ngả vào hõm tay cũng phải ngả đúng chỗ mềm, không tì vào đốtxương của ngón trỏ được

- Cầm bút thoải mái không chặt quá hoặc lỏng quá Nếu cầm chặt quá khiviết tay phải gồng cơ, ghì xuống ấn mạnh dẫn đến không thể đưa những đoạnuốn mềm được, nét chữ gãy rời hình que Nếu cầm lỏng, đưa bút sẽ nhẹ hờ hờtrên mặt giấy và tay không làm chủ, điều khiển ngòi bút theo ý mình được.Vậy cho học sinh thử độ chặt ( lỏng ) bằng cách sau; sau khi cầm bút đúngcách, đẩy ra cụp vào nhiều lần thật thoải mái rồi lấy ngón giữa đỡ cho bút tìđúng điểm mềm Tiếp đó là cho học sinh cầm bút, co duỗi các ngón tay thậtnhiều lần Đó là cách cầm bút vừa đúng độ giúp viết đỡ mỏi tay và tạo nên nétchữ mềm mại hơn Một lưu ý nữa là không được để học sinh viết liền mạchquá lâu, cần tạo khoảng thời gian ngắn để trẻ thư giãn bằng những bài vậnđộng nhỏ

- Mép bàn tay là điểm tựa của cánh tay khi đặt bút xuống bàn viết Lúc viếtđiều khiển bút bằng các cơ cổ tay và các ngón tay

- Không để ngửa bàn tay quá sẽ dẫn đến trọng lượng tì xuống hai ngón út và

áp út Ngược lại không để úp quá nghiêng bàn tay về bên trái( nhìn từ trênxuống thấy cả bốn ngón tay: ngón trỏ, ngón giữa, ngoán áp út, ngón út)

- Lúc nào mắt cũng phải nhìn thấy ngòi bút để điều khiển nét chữ

- Đặc biệt lưu ý khi viết không để cánh tay khuỳnh lên cao quá, dẫn đến khiviết phải quắp bàn tay xuống vừa mỏi vừa ngượng mà lại xấu Phải để bàn

Trang 8

tay, cánh tay ở dưới dòng kẻ đang viết xuôi theo chiều ngồi Các tư thế taycầm, tay đặt không đúng sẽ dẫn đến các cố tật theo các em suốt cuộc đời.

- Cầm bút xuôi theo chiều ngồi Cán bút nghiêng về bên phải cổ tay: khuỷutay và cánh tay cử động theo mềm mại Góc độ bút so với mặt giấy khoảng 45

độ Tuyệt đối không dựng đứng bút Khi viết, dùng ba ngón tay di chuyển bút

từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, các nét đưa lên hoặc đưa sang ngangphải thật nhẹ tay, không ấn mạnh đầu bút vào mặt giấy

- Không nên cầm bút sát ngòi vì như vậy sẽ khó viết nhanh được, tay còn dễ

bị mực dây bẩn

1.3: Lựa chọn đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho việc viết chữ đẹp.

Qua việc dạy học lớp 1, tôi rút ra được kinh nghiệm lựa chọn đồ dùngnhư sau:

*Về phía học sinh: Tất cả các học sinh trong lớp phải sử dụng thống nhất

một loại dụng cụ học tập giống nhau

+ Bảng con:dài khoảng 30- 35cm, rộng 20 cm là vừa, có ô li rõ ràng kiểu

như là vở ô li Chọn chất liệu ăn phấn, dễ viết không bị trơn trượt

+ Phấn: không sử dụng phấn quá cứng hoặc phấn kém chất; phấn không

bụi:Mic, Thiên long, Đức Thanh…

+ Khăn lau bảng: cần sạch sẽ, có độ ẩm được gấp lại nhiều lần, độ dày

thích hợp

+ Vở: sử dụng vở chất liệu đảm bảo, bề mặt nhẵn, sáng sủa, vở 4 li đường

kẻ rõ ràng, dễ viết

+ Bút chì: chọn chì có ruột vừa phải không to quá, không nhỏ quá, chì không

mềm quá hoặc cứng quá Chì phải đanh chắc sẽ tạo nét chữ gọn gàng sắc nét

và ít bị gãy Chì 2B( loại đẹp) hoặc chì HB sẽ vừa độ đậm nhạt, nhìn nét chữthấy sự hài hòa thuận mắt

Cần chú ý vót đầu chì hơi nhọn đúng tầm Nếu chì quá nhọn dẫn đến nétchữ quá mảnh có khi còn chọc thủng cả giấy Ngược lại để đầu nét chì tù khiviết nét chữ sẽ quá to nom vừa bẩn vừa xấu

Về phía giáo viên:

-Một đồ dùng không thể thiếu đó là bảng nhất định phải có phần dòng kẻnhư ở bảng học sinh nhưng li rộng hơn để các em dễ quan sát.Nếu bảng côkhông có dòng kẻ, mỗi lần viết cô mới bắt đầu kẻ thì tốn hời gian, kẻ chưa

Trang 9

chắc đã chuẩn, mà cô viết mẫu một lần chưa chắc đã đủ có thể phải viết mẫunhiều lần Vậy cô cứ kẻ mãi sao?

- Bộ chữ mẫu chuẩn theo quy định của Bộ hoặc chữ mẫu cô tự làm

- Truy cập Intenet trang Tapviet.TK lấy chữ mẫu , từ, câu ứng dụng và quytrình viết trình chiếu cho học sinh quan sát

- Một yếu tố không thể thiếu có tính chất quyết dịnhđến nét chữ của học sinh

đó là:Sự dày công nghiên cứu- học hỏi- sáng tạo- nhiệt tình- kiên trì- bền

bỉ- nhẫn nại.

2- Hướng dẫn học sinh tập viết:

Như đã nói ở trên, đọc thông sẽ mở đường cho viết thạo và viết thạo giúp trẻviết đúng tốc độ Đó cũng là cơ sở để tạo đà cho học sinh viết đẹp Ngay từbài đầu tiên tôi đã khắc sâu cho học sinh bằng nhiều con đường khác nhau:mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập.Tôi hướng dẫn học sinh theo một trật tự nhấtđịnh, logic, từ dễ đến khó

2.1- Hướng dẫn tập viết các nét cơ bản:

Việc hướng dẫn học sinh viết đúng các nét cơ bản là việc làm đầu tiên có

ý nghĩa vô cùng quan trọng nó quyết định cho chất lượng và kiểu dáng saunày của học sinh Nếu các nét cơ bản mà viết không chuẩn thì chắc chắn các

em viết chữ cái sẽ không đẹp Dẫn đến khi viết vào các từ các tiếng sẽ khôngchuẩn, đẹp được Chính vì vậy tôi đặc biệt chú ý vào hướng dẫn kĩ các nét cơbản Đây là giai đoạn đầu của việc dạy viết, tôi đặc biệt chú trọng vừa dạyviết , vừa phối hợp dạy tư thế ngồi, cách cầm bút, đặt vở,…

Dạy từ chi tiết nhỏ nhất, từ kĩ năng tối thiểu, nhằm giúp các em vàokhuôn mẫu mà mỗi lần tập viết là các em sẽ tự nhớ thực hiện như vậy Ở giaiđoạn này, các em như trang giấy trắng, cô hướng dẫn sao thì trò làm vậy Tôitận dụng triệt để đặc điểm quý này, bình tĩnh vẽ lên những trang giấy ngây thơtừng nét chữ đầu tiên, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Quan trọng làđược nét nào chuẩn nét đó.Tạo cho học sinh sự hứng thú để không sợ viết màthích được viết; tự tin về những nét chữ đầu tiên của mình

Trong Tiếng Việt có 13 nét cơ bản:

Trang 10

* Trước khi tiến hành dạy viết, tôi quy định tên gọi một số điểm trên nền vở

ô li cũng như ở bảng để thuận lợi cho quá trình dạy viết Tôi chọn những tên

gọi vừa thực tế, vừa gần gũi và dễ nhớ Đó là: Đường kẻ ngang số 1,2, 3, 4,

5,6.Ô li số 1, 2, 3, 4, 5; đường kẻ dọc: mặt đất, bầu trời, ngã tư đèn xanh, đèn

đỏ

( góc); má trong , má ngoài; mép trên, mép dưới,…

Đường kẻ ngang số 6( bầu trời)

Trang 11

* Tôi tiến hành hướng dẫn học sinh tập viết các nét như sau:

Bước 1: Giáo viên viết mẫu:

Việc viết mẫu của giáo viên trên bảng lớp rất quan trọng giúp học sinh nắmbắt được quy trình viết từng nét của chữ cái.Để tận dụng khả năng bắt chướccủa trẻ, giáo viên cần viết chậm, đúng theo quy tắc viết chữ để học sinh nhớ

để thực hành Khi viết mẫu giáo viên cần tạo mọi điều kiện để học sinh nhìnthấy tay của cô viết từng nét kết hợp giảng giải phân tích

Bước 2: Tập viết trên không

Giúp học sinh rèn luyện quy trình viết các nét để khỏi ngỡ ngàng khi viết.Giáo viên cũng có thể để học sinh tì đầu ngón tay trên mặt bàn nhằm hìnhthành dần kĩ năng viết các nét cho đều đặn Bước này có thể lặp đi lặp lại mộtvài lần

Bước 3: Tập viết bảng:

Học sinh quan sát lại chữ mẫu và tập viết bảng Lưu ý học sinh khi cầmphấn bắng hai ngón tay ( ngón cái và ngón trỏ).Toàn bộ trọng lượng dồn vàongón cái và ngón trỏ Đặc biệt khi viết tay không được chạm vào bảng

Khi nhận xét chữ viết của học sinh , giáo viên cho học sinh quan sát,nhận xét những bài đúng, chưa đúng Cho học sinh tự sửa hoặc giáo viên sửatrực tiếp trên bảng con cho học sinh Nếu học sinh còn lúng túng cô sẽ đến tậnnơi tìm nguyên nhân và có biện pháp tháo gỡ ngay Để tạo sự tự tin cho các

em, lần đầu tiên cầm phấn viết, giáo viên ân cần bắt tay học sinh, cùng conđưa phấn, sau đó cô thử lỏng tay dần để học sinh tự viết, từ đó học sinh cảmthấy tự tin bởi chữ của mình đã có bàn tay cô cùng viết.Học sinh cần đượcviết đi viết lại nhiều lần trên bảng con để thành kĩ năng

Bước 4: Tập viết vở

Học sinh thực hành viết vảo vở Giáo viên theo dõi, uốn nắn học sinh đặcbiệt các em viết chưa đúng chưa đẹp Giáo viên cần viết mẫu vào vở và nóilại quy trình viết, cụ thể điểm đặt bút từ đâu đến đâu, đến đâu thì uốn, điểmkết thúc

Tôi tổ chức cho học sinh tập viết các nét cơ bản theo mức độ từ dễ đến

khó ( theo 5 nhóm):

+ Nét ngang, nét sổ, nét xiên trái, nét xiên phải

+ Nét khuyết trên, nét khuyết dưới

Trang 12

+ Nét cong hở trái, nét cong hở phải, nét cong kín.

+ Nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu

+Nét thắt

*Một thuận lợi, một đặc trưng cơ bản cần phát hiện ở phần chữ 2 li đó là:

Tính ổn định, bất biến của tất cả các chữ ghi âm, vần, tiếng, từ.

Do cấu tạo ổn định về khoảng cách giữa các con chữ trong một chữ chonên mỗi một chữ cái chỉ dao động ở 1 trong 2 vị trí cố định Đặc biệt là cácchữ cái ghi nguyên âm; mội chữ ghi nguyên âm cần phải được hướng dẫn 2kiểu viết Bởi khi viết chữ ghi tiếng, ghi từ, các chữ ghi nguyên âm liên tụcluân chuyển trong hai vị trí cố định đó.Vì vậy tôi gọi là chữ kiểu 1 và chữkiểu 2

Khi viết chữ ghi tiếng, từ, điểm kết thúc của con chữ đứng trước quyết địnhđến con chữ tiếp theo là chữ kiểu 1 hay kiểu 2

Ví dụ:

Khi viết chữ : ho, lá, nhà, thỏ,… điểm kết thúc của con chữ h, l , nh, th ở giữa ô nên chữ o được viết theo kiểu 1:

Khi viết chữ :mạ, dạ, đò,… điểm kết thúc các con chữ d, đ ở góc nên chữ

o được viết theo kiểu 2:

Khi viết chữ ghi tiếng theo sự kết nối logic giữa các con chữ, hầuhết mỗi nét cơ bản tôi hướng dẫn theo hai kiểu viết: Một kiểu bám theo đường

kẻ, kiểu 2 không bám theo đường kẻ hoặc như nét cong kín thì kiểu 1 bámvào đường kẻ dọc bên trái, kiểu 2 bám theo đường kẻ dọc bên phải

Điều quan trọng nữa là giáo viên cần hướng dẫn học sinh chấm tọa độ để

lấy nó làm mốc khi viết

Dạy học sinh viết nét sổ.

Trang 13

Nét sổ là một trong những nét có tính chất quyết định đến ngay sự ngay

ngắn hay nghiêng ngả của chữ sau này.Nhìn vào nét sổ ta tưởng như dễ dàngviết đúng nhưng không đơn giản chút nào

+ Nét sổ bám theo đường kẻ ( nét kiểu 1):

Chỉ dẫn cho học sinh “ cứ tô chồng lên đường kẻ dọc là được”

+ Nét sổ không bám theo đường kẻ ( nét kiểu 2):

Trong viết ứng dụng đòi hỏi phải viết nét sổ không bàm theo đường kẻ.( chữ

n, h, th, bánh, ) để viết đúng bắt buộc cần phải chấm tọa độ

Ví dụ: chấm giữa- giữa- giữa

rồi nối các chấm lại.Hoặc:

Chấm góc- góc- góc

Dạy học sinh viết nét khuyết trên:

Nét khuyết trên cao 5 li, chấm tọa độ như sau:

Giữa- góc- giữa- má trong

Khó nhất là đoạn uốn đầu nét khuyết: Sau khi nối 4 điểm ( theo tọa độchấm) rồi đưa tiếp lên một chút theo đường kẻ đến quá giữa uốn vào giữađường kẻ ngang trên, hơi lượn- phát góc xuống giữa đường kẻ bên trái rồi kéothẳng đến góc dưới

Vậy để dễ uốn tôi hướng dẫn thêm một điểm chấm ở đường kẻ ngang trên.Theo mạch đó cả lớp sẽ uốn đấu nét khuyết đều như nhau

Lưu ý:

+ Tọa độ chấm phải chính xác, nếu chấm không đúng các điểm giữa sẽdẫn đến nét khuyết bị to( hoặc nhỏ) quá

Trang 14

+ Góc ô ly bên phải hở một chút thôi còn góc ô li bên trái( bên lượn phátgóc) hở nhiều hơn.

*Để các con dễ nhớ, dễ vận dụng có thể sử dụng câu áp dụng cho nét khuyết

trên:”Từ giữa ô/ qua ngã tư/ hướng bầu trời/ cuốn tròn 1 ô/ thả dù tiếp

đất.//”

Để nét khuyết đẹp, ngoài việc uốn đầu nét theo tọa độ chấm thì cần kéo nét

sổ xuống thật thẳng Lưu ý bắt đầu là nét hất, viết nhẹ tay ở điểm xuất phát rồivút nhẹ lên, dứt khoát và rắn rỏi.Nét số xuống đưa mạnh tay

+ Nét khuyết trên kiểu 1:

+ Nét khuyết trên kiểu 2:

Nét khuyết dưới là nét móc ngược của nét khuyết trên Hướngdẫn chấm tọa độ tương tự như nét khuyết trên Lưu ý nét khuyết dưới viếtphải bầu bầu như hình giọt nước đang rơi

*Hướng dẫn tập viết các nét thuộc nhóm 3:

Dạy học sinh tập viết nét cong kín:

Nét cong kín là một nét khó viết nhất trong hệ thống các nét cơ bản Họcsinh viết hay bị méo, chéo,vẹo nhìn rất là xấu mà nếu không thực sự chú ý sẽrất khó sửa Nếu nét cong kín méo dẫn đến một loạt chữ xấu( o, ô, ơ, a, ă, d,…)

Để học sinh viết đúng tôi làm như sau:

+ Nét cong kín kiểu 1:

Bước 1:Hướng dẫn học sinh chấm tọa độ: giữa – ngã tư trên –giữa trên – giữa dưới – giữa dưới – ngã tư dưới

Ngày đăng: 09/06/2020, 21:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w