DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ĐCS: Đảng Cộng sản XHCN: Xã hội chủ nghĩa CNXH: Chủ nghĩa xã hội XĐGN: Xoá đói giảm nghèo BCHTW: Ban chấp hành Trung ương HĐND, UBND: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân QĐ: Quyết định NQ: Nghị quyết WB: Ngân hàng thế giới WTO: Tổ chức thương mại thế giới GDP: Tổng sản phẩm quốc nội DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước HTX: Hợp tác xã ĐCĐC: Định canh định cư NN và PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn LĐ, TB và XH: Lao động, Thương binh và xã hội BHXH: Bảo hiểm xã hội CNH: Công nghiệp hoá HĐH: Hiện đại hoá MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Đất nước Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới phát triển kinh tế xã hội toàn diện được hơn 20 năm. Sự nghiệp đổi mới đã đem lại nhiều thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Trong sự thay đổi toàn diện đó đáng chú ý nhất là tỷ lệ đói nghèo ngày càng giảm nhanh, giảm nghèo bền vững đang được Nhà nước đầu tư lớn, chỉ đạo quyết liệt và các địa phương thực hiện có hiệu quả, công tác xoá đói giảm nghèo nhanh và bền vững thời gian qua đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác xoá đói giảm nghèo là cực kỳ quan trọng phải thực hiện triệt để. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đói nghèo là một thứ giặc trong ba giặc nguy hiểm nhất của buổi đầu giành được độc lập (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm) và cần phải ưu tiên tiêu diệt. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã tập trung mọi nguồn lực để thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo nhằm nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, kém phát triển. Việt Nam đã giành nhiều chương trình ưu tiên cho thúc đẩy phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với xoá đói giảm nghèo tích cực và bền vững. Do vậy trong 10 năm trở lại đây Việt Nam đã được những kết quả quan trong trong tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Nhờ thực hiện các chính sách có hiệu quả cùng cơ chế phù hợp, công tác xoá đói giảm nghèo của nước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Trong nhiều năm qua, xoá đói giảm nghèo luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm nhằm thực hiện mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo như xây dựng chính sách phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn; thực hiện chiến lược phát triển cho từng vùng, miền; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; ưu tiên tín dụng các nguồn vốn cho xoá đói giảm nghèo, thiết lập nguồn vốn vay cho người nghèo... Nhờ có sự quan tâm đầu tư trên, tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam đã giảm qua các năm, bình quân mỗi năm giảm từ 2 đến 3%. Để giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, tháng 71998, Chính phủ chính thức phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo (Chương trình 133) cho giai đoạn 19982000, phê duyệt chương trình 135 hỗ trợ phát triển 1715 xã nghèo đặc biệt khó khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Đây là hai chương trình lớn tác động mạnh mẽ tới công cuộc xoá đói giảm nghèo. Kết quả thực hiện, chương trình 133 và 135 đã tạo ra những kết quả tích cực: Cả nước đã thực hiện định canh định cư, khai hoang mở rộng diện tích trồng lúa nước, trồng rừng mới, cây công nghiệp và ăn quả. Về tín dụng, đã có hàng ngàn lượt hộ được vay vốn để phát triển sản xuất. Bên cạnh đó, hàng loạt công trình cơ sở hạ tầng nông thôn đặc biệt ở các xã vùng sâu vùng xa phục vụ sản xuất và đời sống được xây dựng, nhiều chương trình khuyến nônglâmngư, giúp đỡ người nghèo làm ăn kinh tế được thực hiện. Tuy nhiên, tỷ lệ đói nghèo của khu vực nông thôn Việt Nam, đặc biệt là ở miền núi vùng cao, vùng sâu vùng xa còn khá cao. Đời sống đại bộ phận nhân dân nông nghiệp và nông thôn còn thấp. Sự bất cập và phân hoá giàu nghèo đang có xu hướng diễn ra và tăng nhanh trong cộng đồng dân cư. Cơ chế thị trường có những tác động không nhỏ tới sự công bằng và bình đẳng trong xã hội. Đời sống nhân dân miền núi, đặc biệt là miền núi vùng cao đang còn gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo còn chiếm tỷ lệ rất cao. Cả nước đền nay còn có 61 huyện miền núi vùng cao vùng sâu và vùng xa có tỷ lệ hộ nghèo chiếm từ 50% trở lên. Ở các huyện nghèo này mọi cơ sở vật chất và điều kiện phát triển đều thiếu thốn, người dân chưa được tiếp cận nhiều với sự đổi mới của đất nước, cơ chế chính sách áp dụng và tạo điều kiện cho sự phát triển xoá đói giảm nghèo ở đây còn hạn chế. Đặc biệt vai trò Nhà nước trong hỗ trợ đầu tư, tổ chức chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế xã hội xoá đói giảm nghèo nhanh và bền vững cần được nâng cao một bước để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hơn nữa trong tình hình hiện nay do xác định được nhu cầu bức xúc cần đẩy nhanh công cuộc giảm nghèo nhanh và bền vững, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam vừa ban hành Nghị quyết số 30a2008NQCP ngày 27122008 về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Từ đó, càng cần được tăng cường vai trò Nhà nước để thực hiện công cuộc giảm nghèo nhanh và bền vững. Nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên, bản thân lựa chọn đề tài đề tài là “Vai trò Nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao”. Đề tài xin được lấy ví dụ thực tế ở huyện miền núi vùng cao biên giới Quế Phong, tỉnh Nghệ An là một trong 61 huyện nghèo nhất trong cả nước được Chính phủ quyết định hỗ trợ đầu tư để giảm nghèo nhanh và bền vững tại Nghị Quyết 30a2008NQCP.
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
HĐND, UBND: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
NN và PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
LĐ, TB và XH: Lao động, Thương binh và xã hội
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đất nước Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới phát triển kinh tế xãhội toàn diện được hơn 20 năm Sự nghiệp đổi mới đã đem lại nhiều thay đổimọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước Trong sự thay đổi toàn diện đóđáng chú ý nhất là tỷ lệ đói nghèo ngày càng giảm nhanh, giảm nghèo bền vữngđang được Nhà nước đầu tư lớn, chỉ đạo quyết liệt và các địa phương thực hiện
có hiệu quả, công tác xoá đói giảm nghèo nhanh và bền vững thời gian qua đãthu được nhiều kết quả tốt đẹp
Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác xoá đói giảm nghèo là cực kỳquan trọng phải thực hiện triệt để Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đóinghèo là một thứ giặc trong ba giặc nguy hiểm nhất của buổi đầu giành đượcđộc lập (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm) và cần phải ưu tiên tiêu diệt.Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã tập trung mọi nguồn lực để thựchiện công cuộc xoá đói giảm nghèo nhằm nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi tìnhtrạng nghèo nàn lạc hậu, kém phát triển Việt Nam đã giành nhiều chương trình
ưu tiên cho thúc đẩy phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôivới xoá đói giảm nghèo tích cực và bền vững Do vậy trong 10 năm trở lại đâyViệt Nam đã được những kết quả quan trong trong tăng trưởng kinh tế và xoáđói giảm nghèo Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Nhờ thực hiện cácchính sách có hiệu quả cùng cơ chế phù hợp, công tác xoá đói giảm nghèo củanước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Trong nhiều năm qua, xoá đóigiảm nghèo luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm nhằm thực hiệnmục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo như xâydựng chính sách phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn; thực hiện chiếnlược phát triển cho từng vùng, miền; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn;
ưu tiên tín dụng các nguồn vốn cho xoá đói giảm nghèo, thiết lập nguồn vốn vaycho người nghèo
Nhờ có sự quan tâm đầu tư trên, tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam đã giảmqua các năm, bình quân mỗi năm giảm từ 2 đến 3% Để giảm nhanh tỷ lệ đóinghèo, tháng 7/1998, Chính phủ chính thức phê duyệt Chương trình mục tiêu
Trang 3quốc gia về xoá đói giảm nghèo (Chương trình 133) cho giai đoạn 1998-2000,phê duyệt chương trình 135 hỗ trợ phát triển 1715 xã nghèo đặc biệt khó khăn ởmiền núi, vùng sâu, vùng xa Đây là hai chương trình lớn tác động mạnh mẽ tớicông cuộc xoá đói giảm nghèo Kết quả thực hiện, chương trình 133 và 135 đãtạo ra những kết quả tích cực: Cả nước đã thực hiện định canh định cư, khaihoang mở rộng diện tích trồng lúa nước, trồng rừng mới, cây công nghiệp và ănquả Về tín dụng, đã có hàng ngàn lượt hộ được vay vốn để phát triển sản xuất.Bên cạnh đó, hàng loạt công trình cơ sở hạ tầng nông thôn đặc biệt ở các xãvùng sâu vùng xa phục vụ sản xuất và đời sống được xây dựng, nhiều chươngtrình khuyến nông-lâm-ngư, giúp đỡ người nghèo làm ăn kinh tế được thực hiện.
Tuy nhiên, tỷ lệ đói nghèo của khu vực nông thôn Việt Nam, đặc biệt là ởmiền núi vùng cao, vùng sâu vùng xa còn khá cao Đời sống đại bộ phận nhândân nông nghiệp và nông thôn còn thấp Sự bất cập và phân hoá giàu nghèođang có xu hướng diễn ra và tăng nhanh trong cộng đồng dân cư Cơ chế thịtrường có những tác động không nhỏ tới sự công bằng và bình đẳng trong xãhội Đời sống nhân dân miền núi, đặc biệt là miền núi vùng cao đang còn gặprất nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo còn chiếm tỷ lệ rất cao Cả nước đền nay còn
có 61 huyện miền núi vùng cao vùng sâu và vùng xa có tỷ lệ hộ nghèo chiếm từ50% trở lên Ở các huyện nghèo này mọi cơ sở vật chất và điều kiện phát triểnđều thiếu thốn, người dân chưa được tiếp cận nhiều với sự đổi mới của đất nước,
cơ chế chính sách áp dụng và tạo điều kiện cho sự phát triển xoá đói giảm nghèo
ở đây còn hạn chế Đặc biệt vai trò Nhà nước trong hỗ trợ đầu tư, tổ chức chỉđạo, điều hành phát triển kinh tế xã hội xoá đói giảm nghèo nhanh và bền vữngcần được nâng cao một bước để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Hơn nữa trong tìnhhình hiện nay do xác định được nhu cầu bức xúc cần đẩy nhanh công cuộc giảmnghèo nhanh và bền vững, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam vừa ban hànhNghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về chương trình hỗ trợ giảmnghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Từ đó, càng cần được tăngcường vai trò Nhà nước để thực hiện công cuộc giảm nghèo nhanh và bền vững.Nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên, bản thân lựa chọn đề tài đề
tài là “Vai trò Nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao” Đề tài xin được lấy ví dụ thực tế ở huyện miền núi vùng
cao biên giới Quế Phong, tỉnh Nghệ An là một trong 61 huyện nghèo nhất trong
cả nước được Chính phủ quyết định hỗ trợ đầu tư để giảm nghèo nhanh và bền
Trang 4vững tại Nghị Quyết 30a/2008/NQ-CP.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài:
Hiện nay chương trình xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững đang đượcđặt ra cấp thiết, các cấp các ngành và toàn xã hội đang vào cuộc để thực hiệnthành công nhiệm vụ trọng đại này Tuy nhiên quá trình thực hiện vừa qua bộc
lộ một số vấn đề cần quan tâm về vai trò Nhà nước trong việc xây dựng kếhoạch, chương trình, xác định bước đi, huy động nguồn lực đến tổ chức chỉ đạothực hiện nhiệm vụ giảm nghèo nhanh và bền vững Những bất cập này cầnđược phân tích đánh giá, tìm ra nguyên nhân và có những giải pháp khắc phụckịp thời Thời gian qua cũng đã có nhiều văn kiện, tác phẩm, công trình nghiêncứu liên quan đến công tác XĐGN như: Văn kiện “Chiến lược trưởng toàn diện
về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo” của Chính phủ nước CHXHCN ViệtNam;
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
a Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khái quát một số vấn đề về lý luận và
thực tiễn, đề tài phân tích, đánh giá thực trạng quản lý của Nhà nước đối vớicông tác xoá đói giảm nghèo cho các huyện miền núi vùng cao trong thời gianqua, những thuận lợi khó khăn, những kết quả đạt được và những tồn tại cònhiện hữu trong quá trình thực thi nhiệm vụ để từ đó đề xuất những giải phápnâng cao vai trò nhà nước trong công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở cáchuyện miền núi vùng cao
b Nhiệm vụ của đề tài:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về đói nghèo và chiến lược xoá đói, giảmnghèo nhanh và bền vững của nước ta, từ đó áp dụng vào cho các huyện miềnnúi vùng cao, bài học từ thực tiễn ở một số quốc gia và một số tỉnh thành trongnước, rút ra cho vấn đề nghiên cứu
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường vaitrò quản lý của Nhà nước đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững chothời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của Nhà
nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững trong điều kiện nền kinh tế thịtrường và hội nhập kinh tế thế giới và điều kiện đặc thù của các huyện miềnnúi vùng cao có sự hỗ trợ đầu tư của Chính phủ và các tổ chức, cá nhân để đề
Trang 5ra chính sách và nhiệm vụ cho thích hợp.
- Về không gian: nghiên cứu vai trò của Nhà nước đối với giảm nghèo
nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao
- Về thời gian: nghiên cứu từ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, xây
dựng và thực hiện chiến lược toàn diện vê tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo(năm 2002) đến nay, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP củaChính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61huyện nghèo trong cả nước
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sửMác – Lê nin làm cơ sở phương pháp luận của phương pháp nghiên cứu kinh tế;
đề tài dựa vào các qui luật kinh tế và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước làm cơ sở phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp
Để giải quyết những nội dung nhiệm vụ đặt ra, đề tài còn sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu kinh tế phổ biến sau:
- Phương pháp trừu tượng hoá khoa học và phương pháp phân tích hệthống: việc nghiên cứu vai trò Nhà nước được thực hiện một cách đồng bộ, gắnvới từng giai đoạn, từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước và của các huyệnmiền núi vùng cao
- Phương pháp thống kê, thu thập thông tin định lượng: đề tài đã sử dụng các
số liệu tài liệu thống kê thích hợp để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá toàn diệnnội dung nhiệm vụ và kết quả của hoạt động quản lý của Nhà nước trong công tác xoáđói giảm nghèo trong từng giai đoạn cụ thể
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: trên cơ sở phân tích những nội dung cơbản về vai trò của Nhà nước và thực tế quản lý công tác xoá đói giảm nghèo, đề tài
sử dụng phương pháp quy nạp để đưa ra những đánh giá chung mang tính khái quát
về thực trạng quản lý và thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo nhanh và bền vững ở cáchuyện miền núi vùng cao Thực trạng này được đặt trong bối cảnh chung của cảnước và dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường
- Phương pháp chuyên khảo, đối chiếu so sánh: Đề tài tiến hành nghiêncứu một vấn đề về vai trò của Nhà nước đối với XĐGN được xem xét đánh giátrên cơ sở so sánh đối chiếu nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác giảmnghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao
Trang 66 Những điểm mới của đề tài
Đề tài đã kế thừa, tiếp thu nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài,trên cơ sở đó có bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của đối tượng nghiêncứu Đề tài có một số điểm mới như sau:
- Khái quát hoá một số vấn đề lý luận về công tác XĐGN, đặc điểm cáchuyện miền núi vùng cao trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vàgắn chặt với đó là thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo nhanh và bền vững trong tìnhhình hiện nay
- Làm rõ sự cần thiết khách quan cần tăng cường vai trò của Nhà nước đốivới công tác XĐGN nói chung, và tăng cường vai trò nhà nước trong thực hiệngiảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao
- Từ cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động vai trò nhà nước về công tácgiảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao, tổng kết, đánhgiá thực tiễn, rút ra được những vấn đề cấp bách cần được xem xét giải quyết:
đó là làm thế nào để vai trò nhà nước tác động vào công cuộc giảm nghèo nhanh
và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao đạt được hiệu quả cao;
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp cụ thể nhằm giải quyết nhữngvấn đề bức xúc trong quản lý nhà nước và nâng cao vai trò nhà nước về giảmnghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao trong giai đoạn tới
Trang 7CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO NHANH VÀ BỀN VỮNG Ở CÁC
HUYỆN MIỀN NÚI VÙNG CAO 1.1- Một số lý luận chung về đói nghèo, giảm nghèo nhanh và bền vững:
1.1.1- Một số vấn đề chung về đói nghèo:
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng
với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và cácnguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập, theo đó một người là nghèo khithu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàngnăm của quốc gia
Khái niệm đói nghèo, mức quy định chuẩn đói nghèo chỉ mang tính tươngđối qua từng thời kỳ khác nhau, từng quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, thậmchí một số nước còn quy định chuẩn nghèo khác nhau cho từng vùng Đói nghèođược so sánh theo không gian và thời gian về điều kiện sống và làm việc củamột người hoặc nhóm người, của một cộng đồng người, một quốc gia, một xãhội trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ
Về nguyên nhân đói nghèo được xác độ ở nhiều mức độ khác nhau Đóinghèo được coi là quốc nạn của mỗi Quốc gia và được các Chính phủ đặc biệtquan tâm tìm các giải pháp để xoá bỏ Trước tiên là việc phải xác định chính xácnguyên nhân căn bệnh đói nghèo để có biện pháp “chữa trị” hữu hiệu Thôngthường vùng nghèo và người nghèo nói chung là các đối tượng gặp nhiều khókhăn trong sản xuất, sinh hoạt và đời sống do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt,cách trở với cộng đồng, ít được tiếp cận với phát triển chung của xã hội Nghèođói thường diễn ra và khó khắc phục ở những vùng thiên tai địch họa thườngxuyên xẩy ra, chưa kịp khắc phục chu kỳ trước thì lại bị dồn dập tiếp thảm họa ởchu kỳ sau Nghèo đói diễn ra ở những vùng thiên tai khắc nghiệt không có điềukiện để phát triển sản xuất, cây trồng không cho thu hoạch do nắng hạn, đất đaikhô cằn hoặc sình lầy quanh năm, vật nuôi không phát triển được do không cóthức ăn, do thiếu nguồn nước, chỗ chăn thả và thiếu mọi điều kiện để sinh sống
Trang 8và trưởng thành Nghèo đói thường diễn ra ở những nơi quá xa xôi cách trở vớicộng đồng phát triển, quá xa nơi đô hội để tiêu thụ hàng hóa, nông sản phẩm sảnxuất ra được, trong khi đó đường sá giao thông đi lại khó khăn cách trở, cácphương tiện vận tải không đáp ứng yêu cầu, mọi điều kiện giao lưu kinh tế, vănhóa, xã hội đều khó thực hiện
Những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo được liệt kê ra là chiến tranh, cơcấu chính trị như chế độ độc tài, các quy định thương mại quốc tế không công bằng, cơ cấukinh tế phân bố thu nhập không cân bằng, tham nhũng, nợ quá nhiều, nền kinh tếkhông có hiệu quả, thiếu những nguồn lực có thể trả tiền được, thất bại Chínhphủ, tụt hậu về công nghệ, giáo dục, thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển quá nhanh và bất bình đẳng nam nữ Bên cạnh nguyên nhân chính trị, nghèo đói cũng có một nguyên nhânlớn của hiện tượng dân di cư từ vùng núi về đồng bằng, từ nông thôn về thành thị, từ các nước thứ ba về các nước phát triển Với việc khốn khó trong mọi điều kiện sản xuất và sinhhoạt tại nơi bản địa làm cho người dân sở tại không thiết tha với ruộng vườn vànơi sản xuất của mình, kèm theo các lời đồn đại về một cuộc sống khấm khá nơi
đô thị và viễn cảnh một đời sống tươi đẹp thoát khỏi đói nghèo nơi viễn xứ đãthôi thúc họ ra đi và nhiều lúc tạo thành một làn sóng di dân lớn
Về tình trạng nghèo trên thế giới, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới thì nhữngngười có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem làrất nghèo ở năm 1981 có 1,5 tỉ người tương ứng với 40% dân số thế giới, năm 1987
là 1,227 tỉ người tương ứng 30% và năm 1993 là 1,314 tỉ người tương đương với29% dân số thế giới Trong năm 2007 trên toàn thế giới có 21% dân số thế giớitương ứng với 1,1 tỉ người có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương.Phần lớn những người này sống tại châu Á, thế nhưng thành phần những ngườinghèo trong dân cư tại châu Phi lại còn cao hơn nữa Các thành viên của Liên Hiệp Quốc
trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trí với mục tiêu chođến năm 2015 giảm một nửa số những người có ít hơn 1 đô la Mỹ (nguồn: điểm 1của những mục đích phát triển thiên niên kỷ) Trong khi nhờ vào tăng trưởngkinh tế tại nhiều vùng của châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt từ 58%xuống còn 16% tại Đông Á thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ởchâu Phi (tăng gần gấp đôi từ 1981 đến 2001 ở Sahara) Tại Đông Âu và Trung Á con
số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số Nếu đặt ranh giới nghèo
là 2 đô la Mỹ/ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo, có nghĩa là gần mộtnửa dân số thế giới
Trang 9Đánh giá nhận định và việc đưa ra tiêu chí, tiêu chuẩn cận nghèo ở mỗinước cũng khác nhau Ở Áo ranh giới nguy cơ nghèo là 60% của thu nhập trungbình và cận nghèo là 1 người có thu nhập ít hơn 785 Euro/tháng Tại Đức ranhgiới nghèo nằm vào khoảng 730,20 Euro cho phía Tây và 604,80 Euro cho phíaĐông của nước Đức Ở Mỹ, theo số liệu từ bản báo cáo của Cục điều tra dân sốtháng 8 năm 2007 thì ở Mỹ con số những người có thu nhập dưới ranh giới nghèo
đã liên tiếp tăng đến lần thứ tư Có 12,7% dân số tương đương với 37 triệungười nghèo, tăng 0,2% so với năm trước đó Một gia đình 4 người được coi lànghèo khi chỉ có thể chi tiêu ít hơn 19.310 đô la Mỹ trong một năm Đối với nhữngngười độc thân thì ranh giới này ở vào khoảng 9.650 đô la
1.1.2- Một số vấn đề về giảm nghèo nhanh và bền vững và vai trò của
nó đối với chính trị, kinh tế, xã hội đất nước:
Công cuộc XĐGN đã được Nhà nước Việt Nam đề ra và thực hiện từ nhiềunăm nay Tuy nhiên vấn đề giảm nghèo nhanh và bền vững lại mới được đặt ra
và nổi lên như một vấn đề cấp thiết hiện nay Giảm nghèo nhanh là đẩy nhanhtốc độ để rút ngắn thời gian xoá nghèo cho các hộ nghèo trong lộ trình, phải tậptrung đầu tư cao, huy động đồng bộ mọi nguồn lực và thực hiện có hiệu quả đểthanh toán nhanh đói nghèo Giảm nghèo bền vững là kiên quyết không để táinghèo, là phải duy trì tiếp tục các nguồn đầu tư và các biện pháp chỉ đạo thựchiện triển khai liên tục có hướng đích để không cho đói nghèo quay lại chính nơichúng ta đang tích cực xóa đói, nơi chúng ta đang thực hiện quyết tâm giảmnghèo Chúng ta có thể khẳng định giảm nghèo nhanh và bền vững là một trongnhững mục tiêu của tăng trưởng cả trên góc độ xã hội và kinh tế, đồng thời cũng
là một điều kiện cho tăng trưởng bền vững Về ngắn hạn, khi phân phối mộtphần đáng kể trong thu nhập xã hội cho chương trình giảm nghèo thì nguồn lựcdành cho tăng trưởng kinh tế có thể bị ảnh hưởng, song xét một cách toàn diện
về dài hạn thì kết quả xóa đói giảm nghèo lại tạo tiền đề cho tăng trưởng nhanh
và bền vững Điều đó cũng đồng nghĩa như việc thực hiện người cày có ruộng
đã tạo ra sự phát triển vượt bậc của nông nghiệp, nhờ đó mà nhiều nông dân đãthoát khỏi đói nghèo và có điều kiện tham gia thực hiện cách mạng xanh, tạo sựphát triển mới cho ngành nông nghiệp
Giảm nghèo nhanh và bền vững phải là dựa trên cơ sở các nguồn lực đầu tưđược hỗ trợ, được tăng cường, tạo ra những cơ hội thuận lợi để người nghèo vàcộng đồng nghèo tiếp cận được các cơ hội phát triển sản xuất, kinh doanh và
Trang 10hưởng thụ được từ thành quả tăng trưởng một cách nhanh nhất và ổn định lâudài Tăng trưởng chất lượng cao là để giảm nhanh mức nghèo đói Thực tiễnnhững năm vừa qua đã chứng minh rằng, nhờ kinh tế tăng trưởng cao Nhà nước
có sức mạnh vật chất để hình thành và triển khai các chương trình hỗ trợ vậtchất, tài chính và cho các địa phương khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế,
xã hội cơ bản Người nghèo và cộng đồng nghèo nhờ đó có cơ hội vươn lênthoát khỏi đói nghèo
Vai trò của giảm nghèo nhanh và bền vững có tác động vô cùng to lớn đốivới chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Cái đói, cái nghèo đang hiện hữu sẽluôn là nỗi ám ảnh của sự lạc hậu, kém phát triển của mỗi Quốc gia Thực hiệnchương trình giảm nghèo nhanh và bền vững thành công là điều kiện tiền đềquan trọng để cả đất nước tiến lên hội nhập và phát triển cộng đồng
Tốc độ giảm nghèo nhanh được thực hiện nhờ vào việc tập trung chuyểndịch cơ cấu và đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp phát triển ngành nghề, tăng thunhập cho người nghèo, tạo cơ hội nhiều hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừaphát triển, nhằm tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp, tạo cho tăng trưởng trêndiện rộng với chất lượng cao và bền vững.Giảm nghèo nhanh và bền vững khôngđơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động mà phải tạo ra động lựctăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn lên thoát nghèo Giảm nghèo không đơnthuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng cónhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồngđều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn địnhcho giai đoạn sau tăng trưởng nhanh hơn mạnh hơn (giai đoạn cất cánh)
1.2- Nội dung và sự cần thiết vai trò Nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao:
1.2.1- Nguyên nhân, đặc điểm, đói nghèo của các huyện miền núi vùng cao:
Các huyện miền núi vùng cao ở vào địa thế địa hình không thuận lợi cho pháttriển kinh tế, xã hội Địa hình núi non hiểm trở, ở độ cao lớn so với mặt nước biển
và bị chia cắt mạnh nên đi lại thông thương và giao lưu với vùng thấp rất khókhăn Khí hậu và điều kiện thời tiết khắc nghiệt làm cho cây trồng vật nuôi khôngphát triển, đặc biệt là về mùa đông giá rét Hầu như tất cả các huyện miền núivùng cao cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển kinh tế và phát triển
Trang 11xã hội đều không đáp ứng, có nhiều xã ô tô chỉ mới đến được trung tâm xã vàomùa khô Hệ thống điện, đường, trường học, trạm xá, thuỷ lợi, nước sinh hoạt,khu vực hạ tầng phúc lợi công cộng nhiều nơi chưa được xây dựng kiên cố Nhândân nhiều vùng đang phải dùng nước khe suối không qua xử lý để sinh hoạt vànhiều khi cũng không cung cấp đủ trong mùa hè do bị khô hạn Chăm sóc sứckhoẻ, sinh sản không được đảm bảo nên bệnh tật xảy ra nhiều, các hủ tục lạc hậuchưa được xoá bỏ triệt để Đời sống nhân dân các huyện miền núi vùng cao còngặp rất nhiều khó khăn, do vậy tỷ lệ đói nghèo ở khu vực này là cao nhất nước.Mặc dù đạt nhiều thành tựu quan trọng, nhưng tình trạng nghèo đói vẫn còn tồntại ở diện rộng Thu nhập của bộ phận lớn dân cư ở khu vực này vẫn nằm giápranh mức nghèo đói và dễ bị tác động bởi các biến động do thiên tai, mất việclàm, ốm đau và giá nông sản bấp bênh Vị trí địa lý địa hình hiểm trở, giao thôngcách trở đi lại khó khăn, điều kiện sản xuất và trao đổi thông thương khôngthuận lợi cùng với lý do sức khỏe kém, trình độ học vấn thấp, tình trạng vệ sinh
và môi trường xuống cấp làm cho người nghèo khó vươn lên lên thoát nghèo Các huyện miền núi vùng cao có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất nước, khả nănggiảm nghèo sẽ rất khó thực hiện nếu không có sự đầu tư lớn của Nhà nước Thờigian qua đã có nhiều chương trình dự án thực hiện giảm nghèo nhanh và bềnvững cho các huyện miền núi vùng cao Kết quả thực hiện XĐGN được đánh giá
là tốt, tỷ lệ hộ nghèo giảm, đời sống nhân dân các dân tộc được nâng lên mộtbước Tuy nhiên so vói tốc độ phát triển chung của cả nước thì tốc độ phát triển,
tỷ lệ giảm nghèo ở các huyện miền núi vùng cao là còn chậm và thiếu vữngchắc Trong nhiều nguyên nhân tồn tại đã được liệt kê thì có nguyên nhân tồn tại
là vai trò Nhà nước chưa được phát huy cao độ và chưa làm tròn đầy đủ chứcnăng và nhiệm vụ của mình Nguyên nhân của tồn tại đó là do Nhà nước chưahoạch định được một chiến lược hoàn chỉnh về xoá đói, giảm nghèo nhanh vàbền vững cho các huyện miền núi vùng cao, tiềm lực đầu tư chưa đủ mạnh đểchiến thắng cái nghèo đói cho toàn vùng Có nơi có lúc các chương trình đầu tư
hỗ trợ còn chồng chéo và chưa mang lại hiệu quả thiết thực Một nguyên nhânquan trọng là Nhà nước chưa chỉ đạo quyết liệt trong tuyên truyền vận động đểkhơi dậy sự nỗ lực vươn lên tự thoát nghèo trong cộng đồng Cán bộ quản lý chỉđạo các cấp còn yếu về trình độ chuyên môn, quản lý, chưa tâm huyết và tíchcực với nhiệm vụ được giao trong chỉ đạo thực hiện XĐGN, có nơi có lúc còn
có cán bộ thiếu gương mẫu và nhiều sai phạm chưa được xử lý làm mất niềm tin
Trang 12trong nhân dân Tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư, xây dựng còn diễn
ra nhiều nơi do không được kiểm tra quản lý chặt chẽ theo đúng quy định, dođội ngũ cán bộ quản lý chưa thực sự trong sạch và có trình độ chuyên mônnghiệp vụ giỏi
Do tính đặc thù của các huyện miền núi vùng cao là tỷ lệ hộ đói nghèo còncao nhất nước và việc thực hiện XĐGN lại đang gặp nhiều khó khăn do điềukiện địa lý địa hình và dân trí nên cần có sự lồng ghép, phối hợp nhiều chươngtrình với nhau, đặc biệt là sự kết hợp giữa chiến lược tổng thể toàn diện vềXĐGN của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam với các Nghị quyết, chươngtrình cụ thể cho từng thời kỳ và đặc biệt là chú ý đến Nghị quyết số30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảmnghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo
1.2.2- Nội dung vai trò Nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao:
1.2.2.1- Xác định quan điểm, mục tiêu tổng quát nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững:
Mục tiêu tổng quát về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến 2020 làđưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vậtchất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; Các nhiệm vụ cụ thể về phát triển kinh tế
- xã hội là phải phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng nămcao hơn 5 năm trước và có bước chuẩn bị cho 5 năm tiếp theo; Tăng nhanh vànâng cao hiệu quả vốn đầu tư vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội, hỗ trợ đầu tưnhiều hơn cho các vùng còn khó khăn Có chính sách đồng bộ, có hướng dẫn cụthể phù hợp với từng vùng để bảo đảm cơ bản xóa hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo,giải quyết các tệ nạn xã hội, bảo đảm phát triển bền vững
Vai trò Nhà nước được xác định trong chương trình giảm nghèo nhanh vàbền vững ở các huyện miền núi vùng cao là phải hoạch định một cách cụ thểtheo lộ trình vạch sẵn kèm theo các chỉ tiêu, tiêu chí phải đạt được cho việcgiảm nghèo thông qua các chương trình, dự án đầu tư cho các huyện nghèo Xóađói giảm nghèo được đặt thành một bộ phận của Chiến lược 10 năm, Kế hoạch 5năm và hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội từ Trung ương đến cơ sở Côngtác giảm nghèo nhanh và bền vững phải được quan tâm ngay từ khi xây dựngchủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hàng năm,
Trang 13coi đó là một nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội củaNhà nước đối với công tác xóa đói giảm nghèo Nhà nước thông qua kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội để chủ động điều tiết hợp lý các nguồn lực của toàn xãhội vào mục tiêu và hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ vềchương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo đãbám sát nhiệm vụ Chiến lược toàn diện về XĐGN chung để đề ra nhiệm vụgiảm nghèo nhanh và bền vững cho các huyện miền núi vùng cao Cở sở củaviệc ban hành Nghị quyết này là do Chính phủ nhận thấy sau nhiều năm thựchiện XĐGN nhưng tỷ lệ hộ nghèo ở vùng này đang vẫn chiếm cao nhất và vượt
xa các vùng khác, mọi điều kiện cho người nghèo tiếp cận với việc thoát nghèođang gặp rất nhiều khó khăn vì điều kiện địa lý, điều kiện dân trí và điều kiện cơ
sở vật chất hiện có Từ đó Nghị quyết đã nêu các giải pháp, các quyết sách, cơchế hỗ trợ và các biện pháp tổ chức chỉ đạo thực hiện chương trình giảm nghèonhanh và bền vững cho 61 huyện nghèo nhất trong cả nước mà trong đó đa số làcác huyện miền núi vùng cao Từ việc thực hiện Nghị quyết này sẽ là cơ sở lantoả ra cho tất cả các huyện miền núi vùng cao trong cả nước về đường hướngthực hiện, cơ chế chính sách, phương thức vận động, công tác xã hội hoá đầu tưcho công tác giảm nghèo, tổ chức huy động các nguồn lực, tổ chức chỉ đạo điềuhành thực hiện chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho cả vùng miềnnúi vùng cao của nước ta Đặc biệt vai trò Nhà nước được nhấn mạnh trong tất
cả các khâu từ đề ra cơ chế, chính sách, hỗ trợ đầu tư, vận động tuyên truyền,khâu nối, tổ chức thực hiện đến chỉ đạo, kiểm tra và uốn nắn lệch lạc để nhằmphát huy hiệu quả chương trình
1.2.2.2- Hoạch định chính sách và tạo môi trường, hành lang pháp lý thụân lợi để thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững:
Chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững cho các huyện miền núi vùngcao về cơ bản đã được đáp ứng theo tinh thần Nghị quyết 30a/2008/NĐ-CP củaChính phủ và có thể coi đây là chính sách chung cho việc giảm nghèo nhanh vàbền vững cho tất cả các huyện miền núi vùng cao Nghị quyết đã đưa ra các mụctiêu cụ thể đến năm 2015 và đến năm 2020 với các chỉ tiêu phải đạt được chotừng thời kỳ Đồng thời Nghị quyết đã ban hành một số cơ chế, chính sách, giảipháp hỗ trợ giảm nghèo Đây là những cơ chế, chính sách, giải pháp lớn mangtính đột phá, hỗ trợ đầu tư mạnh mẽ cho sản xuất và xây dựng hạ tầng để giúp
Trang 14nhân dân 61 huyện nghèo nhất nước cũng như tất cả các huyện miền núi vùngcao nhanh chóng giảm nghèo theo hướng bền vững Các hộ sản xuất tiểu thủcông nghiệp được vay vốn sản xuất Nhà nước có cơ chế cho tạo việc làm, giáodục đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí, có chính sách phù hợp với cán bộ,… Cơ
sở hạ tầng thiết yếu được Nhà nước hỗ trợ đầu tư đồng bộ Chính phủ giao chocác Bộ, ngành chỉ đạo hỗ trợ theo lĩnh vực, các Tổng công ty doanh nghiệp lớntham gia hỗ trợ giúp đỡ đầu các huyện nghèo
Nhà nước tạo môi trường pháp lý để kinh doanh bình đẳng, có tính cạnhtranh; Ban hành cơ chế, chính sách về ưu đãi đối với các ngành, vùng, các sảnphẩm và dịch vụ cần ưu tiên hoặc khuyến khích phát triển, không phân biệtthành phần kinh tế Tạo điều kiện về đất đai, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và pháttriển doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, các trang trại và các loại hình doanhnghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và tạo nhiều công ăn việc làm cho ngườilao động, thực hiện chiến lược xóa đói giảm nghèo Nhà nước thiết lập môitrường thuận lợi để khuyến khích và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,đặc biệt các doanh nghiệp thuộc vùng sâu, vùng xa và nông thôn
Gắn việc đổi mới đồng bộ với việc thực hiện mạnh mẽ chủ trương xã hộihóa đối với vùng có điều kiện để tập trung ngân sách cho vùng khó khăn Độngviên tối đa các nguồn lực tài chính để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ pháttriển kinh tế xã hội, công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo Hoàn thiện chínhsách phân phối lần đầu nhằm giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế giữa Nhà nước,doanh nghiệp, người lao động; mở rộng các hình thức phân phối lại thông quaphát triển hệ thống phúc lợi công cộng, bảo hiểm, an sinh xã hội, các chế độ ưuđãi về tài chính, các hình thức trợ cấp xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội,giảm chênh lệch giàu nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Vai trò Nhà nước là phải xây dựng được một nền hành chính Nhà nướctrong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, có trách nhiệm ở tất cả các cấp, cókhả năng xây dựng các chính sách và cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của ngườidân, khuyến khích cơ hội cho người nghèo, người thiệt thòi giúp họ phát huyđược tiềm năng của mình Để đạt được mục đích này phải tạo nên một hệ thốnghành chính với cơ chế, tổ chức bộ máy gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ, công chức về
cơ bản có phẩm chất, năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước để đạt được mục tiêu giảm nghèo nhanh và
Trang 15bền vững Cải cách hành chính là nhằm đảm bảo cho người nghèo tiếp cận đượccác dịch vụ y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, nước, điện ở các địa phương, đặc biệtchú trọng các tỉnh miền núi và các huyện miền núi vùng cao Tăng cường dân chủ
cơ sở, các cuộc đối thoại giữa chính quyền địa phương và cộng đồng ngườinghèo Thúc đẩy sự tham gia của người dân, trong đó có người nghèo vào hoạchđịnh chính sách và thực hiện chính sách được thể hiện rõ nét qua thực tiễn ápdụng Quy chế dân chủ cơ sở đến tận xã, bản vùng cao Chính quyền địa phươngphải thực hiện dân chủ, đưa ra dân bàn, dân góp ý cho các chương trình, dự án,các khoản giúp đỡ nhân đạo, từ thiện cho người nghèo, các khoản đóng góp xâydựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương Trong quá trình thực hiện các công trình,
dự án cần ưu tiên sử dụng nguồn lao động tại địa phương để giải quyết việc làm
và tăng thu nhập cho người nghèo Phân cấp cho các tổ chức, đoàn thể, nhândân, cộng đồng trực tiếp quản lý và tham gia quản lý việc xây dựng, vận hành và
sử dụng các chương trình dự án về phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo trênđịa bàn địa phương
1.2.2.3- Đầu tư hợp lý cho các huyện miền núi vùng cao:
Nhà nước huy động bằng nhiều chương trình dự án, kêu gọi đầu tư, đónggóp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư, xây dựng các công trình hạ tầng thiếtyếu (giao thông, thuỷ lợi, nước sinh hoạt, trường học, trạm xá, bệnh viện, trụ sở,nhà cộng đồng, chợ, ) phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt cho các huyện miềnnúi vùng cao Thực hiện các chính sách hỗ trợ lớn về vốn, giống cây trồng, vậtnuôi, vật tư, tư liệu sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật,, để vực dậy và phát triển sản xuấtbền vững đảm bảo cho người dân các huyện miền núi vùng cao có thể từ cácnguồn hỗ trợ này và bằng sức lao động của mình tự sản xuất được các sản phẩmnuôi sống mình và tiến tới có đóng góp cho xuất khẩu hàng hoá nông sản phẩmvùng cao Thực hiện Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khókhăn (chương trình 135), chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vữngtheo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP bảo đảm về cơ bản các xã có đủ các côngtrình thiết yếu Phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các trung tâm cụm xã, quyhoạch bố trí lại cụm dân cư, đẩy mạnh phát triển sản xuất nông lâm nghiệp; đàotạo cán bộ xã, bản, làng, phum sóc Từng bước thu hẹp khoảng cách về đời sốngvật chất và tinh thần giữa các nhóm dân tộc
Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho hầu hết các cá nhân, hộ gia đình
và tổ chức ở vùng dân tộc và miền núi, nhất là hộ gia đình dân tộc ít người Đảm
Trang 16bảo giao quyền sử dụng đất cá nhân và tập thể cho đại bộ phận người dân ởvùng dân tộc ít người và miền núi Thực hiện tốt công tác định canh định cư,hạn chế di cư tự do, ổn định sản xuất, nâng cao đời sống của các đồng bào dântộc ít người phù hợp với tập quán của người dân trên cơ sở có quy hoạch dân cưtheo hướng hình thành các cụm dân cư tập trung, hình thành các cụm xã, thị tứ,đồng thời nghiên cứu và xem xét các điều kiện cơ sở hạ tầng như: giao thông,cung cấp nước, điện, thông tin, chợ cho các cụm dân cư này Khai thác tốt cáctiềm năng về đất đai, lao động, đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp, cây côngnghiệp, cây ăn quả, ngành nghề thủ công truyền thống ở vùng dân tộc và miềnnúi.
Hướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao công nghệ và cung cấp thông tin nhằmphát triển mạnh kinh tế hàng hoá, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, tiếntới xóa bỏ kinh tế tự cung, tự cấp ở vùng dân tộc ít người và miền núi Phát triểncác trang trại sản xuất nông, lâm nghiệp có quy mô phù hợp với trình độ quản lý
và sức sản xuất của từng địa bàn dân cư Kết hợp phát triển công nghiệp chếbiến và tiêu thụ sản phẩm ở các khu vực miền núi
Nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thốngcủa đồng bào các dân tộc ít người Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũcán bộ là con em đồng bào các dân tộc ít người ngay tại địa phương, từng bướctăng dần tỷ lệ cán bộ dân tộc ít người Đãi ngộ và sử dụng tốt đội ngũ già làng,trưởng bản, thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết các dân tộc ở vùng dân tộc vàmiền núi Chú trọng củng cố và mở rộng các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá,thông tin của đồng bào dân tộc Giữ gìn và phát triển tiếng nói, chữ viết của cácdân tộc Tăng cường thông tin về các chương trình xóa đói giảm nghèo bằng cácphương pháp, hình thức và tổ chức tại các địa điểm thích hợp làm cho đồng bàodân tộc ít người có thể tiếp cận được
1.2.2.4- Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người nghèo vươn lên thoát nghèo nhanh và bền vững :
Từ thập kỷ 80 đến nay và đặc biệt là từ những năm 2000 đã có nhiềuchương trình dự án được phê duyệt và thực hiện cho công tác xoá đói, giảmnghèo nhanh và bền vững cho các xã miền núi vùng cao đặc biệt khó khăn vùngsâu vùng xa của cả nước như chương trình 135/CP, chương trình 134/CP,chương trình 138/CP,… Đối tượng người nghèo đã thực sự được Nhà nước vàcác tổ chức đoàn thể, chính trị, xã hội quan tâm và tìm nhiều biện pháp tiếp cận,
Trang 17hỗ trợ giúp đỡ bằng nhiều hình thức để thoát nghèo và giảm nghèo nhanh Nhànước xây dựng các biện pháp thiết yếu, như đầu tư hỗ trợ sản xuất, xây dựng cơ
sở hạ tầng, lập các quỹ cứu trợ xã hội, để giúp đỡ, bảo vệ người nghèo Nhànước duy trì liên tục sự trao đổi, phân phối mang tính thị trường, nhưng khôngloại người nghèo ra khỏi những nguồn lực và lợi ích của sự thịnh vượng chung
về kinh tế Thực tế kinh nghiệm thế giới cho thấy sự thiếu vắng vai trò của Nhànước đặc biệt có hại đối với người nghèo, cộng đồng nghèo, vì người nghèokhông tự bảo vệ được các quyền của mình, hơn nữa cũng cần nhấn mạnh trongthành quả chung của tăng trưởng kinh tế thì Nhà nước có vai trò nòng cốt và cótrách nhiệm thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng, các tổ chức chính trị,kinh tế, xã hội Nhà nước tạo điều kiện để người nghèo tham gia đầy đủ vào quátrình phát triển, có cơ hội bình đẳng như mọi người dân Xây dựng khuôn khổpháp lý cho các tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng ở địa phương nhằm nâng caokhả năng và sự tham gia của người nghèo vào quá trình phát triển
Một vấn đề cần đặc biệt lưu ý trong quá trình thực hiện chương trình giảm
nghèo nhanh và bền vững tại các huyện miền núi vùng cao là phải đề cao vai tròđối tượng được giảm nghèo, đây được coi là động lực chính cho quá trình giảmnghèo nhanh và bền vững thành công Đối tượng người nghèo tại các huyệnmiền núi vùng cao đã bao năm nay được Nhà nước quan tâm đầu tư, hỗ trợ vàcứu giúp những lúc khốn khó Nhiều chương trình đầu tư hỗ trợ có lúc mangtính bao cấp nhiều năm liền đã phần nào làm tăng tính thụ động, chờ đợi, ỷ lại,trông chờ vào nhà nước trong một bộ phận nhân dân đồng bào các huyện miềnnúi vùng cao, đặc biệt là các hộ nghèo Do vậy vai trò Nhà nước càng cần đượcnêu cao trong việc tuyên tryền vận động thuyết phục người dân được hưởng lợi
từ các chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững phải nỗ lực vươn lên Ngườidân cần phải ý thức được rằng sự hỗ trợ của nhà nước, của xã hội chỉ là chấtkích thích, là động lực và là tạo đà cho chính bản thân họ đứng lên hăng hái laođộng sản xuất để chiến thắng đói nghèo Giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ củaNhà nước, toàn xã hội mà trước hết là bổn phận của chính người nghèo phải tựvươn lên để thoát nghèo Vai trò, trách nhiệm của Chính phủ là giúp gỡ bỏ ràocản ngăn cách xã hội và kinh tế để xóa đói giảm nghèo; hiệu quả xóa nghèo đạtthấp, nếu bản thân người nghèo không tích cực và nỗ lực phấn đấu vươn lên vớimức sống cao hơn Xóa đói giảm nghèo phải được coi là sự nghiệp của bản thânngười nghèo, của chính người được hỗ trợ để xoá đói giảm nghèo, cộng đồng
Trang 18nghèo, bởi vì sự nỗ lực tự vươn lên để thoát nghèo chính là động lực, là điềukiện cần cho sự thành công của mục tiêu chống đói nghèo ở các nước Nhà nướctrợ giúp người nghèo biết cách tự thoát nghèo và tránh tái nghèo khi gặp rủi ro.Bên cạnh sự hỗ trợ về vật chất trực tiếp thì việc Nhà nước tạo việc làm chongười nghèo bằng cách hướng dẫn người nghèo sản xuất, kinh doanh phát triểnkinh tế theo điều kiện cụ thể của họ chính là điều kiện giảm nghèo thành côngnhanh và bền vững.
1.2.2.5- Nhà nước kiểm tra, giám sát, đánh giá, điều chỉnh thực hiện chương trình:
Để đánh giá được khách quan, trung thực, có chất lượng chương trình đòihỏi các thông tin thu thập phải đảm bảo tính hệ thống; tính toàn diện; sát thực vàphải được cập nhật thường xuyên Nhà nước thực hiện vai trò kiểm tra, giám sátđánh giá để đảm bảo chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững được thựchiện với hiệu quả cao nhất Qua thực hiện bộc lộ những bất cập sẽ được xử lýthích hợp, có những điều chỉnh tổng kết kịp thời để bổ sung cho giai đoạn saunhững bài học, kinh nghiệm quý định hướng cho chương trình đi đúng hướng.Tất cả các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo phải sự chịu sự giám sát vàkiểm tra của nhân dân
Có thể đánh giá vai trò Nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vữngcho các huyện miền núi vùng cao đã được thể hiện rõ trong Nghịquyết30a/2008/NQ-CP Nghị quyết ra đời và đi vào thực hiện ở 61 huyện nghèonhưng cũng được coi là những chính sách chung áp dụng cho các huyện nghèomiền núi vùng cao trong cả nước, thực sự là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế - xã hộicác huyện miền núi vùng cao phát triển Đồng thời đây cũng là điểm lan toả racho tất cả các huyện nghèo còn lại với việc vận dụng cơ chế chính sách mà nghịquyết đã nêu ra để các địa phương chủ động vận dụng vào xoá đói, giảm nghèonhanh và bền vững Các huyện miền núi vùng cao từ việc thực hiện Nghị quyếtnày sẽ nhanh chóng tạo lập được thế trận sản xuất và phát triển kinh tế - xã hộivững chắc nhanh chóng thực hiện chương trình giảm nghèo nhanh và bền vữngthành công Vai trò Nhà nước phải theo sát từ hoạch định tổng thể chiến lượcđến điều hành chỉ đạo thực hiện các lĩnh vực, các khâu công việc cụ thể trongchương trình để thể hiện và phát huy chức năng nhiệm vụ của mình nhằm chèo
Trang 19lái đưa chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững thành công ở các huyệnmiền núi vùng cao.
1.1.3- Sự cần thiết về vai trò Nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao:
Trong công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở nước ta và đặc biệt là ở cáchuyện miền núi vùng cao hiện nay, trước hết vai trò Nhà nước rất cần thiết kháchquan vì phải bảo đảm an ninh lương thực cho toàn xã hội; đa dạng hoá sản xuấtnông nghiệp; chú trọng nghiên cứu thị trường, đảm bảo việc cung cấp thông tinkịp thời; tăng đầu tư cho nông nghiệp; kết hợp giữa sản xuất sản phẩm chất lượngcao với phát triển cơ sở chế biến và bảo quản; mở rộng các hoạt động nông, lâm,ngư nghiệp và các hoạt động khuyến nông, lâm và ngư nghiệp phù hợp với điềukiện sản xuất của các vùng khác nhau, đáp ứng yêu cầu của người nghèo; xâydựng chiến lược phòng chống thiên tai nhằm giảm thiểu thiệt hại và ổn định sảnxuất cũng như cuộc sống dân cư trong vùng thường xuyên bị thiên tai Một điềucần lưu ý là vai trò Nhà nước rất cần thiết trong bảo vệ môi trường và phát triểnbền vững, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiệnmôi trường, bảo đảm cho mọi người dân đều được sống trong một môi trườngtrong sạch và lành mạnh
Chúng ta đều biết rất rõ giảm nghèo đã khó, chống tái nghèo còn khó hơn,
có nghĩa là phải tìm cách giảm nghèo bền vững Thứ trưởng - Phó chủ nhiệm Uỷban Dân tộc Hà Hùng cho rằng giảm nghèo đã khó nhưng công tác chống táinghèo, đảm bảo công cuộc XĐGN bền vững còn gian nan hơn rất nhiều lần.Đơn cử như ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên, các huyện miền núi vùng caonơi thường xuyên phải hứng chịu sự tàn phá của thiên tai, nếu không có nhữnggiải pháp hỗ trợ kịp thời và cụ thể thì nguy cơ tái nghèo ở những vùng này luôncao
Để thực hiện tốt chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững, Nhà nước
có vai trò cần thiết khách quan phải chỉ đạo tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế và
cơ cấu lao động theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nềnkinh tế Mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế quốc tế, tăng cường cơ sở hạ tầngkinh tế - xã hội, cải tiến hệ thống giáo dục đào tạo để nâng cao chất lượng nguồnnhân lực Muốn giảm nghèo nhanh phải tạo tăng trưởng kinh tế nhanh từ đó sẽtạo ra nguồn lực cho xóa đói giảm nghèo, đồng thời phải có các chính sách phân
bổ nguồn lực và biện pháp xã hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo
Trang 20tiếp cận được các cơ hội cải thiện cuộc sống của mình, tăng thêm nhận thức và
nỗ lực vươn lên tự thoát nghèo Xóa đói giảm nghèo không đơn giản là việc phânphối lại thu nhập một cách thụ động mà phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ,chủ động tự vươn lên thoát nghèo Nhà nước phải đáp ứng vai trò huy độngnguồn lực cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
Vai trò Nhà nước được thể hiện đối với giảm nghèo nhanh và bền vững làphải dựa trên nhu cầu của người nghèo để xây dựng các chương trình, dự ánkhôi phục và làm mới các cơ sở hạ tầng thiết yếu cho nhân dân, đặc biệt là cácvùng khó khăn vùng sâu vùng xa, các huyện miền núi cao Có chính sách cungcấp điện, xây dựng công trình thuỷ lợi nhỏ, nước sạch, các công trình vệ sinh,phát triển và phục hồi hệ thống giao thông, đặc biệt ở các vùng nghèo Tiếp tụcnâng cao chất lượng giáo dục; duy trì các mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học,trung học cơ sở; thực hiện miễn, giảm học phí và các đóng góp khác đối với trẻ
em các gia đình nghèo, vùng nghèo, thực hiện từng bước việc kiên cố hoá cáctrường học phổ thông và dạy nghề Tăng cường hệ thống y tế cơ sở, duy trì vàphát triển các dịch vụ y tế cộng đồng, ưu tiên cho việc phòng chống các bệnhảnh hưởng tới người nghèo (sức khoẻ sinh sản, các bệnh truyền nhiễm,HIV/AIDS, các bệnh của trẻ em và các bệnh xã hội khác); nâng cao chất lượngdịch vụ y tế; đảm bảo người nghèo có thể tiếp cận được dịch vụ chăm sóc sứckhoẻ có chất lượng; hỗ trợ người nghèo trong việc chi trả các dịch vụ y tế Thuhẹp khoảng cách chênh lệch về xã hội giữa các vùng và nhóm người, giảm khảnăng dễ bị tổn thương của người nghèo và yếu thế; thực hiện công bằng về giới
và tiến bộ của phụ nữ; ổn định và nâng cao mức sống cho các dân tộc ít người;
mở rộng mạng lưới an sinh xã hội, phát triển hệ thống cứu trợ đột xuất có hiệuquả; mở rộng sự tham gia và nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội trong nước
và các tổ chức phi chính phủ trong quá trình xây dựng và thực hiện mạng lưới ansinh xã hội
Trang 21CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO NHANH
VÀ BỀN VỮNG Ở HUYỆN MIỀN NÚI VÙNG CAO QUẾ PHONG, TỈNH
NGHỆ AN THỜI GIAN QUA I- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và tình hình đói nghèo ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An:
1- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Quế Phong:
Quế Phong là huyện vùng núi cao, biên giới nằm về phía Tây Bắc của tỉnhNghệ An, có đường biên giới với nước bạn Lào dài 73 km, là huyện cuối cùngnằm trên trục đường Quốc lộ 48, cách thành phố Vinh 180 km Tọa độ địa lý củahuyện nằm trong khoảng 19o26' đến 20o vĩ độ Bắc, 104o30' đến 105o10' kinh độĐông Phía Đông Bắc giáp huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá; Phía Namgiáp huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; Phía Tây Nam giáp huyện Tương Dương,tỉnh Nghệ An; Phía Tây Bắc giáp nước Cộng hoà DCND Lào
Diện tích tự nhiên của toàn huyện là 189.500 ha Địa hình bị chia cắt mạnhbởi các dãy núi cao và hệ thống sông, suối khá dày đặc, điển hình là dãy núiTrường Sơn có độ cao từ 1.600-1.828m Do địa hình chủ yếu là núi cao lại bịchia cắt mạnh, có độ dốc lớn nên diện tích đất để sản xuất cây hàng năm ít, giaothông đi lại và bố trí dân cư khó khăn Về đặc điểm khí hậu: Nhiệt độ trung bìnhnăm từ 22-240C Nhiệt độ cao nhất trung bình năm là 340C; nhiệt độ thấp nhấttrung bình năm là 90C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.800mm và phân bốtheo mùa Mùa mưa từ thàng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung 80-90%lượng mưa cả năm thường gây ngập lụt, lũ quét, lũ ống Mùa khô từ tháng 11đến tháng 4 năm sau, lượng mưa thấp nên dễ gây thiếu nước, khô hạn, gây thiếunước, giảm tốc độ sinh trưởng của cây trồng, phát sinh dịch bệnh gia súc, giacầm và ảnh hưởng tới sinh hoạt cũng như sức khỏe của nhân dân
Các nguồn tài nguyên trên địa bàn huyện tương đối đa dạng: Đất nôngnghiệp 157.399,77 ha, đất phi nông nghiệp 4.196,31 ha, đất chưa sử dụng27.490,3 ha Các loại đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp là đất phù sa, đất
có tầng sét loang lổ và sau đó tới nhóm đất đồi đỏ vàng Xu thế biến đổi lý hoátính của đất một số nơi đang diễn theo chiều hướng xấu do tập quán sản xuấtcanh tác cũ lạc hậu, điều kiện tưới tiêu còn rất hạn chế, đã làm đất thường cóphản ứng chua, lân và ka li dễ tiêu nghèo Về tài nguyên nước, huyện QuếPhong có nhiều sông suối phân bố tương đối đều trên địa bàn huyện, mật độ
Trang 22trung bình từ 0,5 - 0,6 km/km2, có bốn con sông chính chảy qua Nhờ hệ thốngsông suối khá dày, thảm thực vật rừng được bảo vệ phục hồi nhanh nên nguồnsinh thuỷ được duy trì, đảm bảo có đủ nước ổn định phục vụ sản xuất và sinhhoạt cho nhân dân trên địa đàn huyện và có tiềm năng phát triển thuỷ điện Tuynhiên, cũng do những đặc điểm nêu trên nên dễ bị ảnh hưởng của mưa lũ, lũống, lũ quét gây sạt lở đất, ảnh hưởng lớn đến hạ tầng và sản xuất cũng như đờisống dân sinh Tài nguyên khoáng sản ở Quế Phong không nhiều về chủng loại,trữ lượng ít, các loại khoáng sản chính như: thiếc có trữ lượng 6.905 tấn, Vàng
sa khoáng, sắt, đá vôi, cát, đá, sỏi phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng Về tàinguyên rừng, toàn huyện có 149.509,7 ha đất rừng, trong đó diện tích rừng tựnhiên có 140.203 ha, ngoài ra có gần 210 ha rừng gỗ Pơ mu là loại gỗ quý hiếmvới có trữ lượng khoảng 6.500 m3 Rừng trồng 8.307 ha, chủ yếu là rừng quế,cây gỗ nguyên liệu (keo, xoan, bạch đàn) Động vật rừng trước đây khá phongphú về chủng loại như gấu, voi, lợn rừng, hươu, nai, tuy nhiên do tình trạngsăn bắn thú rừng vẫn diễn ra nên đến nay số lượng động vật rừng còn rất ít.Lâm nghiệp là tiềm năng thế mạnh của Quế Phong, diện tích đất có rừng lớn,nhiều tầng phong phú về chủng loại và trong điều kiện có độ ẩm cao nên câyrừng phát triển nhanh Nhưng để phát triển mạnh kinh tế rừng, cần có cơ chếchính sách về đầu tư thoả đáng và gắn lợi ích kinh tế hộ đồng bào dân tộc vớichương trình phát triển lâm nghiệp để khoanh nuôi, bảo vệ và khai thác lâu dài
có hiệu quả đất rừng
Dân số trung bình huyện Quế Phong năm 2009 là 63.250 người, số hộtrung bình là 12.968 hộ, trong đó hộ dân tộc thiểu số 11.474 hộ (chiếm 88,5%);bao gồm 4 dân tộc chính cùng sinh sống (dân tộc thiểu số chiếm hơn 90% dânsố) Trong đó: Dân tộc Thái chiếm 82,8%, sống chủ yếu ở vùng núi thấp vensông suối và chân núi, có truyền thống canh tác lúa nước nhưng thiếu chí hướnglàm giàu; Dân tộc Mông chiếm 4,2%, sống chủ yếu ở các dãy núi cao dọc tuyếnbiên giới, siêng năng, chăm chỉ và biết cách làm ăn nhưng do điều kiện sản xuấtquá khó khăn nên hầu hết đói quanh năm và thường di dịch cư tự do; Dân tộcKhơ mú chiếm 3,0%, sống rải rác ở các dãy núi cao trung bình, thường du canh
du cư, trình độ dân trí thấp, thiếu chịu khó trong lao động sản xuất
Toàn huyện có 14 đơn vị hành chính (xã, thị trấn), trong đó có 12 xã đặcbiệt khó khăn được hưởng chính sách chế độ theo Quyết định 135/CP (chươngtrình hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng và phát triển kinh tế xã hội cho 1750 xã đặc
Trang 23biệt khó khăn, vùng sâu vùng xa) Huyện Quế Phong là một trong 61 huyệnnghèo của cả nước được hỗ trợ đầu tư giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghịquyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ Thực trạng điều kiện tự nhiên và tìnhhình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện cũng đan xen những thuận lợi
và thách thức, trong đó những khó khăn về điều kiện tự nhiên và trình độ dân trícủa một huyện miền núi vùng cao vẫn là thách thức lớn Tỷ lệ hộ đói nghèo toànhuyện đến đầu 2009 là 50,59%
Tình hình về cơ sở hạ tầng: Có 61 km đường Quốc lộ 48 qua huyện là
đường nhựa Đường do huyện quản lý gồm 10 tuyến, tổng chiều dài 121 km,trong đó có 47 km là đường nhựa cấp VI miền núi, còn lại là đường đất, cáccông trình cầu cống vĩnh cửu trên các tuyến còn ít Đường từ trung tâm xã đi cácthôn bản có tổng chiều dài 221 km, loại đường này đi lại hết sức khó khăn, hầuhết là đường mòn nền đất nên hư hỏng thường xuyên sau mỗi mùa mưa lũ, hàngnăm huyện phải huy động nhân dân tự tu sửa để đi lại với hàng ngàn ngày cônglao động…
Về thực trạng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: Diện tích gieo cấy lúa
nước cả năm giai đoạn 2007-2012 bình quân đạt 4.070 ha/năm, năng suất bìnhquân đạt 44 tạ/ha Bình quân lương thực đầu người tăng từ 310 kg/người năm
2007 lên 316 kg/người năm 2008 Diện tích lúa rẫy giảm dần, năm 2012 huyệnđưa chỉ tiêu làm rẫy chỉ 500 ha/năm Tuy nhiên, so với tiềm năng và so với cáchuyện nghèo của tỉnh Nghệ An thì kết quả đạt được còn hạn chế, tiềm năng vềđất đai còn lãng phí Từ năm 2007, huyện đã thử nghiệm và khẳng định có thểsản xuất 3 vụ đối với diện tích đất ruộng trên địa bàn 4 xã vùng thấp nhưng dosức ỳ ngại khó, ngại vất vả của bà con nông dân dân tộc và không quen với tínhkhẩn trương liên tục của việc xoay vòng sản xuất 3 vụ nên kết quả đạt đượckhông cao Ngoài ra, một số diện tích còn bị bỏ hoang, đầu tư thâm canh vàchăm sóc kém dẫn tới năng suất tăng chậm Năng suất lúa nước có những nơiđạt 9-10 tấn/ha/vụ, nhưng cũng còn nhiều vùng chỉ đạt từ 2-3 tấn/ha/vụ,…Diệntích cây công nghiệp ngắn ngày trung bình trong 3 năm qua như mía nguyênliệu, lạc, đậu, đều tăng song chủ yếu chỉ tập trung ở một số xã nơi có đồngbào dân tộc Kinh sinh sống Tỷ trọng chăn nuôi trong ngành nông nghiệpchuyển dịch tích cực, tăng từ 37% năm 2005 lên 46% vào năm 2008 Tổng đàntrâu bò tăng từ 31.581 con năm 2005 lên 34.942 con năm 2008 (tăng bình quân3,42%/năm); Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đàn chăn nuôi còn thấp (chủ yếu do