Lao động nớc ngoài đến Nhật Bản làm việc chủ yếu thông qua các kênh nhậpc nh: sinh viên nớc ngoài theo học tại các trờng đại học dự bị, tu nghiệp sinh,ngời nớc ngoài ở lại bất hợp pháp,
Trang 1Thực trạng xuất khẩu sức lao động của Việt Nam vào khu vực Đông Bắc á
Giữa thập kỉ 80, thời kỳ kinh tế phát triển nhanh một cách khác thờng ở NhậtBản, sức lao động cần cho ngành công nghiệp rất lớn, nên tình trạng thiếu côngnhân càng trở nên trầm trọng Sự thay đổi cơ cấu của Nhật Bản cũng làm tăngnhu cầu lao động đáng kể Các ngành công nghiệp sản xuất chuyển dần sangphát triển các lĩnh vực xây dựng và dịch vụ là những lĩnh vực hoạt động cầnnhiều nhân công Trong khi đó, thì nhìn chung giới trẻ Nhật Bản không thíchcác công việc thuộc loại 3D (nguy hiểm, bẩn thỉu, nặng nhọc) Theo số liệu điềutra của Viện Lao động Nhật Bản tháng 11/1998 lực lợng lao động: 67,87 triệungời và tỷ lệ tăng lao động hàng năm từ 0,4 giảm còn 0,2%, tỷ lệ thất nghiệp là4,4% do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính khu vực Tỷ lệ lao
động làm việc cụ thể trong các ngành nghề nh sau: thơng mại và dịch vụ chiếm50%; sản xuất, khai khoáng và xây dựng chiếm 33%, dịch vụ công cộng và viễnthông chiếm 7%; nông nghiệp, lâm nghiệp và đánh bắt cá chiếm 6%, hành chínhnhà nớc chiếm 3%, còn lại 1% là các lĩnh vực khác
Nền kinh tế tăng trởng mạnh vào những năm 1970-1980, kéo theo sự pháttriển của các ngành công nghiệp và dịch vụ, cùng với sự giảm tỷ lệ tăng dân số
đã dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực một cách trầm trọng Trớc thực trạng này,Chính phủ Nhật Bản còn do dự và cha muốn khắc phục tình trạng thiếu hụt nhâncông bằng việc nhập lao động giản đơn ngời nớc ngoài Họ cho rằng nếu sửdụng ngời nớc ngoài sẽ dẫn đến những đòi hỏi về nhà ở và các dịch vụ khác, ảnhhởng nhiều đến trật tự xã hội Tuy nhiên lực lợng lao động này lại là nguồn nhânlực chủ yếu cho lĩnh vực công nghiệp sản xuất và dịch vụ Do vậy, bất chấpnhững quy định nhập cảnh ngặt nghèo, dòng ngời lao động nớc ngoài đã đổ vàoNhật Bản với một số lợng khá lớn và bổ sung cho tình trạng thiếu lao động củangành công nghiệp Nhật Bản Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động Nhật Bảnthì số lao động nớc ngoài ở Nhật Bản từ năm 1990 đến 1998 vẫn tiếp tục tăng,
Trang 2nhìn vào bảng 1 dới đây, ta thấy chỉ trong 8 năm từ năm 1990 cho đến 1998 lựclợng lao động nớc ngoài ở Nhật Bản đã tăng lên gấp 3 lần.
Năm 1998, số ngời nớc ngoài ở Nhật Bản có trên 1.500.000 ngời, chiếm 1,2%dân số Nhật Bản, trong đó 3/4 đến từ các nớc Châu á, số còn lại đến từ châu MỹLatinh Trong số ngời nớc ngoài trên, có 670.000 lao động nớc ngoài làm việctrong đó có 400.000 làm việc hợp pháp, còn lại 270.000 là bất hợp pháp Lao
động nớc ngoài làm việc chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất (khoảng 65%), tiếp đến
là giảng viên, nhân viên kỹ thuật và hành chính(19%), bán hàng, nấu ăn và nhàhàng(6%), còn lại là các ngành nghề khác
Trang 3Lao động nớc ngoài đến Nhật Bản làm việc chủ yếu thông qua các kênh nhập
c nh: sinh viên nớc ngoài theo học tại các trờng đại học dự bị, tu nghiệp sinh,ngời nớc ngoài ở lại bất hợp pháp, thuyền nhân…đại đa số là từ Trung Quốc,Indonesia, Thái Lan…
Theo điều tra về việc làm của lao động nớc ngoài năm 1999, số tu nghiệpsinh có tại Nhật Bản là gần 50.000 ngời, chiếm 7% tổng số lao động nớc ngoài.Phần lớn tu nghiệp trong lĩnh vực chế tạo (khoảng 82%)
Trang 4Bảng 2:
Số lơng tu nghiệp sinh nớc ngoài vào Nhật Bản thông qua các kênh khác nhau (1992-1998)
Đơn vị tính: ngời
Nớc 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 TSố Trung Quốc 15.05
4 8 15.68 0 14.75 9 16.00 4 17.90 0 21.34 2 22.37 7 123.11Indonesia 3.687 3.433 2.984 3.965 5.098 6.701 5.972 31.840
Philippin 3.931 2.942 2.734 3.348 4.446 4.380 3.658 25.439 Thái Lan 5.385 4.075 3.718 3.661 3.298 3.534 4.625 28.296 Peru - 223 252 222 263 278 246 1.484
Sri Lanca 592 400 357 468 501 478 392 3.188
ấn độ 479 544 547 465 631 567 637 3.870 Myanma - 28 27 49 144 116 89 453 Mongolia - 89 102 101 125 123 100 640
Nớc khác 14.49
9 3 12.02 3 10.82 9 11.21 9 11.70 9.945 9.439 79.657Tổng 43.70
4 5 39.79 2 36.61 1 40.59 6 45.53 4 49.59 7 49.79 9 305.62
Nguồn: Tổ chức JITCO (15/07/1999)
Theo thống kê của Bộ Lao động Nhật Bản năm 1999, tỷ lệ tăng dân số giảmmột cách đáng kể (khoảng 0,2%), nên nguồn lao động của Nhật Bản cũng sẽgiảm đi trong những năm tới là điều không thể tránh khỏi Theo dự báo từ nay
đến 2005 Nhật Bản cần khoảng 1 triệu lao động, trong đó khoảng 600.000 lao
động giản đơn, 300.000 ngời chăm sóc ngời già, 100.000 kỹ thuật viên côngnghệ thông tin Theo các chuyên gia nếu đợc phép sử dụng lao động nớc ngoàithì Nhật Bản có thể tiếp nhận từ 1,5 đến 2 triệu lao động nớc ngoài, trong đó lao
động giản đơn chiếm tỷ lệ cao Trong chơng trình tiếp nhận tu nghiệp sinh nớcngoài, hàng năm Nhật Bản tiếp nhận khoảng 30.000 ngời Nh vậy, đây là mộttrong những điều kiện và cơ hội để ta có thể mở rộng và phát triển thị trờng đalao động đi tu nghiệp ở địa bàn này
Nét đặc biệt trong thị trờng lao động Nhật Bản mà từ trớc đến nay có rất ítngời để ý tới đó là tỷ lệ lao động giữa nam và nữ chênh lệch nhau rất nhiều Tạicác nớc tiên tiến khác, lao động nữ cũng ít hơn lao động nam đó cũng là điềubình thờng nhng ở Nhật Bản lao động nữ đặc biệt ít và ngời ta cho rằng đó là do
ảnh hởng của cách thức kinh doanh kiểu Nhật Bản Lý do chủ yếu của vấn đềnày là do ý thức của ngời Nhật Bản suy nghĩ là sau khi lấy chồng, sinh con nuôicon thì tạm thời nghỉ việc, sau đó khi con lớn thì họ đã vào tuổi trung niên, dovậy tỷ lệ nữ giới trong độ tuổi lao động ở Nhật Bản diễn biến bất thờng Nh vậy,thực chất, không phải đích thực cần lao động là lao động nam giới mà do thiếulao động nữ giới một cách vô hình Điều này có nghĩa là lao động nữ giới vẫn rấtcần nhng từ trong nớc Nhật không thể đáp ứng đợc mà phải nhận lao động nữ từnớc khác trong đó có Việt Nam Đây cũng có thể là một hớng mở cho doanhnghiệp Việt Nam để xuất khẩu sức lao động nữ sang Nhật Bản
1.2 Thị trờng Hàn Quốc:
Trang 5Trong những thập kỷ trớc đây, Hàn Quốc là một nớc có số lao động làm việc
ở nớc ngoài khá lớn, nếu tình từ đầu năm 1960 đến nay đã có trên 2 triệu ngờilao động Hàn Quốc đang làm việc có thời hạn ở nớc ngoài Những năm 1976-
1986 Hàn Quốc đã trở thành một trong những nớc xuất khẩu sức lao động hàng
đầu khu vực sau Philippin và ấn Độ, trung bình mỗi năm đa 16 vạn ngời, đặcbiệt trong 3 năm 1981, 1982, 1983 mỗi năm đa gần 200.000 ngời đi lao động ởnớc ngoài
Năm 1998, do cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài nên việc làm ở Hàn Quốc
đã trở thành một vấn đề xã hội bức xúc Đầu năm 1998, Chính phủ dự kiến tỉ lệthất nghiệp ở mức 2%, nhng do tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tếnên tỷ lệ thất nghiệp đã lên tới trên 7% vào thời điểm cuối năm Mặc dù tỷ lệthất nghiệp cao nhng nhiều lao động Hàn Quốc vẫn đòi hỏi phải làm việc ở khuvực 3S (sạch sẽ, an toàn và nhẹ nhàng) Trong khi đó, lại xảy ra tình trạng thiếuhụt lao động cho các ngành dệt, nhuộm, cơ khí và những ngành công nghiệpkhác Vì vậy dẫn đến việc nhiều ngời không có việc làm và không thể kiếm đợccông việc 3S, còn những nơi có các công việc 3D (bẩn, nguy hiểm và nặngnhọc) vẫn đang phàn nàn về tình trạng thiếu hụt lao động nghiêm trọng
Sự bất ổn giữa cung và cầu trong thị trờng việc làm Hàn Quốc bắt nguồn từchỗ ngày càng có nhiều ngời Hàn Quốc không muốn làm những công việc nặngnhọc, lảng tránh những công việc 3D Theo một cuộc điều tra về nhu cầu việclàm, có tới 99.000 ngời thất nghiệp nộp đơn xin việc trong 3 tháng, nhng cha tới7.000 trong số này muốn làm những công việc 3D
Chính phủ Hàn Quốc đã phát động phong trào “tạo ra 1.000.000 chỗ làmviệc mới” bằng biện pháp tăng cờng đầu t cho xuất khẩu, mở rộng công nghiệp
du lịch, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, kêu gọi nớc ngoài đầu t vào HànQuốc, khuyến khích mở rộng ra hải ngoại và đa lao động có kỹ thuật cao ra nớcngoài làm việc Đề ra chủ trơng không trợ cấp thất nghiệp cho những ai từ chốicông việc 3D
Nhìn chung, nền kinh tế Hàn Quốc hiện nay đã phục hồi, tình trạng thấtnghiệp đã giảm so với trớc đây, tỷ lệ tăng trởng kinh tế sẽ đạt mức 7-9% Tỷ giá
đồng Won so với đồng đô la Mỹ ổn định Với 2,6 triệu doanh nghiệp vừa vànhỏ, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống còn 3% vào tháng 6/2001 Trớc mắt cũng
nh những năm tới, nhu cầu sử dụng lao động nớc ngoài không giảm, đặc biệttrong lĩnh vực 3D và thuyền viên tàu cá Theo báo cáo của Viên Nghiên cứu lao
động Hàn Quốc, sự thiếu hụt lao động sẽ ở mức 5,53% tổng số việc làm Tronglĩnh vực công nghiệp, tỷ lệ này là 6,85% đối với lĩnh vực xây dựng và cơ khí,
Trang 615% trong lĩnh vực may mặc và 9% trong nghề khai thác Dấu hiệu phục hồinhanh chóng và sự tăng trởng kinh tế của Hàn Quốc là điều kiện để thu hút nớcngoài.
Mặc dù sự di chuyển từ nông thôn ra thành thị, từ khu vực sản xuất nôngnghiệp chuyển sang sản xuất công nghiệp không ngừng tăng lên cũng khônglàm giảm sức ép về thiếu lao động ở các ngành công nghiệp và dịch vụ, nhất làcác lĩnh vực cần nhiều nhân công nh: may mặc, xây dựng
Thanh niên Hàn Quốc không muốn làm việc nặng nhọc, độc hại và bẩn thỉuhoặc có thu nhập thấp Vấn đề này làm cho tình trạng thiếu hụt lao động càngtrầm trọng hơn trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp ở Hàn Quốc, đã làm chonhiều xí nghiệp vừa và nhỏ bị thu hẹp sản xuất hoặc phá sản
Do tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng, các nhà doanh nghiệp đặc biệt là
các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc đã khẩn thiết đề nghị đợc nhập lao
động nớc ngoài Vấn đề này đợc sự ủng hộ của Bộ Thơng Mại và công nghiệp, Cục quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo họ có 3 lý do, thứ nhất tình
trạng thiếu lao động trầm trọng, đặc biệt trong lĩnh vực 3D có thể đợc giảm nhẹ;
thứ hai, lao động rẻ là yếu tố cần thiết để duy trì và đảm bảo sự cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; thứ ba, việc nhập khẩu lao động vào một số ngành
công nghiệp nhất định cũng không ảnh hởng tiêu cực đến toàn bộ lực lợng lao
động trong nớc
Đầu những năm 1990, Hàn Quốc đã chuyển từ một nớc xuất khẩu sức lao
động thành nớc nhập khẩu lao động với một số lợng lớn lao động nớc ngoài,phần lớn là từ các nớc châu á Việc nhập lao động nớc ngoài vào Hàn Quốc đã
đóng góp tích cực vào giảm tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng của các doanhnghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc
Bảng 3: Số lợng lao động nớc ngoài tại Hàn Quốc
Đơn vị tính: ngời
Năm Làm việchợp pháp Tu nghiệp sinhcông nghiệp Làm việc bất
hợp pháp Tổng số199
Trang 7Nguồn: Cục quản lý lao động với nớc ngoài
1.3 Thị trờng Đài Loan:
Đài Loan cách bờ biển Đông Nam lục địa Trung Hoa khoảng 150 km, ngăncách với lục địa Trung Hoa bởi eo biển Đài Loan Đài Loan bao gồm 64 đảo lớnnhỏ của quần đảo Bành Hồ và trên 20 đảo khác với tổng diện tích trên 35.960km² Đài Loan cách Philippin 350 km và Nhật Bản 1.090 km Dân số Đài Loan
có trên 22 triệu ngời Thủ đô Đài Bắc là nơi có dân số cao nhất, tiếp sau đó làthành phố Cao Hùng ở phía Nam Gần 60% dân số Đài Loan tập trung ở 4 thànhphố lớn: Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung và Đài Nam
Để giảm bớt tình trạng thiếu nhân lực, từ năm 1989, Đài Loan chính thứcnhận lao động nớc ngoài vào làm việc Nền kinh tế tăng trởng ở mức trên 6% và
tỷ lệ thất nghiệp dao động ở mức 3% trong hàng chục năm (riêng năm 2001 tỷ lệnày tăng lên trên 4%), cùng với việc phát triển mạnh mẽ các cơ sở hạ tầng, ĐàiLoan phải đối mặt với sự khan hiếm đặc biệt trong ngành xây dựng
Trong mời năm gần đây, thanh niên Đài Loan không còn hứng thú với nghềxây dựng và sản xuất, họ hớng vào các hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ
Để đáp ứng nhu cầu về lao động cho phát triển kinh tế xã hội và trật tự hoá
việc sử dụng lao động nớc ngoài, tháng 5 năm 1992, Đài Loan đã công bố Luật
dich vụ việc làm Theo điều 43 luật này, Đài Loan cho nhận lao động nớc ngoài
với các ngành nghề nh sau:
- Chuyên gia và cán bộ kỹ thuật
- Hoa kiều hoặc ngời nớc ngoài giữ trách nhiệm quản lý các công ty có vốn
đầu t nớc ngoài ở Đài Loan
- Cán bộ giảng dạy các trờng Đại học hoặc các cơ sở giáo dục
- Giáo viên dạy tiếng nớc ngoài
- Huấn luyện viên và vận động viên thể dục thể thao
- Công việc về tôn giáo, nghệ thuật và biểu diễn
Trang 8- Ngời giúp việc gia đình và khán hộ công
- Nhân lực trong các công trình xây dựng và phát triển kinh tế
- Các công việc theo dự án riêng của cơ quan quản lý trung ơng, do tính chấtcông việc đặc biệt, trong nớc thiếu nhân tài làm công việc đó, về nghiệp vụ đúng
là có nhu cầu thuê ngời nớc ngoài làm
Trang 9Biểu 4: Lao động nớc ngoài làm việc tại Đài Loan phân theo quốc gia
Nguồn: Văn phòng kinh tế - văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc
Nhìn vào biểu trên ta thấy lợng lao động nớc ngoài làm việc tại Đài Loan chủyếu đến từ Thái Lan (gần 50%), luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong 8 năm ViệtNam là một đối tác mới, đóng góp với một số lợng hết sức khiêm tốn song lại làthị trờng xuất khẩu sức lao động tiềm năng, chắc chắn trong thời gian tới sẽ tăng
động là làm việc trong ngành xây dựng và trong các nhà máy Chủ yếu họ là
ng-ời Phippin, Thái Lan, ngoài ra còn có ngng-ời Malaisia và Indonesia Từ năm 1999bắt đầu xuất hiện thêm lao động đến từ Việt Nam
2 Chính sách đối với lao động n ớc ngoài:
2.1 Nhật Bản:
Thủ tục và điều kiện để tiếp nhận tu nghiệp sinh nớc ngoài vào Nhật Bản
đ-ợc lựa chọn trên các tiêu chuẩn và điều kiện của bản thân tu nghiệp sinh và tổchức tiếp nhận tu nghiệp sinh
Đối với tu nghiệp sinh: phải trong độ tuổi từ 20 đến 40, phải có đủ sức khỏe
về thể lực và thần kinh để đáp ứng đợc yêu cầu ở xí nghiệp tiếp nhận, đợc khámsức khỏe trớc khi đi và đợc xác nhận bởi cơ quan y tế của nớc phái cử, đảm bảotrong thời gian tu nghiệp không phải đến điều trị bệnh về răng; phải là ngời tốtnghiệp phổ thông trung học hoặc cao hơn; phải tu nghiệp ở trình độ công nghệ,
kỹ năng mà không thể hoặc khó có thể có đợc ở nớc phái cử, hoặc không phải
đến Nhật Bản để tu nghiệp trong những công việc giản đơn; phải là ngời đanglàm công việc giống nh công việc sẽ tu nghiệp ở Nhật Bản và làm việc tại một
Trang 10công ty hoặc xí nghiệp của nớc phái cử; ngời cha từng đi tu nghiệp ở Nhật Bản;trong thời gian tu nghiệp ở Nhật Bản không đợc mang theo thành viên gia đình;phải là ngời không thuộc đối tợng cấm nhập c vào Nhật Bản theo quy định của
Bộ T pháp Ngoài ra để nhập cảnh và lu trú tại Nhật Bản, ngời nớc ngoài trớchết phải có t cách lu trú là “tu nghiệp sinh”
Việc tiếp nhận tu nghiệp sinh nớc ngoài có thể theo một trong các hình thứcsau:
- Ch ơng trình tu nghiệp do công ty thực hiện trực tiếp: là các công ty nóichung nhận tu nghiệp sinh làm việc ở ngân hàng trung ơng, tổ chức quốc tế;công ty “mẹ” nhận tu nghiệp sinh là ngời làm trong công ty liên doanh, công ty
“con” ở nớc ngoài; công ty đầu t ra nớc ngoài nhận tu nghiệp sinh là ngời đợctuyển vào làm việc trong công ty đầu t có vốn nớc ngoài; công ty có quan hệkinh doanh với nớc ngoài nhận tu nghiệp sinh là nhân viên của công ty đối tác
- Ch ơng trình tu nghiệp do công ty thực hiện qua trung gian : là các công tyhội viên của phòng thơng mại và công nghiệp, hiệp hội các xí nghiệp nhỏ, hợptác xã
- Ch ơng trình tu nghiệp đ ợc thực hiện với sự giới thiệu của Cơ quan Hợp tác
tu nghiệp quốc tế Nhật Bản (gọi tắt là JITCO): JITCO là một tổ chức phi chínhphủ không trực tiếp nhận tu nghiệp sinh mà thực hiện một số hoạt động nh trao
đổi thông tin với cơ quan chính phủ các nớc có nhu cầu đào tạo lao động tạiNhật Bản và cung cấp các thông tin này cho các doanh nghiệp/ tổ chức tiếp nhậncủa Nhật Bản; chỉ dẫn và giúp đỡ các thủ tục nhập cảnh và lu trú tại Nhật Bảncho tu nghiệp sinh; giới thiệu kế hoạch tuyển sinh cho các khoá đào tạo, cungcấp thông tin liên quan, đánh giá kết quả và thái độ học tập của tu nghiệp sinh;thay mặt các tổ chức nhận tu nghiệp sinh để lo thủ tục quản lý xuất nhập cảnhliên quan đến việc nhập cảnh của tu nghiệp sinh, gia hạn thời gian lu trú hoặc
đổi thời gian lu trú sang t cách thực tập sinh….Số lợng tu nghiệp sinh nớc ngoàivào Nhật Bản thông qua JITCO trong những năm gần đây tăng khá nhanh
- Các tr ờng hợp khác : bao gồm việc tiếp nhận của cơ quan chính phủ, đoànthể đặc biệt theo quy định của Bộ T pháp nh là cơ quan nhà nớc ở Trung ơng và
địa phơng, Tổ chức du lịch quốc gia Nhật Bản, Cơ quan hợp tác quốc tế NhậtBản (JICA), Trung tâm nghiên cứu công nghệ Nhật Bản, tập đoàn phát triển dầulửa…các cơ quan nhận tài trợ từ các nguồn của Chính phủ, tổ chức tiếp nhận cóquyền tiếp nhận tu nghiệp sinh nớc ngoài nhng việc thực hiện chơng trình cụ thểvẫn giao cho các công ty nói chung
Trang 11Nhật Bản không nhận lao động nớc ngoài không có tay nghề mà chỉ nhậnlao động có trình độ, tay nghề cao nh các nhà khoa học, kỹ s lao động có taynghề cao tại một số lĩnh vực đặc biệt, dịch vụ giải trí…, hoặc trong khu vực 3Dthông qua tuyển chọn nghiêm ngặt Để hạn chế dòng ngời tràn vào Nhật Bản tìmkiếm việc làm, chính phủ Nhật Bản khuyến khích trợ giúp phát triển chính thứccho các nớc đang và chậm phát triển bằng cách tạo ra cơ hội việc làm tại nhữngnớc này Đồng thời chính phủ Nhật Bản cũng đa ra “Chơng trình tu nghiệp vàthực tập kỹ thuật nghề”.
Những năm qua bình quân hàng năm Nhật Bản đã nhận đợc khoảng 45.000
tu nghiệp sinh nớc ngoài và tu nghiệp tại các xí nghiệp vừa và nhỏ theo “Chơngtrình tiếp nhận tu nghiệp và thực tập kỹ thuật nghề”
Theo quy định, tu nghiệp sinh nớc ngoài phải là ngời đang làm đúng lĩnhvực chuyên môn sẽ tu nghiệp ở Nhật Bản nh đã nói ở trên Họ đợc doanh nghiệp
cử đi cam kết sẽ tiếp nhận lại làm việc sau khi hết hạn tu nghiệp Thời hạn tunghiệp và làm việc tại Nhật Bản từ 1 đến 3 năm tùy theo từng nghề Trong năm
đầu tiên (giai đoạn 1), tu nghiệp sinh vừa học lý thuyết vừa đợc đào tạo thựchành trong sản xuất, hởng quy chế trợ cấp tu nghiệp Kết thúc giai đoạn 1, tunghiệp sinh phải qua kỳ thi sát hạch để xét tay nghề chuyển sang giai đoạn 2,lúc này tu nghiệp sinh đợc hởng quy chế nhận tiền công theo công việc Thamgia chơng trình này chủ yếu là các nớc: Trung Quốc, Thái Lan, Philippin,Indonesia, Việt Nam và một số nớc khác
Việc thực tập sẽ không đợc chấp nhận nếu thời gian tu nghiệp quá ngắn.Thời gian thực tập kỹ thuật không đợc kéo dài hơn 1.5 lần thời gian của chơngtrình tu nghiệp Thời gian của chơng trình tu nghiệp và thời gian thực tập tổngcộng không đợc quá 2 năm Tuy nhiên, trong một số ngành nghề đặc biệt, kể từtháng 4/1997, thời gian này có thể kéo dài đến 3 năm
2.2 Hàn Quốc:
Luật nhập c của Hàn Quốc chỉ cho phép cấp Visa vào Hàn Quốc đối vớinhững ngời có trình độ tay nghề mà Hàn Quốc không có, bao gồm: chuyên gia,giáo s, giảng viên ngoại ngữ, nhà nghiên cứu, nhà đầu t và những ngời làm việc
ở khu vực vui chơi giải trí Nhng từ năm 1989 - 1992 khi số lao động nớc ngoàibất hợp pháp tăng lên nhanh, Chính phủ Hàn Quốc đã cố gắng giải quyết vấn đềnày trong khuôn khổ pháp luật hiện hành Giải pháp giải quyết vấn đề này là
“Chơng trình tu nghiệp công nghiệp nớc ngoài” Trong thời gian này chơng trình
tu nghiệp sinh công nghiệp chỉ áp dụng đối với các chi nhánh công ty Hàn Quốc
ở nớc ngoài, theo đó lao động làm việc tại các chi nhánh này đợc cấp visa tu
Trang 12nghiệp công nghiệp để đợc tu nghiệp ở Hàn Quốc Tuy nhiên, số lợng tu nghiệpsinh nớc ngoài đợc hạn chế theo tỷ lệ phần trăm tổng số lao động đang làm việctại công ty tiếp nhận Thời gian tu nghiệp cũng chỉ đợc giới hạn trong phạm vi 3tháng Việc cấp visa tu nghiệp theo “Chỉ thị cấp visa tu nghiệp sinh côngnghiệp” đợc Bộ T pháp ban hành năm 1991.
Từ năm 1994 đến nay, chơng trình tu nghiệp sinh công nghiệp nớc ngoài đợcchuyển giao cho Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc Việc tiếp nhận tunghiệp sinh theo chơng trình này đợc thực hiện nh sau: trong những năm đầu1994-1997, số lợng tu nghiệp sinh đối với từng nớc đợc căn cứ theo nguyệnvọng của từng doanh nghiệp muốn nhận tu nghiệp sinh nớc ngoài KFSB tập hợpnhu cầu của các doanh nghiệp và thông báo Quota tiếp nhận tu nghiệp sinh nớcngoài là một năm và đợc kéo dài đến hai năm, từ năm 1996, thời hạn tu nghiệp ởHàn Quốc có thể đợc kéo dài đến 3 năm tuỳ thuộc vào khả năng của doanhnghiệp
Hiện nay theo chế độ tu nghiệp mới “tu nghiệp và giấy phép làm việc”; saumột năm rỡi hoặc hai năm tu nghiệp, tu nghiệp sinh nớc ngoài nếu đợc qua kỳsát hạch thì đợc cấp giấy phép làm việc thêm một năm (cho đến nay đã có hàngnghìn tu nghiệp sinh đang làm việc theo chế độ mới này)
Một số điều kiện cơ bản đối với tu nghiệp sinh nớc ngoài: tuổi từ 20 đến 40,
đã qua kiểm tra sức khỏe phù hợp với điều kiện xí nghiệp yêu cầu, không phạmtội, đã qua khoá giáo dục định hớng theo quy định Tu nghiệp sinh nớc ngoàikhông đợc coi là công nhân theo pháp luật lao động của Hàn Quốc, nhng đợcbảo hiểm y tế ngang với công nhân Hàn Quốc và đợc hởng bảo hiểm tai nạncông nghiệp đặc biệt với mức thấp hơn công nhân Hàn Quốc
Năm 1994, phụ cấp áp dụng cho tu nghiệp sinh nớc ngoài là 230-260 USD(tùy theo quốc tịch của tu nghiệp sinh ), nhng đến năm 1995 Chính phủ HànQuốc đã áp dụng mức phụ cấp trả cho tu nghiệp sinh nớc ngoài bằng lơng tốithiểu trả cho công nhân Hàn Quốc (280.000 Won) Mức lơng tối thiểu này đợc
điều chỉnh tăng dần hàng năm và kéo theo việc tăng lơng cho các tu nghiệp sinh
nớc ngoài Cho đến nay, mức lơng tối thiểu ở Hàn Quốc là 474,600 Won
2.3 Đài Loan:
Lao động nớc ngoài làm việc tại Đài Loan đợc điều chỉnh bởi một hệ thốngluật pháp tơng đối đầy đủ và thống nhất cho mọi nớc có lao động đi làm việc tại
Đài Loan Một số điểm cần lu ý bao gồm các nội dung sau:
Thời hạn hợp đồng: Hợp đồng lao động có thời hạn hai năm, sau khi hết hạn
đợc gia hạn một lần, thời gian gia hạn không quá 1 năm
Trang 13Tiền lơng:Tiền lơng cơ bản cho mỗi lao động là 15.840 NT$/ tháng(1998),
nếu cộng thêm tiền làm thêm giờ mức bình quân là 20.000NT$/ tháng Riêngtrong ngành điện tử, nếu một ngày làm việc 12 giờ thì tiền lơng đạt 30.000NT$.Nhng cũng có trờng hợp không làm thêm giờ thì tiền lơng chỉ đợc 15.840 NT$
Đơng nhiên là lơng cơ bản của ngời lao động nớc ngoài và ngời bản địa là khônggiống nhau và cũng khác nhau khi làm ở các lĩnh vực khác nhau Mức lơng này
có thể đợc điều chỉnh tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế
Biểu dới cho thấy sự chênh lệch về mức lơng giữa lao động nớc ngoài và lao
động bản xứ không lớn so với nớc có nhu cầu tiếp nhận lao động nớc ngoài kháctrong khu vực
Nguồn: Uỷ ban lao động Đài Loan
ăn ở: Chủ sử dụng lao động Đài Loan đợc khấu trừ từ tiền lơng của lao
động Việt Nam chi phí ăn và ở với mức giới hạn từ 0 đến 4000NT$/ tháng; mứckhấu trừ này có thể đợc điều chỉnh trong giới hạn trên tuỳ thuộc vào sự thoảthuận giữa chủ sử dụng lao động và ngời lao động
Việc khấu trừ trên đây chỉ áp dụng đối với lao động nớc ngoài làm côngnhân xây dựng hoặc công nhân nhà máy nhập cảnh vào Đài Loan sau ngày09/11/2001
Tuy nhiên, lao động chăm sóc ngời già và giúp việc gia đình không phải ápdụng quy định khấu trừ trên đây
Bảo hiểm: Ngời lao động tham gia bảo hiểm lao động và bảo hiểm y tế.
- Bảo hiểm lao động: Bao gồm bảo hiểm tai nạn giao thông thờng và bảo
hiểm tai nạn lao động Bảo hiểm thông thờng ngời lao động đóng khoảng215NT$ còn bảo hiểm tai nạn lao động do chủ chịu toàn bộ
- Bảo hiểm y tế: Chủ sử dụng: 60%, ngời lao động trả 30% (210NT$) và
chính quyền trợ cấp 10%
Thuế thu nhập:
Ngời lao động nớc ngoài đều phải nộp thuế thu nhập và đợc xác định theothời gian làm việc trong năm Nếu ngời lao động làm việc tại Đài Loan trớcngày 1 tháng 7 trong năm và số ngày làm việc trong năm đó ≥ 183 ngày thì nộp
Trang 14thuế thu nhập năm đó ở mức 6% thu nhập chịu thuế Nếu đến sau ngày 1 tháng 7
và số ngày làm việc < 183 ngày thì nộp thuế ở mức 20% thu nhập chịu thuế
Đài Loan vẫn duy trì chế độ ngày làm việc 8 giờ và một tuần 6 ngày làmviệc Nếu có điều kiện làm thêm giờ thì doanh nghiệp và ngời lao động phải thỏathuận trên cơ sở tuân thủ các quy định của luật lao động Đài Loan
Phí môi giới và phí quản lý: Việc cung ứng lao động sang Đài Loan thờng có
thể qua một trong hai kênh:
Kênh thứ nhất, chủ sử dụng trực tiếp tuyển dụng ngời lao động nớc ngoài và
trực tiếp thuê chuyên gia đến làm nhiệm vụ quản lý lao động Đi theo kênh này
là các xí nghiệp lớn hoặc chủ các công trình bao thầu lớn (thực tế qua kênh nàycũng chỉ thu hút 10% tổng số lao động nớc ngoài làm việc tại Đài Loan)
Kênh thứ hai, các hợp đồng đợc ký thông qua các công ty môi giới, các công
ty có chức năng tìm kiếm các quota nhận lao động, giới thiệu các đối tác với chủ
sử dụng lao động và tham gia quá trình quản lý lao động nớc ngoài tại Đài Loan.Hiện tại Đài Loan có trên 800 công ty có giấy phép hoạt động
Từ tháng 09/2002, áp dụng điều chỉnh về mức thu phí môi giới và phí quản
lý đối với công ty Đài Loan, nh sau:
Thu theo quý, tức là 3 tháng thu một lần khi ngời lao động làm việc tại
Đài Loan, nhng tổng mức phí quản lý của 3 năm làm việc tại Đài Loan không
đ-ợc phép thu quá 60.000NT$
Ngoài những nội dung trên, hệ thống luật pháp Đài Loan còn quy định một
số điều khác đối với lao động nớc ngoài nh: giờ làm việc, quan hệ giữa lao động
và chủ lao động, nghỉ phép, khám sức khoẻ…
3 Khả năng đáp ứng của Việt Nam đối với thị trờng Đông Bắc á:
Trang 15Theo thống kê của Cục Quản lý lao động với nớc ngoài, tính từ đầu năm 2002
đến giữa tháng 10 năm 2002, cả nớc đã đa đợc trên 35.000 lao động đi làm việc
ở nớc ngoài, trong đó, thị trờng Malaisia khoảng 12.000 ngời, Đài Loan 15.000ngời, còn lại là các thị trờng Hàn Quốc, Nhật Bản…
Riêng đối với thị trờng Đông Bắc á, trong năm 2001, chúng ta đã đáp ứng
đ-ợc một lợng tơng đối so với nhu cầu của các nớc với 2050 tu nghiệp sinh sangNhật Bản, 12274 tu nghiệp sinh sang Đài Loan, đối với thị trờng Hàn Quốc thì
ta cũng đã đáp ứng đợc hết hạn ngạch mà phía Hàn Quốc dành cho Việt Nam(13.000 lao động)
Tuy so với các nớc có truyền thống xuất khẩu sức lao động ở khu vực châu á
nh Philippin, Thái Lan, Indonesia…con số trên còn rất khiêm tốn, song đây chắcchắn cũng là một bớc khởi đầu tạo đà cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực này phấn đấu mở thêm thị trờng, tăng dần lợng lao động xuất khẩu ra nớcngoài trong thời gian tới
3.1 Về cơ cấu ngành nghề:
Trong giai đoạn này, nhờ thực hiện đúng chủ trơng của chính phủ là hạn chếviệc đa lao động phổ thông đi, mở rộng và phát triển việc đa lao động có nghề đilàm việc ở nớc ngoài, ta đã đáp ứng đợc một cách cơ bản nhu cầu của các thị tr-ờng nhập khẩu lao động hiện nay thuộc khu vực Đông Bắc á Lao động của ViệtNam xuất khẩu sang thị trờng này chủ yếu là một số ngành nh dệt may, cơ khíxây dựng (Nhật Bản), sản xuất chế tạo, xây dựng giúp việc gia đình và khán hộcông, thuyền viên (Đài Loan), các lĩnh vực công nghiệp, thuyền viên đánh cá(Hàn Quốc)
3.2 Về chất lợng:
Số lợng tu nghiệp sinh trong một vài năm gần đây nhìn chung đã đáp ứng đợcnhu cầu của các thị trờng Những năm trớc đây, hầu nh cha tơng xứng với yêucầu rất lớn của các doanh nghiệp tiếp nhận Bên cạnh số lợng, chất lợng cũng làvấn đề cần đợc đề cập đến Do trớc đây, chủ yếu lao động xuất khẩu là lao độngphổ thông, đại bộ phận lao động Việt Nam là lao động giản đơn cha đợc đào tạo
về kỹ năng…trong khi đó, nhu cầu thị trờng lao động Đông Bắc á hiện nay cụthể là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan lại chủ yếu đòi hỏi lao động có đào tạohoặc có tay nghề cao
Tuy có thế mạnh về số lợng song lao động của ta hiện nay còn xa mới đápứng đợc yêu cầu về chất lợng kể cả yêu cầu về sức khoẻ, thể lực lẫn các yêu cầu
về kỷ luật lao động trong công việc Việc vi phạm pháp luật của các tu nghiệp
Trang 16sinh tăng cao, chủ yếu là tự bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc bất hợp pháp, một sốcòn ăn cắp tại các cửa hàng, siêu thị…gây ảnh hởng không tốt đến những tunghiệp sinh khác
Trên thực tế, nảy sinh nghịch lý là mặc dù khả năng cung cấp lao động của tarất lớn về số lợng song các xí nghiệp đối tác vẫn đang phải đối mặt với nạn thiếulao động, nhất là lao động có trình độ chuyên môn tay nghề giỏi và phù hợp
Nh vậy có thể kết luận rằng lao động Việt Nam thừa về số lợng song lại thiếu vềchất lợng
II Thực trạng về xuất khẩu sức lao động vào khu vực Đông Bắc á:
1.Thị tr ờng Nhật Bản
1.1 Kết quả đạt đợc:
Nhật Bản là một quốc gia đông dân nhng đang thiếu nhân lực ở độ tuổi lao
động trầm trọng do số ngời già gia tăng Để giải quyết tình trạng này một trongnhững giải pháp đợc chính phủ đa ra là “Chơng trình tu nghiệp và thực tập kỹthuật” cho phép lao động nớc ngoài (gọi là tu nghiệp sinh) tham gia tu nghiệpnghề và thực hành tại các xí nghiệp vừa và nhỏ Nhật Bản với số lợng khoảng45000/ngời/năm
(Nguồn: Cục quản lý lao động với nớc ngoài)
Từ năm 1992 đến nay, qua 10 năm thực hiện chơng trình tu nghiệp và thựctập kỹ thuật tại Nhật Bản, trên 40 doanh nghiệp xuất khẩu sức lao động ViệtNam phối hợp với tổ chức Hợp tác đào tạo Quốc tế Nhật Bản (JITCO) đã đa đợckhoảng hơn 10.000 ngời sang Nhật Bản tu nghiệp Số lợng này tăng dần từ năm
1996 đến nay, trung bình mỗi năm có khoảng 1800-2000 tu nghiệp sinh sangNhật Bản Đặc biệt, năm 2001 ta đã đa đợc 2050 tu nghiệp sinh tại Nhật Bản.Lao động Việt Nam tu nghiệp tại Nhật Bản với các ngành nghề khác nhau nh dệtmay, cơ khí, xây dựng, điện tử, cầu đờng, chế biến hải sản Trong đó, lĩnh vực
dệt, may và xây dựng chiếm tỷ lệ lớn phân bố trên 37 khu vực tập trung chủ
yếu ở 6 vùng
Trang 17Ngoài ra từ năm 1994, thực hiện thoả thuận về chơng trình tiếp nhận tunghiệp sinh y tá, hàng năm Việt Nam đã đa 15-20 ngời sang học tại một số tr-ờng y tá Nhật Bản, sau khi tốt nghiệp ra trờng các y tá này đợc làm việc 4 nămtại các bệnh viện Nhật Bản, đợc hởng lơng và các chế độ khác nh lao động ngờiNhật.
Phần lớn lao động Việt Nam đi tu nghiệp ở Nhật Bản là đối tợng đang trựctiếp làm việc tại các doanh nghiệp, đã có kinh nghiệm, trình độ tay nghề nhất
định nên tiếp thu nhanh kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và tác phong làm việc côngnghiệp từ các đồng nghiệp Nhật Bản Lao động Việt Nam đợc phía Nhật Bản
đánh giá cao về khả năng tiếp thu nhanh, tính cần cù chịu khó, đợc chủ sử dụnglao động đối xử tốt và có thu nhập khá cao Sau khi về nớc tiếp thu tốt nhữngkinh nghiệm tu nghiệp, sử dụng tiếng Nhật, tay nghề vững và đợc chuyển sangcác công việc đòi hỏi trình độ cao hơn hoặc sử dụng thu nhập tiết kiệm đợc để tựlập doanh nghiệp phát triển kinh tế gia đình Tiêu biểu là những tu nghiệp sinhthuộc tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (VINASHIN), sau khi về n-
ớc đợc giao thực hiện những phần việc quan trọng đòi hỏi kỹ thuật trong việc
đóng mới các tàu biển có trọng tải lớn trên 1 vạn tấn
Song đối với chế độ làm việc và điều kiện sinh hoạt của ngời lao động ViệtNam nh hiện nay, theo đánh giá của các cơ quan chức năng Việt Nam là rất khókhăn Đây cũng là khó khăn chung của ngời dân Nhật Bản vì hiện nay Nhật Bản
đợc coi là nớc có giá sinh hoạt đắt vào loại nhất thế giới Nhng bù lại ngời ViệtNam cần cù chịu khó cùng với chính sách trả lơng xứng đáng của các công tyNhật nên so với điều kiện lao động trong nớc, đời sống sinh hoạt của ngời dânphần nào đợc thoải mái hơn ở Nhật Bản giờ làm việc bắt đầu từ 9 giờ sáng vàkết thúc vào khoảng 5 giờ chiều (đối với khu vực hành chính) còn ngoài giờ đó
ra lao động của công nhân đợc tính là giờ làm thêm Với các công ty xí nghiệpsản xuất thì khoảng thời gian đó đợc kéo dài ra Điều này là có lợi cho ngời lao
động bởi số giờ lao động đợc kéo dài hơn thì đồng lơng họ nhận cũng đợc tănglên
Chế độ lơng và mức thu nhập hàng tháng của ngời lao động Việt Nam tạiNhật Bản cũng đợc đánh giá là loại cao nhất so với các thị trờng tiếp nhận lao
động Việt Nam khác Tu nghiệp sinh khi về nớc có đợc một khoản thu nhậpbình quân đáng kể khoảng 17.000 đến 20.000 USD góp phần cải thiện đời sốnggia đình mình và trong trờng hợp không đợc các doanh nghiệp phái cử tiếp nhậntrở lại đã dành vốn để tự giải quyết việc làm hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh
nh đã nói đến ở trên Sở dĩ, có đợc khoản thu nhập tơng đối lớn nh vậy là do