Hiện nay, trong nền kinh tế thị tr ờng, với sự thừa nhận sức lao động là hàng hoá và sự tồn tại khách quan của thị tr ờng lao động, xuất khẩu sức lao động có một số đặc điểm cơ bản sau:
Trang 1Những vấn đề lí luận về xuất khẩu sức lao động
I Khái quát chung
1 Khái niệm
1.1 Lao động: Là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngời nhằm thay
đổi những vật thể tự nhiên, để phù hợp với lợi ích của mình Lao động là sự vận
động của sức lao động, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và t liệu sản xuất tạo ra của cải vật chất xã hội
Thành quả do con ngời tạo ra trong quá trình lao động để nuôi sống bản thân
họ, gia đình họ và đảm bảo sự tồn tại của xã hội Lao động có năng suất, chất l-ợng đem lại hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nớc Vì vậy, lao động có một vị trí vô cùng quan trọng và không thể thiếu đợc trong bất kì một chế độ xã hội nào, một quốc gia nào Mỗi con ngời đến độ tuổi lao động, có khả năng lao động đều mong muốn và có quyền đợc lao động để nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình và làm giàu cho xã hội
1.2 Sức lao động: Là tổng hợp thể lực và trí lực của con ngời trong quá trình
tạo ra của cải xã hội, phản ánh khả năng lao động của con ngời, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội
1.3 Xuất khẩu sức lao động: Là hoạt động trao đổi, mua bán hay thuê mớn
hàng hoá sức lao động giữa Chính phủ một quốc gia hay tổ chức, cá nhân cung ứng sức lao động của nớc đó với Chính phủ, tổ chức, cá nhân sử dụng sức lao
động nớc ngoài trên cơ sở Hiệp định hay hợp đồng cung ứng lao động
Nh vậy khi hoạt động xuất khẩu sức lao động đợc thực hiện sẽ có sự di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ một nớc sang một nớc khác Trong hành vi trao đổi này, nớc đa lao động đi đợc coi là nớc xuất khẩu sức lao
động, nớc tiếp nhận lao động đợc coi là nớc nhập khẩu sức lao động Trên thực
tế có trờng hợp xuất hiện vai trò của nớc thứ ba làm nhiệm vụ trung gian, môi giới hoặc kinh doanh
Có một điều cần phải lu ý là: Nếu nh đối với hàng hóa thông thờng, sau khi bao gói, đóng kiện đem xuất khẩu, nhận tiền về là xong, thì "hàng hóa sức lao động" đợc chứa đựng trong những con ngời cụ thể, xuất đi là phải đa cả con ngời đó đi Và, quá trình sử dụng sức lao động là quá trình hoạt động lao động của con ngời đó Sau khi sử dụng hết một lợng sức lao động (đã bán) thì hai bên "mua", "bán" phải thỏa thuận trả lại ng ời cho bên xuất khẩu
Và nh vậy, quá trình sử dụng sức lao động cũng phải là quá trình bồi d ỡng sức lao động, tôn trọng nhân phẩm, nhân cách của ng ời lao động Đồng thời, trong Hiệp định hay hợp đồng kí kết, ngoài những điều khoản qui định nh đối
Trang 2với các loại hàng hoá bình thờng khác, còn phải có những điều khoản đề cập đến
đời sống chính trị, văn hoá, tinh thần, sinh hoạt của ngời lao động Những điều này bị chi phối bởi phong tục, tập quán, tôn giáo, văn hoá của các quốc gia tham gia vào lĩnh vực này
ở Việt Nam, cụm từ "xuất khẩu lao động" chỉ đợc sử dụng đến cùng với việc đổi mới t duy kinh tế, t duy pháp lý Bởi, trong thời gian trớc đó, chúng
ta không thừa nhận sức lao động là hàng hóa, cho dù đó là một loại hàng hóa
đặc biệt Tuy nhiên, thuật ngữ này cũng chỉ đợc sử dụng trong báo chí, trong các văn kiện chính trị, hoặc các văn bản chính sách, chứ ít sử dụng trong các văn bản pháp lý Nghị quyết Đại hội VIII đã chủ trơng: "Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động", "Mở rộng xuất khẩu lao động trên thị trờng đã có và thị trờng mới " (Nghị quyết Hội nghị TƯ 4 khóa VIII)
1.4 Các thuật ngữ về “Xuất khẩu sức lao động”
Thuật ngữ “ tạo việc làm ở ngoài nớc” (hoặc ở nớc ngoài)
Nhiều nớc ở châu á đã và đang sử dụng thuật ngữ này, nh: Phi-líp-pin, Thái Lan, Băng-la-đét Riêng Phi-líp-pin có hẳn một tổ chức, đó là "Cục việc làm ngoài nớc" (POEA) để quản lý công việc này
Nội dung và thực chất của thuật ngữ "tạo việc làm ngoài n ớc" chính là việc thăm dò, tìm kiếm thị trờng lao động, ký kết các hợp đồng (những công việc cụ thể, tiền lơng, điều kiện lao động và sinh sống ), đ a lao động đi làm việc và quản lý, đa ngời lao động trở về khi hết hạn Có thể nói "tạo việc làm
ở ngoài nớc" là cả một quy trình
Thuật ngữ "Đa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài".
Có lẽ thuật ngữ này đợc sử dụng chính thức trong văn bản pháp lý ở Việt Nam là ở Nghị định số 370-HĐBT ban hành "quy chế về đ a ngời lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài" Ngay tại Điều 1 của Nghị
định đã xác định: "Đa ngời lao động đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài là một hớng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho ngời lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nớc"
Với việc ban hành Bộ luật lao động thì thuật ngữ "ngời lao động đi làm việc
ở nớc ngoài" đợc sử dụng ở các Điều 134, 135, có ý nghĩa nh là một chủ thể, một loại ngời lao động phân biệt với "ngời nớc ngoài lao động tại Việt Nam" (Điều 133) và "lao động là ngời Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài" (Điều 131)
Trang 3Nghị định 07-CP ngày 20-11-1995 quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động, cũng sử dụng thuật ngữ "đa ngời lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài" Các văn bản có liên quan khác cũng sử dụng thuật ngữ này
Nh vậy, có thể nói "Đa ngời lao động Việt Nam đi làm việc (có thời hạn)
ở nớc ngoài" là thuật ngữ đợc sử dụng có tính chất chính thức và phổ biến trong các văn bản pháp luật ở nớc ta kể từ đầu những năm 1990 cho đến nay Thuật ngữ này nói đợc thực chất của vấn đề là đa ngời lao động đi làm việc
ở nớc ngoài, và việc đa đi này là có thời hạn Thời hạn ở đây chính là các hợp đồng hoặc hiệp định cụ thể sẽ đợc ký kết
2 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu sức lao động
Xuất khẩu sức lao động là cụm từ dùng để chỉ một lĩnh vực hoạt động kinh tế ở các quốc gia có các tổ chức thực hiện việc cung ứng lao động cho các tổ chức nớc ngoài Hiện nay, trong nền kinh tế thị tr ờng, với sự thừa nhận sức lao động là hàng hoá và sự tồn tại khách quan của thị tr ờng lao
động, xuất khẩu sức lao động có một số đặc điểm cơ bản sau:
2.1 Xuất khẩu sức lao động là một hoạt động kinh tế
ở nhiều nớc trên thế giới, hoạt động này đã là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tạo việc làm cho lực lợng lao động đang tăng lên của nớc
họ và thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nớc của ngời lao động và các lợi ích khác Những lợi ích này đã buộc các nớc xuất khẩu sức lao động phải chiếm lĩnh ở mức cao nhất thị trờng lao động nớc ngoài, mà việc chiếm lĩnh đợc nhiều hay không lại dựa trên quan hệ cung cầu sức lao động - nó chịu sự điều tiết, sự tác động của các qui luật kinh tế thị tr ờng Bên cung phải tính toán mọi hoạt động của mình làm sao để bù đắp đ ợc chi phí và có phần lãi, vì vậy cần phải có cơ chế thích hợp để tối đa khả năng về cung lao
động Bên cầu cũng phải tính toán kĩ lỡng hiệu quả của việc nhập khẩu lao
động
Nh vậy, việc quản lí nhà nớc, sự điều chỉnh pháp luật luôn luôn phải bám sát đặc điểm này của hoạt động xuất khẩu sức lao động, làm sao mục tiêu kinh tế phải là mục tiêu số một của mọi chính sách pháp luật về xuất khẩu sức lao động
2.2 Xuất khẩu sức lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội
Trong hoạt động xuất khẩu sức lao động, sức lao động luôn gắn bó chặt chẽ, không tách rời khỏi ngời lao động Do vậy, mọi chính sách pháp luật trong lĩnh vực này phải kết hợp với các chính sách xã hội, phải đảm bảo làm
Trang 4sao để ngời lao động nớc ngoài đợc lao động nh đã cam kết trong hợp đồng lao động, cũng nh bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của họ Hơn nữa, ng
-ời lao động xuất khẩu dẫu sao cũng chỉ có th-ời hạn, do vậy cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng ngời lao động sau khi họ hoàn thành hợp
đồng lao động ở nớc ngoài và trở về nớc
2.3 Xuất khẩu sức lao động là sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động quản lí
vĩ mô của nhà nớc và sự chủ động, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp đa ngời lao động ra nớc ngoài.
Hoạt động này đợc thực hiện trên cơ sở các hiệp định, các cam kết về nguyên tắc của Chính phủ và trên cơ sở của hợp đồng cung ứng lao động Trớc đây (giai đoạn 1980 - 1990), Việt Nam tham gia thị trờng lao động quốc tế, đã đa ngời lao động đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài của mình qua các hiệp định song phơng, trong đó qui định khá chi tiết về điều kiện l
-ơng, ăn ở, đi lại, bảo vệ ngời lao động ở nớc ngoài Nghĩa là, về cơ bản Nhà nớc vừa quản lí Nhà nớc về hợp tác lao động, vừa làm thay cho các doanh nghiệp trong đa ngời lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài Ngày nay, trong cơ chế kinh tế thị tr ờng và hội nhập quốc tế thì hầu
nh toàn bộ hoạt động trên đều do các tổ chức kinh tế thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã kí Đồng thời, các tổ chức kinh tế cũng chịu hoàn toàn trách nhiệm về khâu tổ chức đa đi, quản lí ngời lao động và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế trong hoạt động xuất khẩu lao động của mình Và nh vậy, các hiệp định, các thỏa thuận song phơng chỉ có tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nớc ở tầm vĩ mô
2.4 Xuất khẩu sức lao động diễn ra trong một môi tr ờng cạnh tranh gay gắt.
Tính gay gắt trong cạnh tranh của hoạt động này xuất phát từ hai nguyên
nhân chủ yếu Một là, nó mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nớc đang
có khó khăn về giải quyết việc làm Do vậy, đã buộc các nớc xuất khẩu sức lao động phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị tr ờng ngoài nớc Nghĩa là, họ phải đầu t nhiều cho chơng trình marketing, cho chơng trình đào tạo, tập
huấn nhằm tăng giá trị sử dụng của sức lao động Hai là, hoạt động này
đang diễn ra trong một môi trờng khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế trong khu vực Nhiều nớc trớc đây thu nhận nhiều lao động nớc ngoài nh Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan…cũng đang phải đối đầu với tỉ lệ thất nghiệp đột ngột gia tăng Điều này hạn chế rất lớn đến việc tiếp nhận lao
động nớc ngoài trong thời gian từ 5 - 10 năm đầu thế kỉ 21
Trang 5Nh vậy, các chính sách và pháp luật của Nhà nớc cần phải lờng trớc đợc tính chất gay gắt trong cạnh tranh xuất khẩu sức lao động để có ch ơng trình dài hạn cho Marketing, đào tạo ngời lao động để xuất khẩu
2.5 Phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất khẩu sức lao
động.
Trong hoạt động này, lợi ích kinh tế của Nhà n ớc là khoản ngoại tệ mà ngời lao động gửi về và các khoản thuế Lợi ích của các tổ chức kinh tế là khoản thu đợc từ các loại phí giải quyết việc làm ngoài nớc Đối với ngời lao
động, lợi ích là khoản thu nhập cao hơn nhiều so với lao động ở trong n ớc Chính vì chạy theo lợi ích kinh tế mà các doanh nghiệp có quyền xuất khẩu sức lao động thờng dễ dàng vi phạm qui định của Nhà nớc, nhất là trong việc thu các loại phí dịch vụ Từ chỗ các quyền lợi của ngời lao động bị vi phạm
sẽ khiến cho việc làm ngoài nớc không thực sự hấp dẫn ngời lao động
Ngợc lại, cũng vì chạy theo thu nhập cao mà ngời lao động rất dễ vi phạm hợp đồng đã kí kết, nh hiện tợng “Chân ngoài dài hơn chân trong”, hoặc là
bỏ hợp đồng ra làm việc ở bên ngoài…Do vậy, các chế độ, chính sách phải tính toán sao cho đảm bảo đợc sự hài hòa lợi ích của các bên, trong đó cần
đặc biệt chú ý đến lợi ích trực tiếp của ngời lao động
2.6 Xuất khẩu sức lao động là hoạt động luôn biến đổi.
Hoạt động xuất khẩu sức lao động phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu nhập khẩu lao động, do vậy cần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở n ớc ngoài đang và sẽ đợc thực hiện để xây dựng chính sách đào tạo, chơng trình
đào tạo phù hợp và linh hoạt Chỉ có những nớc chuẩn bị đợc đội ngũ công nhân với tay nghề thích hợp mới có điều kiện thuận lợi hơn trong việc chiếm lĩnh thị phần lao động ở ngoài nớc Và cũng chỉ có nớc nào nhìn xa trông rộng, phân tích và đánh giá đúng tình hình mới không bị biến động tr ớc sự biến đổi của nó, mới có chính sách đón đầu trong hoạt động xuất khẩu sức lao động
3 Các hình thức xuất khẩu sức lao động ra n ớc ngoài
3.1 Căn cứ vào cách thức thực hiện, gồm có:
Xuất khẩu sức lao động theo hiệp định chính phủ giữa hai n ớc: Hình
thức này ta đã thực hiện phổ biến ở giai đoạn 1980 - 1990 Căn cứ vào hiệp
định đã ký, Nhà nớc phân chỉ tiêu cho các Bộ, Nghành, Địa phơng tiến hành tuyển chọn và đa ngời lao động đi Lao động của nớc ta đợc sự quản lí thống nhất từ trên xuống dới, làm việc xen ghép với lao động các nớc
Xuất khẩu sức lao động đi làm bao thầu ở n ớc ngoài: chủ yếu trong
Trang 6lĩnh vực xây dựng Hình thức này đòi hỏi phải đ a đi đồng bộ các đối tợng lao động nh cán bộ kĩ thuật, quản lí, chỉ đạo thi công, lao động trực tiếp
Xuất khẩu sức lao động trực tiếp theo yêu cầu của các công ty n ớc ngoài thông qua hợp đồng lao động Đây là hình thức phổ biến nhất hiện
nay Hình thức này đòi hỏi đối tợng lao động đa dạng, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu khác nhau
3.2 Căn cứ vào cơ cấu hàng hoá sức lao động, gồm có:
Chuyên gia, kỹ thuật viên trình độ cao ra nớc ngoài làm việc với vai
trò t vấn, giám sát, giảng dạy hỡng dẫn kỹ thuật hay đào tạo nghề
Thợ lành nghề: Là loại lao động trớc khi ra nớc ngoài làm việc đã đợc
đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi ra n ớc ngoài làm việc họ có thể bắt tay ngay vào công việc mà không cần bỏ thời gian và chi phí để tiến hành đào tạo nữa
Lao động giản đơn: Là loại lao động khi ra nớc ngoài làm việc cha
đ-ợc đào tạo một loại nghề nghiệp nào cả nên không có nghề hoặc có nghề ở mức thấp Loại lao động này chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nớc ngoài cần phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trớc khi đa vào sử dụng
II ý nghĩa xã hội của hoạt động xuất khẩu sức lao động:
1.Xuất khẩu sức lao động thể hiện tính qui luật của phân công và hợp tác lao động quốc tế:
Dới tác động của tiến bộ của khoa học kỹ thuật, lực l ợng sản xuất đã phát triển và ngày càng đạt tới trình độ cao, vợt ra ngoài phạm vi của mỗi quốc gia Sản xuất lớn chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi mở rộng quan hệ phân công
và hợp tác lao động quốc tế giữa các nớc trên thế giới
Hơn thế nữa, sự phát triển không đều về kinh tế xã hội cũng nh sự phân
bố không đều về tài nguyên và dân c dẫn đến không một quốc gia nào lại có
đầy đủ, đồng bộ các yếu tố sản xuất Trong điều kiện kinh tế thị tr ờng việc giải quyết tình trạng mất cân đối trên tất yếu dẫn đến hình thành thị tr ờng quốc tế về các yếu tố đầu vào của sản xuất, mà trong đó có thị tr ờng sức lao
động, cũng có nghĩa là việc xuất khẩu sức lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác, một hình thái hợp tác và phân công lao động quốc tế có một
ý nghĩa rất lớn
2.Xuất khẩu sức lao động - một lĩnh vực hoạt động kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia:
Thống kê của ILO (tổ chức Lao động Quốc tế) cho thấy trên toàn thế
Trang 7giới, thu nhập của ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài mỗi năm đạt 65.6 tỉ USD Một số nớc nhờ có nguồn kiều hối do lao động từ nớc ngoài chuyển về
đã giúp tăng trởng ngân sách quốc gia, hỗ trợ giải quyết việc làm trong n ớc
và tăng thu nhập cho ngời lao động Điển hình là Philippin với 4 triệu ngời
đang làm việc ở nớc ngoài, đã chuyển về theo kênh chính thức vào cuối năm
1998 là 4.3 tỉ USD, chiếm hơn 1/4 dự toán ngân sách của chính phủ năm
1999 Nguồn thu ngoại tệ này đã có tác động tích cực đến các dịch vụ kinh
tế và hỗ trợ giải quyết việc làm cho khoảng 80000 ngời đang thiếu việc làm trong nớc. ở nớc ta, năm năm trở lại đây, với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế, hoạt động xuất khẩu sức lao động đã có sự thay đổi hẳn về mặt chất Ước tính lợng tiền ngời lao động chuyển về nớc mỗi năm là 220 triệu USD, tơng
đơng 3080 tỉ đồng Việt Nam Xét ở góc độ khác nhau của hoạt động này, Malaixia hiện đang sử dụng 47,5 vạn lao động nớc ngoài từ Indonesia, Thái Lan, Philippines Trong khi lại có tới 20 vạn ngời Malaixia làm việc tại Đài Loan, Nhật Bản, Brunei Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu sức lao
động có vai trò quan trọng không chỉ đối với các nớc có lực lợng lao động d thừa mà còn đối với cả các nớc phát triển có nền kinh tế tăng trởng ở mức cao và ổn định (Nguồn: Cục quản lý lao động với nớc ngoài)
3.Xuất khẩu sức lao động - một biện pháp xoá đói giảm nghèo hiệu quả, tạo
ra việc làm và vốn cho ng ời lao động
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) tính theo đầu ngời Việt Nam năm 1999 chỉ
đạt 280 USD - đợc xếp vào 23 nớc nghèo nhất trên thế giới Một đặc điểm nổi bật của lao động nớc ta là 80% sống ở nông thôn, 70% đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, có 14% đang làm việc trong lĩnh vực Nhà nớc, 10% trong tiểu thủ công nghiệp, 90% lao động thủ công, năng suất lao động và hiệu quả làm việc rất thấp, tình trạng thiếu việc làm phổ biến và nghiêm trọng (Nguồn: Tổng cục thống kê)
Tình trạng việc làm không đủ, lại kém hiệu quả, thu nhập thấp là nguồn gốc của mọi khó khăn trong đời sống kinh tế xã hội hiện nay ở nớc ta Với tốc độ phát triển nh hiện nay, hàng năm chúng ta phải tạo ra hơn một triệu chỗ làm mới cho những ngời đến độ tuổi lao động, hàng chục vạn bộ đội phục viên xuất ngũ, học sinh tốt nghiệp phổ thông, lao động đi làm việc ở nớc ngoài trở về, đồng thời phải cố gắng thu hẹp dần lao động không có việc làm Do đó, một chơng trình việc làm quốc gia, trong đó chiến lợc gửi ngời đi làm việc ở nớc ngoài là
điều cần làm ngay
Trang 84 Góp phần đào tạo đ ợc đội ngũ công nhân có trình độ kĩ thuật cao, có tác phong công nghiệp
Đa số các nớc có nhu cầu nhập khẩu lao động quốc tế đều có tốc độ phát triển kinh tế cao, qui mô sản xuất mở rộng, khoa học kỹ thuật hiện đại, máy móc thiết bị tối tân Do vậy, yêu cầu đối với lực lợng lao động phải qua tuyển chọn,
đào tạo bồi dỡng tay nghề phù hợp với mỗi loại công việc mà họ đảm nhận
Ng-ời lao động Việt Nam vốn cần cù khéo tay, tiếp thu nhanh công nghệ sản xuất nên đợc nhiều xí nghiệp nớc ngoài đánh giá cao Với khoảng thời gian ít nhất là một năm, lao động Việt Nam tại nớc ngoài hình thành thói quen làm việc theo tác phong công nghiệp - tận dụng tốt thời gian có đợc, bằng chính sức lao
động của bản thân tạo nguồn thu nhập và không ngừng học hỏi nâng cao tay nghề trong công việc Đây là lực lợng lao động rất cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nớc ta hiện nay và trong những năm tới
5.
Xuất khẩu sức lao động chính là cầu nối để mở mang sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa các n ớc
Mối quan hệ hợp tác và phát triển trớc hết và cơ bản là hàng chục vạn lao
động Việt Nam đang ngày đêm cùng với lao động của nớc sở tại tích cực làm việc tạo ra nhiều thành tựu quí giá Ngời lao động Việt Nam, bằng sự khéo léo, cần cù đã làm ra nhiều tài liệu có giá trị, góp phần vào việc phát triển kinh tế của những nớc họ đến làm việc Về phía ta hoạt động xuất khẩu sức lao động ra nớc ngoài giúp giải quyết công ăn việc làm cho thanh niên, đào tạo đội ngũ lao động
có tay nghề cũng qua đây có dịp tìm hiểu phong tục tập quán, con ngời, giao lu văn hóa với nhiều quốc gia trên thế giới, phát triển mối quan hệ giao hữu giữa các quốc gia
Từ những phân tích và đánh giá về lý luận và thực tiễn trên đây đã cho thấy
mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu sức lao động là một khâu quan trọng trong chơng trình quốc gia về tạo việc làm cho ngời lao động, phù hợp với xu thế của phân công lao động mà chúng ta cần khai thác nhằm góp phần phát triển kinh tế đất nớc và nâng cao mức sống cho ngời dân Tuy nhiên, chúng ta cũng thừa nhận rằng hoạt động này cũng có mặt trái của nó, điều quan trọng là làm sao chỉ ra đợc nguyên nhân hạn chế nó, đồng thời tìm cách khắc phục những hiệu quả
III Chính sách của Việt Nam về vấn đề xuất khẩu sức lao động:
1 Mục tiêu:
Mục tiêu của chính sách xuất khẩu sức lao động đã đợc xác định rõ:
Một là, góp phần giải quyết việc làm cho ngời lao động, trớc hết cho một
Trang 9bộ phận lớn thanh niên
Hai là, bồi dỡng đào tạo một đội ngũ lao động có tay nghề vững vàng đáp
ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế
Ba là, tạo thu nhập cho ngời lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất
nớc
Bốn là, tăng cờng mối quan hệ hợp tác kinh tế - văn hoá - khoa học giữa
nớc ta với các nớc sử dụng lao động theo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng pháp luật và truyền thống dân tộc của nhau
2 Chủ tr ơng của nhà n ớc:
Nớc ta về cơ bản là một nớc nông nghiệp, đại bộ phận nhân dân sống ở nông thôn và làm nông nghiệp, đất ít ngời đông, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm cao, hàng năm lại có thêm hơn một triệu ngời bớc vào độ tuổi lao
động Để đất nớc từng bớc đổi mới, tiến kịp với các nớc trong khu vực và trên thế giới, đòi hỏi phải sắp xếp lại sản xuất dẫn đến nhiều lao động dôi d
có nhu cầu bố trí việc làm mới là một điều tất yếu Vì vậy sức ép về việc làm
là rất gay gắt Để giải quyết đợc vấn đề này, chúng ta đã xác định cùng với việc giải quyết việc làm trong nớc là chính, xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lợc quan trọng trớc mắt và lâu dài Đảng và Nhà nớc ta đã chủ trơng về vấn đề này rất rõ ràng Ngay từ những năm 80, vấn đề xuất khẩu sức lao động đã đợc Bộ chính trị và Chính phủ đa ra những Quyết định, Nghị quyết, Nghị định và Chỉ thị rất quan trọng
Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 46/CP ngày 11/2/1980 chủ tr ơng
về việc đa công nhân và bồi dỡng nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn tại các nớc xã hội chủ nghĩa Trong quá trình thực hiện này, Nhà nớc ta đã thu đợc một số kế hoạch nhất định
Cũng năm 1980, Hội đồng Chính phủ đã phê duyệt Nghị quyết số 362/CP ngày 29/11/1980 về việc hợp tác sử dụng lao động với các n ớc xã hội chủ nghĩa Nghị quyết nêu rõ: “Nớc ta mở rộng việc hợp tác sử dụng lao động với Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa anh em khác trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi, bằng nhiều hình thức và nhằm mục đích sau đây:
- Giải quyết việc làm cho một bộ phận thanh niên ta
- Thông qua hợp tác sử dụng lao động, nhờ các nớc anh em đào tạo giúp
ta một đội ngũ lao động có tay nghề vững, đáp ứng đ ợc yêu cầu phát triển của nền kinh tế sau này.”
Đến năm 1988, Hội đồng Bộ trởng cũng có Chỉ thị số 108/HĐBT ngày 30/06/1988 về việc mở rộng hợp tác lao động và chuyên gia với n ớc ngoài.
Trang 10Trải qua một thời gian dài những Quyết định, Nghị quyết và Chỉ thị trên đã
và vẫn đợc thực hiện một cách nghiêm túc và có kết quả, giải quyết đ ợc việc làm cho nhiều lợt ngời tham gia lao động xuất khẩu, thu về cho ngân sách Nhà nớc một số ngoại tệ đáng kể, góp phần làm tăng tr ởng nền kinh tế nớc ta
Sau khi Bộ luật Lao động đợc ban hành, Nghị định số 07/CP ngày 20/1/1995 qui định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về đa ngời
Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài, nh sau: “Đa ngời lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài là một hớng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho ngời lao động, góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho
đất nớc và tăng cờng mối quan hệ hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật giữa Việt Nam với nớc ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng pháp luật và phong tục tập quán của nhau.”
Trong chỉ thị số 41 - CT/TƯ ngay 22/9/1998 về xuất khẩu lao động và chuyên gia, Bộ Chính trị cũng đã chỉ đạo nh sau: “Cùng với việc giải quyết việc làm trong nớc là chính thì xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lợc quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nớc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là một
bộ phận của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nớc…”
Gần đây nhất là Nghị định số 152/1999/NĐ - CP ngày 20/09/1999 của
Chính phủ qui định đa ngời Việt Nam đi làm có thời hạn ở nớc ngoài thay Nghị định số 07/CP ngày 20/1/1995 cho phù hợp với tình hình đất n ớc trong thời kỳ đổi mới Nghị định này cùng với hệ thống các văn bản h ớng dẫn thực hiện đã tạo thành cơ chế mới thông thoáng với hành lang pháp lý mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia phát triển trong thời kỳ mới, thời kỳ chuyển giao từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI đầy tiềm năng và thách thức
Tại hội nghị toàn quốc về xuất khẩu lao động và chuyên gia do Thủ t ớng chính phủ chủ trì, tổ chức tại Hà Nội tháng 06/2000, quan điểm của nhà n ớc
ta đã đợc nêu rõ và khẳng định trong bài phát biểu của Thủ tớng Phan Văn Khải: “ xuất khẩu lao động và chuyên gia đối với chúng ta là một vấn đề có
ý nghĩa chiến lợc quan trọng, vì:
- Góp phần giải quyết việc làm…
- Tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nớc
Phải coi xuất khẩu lao động và chuyên gia là vấn đề quan trọng và lâu