Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường đã qua trong công tác sản xuất và xuất khẩu lúa gạo cho thấy gạo Việt Nam số lượng nhiều nhưng chất lượng thấp, giá thành cao nên xuất khẩu thiếu tính cạn
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - -
THUYẾT MINH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
ĐẦU TƯ CHUỖI GIÁ TRỊ GIA TĂNG SẢN PHẨM TỪ LÚA, GẠO
Chủ đầu tư: Công ty CP Hưng Lâm Địa điểm: Cụm công nghiệp Tân Thành-huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Tháng 02/2017
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - -
THUYẾT MINH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
ĐẦU TƯ CHUỖI GIÁ TRỊ GIA TĂNG
SẢN PHẨM TỪ LÚA, GẠO CHỦ ĐẦU TƯ
CÔNG TY CP HƯNG LÂM
ĐƠN VỊ TƯ VẤN CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ THẢO NGUYÊN XANH
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 5
I Giới thiệu về chủ đầu tư 5
II Mô tả sơ bộ thông tin dự án 5
III Sự cần thiết xây dựng dự án 5
IV Các căn cứ pháp lý 9
V Mục tiêu dự án 9
V.1 Mục tiêu chung 9
V.2 Mục tiêu cụ thể 10
Chương II 11
ĐỊA ĐIỂM VÀ QUY MÔ THỰC HIỆN DỰ ÁN 11
I Hiện trạng kinh tế - xã hội vùng thực hiện dự án 11
I.1 Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện dự án 11
I.2 Điều kiện kinh tế - xã hội vùng dự án 17
II Quy mô sản xuất của dự án 18
II.1 Đánh giá nhu cầu thị trường 18
II.2 Quy mô đầu tư của dự án 21
III Địa điểm và hình thức đầu tư xây dựng dự án 21
IV Nhu cầu sử dụng đất và phân tích các yếu tố đầu vào của dự án 22
Chương III 23
PHÂN TÍCH QUI MÔ, DIỆN TÍCH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ 23
I Phân tích qui mô, diện tích xây dựng công trình 23
II Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ 23
II.1 Công nghệ chế biến gạo đồ 23
II.2 Công nghệ chế biến gạo trắng 31
II.3 Công nghệ chiết xuất dầu từ cám gạo 33
II.4 Công nghệ sản xuất Silica từ vỏ trấu 37
Chương IV 38
CÁC PHƯƠNG ÁN THỰC HIỆN DỰ ÁN 38
I Phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng 38
II Các phương án xây dựng công trình 38
Trang 4III Phương án tổ chức thực hiện 39
IV Phân đoạn thực hiện và tiến độ thực hiện, hình thức quản lý dự án 40
Chương V 41
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG – GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ VÀ YÊU CẦU AN NINH QUỐC PHÒNG 41
I Đánh giá tác động môi trường 41
I.1 Giới thiệu chung 41
I.2 Các quy định và các hướng dẫn về môi trường 41
I.3 Các tiêu chuẩn về môi trường áp dụng cho dự án 42
I.4 Hiện trạng môi trường địa điểm xây dựng 42
II Tác động của dự án tới môi trường 42
II.1 Nguồn gây ra ô nhiễm 43
II.2 Mức độ ảnh hưởng tới môi trường 44
II.3 Giải pháp khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của dự án tới môi trường 45
II.4 Kết luận: 47
Chương VI 48
TỔNG VỐN ĐẦU TƯ – NGUỒN VỐN THỰC HIỆN VÀ HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN 48
I Tổng vốn đầu tư của dự án 48
II Nguồn vốn thực hiện dự án 50
III Phân tích hiệu quá kinh tế của dự án 52
1 Nguồn vốn dự kiến đầu tư của dự án 52
2 Xác định chi phí sử dụng vốn bình quân 53
3 Các thông số tài chính của dự án 53
3.1 Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn giản đơn 53
3.2 Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn có chiết khấu 54
3.3 Phân tích theo phương pháp hiện giá thuần (NPV) 54
3.4 Phân tích theo tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) 54
KẾT LUẬN 56
I Kết luận 56
II Đề xuất ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và kiến nghị 56
PHỤ LỤC: CÁC BẢNG TÍNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DỰ ÁN 58
Trang 5CHƯƠNG I MỞ ĐẦU
I Giới thiệu về chủ đầu tư
Chủ đầu tư: Công ty CP Hưng Lâm
Đại diện pháp luật:
Địa chỉ trụ sở:
II Mô tả sơ bộ thông tin dự án
Tên dự án: Đầu tư chuỗi giá trị gia tăng sản phẩm từ lúa, gạo
Địa điểm xây dựng: Cụm công nghiệp Tân Thành-huyện Thoại Sơn, tỉnh
An Giang
Hình thức quản lý: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý và thực hiện dự án
Tổng mức đầu tư: 3.242.605.115.000 VNĐ
III Sự cần thiết xây dựng dự án
Gạo là thực phẩm chủ yếu của Việt Nam, chiếm trung bình khoảng 78% nguồnnăng lượng đầu vào Bên cạnh hai mặt hàng thủy sản chính là cá và tôm thì gạo cũng mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Trong 10 năm qua, hàng
năm lượng xuất khẩu từ 4-6 triệu tấn với kim ngạch xuất khẩu từ 2-2,7 tỷ USD Tuy nhiên, có một sự suy giảm về diện tích trồng lúa (tốc độ tăng trung bình chỉ
đạt 0,45%, riêng ĐBSCL là 0,9%) nhưng năng suất thì không ngừng tăng lên (tốc độ tăng trung bình là 2,6%) Riêng năm 2015, sản lượng lúa ước tính đạt 45,2 triệu tấn, tăng 240,9 nghìn tấn so với năm 2014do diện tích gieo trồng ước tính đạt 7,8 triệu ha, tăng 18,7 nghìn ha Cũng năm 2015, diện tích gieo trồng tỉnh An Giang đạt 40,615 ha và sản xuất ra 4,042 triệu tấn lúa Kết thúc năm
2014, tín hiệu vui khi gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang 135 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm cả những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hongkong, Singapore Trong đó, thị trường Châu Á chiếm gần 77% Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường đã qua trong công tác sản xuất và xuất khẩu lúa gạo cho thấy gạo Việt Nam số lượng nhiều nhưng chất lượng thấp, giá thành cao nên xuất khẩu thiếu tính cạnh tranh, chưa hấp dẫn các nhà nhập khẩu cũng như thu hút đầu tư vào Việt Nam Nguyên nhân khiến giá gạo Việt Nam ngày càng giảm là do không có thương hiệu, chất lượng thấp với hơn 70% sản lượng gạo phẩm chất thấp Chính vì thế, rất khó “chen chân” vào phân khúc thị trường gạo cao cấp Trong khi đó, phân khúc gạo cấp trung, cấp thấp lại có
Trang 6nhiều quốc gia cùng cạnh tranh, dẫn đến Việt Nam phải giảm giá bán, lợi nhuận
vì thế cũng teo tóp Dòng sản phẩm gạo trắng đang bị thách thức trong trung và dài hạn
Bên cạnh đó, các sản phẩm sau lúa gạo có giá trị gia tăng cao chưa được quan tâm chú ý Nhiều người vẫn cho rằng điểm kết thúc của chuỗi giá trị ngành lúa gạo chỉ là gạo trắng dùng cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu; gạo tấm dùng làm thực phẩm; cám gạo dùng làm thức ăn cho gia cầm và làm nguyên liệu cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Trên thực tế, chuỗi giá trị của ngành lúa gạo thế giới ngày nay không còn bị giới hạn trong phạm vi từ hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu đến những hạt gạo trắng trên bàn ăn của các gia đình Các thành phần còn lại sau thu hoạch - vốn là phụ phẩm của ngành này cũng không còn bị đánh giá thấp nữa Chuỗi giá trị của ngành lúa gạo thế giới đã mở rộng, phát triển và liên kết sâu với các ngành công nghiệp khác để hình thành những ngành công nghiệp mới sau lúa gạo có giá trị gia tăng rất cao (xem hình III.1)
Hình III.1 : Bảng thống kê chuỗi giá trị mở rộng sau lúa gạo
Đặc biệt, với cám gạo, sau quá trình trích ly dầu sẽ cho ra những thành phẩm làm nguyên liệu chủ lực cho nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác như ngành thực phẩm tiêu dùng với dầu ăn cao cấp (dầu cám gạo), dầu salad, margarine ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản
Trang 7Sản phẩm sáp cám gạo (rice bran wax) phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất lớp bọc bánh kẹo, chất đánh bóng sàn, vật liệu cách điện, chất chống thấm Chế biến củi trấu, silica… thay vì lén đỗ trấu xuống sông như nhiều doanh nghiệp vẫn làm vào những lúc cao điểm chế biến gạo vì không có chỗ xử lý Ngoài ra còn có ngành dược, ngành mỹ phẩm ( Xem thêm hình III.2)
Vì vậy, việc đầu tư, nghiên cứu khai thác khai thác tối đa giá trị gia tăng các sản phẩm từ lúa, gạo là vấn đề cần thiết nâng cao nhằm định vị giá trị, hình ảnh, nâng cao sự nhận biết của nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối và người tiêu dùng trong, ngoài nước; nâng cao giá trị gia tăng, thị phần và sức cạnh tranh các sản phẩm gạo của Việt Nam là cần thiết trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh Do đó,chúng tôi nhận thấy cơ hội đầu tư vào dự án đầu tư xây dựng Chuỗi giá trị gia tăng sản phẩm từ lúa gạo Với các hệ thống sau:
Đầu tư hệ thống sản xuất gạo trắng ,
Đầu tư hệ thống sản xuất gạo đồ
Đầu tư nhà máy sản xuất chiết xuất dầu ăn từ cám gạo
Đầu tư nhà máy Sản xuất Silica từ Vỏ trấu
Công ty chúng tôi kính đề nghị các Cơ quan, ban ngành có liên quan chấp thuận chủ trương đầu tư Theo các nội dung cơ bản được thể hiện trong dự án
Trang 9IV Các căn cứ pháp lý
Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014 của Quốc hội;
Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 của Quốc hội; Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng;
Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;
Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự
án đầu tư xây dựng;
Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/9/2009 của Bộ Xây dựng về việc công bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ V/v Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính Phủ về chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
Quyết định số 801/QĐ-TTg, ngày 27/6/2012 của Thủ Tướng Chính phủ V/v Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến năm 2020
Quyết định 2193/QĐ-UBND, ngày 11 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025
V Mục tiêu dự án
V.1 Mục tiêu chung
+ Xây dựng thành công mô hình liên kết sản xuất – bao tiêu sản phẩm để chế biến khép kín trong nông nghiệp nhằm đảm bảo tính bền vững, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Góp phần thực hiện tốt hành động “Nâng cao giá trị gia tăng hàng nông lâm thủy sản trong chế biến và giảm tổn thất sau thu hoạch”;
+ Tạo việc làm và nâng cao mức sống cho lao động địa phương;
+ Góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương;
Trang 10+ Đóng góp cho thu ngân sách một khoản từ lợi nhuận sản xuất thông qua các khoản thuế;
+ Đồng thời dự án là mô hình điểm sản xuất nông nghiệp theo quy mô gắn với công nghiệp chế biến Hình thành chuỗi sản phẩm khép kín, gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu Với quan điểm lấy thị trường là xuất phát điểm thúc đẩy, doanh nghiệp tiên phong tham gia đầu tư sâu trong các phân khúc có giá trị gia tăng cao như chế biến các sản phẩm chất lượng cao góp phần nâng cao chuỗi giá trị hàng hóa nông sản
V.2 Mục tiêu cụ thể
Dự án “Dự án đầu tư chuỗi giá trị gia tăng sản phẩm từ lúa, gạo” nằm tại vựa lúa của Đồng Bằng sông Cửu Long tại Cụm công nghiệp Tân Thành - huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang với mục tiêu cụ thể như sau:
+ Đầu tư Hệ thống sản xuất gạo trắng 150.000 tấn lúa/năm
+ Đầu tư Hệ thống sản xuất gạo đồ 100.000 tấn/lúa năm
+ Đầu tư nhà máy sản xuất chiết xuất dầu ăn từ cám gạo, với công suất 15.000 tấn cám/năm
+ Đầu tư nhà máy Sản xuất Silica từ vỏ trấu 50.000 tấn/năm
Trang 11Chương II ĐỊA ĐIỂM VÀ QUY MÔ THỰC HIỆN DỰ ÁN
I Hiện trạng kinh tế - xã hội vùng thực hiện dự án
I.1 Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện dự án
Vị trí địa lý:
- Phía Đông giáp Kinh Ba Thê
- Phía Bắc giáp Cụm công nghiệp
- Phía Tây giáp Giáp Lộ
- Phía Nam giáp Kênh và Sườn núi
Địa hình:
Diện tích xây dựng dự án khoảng 150.000 m2 nằm tại tại Cụm Công nghiệp Tân Thành huyện Thoại Sơn, Tỉnh An Giang, một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông cửu Long- vốn là nơi trồng nhiều lúa nước của cả nước
Tổng lượng mưa hàng năm bình quân khoảng 1200mm/năm, giá trị cao nhất đạt 2.100 mm/năm và thấp nhất 900mm/năm Số ngày mưa bình quân là
132 ngày/năm Cả số ngày mưa và tổng số lượng mưa đều tập trung vào bảy
Trang 12tháng mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11 với tỷ trọng khoảng 88% Trong mùa mưa, sự phân bố lượng mưa trung bình tháng tương đối đều nên cường độ mưa không lớn lắm, trong khi sự phân bố mưa theo lãnh thổ thì không đáng kể Vào mùa mưa, nước sông Mêkông đổ về gây mùa nước nổi hàng năm ở vùng đồng bằng từ tháng 8 đến tháng 11 và gây rửa trôi xói mòn mạnh tại khu vực đồi núi Vào 5 tháng mùa khô, từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, xảy ra tình trạng thiếu nước sản xuất và sinh hoạt, nhất là vùng đồi núi
Lượng bốc hơi và độ ẩm không khí
Lượng bốc hơi hàng năm lớn, từ 1.200–1.300 mm Lượng bốc hơi cao xảy
ra trong 5 tháng mùa khô với ẩm độ không khí trung bình của các tháng này khoảng 76% Bốc hơi mạnh xảy ra trong thời gian này làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nước ở khu vực đồi núi Lượng bốc hơi trong 7 tháng mùa mưa xấp
xỉ lượng bốc hơi trong 5 tháng mùa khô Ẩm độ không khí của các tháng mùa mưa khoảng 80–85%
Nắng
- Tổng số giờ nắng 2.346 giờ,
- Tổng số giờ nắng thấp nhất 123,8 giờ / tháng 7
- Tổng số giờ nắng cao nhất 234,2 giờ / tháng 12
Số giờ nắng bình quân mỗi ngày ở các tháng mùa khô thường cao hơn khoảng 2 giờ so với các tháng mùa mưa
Gió
Chế độ gió khá đồng nhất Từ tháng 5–10 phổ biến gió mùa Tây Nam mang hơi nước về tạo mưa; từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau phổ biến gió mùa Đông Bắc có đặc điểm lạnh và khô Tốc độ gió trung bình trong năm khoảng 3 m/giây
Ở An Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, các hiện tượng lốc xoáy có xảy ra trong mùa mưa nhưng tần suất thấp nên mức độ ảnh hưởng không đáng kể
Thủy văn
Chế độ thuỷ văn ở An Giang phụ thuộc chủ yếu vào chế độ bán nhật triều
biển Đông và chịu ảnh hưởng của các yếu tố dòng chảy sông Cửu Long (sông
Tiền, sông Hậu), chế độ mưa, đặc điểm địa hình và hình thái kênh rạch
Sông Cửu Long chảy qua An Giang theo 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu Lưu lượng trung bình năm là 13.500 m3/s, vào mùa lũ 24.000 m3/s và mùa kiệt
Trang 13là 5.020 m3/s Hệ thống sông nhánh, kênh rạch tự nhiên và kênh thuỷ lợi trong
tỉnh có tổng chiều dài hơn 5.500 km (mật độ 1,6 km/km 2 ), đủ sức chuyển tải nguồn nước mặt phục vụ sản xuất, sinh hoạt và vận tải thuỷ
Hàng năm trùng vào mùa mưa, An Giang đón nhận con nước lũ và hình thành mùa nước nổi với khoảng 70% diện tích tự nhiên bị ngập từ 1 mét đến 2,5 mét, thời gian ngập từ 2,5 đến 5 tháng, thông thường từ 15/8 đến 20/12
Đánh giá về mùa nước nổi, quan điểm hiện nay của tỉnh không xem đó là thiên tai mà là một hiện tượng thuỷ văn bình thường theo chu kỳ mỗi năm, từ lâu đời đã gắn liền với cuộc sống và sản xuất của cư dân ĐBSCL Do vậy cần phải biết khai thác những mặt lợi, hạn chế mặt hại và cùng sống chung an toàn với mùa nước nổi
Về mặt lợi, mùa nước đã mang lại nguồn phù sa màu mỡ và vệ sinh đồng ruộng; cải thiện chất lượng đất, chất lượng nước, bổ sung nguồn nước ngầm; mang lại nguồn lợi thuỷ sản và tạo công ăn việc làm cho một bộ phận nông dân trong mùa nước nổi
Về mặt hại, mùa nước đã làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội; tốn kém chi phí đầu tư và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng; gây ảnh hưởng đến thời vụ gieo trồng, thu hoạch và sản lượng nông - thuỷ sản; cản ngại cho việc phát triển các
mô hình sản xuất nhằm công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; Ngoài ra mức nước ngập sâu còn gây thiệt hại tính mạng và tài sản của nhân dân
Với tính hai mặt của mùa lũ - mùa nước nổi, 5 năm qua An Giang đã bố trí nhiều quỹ đất để đầu tư nhiều công trình như đê bao bảo vệ sản xuất nông nghiệp, cụm - tuyến dân cư cho dân vùng bị ngập và hàng loạt công trình phúc lợi có cao trình an toàn
Chế độ thuỷ văn ở An Giang phụ thuộc chủ yếu vào chế độ bán nhật triều
biển Đông và chịu ảnh hưởng của các yếu tố dòng chảy sông Cửu Long (sông
Tiền, sông Hậu), chế độ mưa, đặc điểm địa hình và hình thái kênh rạch
Sông Cửu Long chảy qua An Giang theo 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu Lưu lượng trung bình năm là 13.500 m3/s, vào mùa lũ 24.000 m3/s và mùa kiệt
là 5.020 m3/s Hệ thống sông nhánh, kênh rạch tự nhiên và kênh thuỷ lợi trong
tỉnh có tổng chiều dài hơn 5.500 km (mật độ 1,6 km/km 2 ), đủ sức chuyển tải nguồn nước mặt phục vụ sản xuất, sinh hoạt và vận tải thuỷ
Trang 14Hàng năm trùng vào mùa mưa, An Giang đón nhận con nước lũ và hình thành mùa nước nổi với khoảng 70% diện tích tự nhiên bị ngập từ 1 mét đến 2,5 mét, thời gian ngập từ 2,5 đến 5 tháng, thông thường từ 15/8 đến 20/12
Đánh giá về mùa nước nổi, quan điểm hiện nay của tỉnh không xem đó là thiên tai mà là một hiện tượng thuỷ văn bình thường theo chu kỳ mỗi năm, từ lâu đời đã gắn liền với cuộc sống và sản xuất của cư dân ĐBSCL Do vậy cần phải biết khai thác những mặt lợi, hạn chế mặt hại và cùng sống chung an toàn với mùa nước nổi
Về mặt lợi, mùa nước đã mang lại nguồn phù sa màu mỡ và vệ sinh đồng ruộng; cải thiện chất lượng đất, chất lượng nước, bổ sung nguồn nước ngầm; mang lại nguồn lợi thuỷ sản và tạo công ăn việc làm cho một bộ phận nông dân trong mùa nước nổi
Về mặt hại, mùa nước đã làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội; tốn kém chi phí đầu tư và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng; gây ảnh hưởng đến thời vụ gieo trồng, thu hoạch và sản lượng nông - thuỷ sản; cản ngại cho việc phát triển các
mô hình sản xuất nhằm công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; Ngoài ra mức nước ngập sâu còn gây thiệt hại tính mạng và tài sản của nhân dân
Với tính hai mặt của mùa lũ - mùa nước nổi, 5 năm qua An Giang đã bố trí nhiều quỹ đất để đầu tư nhiều công trình như đê bao bảo vệ sản xuất nông nghiệp, cụm - tuyến dân cư cho dân vùng bị ngập và hàng loạt công trình phúc lợi có cao trình an toàn
Các nguồn tài nguyên:
Tài nguyên đất
An Giang có 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa trên 151.600 ha, chiếm 44,5%; nhóm đất phù sa có phèn trên 93.800 ha, chiếm 27,5%; nhóm đất phát triển tại chỗ và đất phù sa cổ gần 24.724 ha, chiếm 7,3% diện tích đất tự nhiên, còn lại là đất phèn và các nhóm khác Đất đai của An Giang phần lớn rất màu mỡ vì 72% diện tích là đất phù sa hoặc có nguồn gốc phù sa, địa hình bằng phẳng, độ thích nghi đối với các loại cây trồng khá rộng
Tài nguyên rừng:
Trang 15Quỹ đất lâm nghiệp có trên 20.000 ha, đã khoanh ranh giới đất rừng 18.000
ha (trong đó đã có rừng 14.700 ha) và còn lại là quỹ đất đồi núi có khả năng
phát triển rừng
Rừng ở An Giang chủ yếu là rừng trồng, trong đó chỉ có trên 4,2% là rừng
tự nhiên (khoảng 580 ha) Rừng trồng chủ yếu là các loại cây mọc nhanh bạch
đàn, keo lá tràm, tai tượng kết hợp với cây gỗ quý như sao, dầu, giáng hương, cây dó bầu (để tạo trầm hương) và các loại cây ăn quả lâu năm Rừng tự nhiên hiện còn giữ được các cây gỗ quý như giáng hương, thao lao, dầu, căm xe Rừng đất ngập nước chủ yếu là cây tràm
Hiện nay tỉnh đã khoanh ranh giới cho 25 khu rừng để phấn đấu nâng độ
che phủ đạt 5% (hiện độ che phủ đạt 4,1%) Tốc độ che phủ rừng tăng nhanh đã giúp phục hồi hệ động vật rừng đa dạng (gồm các loài thú, các loài bò sát, thủy
sản và các loài chim)
Tài nguyên rừng An Giang có diện tích không lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng về mặt sinh thái và an ninh quốc phòng Hơn nữa việc khai thác hợp lý rừng sẽ đem lại hiệu quả kinh tế khá lớn cho nhân dân vùng đồi núi và vùng dân tộc Vì vậy trong những năm tới cần phủ xanh hết đất quy hoạch trồng rừng kết hợp với chăm sóc, bảo vệ rừng
Tài nguyên khoáng sản
An Giang tuy là tỉnh ở ĐBSCL nhưng lại có nguồn tài nguyên khoáng sản khá đa dạng với các loại đá xây dựng, đá ốp lát, đá áplit, cát núi, cát sông, than bùn, kaolin, nước khoáng
Hoạt động khoáng sản ở An Giang trong thời gian qua đã có những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như đóng góp cho ngân sách, tạo việc làm cho lao động người dân tộc, cung cấp nguồn nguyên liệu xây dựng cho các công trình xây dựng trong tỉnh, ngoài ra đá xây dựng còn cung ứng cho khoảng 30% - 50% thị phần vùng ĐBSCL
Theo các tài liệu thăm dò được phê duyệt, trữ lượng một số loại khoáng sản
ở An Giang gồm: Đá xây dựng 2.100 triệu m3, đá ốp lát 139 triệu m3, kaolin 2,2 triệu m3, đá áplit 200 nghìn tấn, than bùn 16 triệu tấn, cát sông Hậu 67 triệu m3, sông Tiền 50 triệu m3 và sét gạch ngói 39 triệu m3 Ngoài ra An Giang còn có
mỏ nước khoáng chuẩn bị đưa vào khai thác công nghiệp
Tài nguyên nước
Nước mưa
Trang 16Mùa mưa ở An Giang tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 90% lượng mưa cả năm với tổng lượng mưa bình quân năm khoảng 1.200mm Nước mưa là nguồn nước quan trọng tại các vùng gặp khó khăn nguồn nước mặt, nước ngầm như các vùng nông thôn xa, hẻo lánh và vùng đồi núi Đầu mùa mưa cũng là thời điểm vào vụ canh tác của đất ruộng trên và nương rẫy thuộc vùng đồi núi là các vùng không có nguồn nước tưới
Nước mặt
Sông Tiền, sông Hậu và các kênh rạch là nguồn nước mặt chủ yếu cấp nước cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt Lưu lượng của các sông khá lớn nên truyền nước theo các kênh rạch đến tận các vùng xa, đủ sức cung cấp nước kể cả trong mùa kiệt Nguồn nước mặt hiện phục vụ tưới cho hầu hết diện tích gieo trồng; đồng thời với việc sử dụng nguồn nước mặt cho sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực sản xuất khác, nguồn nước mặt còn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho các đô thị và khu dân cư tập trung, có tác dụng tích cực cho cải tạo đất đai, khai hoang - phục hoá, tháo chua rửa phèn ở vùng tứ giác Long Xuyên Tuy nhiên, nhiều năm qua tại một số khu vực, sông rạch đã bị ô nhiễm
do hoạt động của các nhà máy công nghiệp; nuôi trồng thuỷ sản ao hầm, lồng
bè, đăng quầng; một số khu vực cuối nguồn nước các kênh rạch bị cạn kiệt vào mùa khô do tình trạng bồi lắng, cần có giải pháp trước mắt và lâu dài để xử lý nhằm đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt Mỗi năm An Giang có mùa nước nổi
do nước các sông, rạch tràn bờ và làm ngập 70% diện tích của tỉnh trong nhiều tháng, mùa nước nổi hiện nay đã được xem là một nguồn tài nguyên để khai thác mặt lợi và hạn chế tối đa mặt hại với phương châm sống chung và sản xuất an toàn trong mùa nước nổi
Nhìn chung, lưu lượng và trữ lượng nước mặt ở An Giang khá dồi dào, là tiền đề để tỉnh phát triển kinh tế nông nghiệp Nguồn nước mặt trong tỉnh ngọt quanh năm, tuy nhiên do đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng, có khoảng 1/4 diện tích phía Tây Nam của tỉnh nguồn nước mặt bị nhiễm phèn trong một vài tháng đầu mùa mưa
Nước ngầm
Theo đánh giá của các tài liệu địa chất - thuỷ văn, nước ngầm ở An Giang
có trữ lượng khá dồi dào nhưng việc quản lý khai thác trong các năm qua chưa được chặt chẽ do chưa xây dựng quy hoạch khai thác và bảo vệ tài nguyên nước ngầm Theo thống kê chưa đầy đủ, toàn tỉnh có trên 7.100 giếng khoan, phục vụ sinh hoạt 92,14%, phục vụ sản xuất 7,86% và qua khảo sát sơ bộ có khoảng 240
Trang 17giếng bị ô nhiễm (nhiều nhất là nhiễm Asen) hoặc có nguy cơ nhiễm bẩn các loại cần phải xử lý trám lấp để bảo vệ nguồn nước
I.2 Điều kiện kinh tế - xã hội vùng dự án
Dân số, lao động
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh là 2.151.000 người, mật độ dân số 608
người/km² Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh
Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng
số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; trong đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn Hầu hết đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia Nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào Khmer từ trồng trọt, chăn nuôi gia đình và làm thuê mướn theo thời vụ
Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung khá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú và Châu Thành Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi, có mối quan hệ với tín đồ Hồi giáo các nước Ả Rập, Malaysia, Indonesia, Campuchia Nguồn thu nhập chính bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống
Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh Đại bộ phận sống
ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian Một bộ phận lớn kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác
Tình hình nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân trên ha tăng dần theo từng năm, năm 2014 là 37,6 triệu đồng; năm 2015 ước đạt 39,4 triệu đồng Cơ cấu giá trị
Trang 18tăng thêm ngành nông nghiệp luôn chiếm chủ lực, đạt 91,09% giá trị trong khu vực I Lúa vẫn là cây lương thực chủ yếu, diện tích gieo trồng 644.258 ha, tăng 18.341 ha so năm 2014, sản lượng lúa năm 2015 ước đạt 4,07 triệu tấn, tăng 51 ngàn tấn so năm 2014
Hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày có diện tích biến động qua từng năm nhưng không lớn, chủ yếu là do yếu tố thị trường, tổng diện tích gieo trồng
2016 khoảng 54.000 ha Nhóm cây rau, dưa, đậu thực phẩm và các cây trồng mùa nước nổi (sen, ấu ) có hiệu quả kinh tế cao (gấp 2 - 3 lần trồng lúa) đang được khuyến khích phát triển thành vùng nguyên liệu tập trung gần các khu vực nhà máy chế biến xuất khẩu
Nhóm cây công nghiệp lâu năm gồm 4 cây chính là dừa, hồ tiêu, điều và thốt lốt chủ yếu trồng phân tán, có tăng diện tích nhưng không đáng kể, không
có triển vọng mở rộng diện tích Nhóm cây ăn quả cũng phân bố rải rác do ảnh hưởng mùa nước nổi, hiện nay ở khu vực vùng núi đã hình thành dạng vườn cây
ăn quả - rừng trên đất lâm nghiệp
II Quy mô sản xuất của dự án
II.1 Đánh giá nhu cầu thị trường
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo mậu dịch gạo toàn cầu sẽ tăng 2,5% mỗi năm từ 2013 tới 2022 Vào năm 2022, mậu dịch gạo thế giới sẽ đạt 47 triệu tấn, cao hơn 42% so với mức trung bình những năm 2015-2020
Châu Phi sẽ nhập khẩu nhiều gạo nhất vào đầu thập kỷ tới
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo mậu dịch gạo toàn cầu sẽ tăng 2,5% mỗi năm từ 2013 tới 2022 Vào năm 2022, mậu dịch gạo thế giới sẽ đạt 47 triệu tấn, cao hơn 42% so với mức trung bình những năm 2015 – 2020
Những cơ sở để đưa ra dự đoán này bao gồm: Nhu cầu tăng vững (chủ yếu bởi gia tăng dân số và tăng thu nhập ở những nước đang phát triển) và một số nước nhập khẩu chủ chốt không thể tăng mạnh sản lượng Từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước, phần của mậu dịch gạo thế giới trong tổng tiêu thụ gạo đã tăng
từ khoảng 4% trong nửa cuối thế kỷ XX lên gần 8% hiện nay, và dự báo xu hướng này vẫn còn tiếp diễn Thị trường nhập khẩu: Châu Phi sẽ chiếm phần lớn nhất
Tại châu Phi và Trung Đông, tăng trưởng mạnh về nhu cầu bởi dân số và
thu nhập tăng nhanh, trong khi mức tăng sản lượng bị hạn chế Ở Bắc Phi và Trung Đông, sản lượng tăng bị hạn chế bởi khí hậu Ở châu Phi cận Sahara, sản
Trang 19lượng tăng bị hạn chế bởi hạ tầng cơ sở yếu kém Trong khi đó, cả châu Phi và Trung Đông chiếm gần một nửa mức tăng mậu dịch gạo toàn cầu trong giai đoạn
từ nay tới 2025 Châu Phi là nơi nhập khẩu tăng nhanh nhất
Nhập khẩu gạo thế giới (ĐVT: Triệu tấn)- Nguồn USDA.
Indonesia và Philippines dự báo sẽ trở thành những nước nhập khẩu
gạo lớn nhất Gần đến mốc 2025, hai thị trường này sẽ nhập khẩu lần lượt 4 triệu
và 2 triệu tấn
Nhập khẩu vào Trung Quốc đã tăng gần 2 triệu tấn từ 2010 đến 2012 Tới
2025, dự báo nhập khẩu của Trung Quốc sẽ thấp hơn mức kỷ lục cao của năm
2012, song vẫn ở mức cao bởi giá gạo nhập khẩu rẻ hơn giá nội địa, nhất là từ Việt Nam
Các nước nhập khẩu khác—Iran, Iraq, Malaysia, và Saudi Arabia—mỗi
nước sẽ nhập khẩu trên 1,3 triệu tấn Bốn thị trường này khó có thể tăng sản lượng và dự báo sẽ chiếm tổng cộng trên 10% mức tăng nhập khẩu dự kiến cho toàn cầu
Nhập khẩu gạo vào các nước châu Á khác sẽ chiếm gần hết phần còn lại
trong mức tăng nhập khẩu gạo thế giới Dân số và thu nhập trung bình người tăng là lý do khiến nhập khẩu ở những thị trường này gia tăng
Tại EU, Canada và Mỹ, làn sóng nhập cư sẽ tiếp diễn, tiếp tục đẩy tiêu
thụ gạo trung bình người tăng nhẹ, và nhập khẩu vì thế tăng theo Tại Mexico, thu nhập tăng cũng sẽ khiến tiêu thụ gạo trung bình người tăng và nhập khẩu tăng nhẹ
Trang 20Nhập khẩu vào các nước Liên xô cũ dự báo sẽ giảm nhẹ do sản lượng
tăng mạnh, và dân số giảm, bù lại thì tiêu thụ trung bình người sẽ tăng chút ít
Các nhà xuất khẩu: Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ vẫn dẫn đầu
USDA dự báo châu Á tiếp tục cung cấp phần lớn gạo xuất khẩu trên toàn cầu trong giai đoạn từ nay tới 2025
Xuất khẩu gạo thế giới (ĐVT: Triệu tấn)- Nguồn: USDA.
Xuất khẩu gạo Thái Lan và Việt Nam, hai nước xuất khẩu hàng đầu thế giới, chiếm trên 46% tổng mậu dịch gạo thế giới và trên 58% tổng mức tăng xuất khẩu gạo toàn cầu trong thập kỷ tới
Tại Thái Lan, diện tích và năng suất lúa dự báo sẽ tăng Sản lượng tăng
cộng với việc rút từ kho tồn trữ sẽ khiến xuất khẩu tăng khoảng 4,2 triệu tấn lên khoảng 13 triệu tấn vào năm 2022
Việt Nam sẽ xuất khẩu ít hơn một chút, tăng từ khoảng 7 triệu tấn lên 8,7
triệu tấn vào năm 2022 Tiêu thụ gạo trung bình ở cả 2 nước này sẽ đều giảm nhẹ trong bối cảnh thu nhập tăng
Ấn Độ thường giữ vị trí nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 thế giới từ giữa thập
niên 90 của thế kỷ trước, song xuất khẩu của nước này dao động khá mạnh, bởi chính phủ có chính sách kiểm soát chặt mức dự trữ Tháng 9/2011 chính phủ đã nới lỏng lệnh cấm xuất khẩu gạo phi – basmati và sau đó xuất khẩu đã tăng từ dưới 3 triệu tấn lên hơn 10 triệu tấn, trở thành nước xuất khẩu lớn nhất thế giới năm 2012 Mặc dù trong 10 năm tới xuất khẩu của Ấn Độ dự báo sẽ khó lặp lại
kỷ lục đó, song sẽ vẫn ở mức cao trong vài năm tới bởi kho dự trữ còn rất nhiều
Trang 21Pakistan và Hoa Kỳ mỗi nước xuất khẩu khoảng 3-4 triệu tấn trong những
năm gần đây Pakistan đã tăng diện tích trồng lúa, và sản lượng gạo dự báo sẽ tăng lên 5 triệu tấn, đưa nước này lên vị trí xuất khẩu gạo lớn thứ 4 thế giới
Xuất khẩu của Hoa Kỳ tăng nhẹ nhờ diện tích trồng lúa tăng từ sau năm
2013, và tiêu thụ nội địa giảm Xuất khẩu của Hoa Kỳ dự báo vẫn chiếm khoảng 9% trong tổng xuất khẩu toàn cầu trong 10 năm tới
Xuất khẩu từ Trung Quốc, nước đã từng giữ vị trí xuất khẩu lớn thứ 6 thế
giới, đã giảm trong những năm gần đây, song dự báo sẽ tăng trở lại và đạt 1,1 triệu tấn vào năm 2022, gấp đôi với với mấy năm trước Sản lượng dự báo sẽ có chút ít thay đổi Năng suất tăng sẽ bù cho diện tích giảm, bởi Trung Quốc cho phép sử dụng gạo biến đổi gien Tiêu thụ gạo trung bình người giảm do xu hướng chuyển sang sử dụng những thực phẩm khác của giới trung lưu và thu nhập cao dự báo sẽ được bù lại với dân số tăng Tồn trữ gạo của Trung Quốc dự báo sẽ vẫn lớn trong giai đoạn dự báo
Xuất khẩu gạo Australia đã hồi phục từ mức rất thấp bởi hạn hán nhiều
trong thập kỷ qua Dự báo xuất khẩu sẽ ổn định ở 0,5 triệu tấn
Như vậy, qua phân tích xu hướng thị trường cho thấy, đầu ra của sản phẩm
là tương đối khả quan Đây là yếu tố thuận lợi cho việc triển khai dự án
II.2 Quy mô đầu tư của dự án
+ Silo trữ lúa (trữ lạnh): 60.000 – 75.000 tấn
+ Công suất sấy lúa: 2.000 tấn/ngày (sấy tháp)
+ Dây chuyền sản xuất gạo trắng 150.000 tấn lúa/năm
+ Dây chuyền sản xuất gạo đồ 100.000 tấn lúa/năm
+ Dây chuyền sản xuất chế biến dầu ăn từ cám gạo
+ Dây chuyển sản xuất SILICA từ vỏ trấu 50.000 tấn/năm
+ Sản phẩm,dịch vụ cung cấp : Lúa ,gạo ,cám ,tấm và cung cấp dịch vụ sấy lúa,phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
+ Vùng nguyên liệu đầu tư ,bao tiêu : 15.000 - 20.000 hecta trồng lúa
III Địa điểm và hình thức đầu tư xây dựng dự án
III.1 Địa điểm xây dựng
Cụm công nghiệp Tân Thành - huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Trang 22III.2 Hình thức đầu tư
Dự án đầu tư chuỗi giá trị gia tăng sản phầm từ lúa gạo đầu tư theo hình thức xây dựng mới
IV Nhu cầu sử dụng đất và phân tích các yếu tố đầu vào của dự án
IV.1 Nhu cầu sử dụng đất của dự án
BẢNG CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT
(m2)
Tỷ lệ (%)
1 Nhà xưởng sản xuất gạo (gạo trắng và gạo đồ) 20.000 13,33
2 Nhà xưởng sản xuất Silica 10.000 6,67
3 Xưởng chiết xuất dầu cám gạo 300 0,20
4 Kho chứa, hệ thống silo 30.000 20,00
10 Giao thông nội bộ 22.500 15,00
11 Cây xanh cảnh quan 43.200 28,80
IV.2 Phân tích đánh giá các yếu tố đầu vào đáp ứng nhu cầu của dự án
Về phần xây dựng dự án: nguồn lao động dồi dào và vật liệu xây dựng đều
có tại địa phương và trong nước nên nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào phục
vụ cho quá trình thực hiện dự án là tương đối thuận lợi và đáp ứng kịp thời
Về phần quản lý và các sản phẩm của dự án: nhân công quản lý và duy trì hoạt động của dự án tương đối dồi dào, các sản vật đều có sẵn tại địa phương
Trang 23Chương III PHÂN TÍCH QUI MÔ, DIỆN TÍCH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
I Phân tích qui mô, diện tích xây dựng công trình
Bảng tổng hợp các hạng mục công trình xây dựng của dự án
1 Nhà xưởng sản xuất gạo (gạo trắng và gạo đồ) m² 20.000
3 Xưởng chiết xuất dầu cám gạo m² 300
II Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ
II.1 Công nghệ chế biến gạo đồ
Giới thiệu về gạo đồ:
Gạo đồ là loại gạo thu được từ thóc được ngâm nước nóng hoặc sấy trong hơi nước rồi phơi khô sau đó mới được gia công chế biến qua các công đoạn chế biến khác như xay, xát, đánh bóng Trong quá trình đồ lúa có thể được xử lý dưới áp lực hoặc chân không hoàn toàn hoặc một phần
Trang 24Quá trình đồ gạo làm thay đổi cấu trúc và sự phân bố dinh dưỡng trong hạt gạo Gạo đồ thường được một số nước Nam Á tiêu thụ nhiều
Quá trình đồ gạo thủ công sẽ thuận tiện hơn cho việc xát bỏ lớp cám so với
đồ gạo trên dây chuyền cơ khí, do cám gạo chứa nhiều chất béo gây cản trở hoạt động của một số bộ phận máy Quá trình xay xát gạo đồ nói chung giống như xay xát gạo thông thường
Quá trình đồ gạo thúc đẩy các chất dinh dưỡng từ cám đi vào bên trong hạt, đặc biệt là vitamin B1, do vậy gạo trắng đồ chứa 80% dinh dưỡng so với gạo lứt Trong gạo đồ, tinh bột đã được gelatin hóa làm cho hạt gạo cứng hơn và bóng hơn gạo trắng Gạo đồ thường được bổ sung một lượng sữa nhỏ để hạt không bị cứng quá Nấu cơm gạo đồ cần thời gian lâu hơn, cơm cứng và ít dính hơn Thông thường phải đun từ 20 đến 35 phút mới chín được[1]
Ở Bắc Mỹ, gạo đồ thường được nấu sơ bộ hoặc nấu chín để bán
Tại một số quốc gia, xu hướng sử dụng gạo đồ thay cho gạo trắng đang tăng lên Ở Brasil, năm 2007, tiêu thụ gạo đồ chiếm tới 20% tổng tiêu thụ gạo của Brazil (so với 7-10% năm 1997) Mức tiêu thụ gạo đồ tăng, đặc biệt là ở các vùng dân cư có thu nhập cao
Đồ gạo là 1 phương pháp chế biến nhờ sự tác động nhân tạo của nước (hơi nước), nhiệt, nhằm cải thiện tính chất công nghệ của gạo Sản phẩm của quá trình chế biến đó là gạo đồ Hay nói cách khác gạo đồ là sản phẩm của quá trình: ngâm – ủ ẩm – hấp –sấy – ủ nóng – làm nguội hạt gạo
Quy trình công nghệ sản xuất gạo đồ:
Quá trình ngâm:
Mục đích chính của quá trình ngâm thóc nhằm mang một lượng ẩm từ môi trường vào trong nội nhũ hạt Trong quá trình truyền khối này, nước sẽ hoà tan một phần các vitamin và khoáng từ lớp vỏ và aleurone di chuyển vào trong nội nhũ
Nhờ quá trình ngâm mà thóc hấp thu nước nhanh và đồng đều Nhiệt độ nước càng thấp, thời gian ngâm càng lâu Tuy nhiên nhiệt độ ngâm không nên vượt quá nhiệt độ hồ hóa của hạt (hồ hóa là quá trình mà các hạt tinh bột chuyển sang dạng sệt, các sợi tinh bột lắp đầy và gắn các lỗ trống lại với nhau trong hạt) Thời gian ngâm có thể được rút ngắn bằng cách ngâm nó trong nước nóng
Trang 25Thóc được ngâm trong nước ở nhiệt độ (20 – 300C) trong thời gian 36 – 48 giờ để đạt được ẩm 30%, trong nước nóng (40 – 600C) thì từ 5 – 8 giờ Nếu ngâm trong thời gian dài, các chất hòa tan trong thóc sẽ hòa tan vào nước, hạt bắt đầu nảy mầm, tinh bột xuất hiện sự lên men Nhiệt độ nước và thời gian ngâm ảnh hưởng lên độ hòa tan các chất trong gạo như là màu, mùi và vị Hàm lượng khoáng, sunfit và pH của nước ngâm cũng ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình ngâm
Suốt quá trình ngâm bằng nước nóng (60 – 650C), hạt hấp thụ nước nhanh
và đạt độ ẩm 30 – 35% trong 5 đến 8 giờ phụ thuộc vào các quá trình khác nhau Quá trình hô hấp và sự lên men bị hạn chế
Sau khi ngâm, hạt được làm ráo nước và hàm ẩm đạt khoảng 30% cho quá trình ngâm lạnh hoặc ngâm nóng Lượng nước yêu cầu ngâm thóc gấp khoảng 1,3 lần lượng thóc Như vậy, ngâm 1 tấn thóc cần 1.300 kg nước
Quá trình hấp:
Trang 26+ Kìm hãm và tiêu diệt phần lớn các hoạt động sinh học ở dạng hoạt động hay dạng nghỉ, như sự phát triển của nấm, bào tử nấm, côn trùng, trứng và
ấu trùng của chúng
Quá trình hấp bằng cách dùng hơi nước để hồ hóa tinh bột cung cấp một lượng nước vào hạt, do sự chênh lệch áp suất hơi sẽ làm nước hấp thụ vào bên trong hạt Trong quá trình hấp, hàm ẩm của hạt thóc sẽ tăng lên khoảng 31% Quá trình hấp thường kéo dài từ 9 – 12 phút, ở 1 – 2 at
Quá trình ủ nóng:
Quá trình ủ nóng tạo điều kiện để nước và nhiệt đi sâu vào bên trong nội nhũ, giúp củng cố và tăng thêm các biến đổi trong quá trình hấp Quá trình ủ nóng thường kéo dài khoảng 3 – 4 h
Một phần tinh bột chuyển hóa sâu sắc tạo thành dextrin làm tăng độ tiêu hóa, độ dính và vị ngọt của cơm Do nhiệt độ cao tinh bột bị hồ hóa có tác dụng hàn gắn các vết nứt, do đó tỷ lệ rạn nứt giảm
Vi sinh vật và côn trùng bị tiêu diệt hoàn toàn và các hoạt động sinh lý của bản thân hạt bị đình chỉ Trong hạt cũng xảy ra những phản ứng hoá học (phản ứng Maillard) làm sẫm màu gạo
Quá trình sấy:
Quá trình sấy nhằm đưa thóc có độ ẩm 25 − 28% hoặc cao hơn nữa trở về
độ ẩm 14% thích hợp cho quá trình xay và chế biến tiếp theo (độ ẩm không quá 15,5%) Đồng thời quá trình sấy không được làm rạn nứt hạt
Sấy quá nhanh sẽ sinh ra ứng lực bên trong dẫn đến làm gãy hạt gạo trong khi xay Sau khi sấy, hạt nên được để khoảng vài giờ, tốt nhất là 1 đến 2 ngày để
sự khác biệt hàm ẩm bên trong và áp suất bên ngoài được cân bằng Nhiệt độ không khí sấy thường vào khoảng 600C
Trong giai đoạn đầu quá trình sấy, nước đi ra nhanh, độ ẩm giảm từ 36% xuống 18% và sau đó giảm chậm từ 18% xuống 14% Giữa hai giai đoạn này
Trang 27nên có khoảng thời gian nghỉ ở giữa cho hạt, khoảng vài giờ trước khi tiếp tục sấy xuống 14%
Làm nguội sau sấy:
Quá trình làm nguội sau sấy nhằm mục đích đưa nhiệt độ khối hạt về nhiệt
độ môi trường, thuận lợi cho các quá trình chế biến sau này Thường dùng không khí có nhiệt độ khoảng 40 – 200C trong thời gian 15 – 20 phút đưa nhiệt
độ khối hạt về nhiệt độ bảo quản Cũng có thể làm nguội tự nhiên bằng cách sử dụng không khí thường Gạo đồ sẽ được dàn trải trên mặt sàn, tận dụng không khí bên ngoài để làm nguội Quá trình làm nguội sau sấy thường kéo dài từ 3 – 4h
So sánh gạo đồ và gạo thường:
Tính chất vật lý:
Hạt gạo sau khi đồ có hình dạng ngắn và mập hơn so với gạo thường Hình dạng này ít bị thay đổi khi hạt được đem đi nấu cơm, do đó hạt cơm gạo đồ cũng
có hình dạng ngắn và mập hơn so với cơm nấu từ gạo thường
Sau khi qua quá trình gia công nước nhiệt các phần khác nhau của hạt cũng
bị biến đổi không giống nhau Sự thay đổi màu sắc gạo được gây ra bởi nhiều biến đổi hóa học, vật lý, hóa sinh dưới tác dụng của nhiệt
- Sự thay đổi về cấu trúc của tinh bột dẫn đến sự khúc xạ ánh sáng khác nhau do đó làm thay đổi màu sắc hạt
- Chất béo trong hạt bị thủy phân và phân tán có thể bị oxy hoá hay polime hóa làm thay đổi màu sắc hạt
- Quy trình có các giai đoạn gia nhiệt (hấp, sấy) nên có sự ảnh hưởng của enzyme hoạt động tạo thành đường đơn giản, đặc biệt là glucose tham gia vào phản ứng Maillard tạo nên màu nâu cho gạo
Tính chất hóa học:
Trang 28+ Cấu trúc tinh bột:
(a) Các hạt tinh bột nhỏ và có góc cạnh
(b) Các góc cạnh của hạt tinh bột được nhìn thấy rõ hơn ở hình này
Quá trình đồ gạo có thể làm thay đổi cấu trúc hạt tinh bột, làm tăng nhiệt
độ hồ hóa của gạo đồ Nhiệt độ hồ hóa của tinh bột gạo thường khoảng 600C −
850C trong khi nhiệt độ hồ hóa của gạo đồ lên đến từ 800C – 950C Như vậy sự hình thành những phức hệ tinh bột qua quá trình đồ gạo làm tăng nhiệt độ hồ hóa Đồng thời cấu trúc mới này có khả năng cản trở sự xâm nhập của nước và
do đó đòi hỏi năng lượng nhiều hơn để nước được hấp thụ vào bột
Khi đem các mẫu gạo thường và gạo đồ đi nấu cơm (nhiệt độ nấu khoảng
1000C) thu được các giá trị sau:
Bảng Sự khác nhau về lượng nước được hấp thụ
và độ trương nở của gạo thường và gạo đồ
Gạo đồ hấp thụ lượng nước ít hơn khi nấu và khả năng trương nở cũng kém hơn gạo thường Để cơm đạt được độ mềm nhất định thì gạo đồ đòi hỏi thời gian nấu lâu hơn Mẫu gạo thường được nấu trong 9.102 – 12.102s thì cơm sẽ chín và đạt được độ mềm có thể ăn được trong khi để đạt được độ mềm tương ứng gạo
đồ cần được nấu trong 18.102s
Gạo thường nếu sau khi nấu 12.102 giây mà vẫn tiếp tục nấu thì nó sẽ tiếp tục hút nước, trở nên mềm hơn, cấu trúc bị phá vỡ và trở nên dạng paste Mặt khác, đối với gạo đồ nếu được nấu với cùng thời gian đó sẽ không bị thay đổi hình dạng Quá trình đồ gạo làm gạo bị hồ hóa, hạt gạo cứng hơn Do đó, sẽ mất thời gian lâu hơn để hạt gạo mềm, nhưng không có tình trạng làm phá vỡ cấu trúc
Trang 29+ Chất lượng gạo đem nấu:
Một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng gạo đem nấu đó là độ hòa tan Nó cho ta biết lượng tinh bột trong gạo, qua quá trình nấu mất mát ra ngoài bằng cách hòa tan là bao nhiêu So sánh độ hòa tan giữa gạo thường và gạo đồ
ta thấy rằng:
Mẫu gạo thường hòa tan nhanh ngay ở đầu quá trình nấu, đạt đến giá trị lớn nhất là 50% chỉ sau 30 phút nấu Gạo đã được đồ thì tốc độ tan chậm hơn, sau 1h nấu mới đạt giá trị độ tan lớn nhất, chỉ khoảng 22% Điều này cho thấy, ở gạo
đồ, tinh bột đã được làm bền vững hơn chống lại sự hòa tan của nước nóng Quá trình đồ gạo tạo ra sự sắp xếp bền vững hơn của tinh bột trong hạt và điều này ảnh hưởng đến sự hòa tan của hạt
+ Protein:
Khả năng hòa tan của protein phụ thuộc chế độ gia công nước nhiệt Mức
độ gia công nước nhiệt càng cao khả năng hòa tan càng giảm
Trong quá trình gia công nước nhiệt, dưới tác dụng của nước và nhiệt độ màng bao các thể protein này bị vỡ, các protein được giải phóng và tạo thành dạng vô định hình bao bọc xung quanh các hạt tinh bột, do đó gạo đồ khó lau bóng hơn gạo thường Như vậy, ta cần điều chỉnh để protein không bị thoát ra trong quá trình này
+ Lipid:
Chất béo trong gạo thường có sự bền vững, ổn định Ngược lại, chất béo của gạo đồ rất dễ bị oxy hóa Đó là do trong quá trình gia công nước nhiệt các hạt cầu béo chủ yếu tập trung ở lớp aleurone bị phá vỡ, chất béo di chuyển ra ngoài (thể hiện ở hàm lượng chất béo trong cám gạo đồ cao hơn gạo thường) Tuy nhiên điều này cũng không ảnh hưởng lớn đến sự tiêu thụ gạo đồ vì có thể hạn chế sự oxy hóa bằng cách bao gói gạo đồ trong những túi ngăn không cho ánh sáng xuyên qua và thoáng khí để loại bỏ những mùi khó chịu Trong những quy trình sản xuất hiện đại, người ta có thể bổ sung những chất chống oxy hóa thích hợp vào gạo
Ưu nhược điểm của sản phẩm gạo đồ so với các sản phẩm truyền thống
cùng loại
* Ưu điểm:
- Tăng giá trị dinh dưỡng của gạo:
Trang 30Các kết quả nghiên cứu cho thấy so với gạo thường hàm lượng vitamin và khoáng chất có trong gạo đồ cao hơn gạo thường Các kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng protein, chất béo, tinh bột của gạo đồ dễ tiêu hoá hơn gạo thường
Bảng So sánh thành phần khoáng, vitamin giữa gạo thường và gạo đồ
Sáu loại khoáng trên chiếm 60% và 73,7% tổng khối lượng tro trong gạo thường và gạo đồ Trong đó, P và K chiếm tỉ lệ nhiều nhất
- Cải thiện tính chất công nghệ của hạt:
+ Tăng hiệu quả quá trình xay, cụ thể là lượng gạo nguyên hạt tăng + Tăng thời gian bảo quản: hạt qua quá trình gia công nước nhiệt bảo quản lâu hơn so với hạt thường Khả năng chống lại sự xâm nhập bởi côn trùng của gạo đồ cao hơn gạo thường do nội nhũ gạo đồ cứng chắc hơn
Trang 31+ Cải thiện tính chất nấu của hạt: Cụ thể khi nấu hạt gạo vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu, cơm nở và tơi hơn cơm gạo thường
* Nhược điểm:
Làm giảm giá trị cảm quan của gạo (vì có màu vàng hoặc sẫm), hoạt động sống của gạo bị đình chỉ
Cơm nấu từ gạo đồ kém dính, dây chuyền sản xuất phức tạp, thiết bị nhiều
vì vậy giá thành sản phẩm cao hơn
II.2 Công nghệ chế biến gạo trắng
Quy trình công nghệ chế biến gạo trắng
- Lúa tươi về đến nhà máy được sấy đến độ ẩm thích hợp thì đóng gói, nhập kho để lưu kho, bảo quản
- Lúa khô đưa vào Silo nhập liệu, được băng tải đưa qua sàng tạp chất để loại bỏ tạp chất có trong nguyên liệu Sau đó, nguyên liệu được đưa đến máy bóc vỏ để tách vỏ trấu khỏi hạt thóc Trấu được tách bằng máy phân
ly trấu Gạo lứt sau tách trấu qua thiết bị gằng tách thóc để loại thóc lẫn, thóc lẫn được đưa về máy bóc vỏ, phần gạo lứt đưa vào Silo chứa gạo lứt
- Gạo lứt từ Silo được băng tải đưa qua sàng tạp chất trước khi vào máy xát trắng 1 và 2 Sau khi qua công đoạn xát trắng 1 và 2 thu được gạo trắng sau xát và cám xát
- Gạo trắng sau xát tiếp tục qua công đoạn lau bóng 1 và 2 Ở công đoạn này ta thu được gạo trắng sau lau bóng và cám lau Gạo sau khi lau bóng được đưa qua gằng tách thóc nhằm loại bỏ phần thóc lẫn trong gạo trước khi qua sàng tách tấm để loại bỏ phần tấm nhỏ (tấm 2) Sau khi tách tấm nhỏ gạo tiếp tục qua trống tách tấm để tách tấm lớn (tấm 1) trước khi vào Silo chứa gạo
- Gạo từ Silo được tách màu nhằm loại bỏ các hạt khác màu sau đó đem cân đóng gói
Trang 32Lúa tươi Sấy Lưu kho – Bảo quản Silo nhập liệu Sàng tạp chất Bóc vỏ Phân ly trấu Gằng tách thóc
Sàng tạp chất Xát trắng lần 1 Xát trắng lần 2 Lau bóng lần 1 Lau bóng lần 2 Gằng tách thóc Sàng tách tấm Trống tách tấm Silo chứa Gạo Silo gạo lứt
Tách màu
Cám xát
Cám lau Tạp chất
Trấu Thóc
Tạp chất
Thóc Tấm 2 Tấm 1
Trang 33II.3 Công nghệ chiết xuất dầu từ cám gạo
a) Thành phần của dầu cám gạo
Dầu cám gạo (hay còn gọi là dầu gạo) được chiết xuất từ vỏ cám gạo Dầu gạo có độ bay hơi cao 2540C (4900F), thích hợp cho việc chiên, nướng ở nhiệt
độ cao mà không sợ phân hủy ra những chất độc hại gây ung thư
Dầu gạo chứa 47% chất béo chưa no đơn, 33% chất béo chưa no đa và 20% chất béo no Thành phần acid béo của dầu gạo:
b) Ứng dụng của dầu cám gạo
Dầu cám gạo dùng trong thực phẩm như một loại dầu ăn cao cấp, thích hợp cho việc chiên, nướng ở nhiệt độ cao mà không sợ phân hủy ra những chất độc hại gây ung thư Trong mỹ phẩm có tác dụng làm chậm sự lão hoá của da, chống sạm da, ngăn ngừa hình thành nếp nhăn ở da Dầu cám gạo có nhiều đặc tính giúp tăng cường sức khoẻ: tăng cường chống viêm, giúp giảm cholesterol Ứng dụng phổ biến trong ngành mỹ phẩm, cụ thể như sau:
1 Dưỡng da trắng, mịn màng, chống lão hóa da
Dầu cám Gạo có chất chống oxy hóa tự nhiên, nhiều vitamine E đây là những yếu tố giúp cho làn da bạn có được sự tươi trẻ, mịn màng đây là công dụng tuyệt vời nhất của dầu cám gạo
Phụ nữ Nhật Bản thường sử dụng dầu cám gạo để dưỡng da mặt và chống nắng giúp da mượt mà Dầu cám gạo vốn rất giàu vitamint E do đó giúp làm chậm quá trình lão hóa da và ngăn ngừa hình thành vết nhăn ở người có tuổi
Trang 34Dầu cám gạo giúp chống sự dạn ra nên còn thường được dùng ở vùng da đùi và
da bụng cho phụ nữ mang thai
2 Dùng để rửa mặt hoặc tẩy trang
Nhỏ vài giọt vào bông tẩy trang và lau vào vùng da cần tẩy trang Hoặc nhỏ 2-5 giọt dầu cám gạo xoa lên mặt và mát xa nhẹ nhàng khoảng 1 phút, sau đó lấy bông lau sạch rồi rửa lại mặt bằng nước ấm
3 Làm mặt nạ
Làm mặt nạ cũng là công dụng của dầu cám gạo Trộn vài giọt dầu cám gạo với mật ong hoặc các loại bột đậu thành hỗn hợp đắp mặt giúp trắng da, tạo độ săn chắc mịn màng
4 Tẩy tế bào chết toàn thân
Bạn trộn cám gạo với nước, sau đó lắng lấy phần nước phía trên, rồi đổ vào bồn và tắm bình thường Bạn cũng có thể lắng lấy phần đọng lại và massage lên toàn thân và tắm lại với nước lã Nên thực hiện thường xuyên để mang lại hiệu quả cao
c) Công nghệ chiết suất cám gạo
Cám gạo là nguồn nguyên liệu dồi dào của Việt Nam nói chung và đặc biệt
là vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long Hàm lượng dầu trong cám gạo là 20% Dầu ăn chiết xuất từ cám gạo được Tổ chức Y tế thế giới WHO tiến cử là
Trang 3516-một trong ba loại dầu tốt nhất cho sức khỏe Giá thành
của loại dầu này cũng đắt hơn so với những loại dầu ăn bình thường khác
Quy trình công nghệ chiết suất dầu cám gạo
Một số thiết bị chiết suất dầu cám gạo
Máy làm nở cám gạo trước khi xử lý
Nguyên liệu
(cám gạo tươi, dung
môi n-hexan)
Xử lý nguyên liệu
Làm ẩm bằng dung môi chiết xuất
Chiết bằng phương pháp chiết hồi lưu (hoặc bằng siêu âm)
Thu hồi dung môi
Khử màu và
khử mùi
Tinh chế Sản phẩm
Trang 36Bộ phận thiết bị chiết suất cám gạo
Trang 37Bộ phận thiết bị tinh luyện cám gạo II.4 Công nghệ sản xuất Silica từ vỏ trấu
Quy trình chế tạo silica aerogel được thực hiện theo các bước: Vỏ trấu sau khi được rửa sạch và sấy khô để loại bỏ tạp chất, sẽ được tiến hành xử lý làm giảm thành phần kim loại sau đó nung hai cấp ở 5000C và 7000C Quy trình xử
lý tạo ra silica vô định hình, đạt mức độ tinh khiết cao, thành phần silica trong tro trấu trên 90% Ngoài ra, thành phần oxit kim loại khác với hàm lượng không đáng kể
Sau đó điều chế dung dịch silicat natri Từ silica thu được ở bước 1, hòa tan với dung dịch sút để điều chế dung dịch silicat natri 6 và 8% Si02 Tiếp đến tạo Silica sol, chất này được tạo thành từ dung dịch silicat natri và axit citric có
pH 3,5
Sau đó tạo gel Silica sol dần dần thành gel nước và được ủ ở nhiệt độ 600C trong 24 giờ giúp ổn định cấu trúc gel Gel nước sau khi ủ, được rửa bằng nước nhiều lần loại bỏ muối citrate có trong gel trước khi biến tính bằng hỗn hợp tetramethyl chloro silane (TMCS) Cuối cùng là sấy khô tự nhiên và xử lý nhiệt Gel sau khi biến tính được để bay hơi tự nhiên ở nhiệt độ thường, sau đó xử lý nhiệt ở 2000C để tạo ra silica aerogel khí
Trang 38Chương IV CÁC PHƯƠNG ÁN THỰC HIỆN DỰ ÁN
I Phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng
Dự án thực hiện đầy đủ các thủ tục về giao cấp đất theo quy định để tiến hành xây dựng dự án
Đất do Ủy ban nhân dân huyện Thoại Sơn quy hoạch Cụm công nghiệp đã bồi hoàn cho người dân (đất sạch) chỉ còn các hộ dân dọc bờ kênh cần bồi thường và tái định cư ra khỏi khu vực dự án
II Các phương án xây dựng công trình
Danh mục công trình xây dựng của dự án
1 Nhà xưởng sản xuất gạo (gạo trắng và gạo đồ) m² 20.000
Trang 395 Dây chuyền chiết suất dầu cám gạo 1.500 tấn/năm Đồng bộ 1
III Phương án tổ chức thực hiện
Chủ đầu tư trực tiếp quản lý triển khai thực hiện và thành lập bộ phận điều hành hoạt động của dự án theo mô hình sau:
Dự án chủ yếu sử dụng lao động của địa phương Đối với lao động chuyên môn nghiệp vụ, dự án sẽ tuyển dụng và lên kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
vụ cho con em trong vùng để từ đó về phục vụ dự án trong quá trình hoạt động sau này
Nhu cầu về lao động:
+ Lao động trực tiếp trong nước: 150-200 lao động địa phương được trả công theo đầu tấn hoặc sản phẩm
Trang 40+ Lao động gián tiếp trong nước: 50 người (đội ngũ kỹ sư, đại học tài
chính, chuyên gia nước ngoài trả lương theo tháng có bảo hiểm y tế và
bảo hiểm xã hội)
IV Phân đoạn thực hiện và tiến độ thực hiện, hình thức quản lý dự án
Tháng 02/2017 xin chủ trương đầu tư Ủy Ban nhân dân tỉnh An Giang
Tháng 03/2017 hoàn thành dự án đầu tư trình Sở kế hoạch, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận đầu tư;
Tháng 04 – 05/2017 hoàn thành các thủ tục thuê đất, giao đất, các thủ tục
về tài nguyên và môi trường, phòng cháy chữa cháy;
Hoàn thiện các hồ sơ và xin phép xây dựng tháng 06/2017
Thời gian xây dựng dự kiến: tháng 07 – 08/2017
Thời gian thi công hoàn thành: 18 tháng, từ tháng 08/2017 đến tháng 02/2019 hoàn thành đưa vào sử dụng
Thời gian vận hành sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ: từ tháng 05/2019
Chủ đầu tư trực tiếp quản lý và khai thác dự án