Ngoại thơng Việt Nam trớc khi đổi mới Nói một cách công bằng thì trớc thời kỳ đổi mới, trong t duy kinh tế - chínhtrị chúng ta đã phần nào nhận thức đợc tầm quan trọng của việc phát triể
Trang 1Tác động của ngoại thơng đến phát triển kinh tế ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay
I Khái quát về ngoại thơng Việt Nam trớc và sau đổi mới
1 Ngoại thơng Việt Nam trớc khi đổi mới
Nói một cách công bằng thì trớc thời kỳ đổi mới, trong t duy kinh tế - chínhtrị chúng ta đã phần nào nhận thức đợc tầm quan trọng của việc phát triển kinh
tế đối ngoại, trong đó có ngoại thơng, một cách đúng đắn, năng động, phù hợpvới thực tiễn đất nớc và bối cảnh quốc tế thì sẽ tác động làm cho nền kinh tếtăng trởng và phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủquan và khách quan, chúng ta đã có những hạn chế, sai lầm trong quá trình thựcthi đờng lối xây dựng, phát triển kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại, ngoạithơng nói riêng Sự nóng vội, đốt cháy giai đoạn để đi nhanh lên CNXH theomột quan điểm duy ý chí, tự lực cánh sinh theo kiểu biệt lập, khép kín cùng vớimột cơ chế quản ly kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp kéo dàinhiều năm đã trở thành vật cản, sức ỳ làm triệt tiêu các động lực, kìm hãm tăngtrởng và phát triển kinh tế Riêng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, mặc dù ngay
từ những năm 60 chúng ta đã có quan hệ với hơn 40 nớc nhng trên thực tế, cáchoạt động thơng mại của Việt Nam với các nớc bên ngoài chỉ giới hạn chủ yếutrong phạm vi các nóc XHCN Xuất khẩu sang các nớc này thờng xuyên chiếmhơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu từ các nớc này cũng thờngxuyên chiếm trên 80% tổng kim ngạch nhập khẩu
Từ năm 1976, trong bối cảnh đất nớc thống nhất, hoạt động ngoại thơng cónhững thuận lợi mới Chúng ta có điều kiện và khả năng khai thác có hiệu quảtiềm năng của đất nớc (đất đai, rừng, biển, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, ) để
đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển du lịch, các dịch vụ thu ngoại tệ, phát triển ngoạithơng, mở rộng hợp tác Kinh tế - Khoa học - Kỹ thuật với nớc ngoài, thu hút vốn
và kỹ thuật của nớc ngoài Về quan hệ hợp tác thơng mại với các nớc, ngoài cácnớc XHCN, Việt Nam đã tăng cờng quan hệ kinh tế - thơng mại với một số nớcTBCN và các nớc đang phát triển nh Nhật Bản, Pháp, Đức, Thuỵ Điển, ấn Độ,
Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Thái Lan, Xingapo, Nhờ đó, tỷ trọng kimngạch xuất khẩu sang các nớc này trtong tổng kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam đã tăng đến 46,8% (1986), trong đó Nhật Bản là một trong năm bạn hànglớn nhất của Việt Nam Mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang các nớc XHCN vẫntiếp tục tăng về mặt giá trị song về mặt tỷ trọng thì lại giảm đi so với kim ngạchxuất khẩu sang các nớc ngoài XHCN
Trang 2Xuất - nhập khẩu theo hai khu vực thời kỳ 1976 - 1986 Khu vực I - Các nớc XHCN
Cán cân ngoại
th-ơng
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Cán cân ngoại thơng
Nguồn : Số liệu thống kê 1976 - 1990 NXB thống kê, Hà Nội, 1991
Nhng bên cạnh những thuận lợi mới, chúng ta lại đứng trớc những khó khăngay gắt cả từ bên ngoài lẫn bên trong Bên ngoài đó là hai cuộc chiến tranh biêngiới Tây Nam và phía bắc; các nớc XHCN đang bộc lộ dần những dấu hiệu của
sự khủng hoảng kinh tế và chính trị nên việc giúp đỡ Việt Nam cũng bị hạn chế
ở trong nớc, do trtình độ phát triển kinh tế của cả nớc còn thấp, cơ sở vật chất kỹthuật còn yếu kém, kinh tế hàng hoá cha phát triển, cha có tích luũy từ nội bộnền kinh tế Kết quả là sản xuất tăng chậm, lu thông hàng hoá bị đình đốn dochính phủ có một số sai lầm về đờng lối và chính sách kinh tế, giá cả tăngnhanh, lạm phát có nguy cơ ngày càng trầm trọng, đời sống nhân dân lại càngthêm khó khăn do Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện chính sách cấm vận Việt Nam.Trong bối cảnh đó, kinh tế đối ngoại trrong đó có ngoại thơng vẫn cha thể vơnmạnh, phát huy đúng vị trí và vai trò của nó trtong nền kinh tế cũng là điều dếhiểu Mặt khác, chiến tranh kéo dài để lại những hậu quả kinh tế nặng nề làmcho đất nớc phát triển chậm lại nhiều năm và gây ra những vết thơng xã hội màphải qua nhiều năm mới hàn gắn đợc
Trớc tình hình đó, ta phải phát triển và mở rộng các hoạt động kinh tế đốingoại, trong đó có ngoại thơng để đa đất nớc tiến lên Báo cáo chính trị tại ĐạiHội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IV (năm 1976) nhận mạnh tính tất yếukhách quan và tầm quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là ngoạithơng đối với nền kinh tế nớc ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN “Công
Trang 3tác xuất khẩu và nhập khẩu vì vậy là một bộ phẩn rất quan trọng trong toàn bộhoạt động kinh tế của nớc ta”.
Phù hợp với đờng hớng đó, năm 1977, nớc ta tham gia Ngân hàng Đàu tQuốc tế và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế thuộc Hội đồng tơng trợ kinh tế(HĐTTKT) Tháng 7 - 1978, tại khoá họp lần thứ 32 của HĐTTKT, nớc ta đãgia nhập HĐTTKT với t cách là thành viên chính thức
Sau khi gia nhập HĐTTKT, Chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp ớc Hữu nghị vàHiệp ớc hợp tác kinh tế dài hạn với Liên Xô (11 - 1978) và nhiều nớc XHCNkhác
Ngày 18 - 04 - 1977, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Điều lệ về đầu t củanớc ngoài vào Việt Nam, nhằm thu hút đầu t của nớc ngoài, không phân biệt chế
độ chính trị, trên nguyên tắc đảm bảo độc lập chủ quyền của Việt Nam và cácbên cùng có lợi Nhng từ cuối năm 1978, đầu năm 1979 đến cuối 1980, tìnhhình trở nên phức tạp Trong những năm này, trrong khi Liên Xô và các nớccộng đồng XHCN, ấn Độ và một số nớc bạn bè khác tận tình hợp tác hỗ trợ ViệtNam để khắc phục khó khăn thì một số nớc phơng Tây thực hiện chính sách cấmvận và phân biệt đối xử với Việt Nam, ngừng viện trợ và đầu t, kể cả ngng thựchiện các khoản tín dụng đã cam kết với chính phủ ta Họ còn tác động tới các tổchức kinh tế tài chính, tín dụng quốc tế để ngừng các quan hệ với Việt Nam nhQuỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới
Hoàn cảnh quốc tế không thuận lợi đó đã gây ra cho nớc ta không ít khókhăn nhng kinh tế đối ngoại nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng vẫn đợc tiếptục phát triển Dới đây là kết quả hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 1976 -1985
Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1976-1985 Năm Tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu Xuất khẩu Nhập khẩu
Cán cân thơng mại Trị giá Tỷ lệ%
Trang 41985 2.555.9 698.5 1.857.4 -1.158.9 37.6 Tổng
- Nhập siêu vẫn là đặc trng cơ bản, dễ nhận thấy của cán cân ngoại thơngsuốt cả thời kỳ này Trị giá xuất khẩu tuy có tăng nhng trong 10 năm 1976 -
1986, xuất khẩu cũng chỉ đảm bảo đợc 30,8% tổng số tiền nhập khẩu Cán cânthơng mại quốc tế luôn nhập siêu và nhập siêu có xu hớng tăng
Sự yếu kém của ngoại thơng Việt Nam thời kỳ này còn thể hiện rất rõ ở chỗcác sản phẩm xuất khẩu vừa nhỏ bé về số lợng, vừa đơn điệu về cơ cấu chủngloại, chất lợng và bao bì Chiếm trên 80% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu vẫn
là các hàng Nông - Lâm sản, tiểu thủ công, mỹ nghệ và khoáng sản nghĩa làchủ yếu vẫn là các sản phẩm thô hoặc sơ chế, các sản phẩm của công nghiệp chếtạo, chế biến còn chiếm tỷ lệ rất thấp
Hầu hết các loại hàng hoá thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống đều phảinhập khẩu toàn bộ hay một phần do sản xuất trong nớc không đảm bảo Ngoàisắt thép, xăng dầu, máy móc, thiết bị còn nhập khẩu cả hàng tiêu dùng Kể cảnhững loại hàng hoá lẽ ra sản xuất trong nớc có thể đáp ứng đợc nh lúa gạo, vảimặc Trong những năm 1976 - 1985 đã nhập khẩu 60 triệu mét vải các loại vàgần 1,5 triệu tấn lơng thực quy gạo
Chính những yếu kém này cùng những ràng buộc phiền hà của cơ chế quản
lý cũ cha đợc tháo gỡ đã khiến Việt Nam bị hạn chế nhiều trong việc mở rộngthị trờng, tìm kiếm bạn hàng mới, ảnh hởng tiêu cực đến hoạt động ngoại thơng,
đặc biệt là xuất khẩu và phát triển hàng xuất khẩu Năm 1985 là năm đạt kimngạch xuất khẩu cao nhất so với những năm trớc đó nhng cũng chỉ đạt đến con
số gần 700 trriệu rúp - đô la (R- USD) Nếu so với các nớc khác, giá trị kimngạch xuất khẩu tính theo đầu ngời của Việt Nam năm 1985 mới chỉ ở mức 12
R - USD, vào loại thấp nhất thế giới
Trang 5Nhằm khắc phục tình trạng trì trệ của nền kinh tế, Hội nghị ban chấp hànhTrung ơng Đảng lần thứ 6 (khoá IV) đã đề ra một số biện pháp cải tiến cơ chếquản lý hoạt động ngoại thơng, đặc biệt là quản lý xuất khẩu Tuy nhiên, độcquyền ngoại thơng vẫn là nguyên tắc chỉ đạo mọi hoạt động ngoại thơng tronggiai đoạn này.
2 Ngoại thơng Việt Nam từ 1986 đến nay
Để dễ dàng trong việc phân tích và đánh giá kết quả hoạt động ngoại thơngthời kỳ này, chúng ta sẽ chia ngoại thơng Việt Nam từ 1986 đến nay làm hai giai
đoạn: Giai đoạn thứ nhất là từ khi bắt đầu đổi mới (1986) đến đầu thập niên 90;
và giai đoạn thứ hai là từ 1991 đến nay, trong đó chúng ta đi sâu phân tích ngoạithơng Việt Nam trong 10 năm cuối cùng của thế kỷ XX (1991 - 2000)
2.1 Giai đoạn 1986 - 1990
Công cuộc đổi mới, mở cửa của nền kinh tế đợc Đảng Cộng sản Việt Namkhởi xớng từ Hội nghị Trung ơng lần thứ 6 tháng 12 - 1986 Từ đó đến nay,chúng ta đã thực sự có những biến đổi sâu sắc, hoạt động ngoại thơng có nhữngbớc tiến vợt bậc, kinh tế đối ngoại đợc coi là “mũi nhọn” của sự đổi mới Quanniệm cứng nhắc coi “độc quuyền ngoại thơng” là bản chất kinh tế của nhà nớcXHCN đã từng bớc đợc xem xét kại và phần nào cũng đợc bỏ qua trtong thựctiễn Ngoại thơng đặc biệt là hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu đợc đềcao, coi đó là một trong ba chơng trình kinh tế trọng điểm của đất nớc Luật Đầu
t nớc ngoài đợc Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam thông qua tháng 12 - 1987
và có hiệu lực từ tháng 01 - 1988, là văn bản pháp lý đầu tiên đánh dấu sựchuyển hớng thực sự sang chính sách “ mở cửa” theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc Nghị định 64 / HĐBT ngày 16/06/1989 của Hội đồng bộ trởng
về chế độ tổ chức, quản lý kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu là cơ sở củachính sách thơng mại trong thời kỳ này, về cơ bản đã thể hiện đợc bớc ngoặtquan trọng đầu tiên của sự nới lỏng cơ chế quản lý ngoại thơng theo tinh thần
đổi mới trên đây Ngoài ra, các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nh du lịch, kiềuhối, dịch vụ tầu biển, hàng không, hợp tác lao động quốc tế, đều đợc chính phủViệt Nam coi trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển Với nhữngchính sách thông thoáng nh vậy, có thể nói rằng quan điểm phát triển một nềnkinh tế khép kín theo kiểu tự lực cánh sinh trớc đây đã bị phủ ddịnh hoàn toàn
và do đó đã góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trởng của nền kinh tế Riêngtrong hoạt động xuất khẩu, nếu nh những năm 1976 - 1980 xuất khẩu có tốc độ
Trang 6tăng bình quân hàng năm là 11%, những năm tiếp theo 1981 - 1985 là 15,6%,thì trong hai năm 1986, 1987 đã đạt tới mức 27% Riêng năm 1989 so với năm
1988 tăng 75,3% (gần bằng mức tăng của cả 15 năm 1960 - 1975) Năm 1990,lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu đã vợt đợc mức 2 tỷ R - USD, tăng 21,6% sovới năm 1989 và gấp 2 lần so với năm 1988 Khoảng cách chênh lệch giữa xuấtkhẩu và nhập khẩu đã rút ngắn lại từ tỷ lệ 1/7 giai đoạn 60 - 75 xuống tỷ lệ 1/2,6 năm 1986 và đến năm 1990 chỉ còn chênh lệch ở tỷ lệ không đáng kể 1/1,3 Trong những năm này (1986-1990), ngoài việc tiếp tục duy trì quan hệ th-
ơng mại với các nớc khu vực I, quan hệ thơng mại giữa Việt Nam với các nớc ởkhu vực II ngày càng đợc mở rộng Xuất khẩu sang khu vực II của 5 năm (1986
- 1990) đã đạt 3,5 tỷ USD, gấp 3,1 lần so với 5 năm trớc đó (1981 - 1985) Sốliệu tơng ứng các thời gian trên về nhập khẩu cũng diễn biến theo xu hớng ngàycàng tăng hơn: giai đoạn 1986 - 1990 là 3,8 tỷ USD, gấp 1,6 lần so với 2,1 tỷUSD của giai đoạn 1981 - 1985
Xuất nhập khẩu theo khu vực II thời kỳ 1981 - 1990
(triệu USD)
Nhập khẩu (triệu USD)
Cán cân thơng mại
Nguồn : Số liệu thống kê 1976-1990, NXB thống kê, Hà Nội, 1991
Điều cần lu ý từ bảng trên là cả xuất nhập khẩu đều phát triển ngày càngtăng và khoảng cách chênh lệch cán cân thơng mại giữa xuất khẩu và nhập khẩungày càng thu hẹp, đặc biệt trong hai năm 1989-1990 cả xuất lẫn nhập đều tăngvọt, không những thế còn xuất siêu
2.2 Giai đoạn 1991 đến nay
Công cuộc đổi mới nền kinh tế đang gặt hái đợc một số kết qủa bớc đầu thìViệt Nam đã đơng đầu với những khó khăn, thử thách mới:
- Sự tan rã của Liên Xô (cũ) và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu (cũ) trongnhững năm 1989 - 1991 không những làm cho Việt Nam mất hẳn chỗ dựa vềnguồn viện trợ vốn, nguồn cung cấp các vật t chiến lợc mà còn gây ra nhữnghụt hẫng do việc đột ngột bị mất đi một thị trờng lớn tiêu thụ nhiều loại hàngxuất khẩu truyền thống của Việt Nam nh đồ tiểu - thủ công, mỹ nghệ, nông -lâm - hải sản, khoáng sản và một số hàng tiêu dùng: đồ da, may mặc sẵn Chỉriêng việc chấm dứt viện trợ của Liên Xô (cũ) là hàng năm Việt Nam đã mất đigần 1 tỷ USD Ngoài ra, thị trờng Liên Xô tan rã đã gây ra đảo lộn lớn cho Việt
Trang 7Nam, vì hàng năm Việt Nam vẫn nhập của Liên Xô một khối lợng lớn các loạivật t chiến lợc: xăng dầu (từ 2,7 - 2,9 triệu tấn), phân bón (từ 2 - 2,4 triệu tấn),thép (từ 30- 40 vạn tấn), và 6 vạn tấn tôn thiếc, phơng tiện vận tải, phụ tùng ô tô,thiết bị máy móc, các loại hoá chất Phía Việt Nam, ngợc lại, xuất sang LiênXô các mặt hàng truyền thống với một khối lợng lớn chiếm hơn 60% tổng kimngạch xuất khẩu hàng năm.
Tóm lại, mất thị trờng Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu, ViệtNam mất đi một thị trờng lớn, chiếm 70 - 80% tổng giá trị xuất - nhập khẩuhàng năm
Việc cho phép “bung ra” một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong
điều kiện Việt Nam còn nhiều bỡ ngỡ, cha đủ kinh nghiệm để quản lý sự “bungra” đó phát triển đúng đắn đã là kẽ hở cho nạn tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế,
và nhiều tệ nạn xã hội khác phát triển Ngoài ra việc xoá bỏ ao cấp của nhà nớcvới các cơ sở kinh tế quốc doanh, tập thể, mặc dù là những việc làm tất yếutrong tiến trình đổi mới, song, cũng từ đó làm nảy sinh những khó khăn, phứctạp khác Đó là hàng vạn ngời lao động bị thất nghiệp, hoặc có việc, nhng tiền l-
ơng thấp, đời sống khó khăn do nhiều cơ sở làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, phảigiải thể Nhiều ngời trong số này đã bị sức hút mặt trái của nền kinh tế thị trờnglôi cuốn vào các công việc làm ăn tiêu cực, vi phạm pháp luật Nhà nớc, kỷ cơngxã hội
Lợi dụng những khó khăn, phức tạp trên đây, các thế lực thù địch tiếp tụccông kích, chống phá công cuộc đổi mới của Việt Nam Tâm lý lo ngại về sựsụp đổ của chủ nghĩa xã hội, hoài nghi về công cuộc đổi mới, do đó, đã xuấthiện trong các bộ, nhân dân
Tình hình trên đây đòi hỏi đờng lối phát triển kinh tế cần phải tiếp tục đổimới, hoàn thiện hơn nữa, sao cho phù hợp với xu hớng thời đại, nhng lại không
đi chệch các định hớng XHCN ở Việt Nam Kế thừa và phát huy có chọn lọc cácquan điểm đổi mới của Đại hội VI, đã đề ra “chiến lợc ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội đến năm 2000” tiếp tục khẳng định quyết tâm thực hiện công cuộc
đổi mới, phát hiện một nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrờng có sự quản lý của nhà nớc theo đúng định hớng xã hội chủ nghĩa Với t t-ởng chỉ đạo “Việt Nam phải làm bạn với tất cả các nớc” và “mở cửa hoạt độngkinh tế đối ngoại đối với tất cả các nớc ở các khu vực trên thế giới”, Chính phủViệt Nam đã có những chủ trơng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý vàchính sách kinh tế đối ngoại theo hớng “đa dạng hoá và đa phơng hoá các quan
hệ kinh tế đối ngoại” Trong lĩnh vực ngoại thơng, để tiến tới “tự do hoá thơng
Trang 8mại”, nhiều văn bản chế độ, chính sách mới nhằm khuyến khích các thành phầnkinh tế sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu đã đợc Chính phủ ban hành Nghị
định 114 - HĐBT ngày 07 - 04- 1992 của Hội đồng bộ trởng đối với hoạt độngxuất - nhập khẩu là một dẫn chứng điển hình So với các văn bản quy định vềquản lý nhà nớc đối với xuất khẩu đã ban hành trớc đó Nghị định 114 - HĐBT
đánh dấu bớc chuyển từ mô hình nhà nớc độc quyền ngoại thơng sang tự do hoángoại thơng, từ biện pháp quản lý bằng mệnh lệnh, hành chính, chỉ đợc làm cái
mà Chính phủ cho phép, sang biện pháp quản lý bằng đòn bẩy kinh tế, đợc phéplàm những gì Chính phủ không cấm Thuế xuất của biểu thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích hoặc hạn chế việcxuất khẩu, nhập khẩu đối với từng loại mặt hàng, trong từng thời gian nhất
định Đến năm 1994, trớc những chuyên biến kinh tế - xã hội trong nớc vàquốc tế, Chính phủ lại ban hành nghị đinh 33/CP ngày 19/4/1994 về quản lý nhànớc đối với hoạt động xuất nhập khẩu, nhằm bổ xung, sửa đổi những khiếmkhuyết của nghị định 114/HĐBT cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn
Nhờ kiên trì sự nghiệp đổi mới theo nhiều giải pháp tích cực khác nhau,Chính phủ đã lái con thuyền kinh tế Việt Nam vợt qua cơn sóng gió, đi dần vàothế ổn định Sản xuất và lu thông trong nớc đã trở lại chiều hớng phát triển tốthơn, khiên cho thị trờng hàng hoá ngày càng phong phú, sôi động hơn Giá cảthị trờng tơng đối ổn định, nguy cơ lạm phát bị đẩy lùi
Xét riêng về hoạt động ngoại thơng, đờng lối mở cửa của Đảng và Nhà nớc ta
đã đem laị những kết quả kỳ diệu cho nền kinh tế nói chung và cho hoạt độngxuất nhập khẩu trong thời kỳ 1991 - 2001 nói riêng Tổng mức lu chuyển ngoạithơng năm 2000 ớc tính đạt 29,5 tỷ USD, gấp 6,5 lần năm 1989 Tổng mức luchuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bình quân mỗi năm những năm 1990 - 2001
đạt 14,3 tỷ USD, gấp 2,5 lần mức bình quân thời kỳ 1981 - 1990
Mức lu chuyển ngoại thơng và các cân thơng mại hàng hoá
1990- 1995 1996 - 2001
1 Mức lu chuyển ngoại thơng bình quân hàng năm
Xuất khẩu bình quân hàng năm
Nhập khẩu bình quân hàng năm
14,3 6,5 7,8
7,5 3,3 4,2
22,5 10,3 12,2
2 Cán cân thơng mại hàng hoá (xuất – nhập) -1,3 -0,9 -1,9
Sồ lợng đơn vị tham gia xuất nhập khẩu đã tăng lên nhanh chóng qua cácthời kỳ Năm 1985 chỉ có 40 đơn vị do nhà nớc quản lý trực tiếp xuất nhậpkhẩu; năm 1990 có 270 đơn vị, nhng đến nay đã có trên 10.000 đơn vị thuộc mọi
Trang 9thành phần kinh tế tham gia, trong đó có cả các doanh nghiệp t nhân, doanhnghiệp có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Quan hệ quốc tế những năm vừa qua đã có những thay đổi lớn thông qua việctham các tổ chức quốc tế và khu vực nh Hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN-1995), Diễn đàn kinh tế các nớc Châu á - Thái Bình Dơng (APEC - 1998), nốilại ngoại giao với Hoa Kỳ và trở thành quan sát viên của WTO (1995), ký hiệp
định thơng mại với 61 nớc, trong đó có Mỹ (tháng 7 - 2000) Năm 1990 nớc ta
có mối quan hệ buôn bán với trên 50 nớc và vùng lãnh thổ, năm 1995 con số này
là 100 và đến nay đã là trên 170 Quan hệ thơng mại ngày nay mở rộng tới cácchâu lục, các khối kinh tế khu vực và quốc tế Hoạt động xuất nhập khẩu đã dầntạo đợc chỗ đứng vững chẵc, mở ra những tiềm năng mới trong tơng lai
a Về xuất khẩu
Kết qủa đạt đợc
Kết quả nổi bật của hoạt động xuất khẩu 10 năm qua thể hiện trên các mặtsau: (1) tăng trởng xuất khẩu cao và liên tục; (2) Sự tham gia của các ngành, cácthành phần kinh tế trong đó có đóng góp tích cực của khu vực kinh tế có vốn đầu
t trực tiếp nớc ngoài; (3) Thị trờng xuất khẩu mở rộng; (4) Cơ cấu hàng xuấtkhẩu thay đổi theo hớng tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế biến; (5) Một
số mặt hàng chủ lực, đóng góp lớn cho tăng trởng xuất khẩu dần dần đợc khẳng
định
Đờng lối phát triển kinh tế của Đảng đã đợc cụ thể bằng nhiều chính sáchkinh tế vĩ mô, trực tiếp và gián tiếp khuyến khích xuất khẩu Nếu lấy năm 1989làm gốc thì tốc độ tăng trởng bình quân thời kỳ 1990 - 2000 của xuất khẩu caogấp 2,6 lần tốc độ tăng GDP Dự kiến giai đoạn 2001 - 2010 nhịp độ tăng tr ởngxuất khẩu sẽ tăng nhanh gấp đôi nhịp độ tăng trởng GDP tức là vào khoảng14%/năm Tỷ trọng xuất khẩu trong GDP và kim ngạch xuất khẩu bình quân
184 USD/ngời, đa nớc ta ra khỏi danh sách các nớc có nền ngoại thơng kém pháttriển
Xuất khẩu bình quân đầu ngời so với GDP
1990-1995 1996-2000
Nguồn: tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 1991 - 2000, Tổng cục Thống kê
Từ đầu những năm 90, một số ngành công nghiệp khai thác và chế biến đãphát triển mạnh hơn Cơ cấu xuất khẩu theo ngành kinh tế quốc dân đã thể hiện
xu hớng đó Bình quân thời kỳ 1995-2000, trong tổng trị giá xuất khẩu, sản
Trang 10phẩm nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng 14,5%, công nghiệp khai thác 20,3%,công nghiệp chế biến 63,3% Đáng chú ý là, trong 3 nhóm sản phẩm xuất khẩutrên thì sản phẩm công nghiệp chế biến có tốc độ tăng bình quân cao nhất(34%), tiếp theo là công nghiệp khai thác 929%) và nông lâm sản.
Trong những thay đổi quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng hoá thời kỳ
1991 - nay, còn phải kể đến sự tham gia có hiệu quả của các doanh nghiệp cóvốn đầu t trực tiếp nớc ngoài Khu vực này không những đã góp phần thúc đẩycác doanh nghiệp trong nớc ngày càng vơn lên trong công tác quản lý sản xuấtkinh doanh, đầu t và cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lợng sản phẩm, màcòn đóng góp đáng kể vào tăng trởng kim ngạch xuất khẩu
Xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài
Không kể dầu thô 165,6
Nguồn: Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 1991 - 2000, Tổng cục Thống kê
Thời kỳ 1991-2000 cũng đánh dấu bớc tiến quan trọng của một số mặt hàngxuất khẩu chủ lực, tạo ra diện mạo cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, đó là sựxuất hiện và gia tăng nhanh chóng của một số mặt hàng mới nh dầu thô, gạo,hàng điện tử, máy tính, hàng dệy may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ, thuỷsản, cà phê, hạt điều Nếu nh năm 1989 mới có hai mặt hàng có giá trị xuấtkhẩu trên 200 triệu USD thì đến nay đã có 10 mặt hàng trong đó có 4 mặt hàngvợt qua mức 1 tỷ USD vào năm 2000, đó là dầu thô, hàng may mặc, giày dép vàthuỷ sản (Riêng dầu thô đã vợt mức 2 tỷ USD từ năm 1999 và chỉ trong 5 tháng
đầu năm 2002 trị giá xuất khẩu dầu thô đã đạt mức 1,024 tỷ USD) Trớc đâyxuất khẩu các mặt hàng chủ lực này chiếm khoảng 60%, hiện nay chiếm 75-80%
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
Đơn vị: %
Tỷ trọng bình quân Chỉ số phát triển
bình quân năm 1990-1995 1996-2000
Trang 11Nguồn: Vụ kế hoạch - Bộ Thơng mại
Về thị trờng, thay vì trao đổi hàng hoá chủ yếu với thị trờng Đông Âu trớc
đây, hàng hoá Việt Nam đã thâm nhập ngày càng nhiều vào thị trờng Nhật Bản,ASEAN, Đông Bắc á, EU và Bắc Mỹ Việc thâm nhập vào thị trờng EU, NhậtBản và Bắc Mỹ đã đem lại hiệu quả cao cho hoạt động ngoại thơng và đã khẳng
định đợc sự tiến bộ về chất lợng hàng hoá nớc ta vì đã đáp ứng khách hàng ởnhững thị trờng khó tính Năm 1995, nớc ta và Mỹ bình thờng hoá quan hệ, hoạt
động thơng mại giữa hai nớc bắt đầu phát triển và hiện nay kim ngạch xuất khẩutăng gần gấp đôi năm đầu Buôn bán với các nớc châu Phi và châu Đại Dơng đợc
mở rộng Năm 1989 xuất khẩu tớicác khu vực này cha vợt qua con số 1 triệuUSD, hiện nay châu Phi đạt gần 70 triệu USD và châu Đạo Dơng đạt trên 1,1 tỷUSD Sự thay đổi cơ cấu thị trờng xuất khẩu đã góp phần đa kinh tế nớc ta vợtqua những giai đoạn khó khăn khi thế giới diễn ra những biến động về chính trị
đầu những năm 90, hoặc khủng hoảng kinh tế khu vực 1997 - 1998 Ngoài ratrong hai năm gần đây, chúng ta đã thực hiện chủ trơng khôi phục thị trờng
Đông Âu, là thị trờng truyền thống của ngoại thơng nớc ta Thị trờng này cầnnhập khẩu hàng nông sản, nông sản chế biến, thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc,giày dép mà những mặt hàng này lại là thế mạnh của nớc ta
Nguyên nhân đạt đợc kết quả trên
+ Thứ nhất: Sự tăng trởng của các ngành sản xuất là tiền đề quan trọng choxuất khẩu, trớc hết là sự tăng trởng của các ngành nông nghiệp, thuỷ sản vàcông nghiệp
+ Thứ hai: Môi trờng pháp lý từng bớc đợc hoàn thiện đã khuyến khích cácngành, các thành phần kinh tế, trong đó có khu vực đầu t trực tiếp nớc ngoài yêntâm đầu t Năm 1987 Luật Đầu t nớc ngoài đợc thông qua Năm 1991 nhà nớcban hành quy chế hoạt động của các khu chế xuất, khu công nghiệp với các điềukiện u đãi cho các nhà đầu t Luật khuyến khích đầu t trong nớc (năm 1994),Luật doanh nghiệp nhà nớc (năm 1995), Luật doanh nghiệp (năm 1999)
+ Thứ ba: Nhà nớc đã từng bớc thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô nhằmtạo thông thoáng cho hoạt động xuất khẩu; trớc hết là chính sách giá cả, tỷ giáhối đoái, chính sách thuế, Cải cách về chính sách giá cả đã giúp cho sản xuấtgắn bó với thị trờng, ngời sản xuất có trách nhiệm với sản phẩm của mình, luônphấn đấu hạ giá thành sản phẩm và cạnh tranh lành mạnh Năm 1989 cũng là
Trang 12năm nhà nớc thực hiện thống nhất tỷ giá hối đoái trên cơ sở giá thị trờng thaythế cho việc sử dụng tỷ giá cố định và tỷ giá kết toán nội bộ Cuối năm 1997Nhà nớc cho phép các Ngân hàng thơng mại áp dụng linh hoạt tỷ giá mua bánbằng biện pháp sử dụng biên độ dao động so với tỷ giá chính thức khoảng 1%
đến 5% rồi 10% Việc thống nhất tỷ giá bám sát với giá thị trờng góp phần kíchthích xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ, đem lại lợi ích cho ngời xuất khẩu, hạn chếnhững tiêu cực trong kinh doanh Chính sách thuế xuất nhập khẩu cũng đợc đôỉmới Năm 1988, Luật thuế xuất nhập khẩu đợc ban hành Thuế suất cho hàngxuất khẩu giảm dần qua từng giai đoạn Năm 1999 số lợng các nhóm hàng vàmặt hàng xuất khẩu chịu thuế giảm đi và từ năm 1992 khi biểu thuế sử dụngdanh mục Điều hoà (HS) đến nay, số lợng các mặ hàng xuất khẩu chịu thuế làtrên 30 nhóm hàng và mặt hàng bao gồm 11 mức thuế suất từ 1-45%, trong đó
có 17 nhóm hàng và mặt hàng có mức thuế suất từ 1-5% Riêng đối với mặthàng gạo để khuyến khích xuất khẩu, thuế suất đã giảm từ 10% xuống còn 2%vào năm 1997 và 0% vào năm 1998
+ Thứ t: Việc xoá bỏ độc quyền của nhà nớc đối với hoạt động ngoại thơng
đã tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu trong đó cókhu vực t nhân Do đó, số lợng các đơn vị xuất nhập khẩu đã tăng lên nhanhchóng Những quy định, thủ tục rờm rà từng bớc đợc xoá bỏ Đầu những năm
90, các đơn vị muốn tham gia xuất khẩu còn phải đáp ứng những điều kiện tốithiểu về vốn (200.000USD), giấy phép kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩu,giấy phép vận chuyển, nhng đến năm 1996 nhà nớc bãi bỏ giấy phép xuất nhậpkhẩu chuyến (Nghị định 89/CP); năm 1997 Chính phủ khuyến khích các doanhnghiệp xuất khẩu cả những hàng hoá ngoài đăng ký, các hàng hoá mua của đơn
vị khác (Quyết định 28/TTg); năm 1998 quyết định 55/1998/QĐ-TTg cho phépcác doanh nghiệp đợc xuất khẩu hàng hoá thuộc đăng ký kinh doanh của mình
mà không cần giấy phép xuất nhập khẩu, trừ một số mặt hàng cần quản lý đặcbiệt của nhà nớc
Các chính sách khác nh hỗ trợ vốn tín dụng cho ngời xuất khẩu, thởng chocác đơn vị có xuất khẩu mặt hàng mới, giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh
và tiêu thụ sản phẩm cho ngời sản xuất cũng tác động nhiều tới sản xuất và xuấtkhẩu Công tác điều hành xuất nhập khẩu của chính phủ cũng có những thay
đổi Hàng năm, cơ chế điều hành xuất nhập khẩu đa ra mục tiêu và các biệnpháp lớn, các mặt hàng cần kiểm soát thông qua hạn ngạch, quota, hàng cấmxuất nhập khẩu và hàng hoá chịu sự quản lý chuyên ngành Việc phân bổ hạnngạch, quota cho một số mặt hàng chủ lực bao gồm gạo, hàng dệt may, giày dép
Trang 13xuất khẩu cũng dần đợc cải tiến theo hớng thông báo sớm ngay từ cuối năm trớc
và từ năm 1998 bắt đầu có tổ chức đấu thầu hạn ngạch trên cơ sở xem xét việcthực hiện hạn ngạch năm trớc và thực lực của doanh nghiệp
Quản lý của hải quan cũng cải tiến nhằm tạo thuận lợi cho ngời xuất khẩu vàtiếp cận các chuẩn mực quốc tế nh áp dụng Hệ thống HS cho biểu thuế hải quan,một số điều khoản của công ớc Kyoto về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục hảiquan, cải tiến tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu theo khuyến nghị của Liên hợpquốc Với việc tham gia AFTA, hải quan đã thực hiện phân luồng trong kiểm trahàng hoá, áp dụng các thiết bị hiện đại trong quản lý hải quan, giảm thời giangiải phóng hàng từ 3 - 4 ngày so với trớc đây Để hỗ trợ xuất khẩu, kiểm tra hảiquan còn đợc thực hiện ngay tại nơi tập kết hàng, các phiền hà về thủ tục đợcgiảm bớt
+Thứ năm: Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và khu vực không những đã mở rộng
đợc thị trờng xuất khẩu mà còn làm cho chính sách thơng mại đợc tiến hànhtheo tiến trình minh bạch hóa và nhất quán, nâng cao sức cạnh tranh của sảnphẩm thông qua lịch trình giảm thuế, loại bỏ hạn chế định lợng theo khuôn khổCEFT/AFTA cũng nh các hiệp định khác và việc thực hiện tiến trình này cũnggóp phần đa kim ngạch xuất khẩu gia tăng trong những năm vừa qua
+Thứ sáu: Những biến động thị trờng và giá cả thế giới cũng có lợi cho xuấtkhẩu hàng hoá nớc ta Tuy mang tính khách quan, nhng yếu tố này không kémphần quan trọng vì nó tác động tới cả hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta làgạo và dầu thô Đó là biến động về thị trờng có lợi cho xuất khẩu gạo của ta năm
1998, 1999 khi một số nớc trong khu vực nh Inđônêxia, Philipin gặp khó khăn
về sản xuất lơng thực Biến động quan trọng nữa là sự tăng giá dầu thô trên thịtrờng thế giới từ cuối năm 1999 và đặc biệt cao vào năm 2000 So với giá bìnhquân của năm 1997 là năm không có biến động nhiều, chỉ số giá của mặt hàngdầu thô tăng 65% và việc xuất khẩu năm 2000 đạt khá cao một phần quan trọng
Hai là: Trong tốc độ tăng trởng xuất khẩu thì sự đóng góp của khu vực kinh
tế trong nớc thấp hơn khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài Tốc độ tăng bình
Trang 14quân xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nớc là 12 thì khu vực đầu t nớc ngoài
là 21%
Ba là: Tuy cơ cấu hàng xuất khẩu đã có những thay đổi rõ nét nhng tỷ trọnghàng chế biến vẫn thấp hơn hàng thô Trong những năm vừa qua, tỷ trọng hàngchế biến chiếm 40%, trong khi tỷ trọng hàng này của Inđônêxia là 52%,Maliaxia là 85%, Philipin 78%, Singapo 80% và Thái Lan 71% Do đó khối lợngxuất khẩu dù nhiều nhng trị giá thấp, dễ gặp rủi ro
Bốn là: Thị trờng tuy đã đợc mở rộng sang EU, Bắc Mỹ nhng tỷ trọng hàngxuất khẩu vào khu vực này còn nhỏ bé và phần lớn là hàng nông sản, hàng giacông Sở dĩ có tình trạng này một phần là do chất lợng hàng hoá cha cao, mẫumã còn nghèo nàn, giá thành cao làm cho sức cạnh tranh của hàng hoá thấp Thịtrờng Đông Âu là thị trờng khá quen thuộc và giầu tiềm năng, dễ đáp ứng vềchất lợng, giá cả đối với hàng hoá xuất khẩu nớc ta, nhng tốc độ khôi phục cònchậm Hàng xuất khẩu đợc bán sang một số nớc Châu Phi nhng hầu nh cha cónhững mặt hàng chiến lợc, trị giá hàng hoá thấp và thị trờng này lại không ổn
định
Năm là: Tuy chính phủ và các cấp, các ngành đã quan tâm, điều hành có hiệuquả chính sách xuất khẩu trong giai đoạn 1991 - 2000, nhng còn cha đồng bộ,cha linh hoạt cần có một chiến lợc tổng thể về quy hoạch vùng, ngành, thị tr-ờng, chiến lợc tổng thể về quy hoạch vùng, ngành, thị trờng, chién lợc hội nhập
rõ ràng hơn để tạo thế vững chắc cho xuất khẩu
Trang 15Hiện nay, nớc ta đã nhập khẩu hàng hoá từ trên 130 nớc và vùng lãnh thổ.Thị phần chủ yếu là các nớc châu á, trong đó Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm vị tríquan trọng Nhập khẩu từ các nớc ASEAN tăng lên nhanh chóng Cơ cấu thị tr-ờng thay đổi đã phần nào thể hiện đờng lối tăng cờng hội nhập khu vực và đã có
sự tính toán hiệu quả trong hoạt động ngoại thơng (Hàng hoá của các nớc trongkhu vực phù hợp với đặc điểm sản xuất, tiêu dùng, khả năng đầu t và vận tải nớcta)
Tỷ trọng một số thị trờng nhập khẩu chủ yếu từ năm 1991 đến nay
Nguồn: Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Thơng mại
Sở dĩ hoạt động nhập khẩu đạt kết quả đợc nh trên là do những nguyên nhânchủ yếu sau:
+ Thứ nhất: Chính sách quản lý ngoại hối của nhà nớc đã tập trung vào quản
lý nguồn ngoại tệ cho yêu cầu nhập khẩu phục vụ các cân đối lớn của nền kinh
tế, kiểm soát nhập khẩu hàng tiêu dùng và ổn định thị trờng ngoại tệ trong nớc.Theo tinh thần này, năm 1988 Nhà nớc đã quy định các tổ chức và cá nhân buộcphải gửi ngoại tệ vào tài khoản tại ngân hàng Ngoài số ngoại tệ đợc sử dụng chonhu cầu nhập khẩu của đơn vị, số còn lại phải bán cho nhà nớc theo tỷ giá quy
định
+ Thứ hai: Chính sách thuế đã góp phần tích cực trong việc khuyến khích,bảo hộ sản xuất trong nớc và kiểm soát nhập khẩu theo định hớng của nhà nớc.Cùng với việc ban hành Luật thuế xuất nhập khẩu năm 1988, biểu thuế nhậpkhẩu cũng quy định thuế suất cho 124 loại hàng hoá Từ năm 1989 đến nay biểuthuế nhập khẩu đã nhiều lần đợc nhà nớc sửa đổi với các khung thuế suất, mứcthuế suất tối đa và số dòng thuế khác nhau Trớc năm 1997 biểu thuế gồm 3.165dòng thuế với 26 mức thuế suất từ 0 đến 100% Biểu thuế nhập khẩu ban hànhcuối năm 1998 dựa trên danh mục HS đã chi tiết đến cấp mã 8 chữ số, cụ thểhoá thành 6.500 dòng thuế với 18 mức thuế suất từ 0 đến 100%, trong đó tỷtrọng dòng thuế từ 0 - 5% chiém khoảng 60% Nhìn chung, các mặt hàng tiêudung đều chịu mức thuế suất cao (Trừ một số loại đợc coi là hàng thiết yếu) Tliệu sản xuất, đặc biệt là các nguyên liệu thô có mức thuế suất thấp hơn hoặckhông phải chịu thuế Với hàng gia công cho nớc ngoài hoặc hàng hoá nhập
Trang 16khẩu dể sản xuất hàng xuất khẩu, hàng đa vào khu chế xuất đều không phải chịuthuế hoặc đợc hoàn thuế sau khi xuất khẩu sản phẩm.
+ Thứ ba: Các chính sách phi thuế cũng đóng vai trò quan trọng trong việckiểm soạt nhập khẩu Để hỗ trợ việc kiểm soát nhập khẩu thông qua thuế, chínhphủ đã áp dụng các biện pháp nh phân bổ hạn ngạch nhập khẩu một số loại hànghoá cho các đơn vị đợc chỉ định làm đầu mối (Phân bón, xăng dầu, phôi thép ),hạn chế nhập khẩu các mặt hàng trong nớc đã sản xuất đợc Để liểm soạt nhậpkhẩu hàng tiêu dùng, Chính phủ đã quy định danh mục hàng tiêu dùng cần hạnchế nhập khẩu (14 nhóm mặt hàng trớc 1999 và danh mục chi tiết theo HS 8 chữ
số hiện nay) Ngoài ra còn áp dụng các chính sách và biện pháp khác nh kiểmsoát của ngân hàng thông qua L/C, chính sách dán tem một số mặt hàng tiêudùng nhập khẩu nh xe đạp, quạt điện, sứ vệ sinh,
Tuy nhiên, công tác nhập khẩu cũng còn một số hạn chế, nhất là vấn đề chấtlợng hàng nhập khẩu Đây là vấn đề cần đợc quan tâm Có nh vậy mới đảm bảophát triển sản xuất, tiếp thu những công nghệ mới theo kịp các nớc Hoạt độngbuôn lậu và gian lận thơng mại cũng cần có những biện pháp tích cực để hạnchế ngoài ra, công tác quy hoạch sản xuất, dự báo nhu cầu cần đợc làm thờngxuyên và nâng cao chất lợng hơn để tránh những “cơn sốt”, hoặc tồn đọng hànghoá, đảm bảo phát triển hợp lý giữa nhu cầu sản xuất với nhập khẩu
Do đẩy mạnh xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu nên tỷ lệ nhập siêu thời kỳ
1991 2000 là 21,6% thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 114,2% của thời kỳ 1986
-1990 Về cơ bản, tỷ lệ này cần đợc khống chế và giảm dần Tuy nhiên, trong
điều kiện một nớc đang phát triển nh nớc ta, xuất khẩu còn nhỏ bé, sản xuấttrong nớc cần nhiều máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại trong khi tự ta chathể đáp ứng đợc thì tỷ lệ nhập siêu cao cũng là cần thiết Để kiềm chế nhập siêutrong mức cho phép, cần tăng nhanh hơn nữa kim ngạch xuất khẩu, trên cơ sởkhai thác tốt tiềm năng và lợi thế so sánh về tài nguyên, lao động và đất đai
II Tác động của ngoại thơng đến phát triển kinh tế Việt Nam từ sau đổi mới.
Có thể nói, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1990 là giai đoạn bớc đệm, giai
đoạn chuẩn bị về t tởng, nhận thức cũng nh về t duy kinh tế mới trong mọi tầnglớp nhân dân, thậm chí trong đội ngũ lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc (vì khôngphải ai cũng chấp nhận đờng lối đổi mới của Đảng ngay từ khi ra đời) cho nhữngthành tựu và phát triển sau này Giai đoạn này, đờng lối và chính sách đổi mới
đã bắt đầu đợc áp dụng nhng không phải ngay lập tức đã đem lại những kết quả
Trang 17khả quan Chính vì vậy, ngoại thơng mặc dù đã đạt đợc những thành tựu to lớnhơn rất nhiều so với những năm trớc đó nhng cha thực sự phát huy đợc vai tròcủa nó trong việc tác động tích cực đến phát triển nền kinh tế Phải sang nhữngnăm 90, t duy đổi mới đã đi vào đời sống của nhân dân, mọi ngời đều nhận thức
đợc tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế đối ngoại với bên ngoài; cácchính sách đổi mới trong giai đoạn trớc đó, qua nhiều lần sửa đổi để ngày càngphù hợp hơn với điều kiện kinh tế xã hội đất nớc cũng nh với bối cảnh của thời
đại, đã thực sự tạo ra một môi trờng pháp lý ngày càng hoàn thiện hơn, lý tởnghơn cho các hoạt động kinh tế đối ngoại thì ngoại thơng, do đó, cũng mới thểhiện đợc vai trò trung tâm của mình trong các hoạt động kinh tế đối ngoại cũng
nh trong quá trình phát triển kinh tế đất nớc
Bớc sang năm 2001 và 2002, các số liệu thống kê về tình hình kinh tế xã hộivẫn đợc tổng kết qua nhiều nguồn tài liệu khác nhau Tuy nhiên, đây chỉ lànhững số liệu thống kê riêng lẻ của từng năm, thậm chí của từng quý, từng tháng
mà không nằm trong hệ thống chỉ tiêu, dữ liệu của 10 năm trớc đó (1991 2000); hơn nữa những số liệu thống kê từ các nguồn khác nhau cũng khôngthống nhất với nhau
-Từ những lý do đa ra nh trên, để đảm bảo tính nhất quán và tính chính xáctrong quá trình phân tích, trong phần này chúng ta sẽ chỉ sử dụng những số liệuthống kê từ năm 1991 đến năm 2000 Đây cũng chính là 10 năm phát triển mạnh
mẽ nhất của nền kinh tế Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay Tuy nhiên các sốliệu thống kê của năm 2001 và những tháng đầu năm 2002 cũng sẽ đợc đề cập
đến trong một số nội dung
1 Ngoại thơng tạo động lực cho tăng trởng kinh tế
Tăng trởng kinh tế là sự tăng lên của sản lợng hàng hoá và dịch vụ mà sựtăng trởng này đợc duy trì trong một thời gian dài Kể từ khi bắt đầu công cuộccải cách kinh tế với chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt đợc nhữngthành tựu tăng trởng nổi bật Trong giai đoạn 1991 - 2000, Việt Nam là mộttrong 10 nớc cớ tốc độ tăng trởng cao trên thế giới Tốc độ tăng trởng thời kỳnày cũng đạt đợc mức độ cao nhất so với tất cả các thời kỳ trớc đó ở Việt Nam
Từ năm 1991 đến năm 2000, tổng sản phẩm trong nớc tăng liên tục với tốc độbình quân 7,56%/năm nhờ vậy, đến năm 2000, tổng sản phẩm trong nớc đã gấp2,07 lần so với năm 1990 Trong 10 năm 1991 - 2000, kinh tế Hàn Quốc gấp2,66 lần với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 10,28%; hai chỉ tiêu tơng ứng củaSingapo là 2,05 lần và 7,43%; Malaixia là 1,87 lần và 6,5%; Kinh tế Trung Quốc