Bauer cho rằng: “Công nghệ học phần mềm là việc thiết lập và sử dụng các nguyên tắc công nghệ học đúng đắn dùng để thu đợc phần mềm một cách kinh tế vừa tin cậy vừa làm việc hiệu quả trê
Trang 1một số vấn đề lý luận liên quan đến xuất khẩu phần mềm
nó Mỗi ngời dới mỗi góc độ lại có một quan điểm riêng
Có quan điểm cho rằng CNTT là hệ thống các tri thức và phơng pháp khoa học, cáccông cụ và phơng tiện kỹ thuật hiện đại, các giải pháp công nghệ… đợc sử dụng đểthu thập, lu trữ, xử lý, sản xuất và truyền bá thông tin nhằm giúp con ngời nhậnthức, tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin nhnguồn tài nguyên quan trọng nhất CNTT bao gồm chủ yếu là máy tính, kể cả các
bộ vi xử lý, mạng viễn thông nối các máy tính, phần mềm và nội dung thông tin.1
Quyết định 49/ CP của Thủ tớng chính phủ ra ngày 14/ 8/ 2003 định nghĩa rõ ràng
hơn: “CNTT là tập hợp các phơng pháp khoa học, các phơng tiện và công cụ kỹ
thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngời và xã hội.”2
1 Theo www.mofa.gov.vn , nhập vào ngày 24/11/2000.
2 Quyết định số 49/CP của Thủ tớng chính phủ về phát triển CNTT ở nớc ta trong những năm 1990 –
www.vietsoftonline.com.vn
Trang 2Vậy thực chất CNTT là gì?
Theo giáo s Jim Senn – Trởng khoa hệ thống thông tin máy tính của Trờng Đạihọc Georgia, Hoa Kỳ, CNTT gồm 3 bộ phận: máy tính, mạng truyền thông và know– how.3
• Máy tính là một thiết bị gồm 3 bộ phận: phần cứng, phần mềm và thông tin
• Mạng truyền thông là một hệ thống kết nối các mạng máy tính, bao gồm cảphần cứng và phần mềm
• Know – how là một khái niệm chỉ con ngời, qui trình nghiệp vụ và phần mềmứng dụng
CNTT ngày nay đang phát triển theo hớng hội tụ với viễn thông, truyền thanh,truyền hình, báo chí, xuất bản Hiểu theo nghĩa rộng nhất thì CNTT bao gồm bốn
địa hạt có liên hệ hữu cơ với nhau: viễn thông, điện tử, tin học (kể cả các thiết bị vàphần mềm), và các áp dụng của tin học trong khoa học kỹ thuật, hành chánh, quảntrị và kinh doanh Còn theo nghĩa hẹp, CNTT bao gồm công nghệ học phần cứng(CNPC) và công nghệ học phần mềm (CNPM)
Công nghệ học phần mềm
Cũng giống nh CNTT, có rất nhiều khái niệm về CNPM đợc đa ra dới các góc độkhác nhau, tại những thời điểm khác nhau
Năm 1969, Friedrich L Bauer cho rằng: “Công nghệ học phần mềm là việc thiết
lập và sử dụng các nguyên tắc công nghệ học đúng đắn dùng để thu đợc phần mềm một cách kinh tế vừa tin cậy vừa làm việc hiệu quả trên các máy thực.”4
Đến năm 1995, trớc sự phát triển nh vũ bão của CNTT, K.Kawamura – giáo s Kỹthuật máy tính và điện tử và quản lý công nghệ – trung tâm quản lý công nghệ Nhật
3 Theo luận văn “Giải pháp để hoàn thiện nghiệp vụ xuất khẩu phần mềm” – Trần Hằng Thu – EK35 Trung 1 -
ĐHNT HN.
4 Giáo trình Công nghệ học phần mềm - Đại học Bách khoa Hà Nội
Trang 3Bản – Hoa Kỳ lại đa ra khái niệm: “Công nghệ học phần mềm là lĩnh vực học
vấn về các kỹ thuật, phơng pháp luận công nghệ học (lý luận và kỹ thuật đợc hiện thực hóa trên những nguyên tắc, nguyên lý nào đó) trong toàn bộ quy trình phát triển phần mềm nhằm nâng cao cả chất và lợng của sản xuất phần mềm.”5
Một cách tổng quát nhất, có thể nói CNPM là lĩnh vực khoa học về các phơng phápluận, kỹ thuật và công cụ tích hợp trong quy trình sản xuất và vận hành phần mềmnhằm tạo ra phần mềm với những chất lợng mong muốn
Điều đáng nói ở đây là cần phân biệt hai cặp khái niệm dễ nhầm là “công nghệ
học phần mềm” và “công nghiệp phần mềm”; “công nghệ thông tin” và “công nghiệp công nghệ thông tin” Nh trình bày ở trên, ta có thể hiểu công nghệ học
phần mềm, công nghệ thông tin là những khái niệm thuộc lĩnh vực học thuật Còncông nghiệp phần mềm (CNpPM), công nghiệp công nghệ thông tin (CNp CNTT)
là những khái niệm thuộc lĩnh vực kinh tế CNpPM chỉ một ngành công nghiệpbao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm và cung ứng các dịch vụphần mềm Còn CNp CNTT là một ngành công nghiệp bao gồm các hoạt động sảnxuất, kinh doanh các sản phẩm và cung ứng các dịch vụ liên quan đến CNTT màtheo nghĩa hẹp là phần cứng và phần mềm
2. Khái quát chung về phần mềm và sản phẩm, dịch vụ phần mềm
2.1. Phần mềm
2.1.1. Khái niệm
Theo Quyết định số 128/2000 QĐ - Ttg do Thủ tớng chính phủ ban hành, “phần
mềm đợc hiểu là chơng trình, tài liệu mô tả chơng trình, tài liệu hỗ trợ, nội dung thông tin số hóa.”6
5 Nh 4
6 Quyết định số 128/2000 QĐ - Ttg về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu t và phát triển công nghệ phần mềm – www.vietsoftonline.com.vn
Trang 4Hiểu theo nghĩa hẹp, phần mềm là dịch vụ chơng trình để tăng khả năng xử lý củaphần cứng của máy tính chẳng hạn nh Hệ điều hành Còn hiểu theo nghĩa rộng,phần mềm là tất cả các kỹ thuật ứng dụng để thực hiện những dịch vụ chức năngcho mục đích nào đó của phần cứng Với cách hiểu này, phần mềm là một kháiniệm không chỉ bao gồm các phần mềm cơ bản, các phần mềm ứng dụng mà cònchỉ cả khả năng, kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng của kỹ s – ngời chế ra phầnmềm.
Nói tóm lại, trong một hệ thống máy tính, nếu trừ bỏ đi các thiết bị và các loại phụkiện thì phần còn lại chính là phần mềm
2.1.2. Phân loại
Có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại phần mềm Tuy nhiên, do mục tiêu củakhóa luận không đi sâu vào khía cạnh kỹ thuật nên chỉ phân loại phần mềm theomục đích sử dụng Với căn cứ này, phần mềm đợc chia làm 2 loại: phần mềm hệthống và phần mềm ứng dụng
• Phần mềm hệ thống (System Sofware): quản lý và điều hành mọi hoạt động của
máy tính ở mức hệ thống
• Phần mềm ứng dụng (Application Software): đợc thiết kế nhằm sử dụng sức
mạnh của máy tính trong việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể Phần mềm ứngdụng lại bao gồm 3 loại: phần mềm ứng dụng cho ngời dùng thông thờng (tròchơi, phần mềm học tập…), phần mềm ứng dụng chuyên ngành (phần mềmquản lý tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…), và phần mềm đa ngành (phần mềm
kế toán quản lý, nhân sự, soạn thảo văn bản…)
2.1.3. Đặc tính chung
Trang 5Là một hàng hóa trong nền kinh tế thị trờng, phần mềm cũng có hai thuộc tính làgiá trị và giá trị sử dụng Tuy nhiên, không giống những hàng thông thờng nh gạo,thủy sản, phần mềm là một loại hàng hóa đặc biệt có những đặc tính riêng.
Thứ nhất, phần mềm là một loại hàng hóa vô hình, chứa đựng ý tởng và sáng tạo
của tác giả, nhóm tác giả làm ra nó Hàm lợng chất xám của phần mềm rất đậm
đặc Cái mà chúng ta nhìn thấy nh đĩa CD, đĩa mềm… chỉ là cái để chứa phầnmềm Ngời ta không thể đánh giá phần mềm bằng những chỉ tiêu thông thờng nhdài bao nhiêu mét, nặng bao nhiêu cân
Thứ hai, phần mềm vốn có lỗi tiềm tàng Không có phần mềm nào khi làm ra đã
hoàn hảo Quy mô càng lớn thì khả năng có lỗi càng cao Lỗi phần mềm dễ bị pháthiện bởi ngời sử dụng Một minh chứng cho đặc tính này là trờng hợp hệ điều hànhWindows XP vốn đợc Microsoft tự tin là hệ điều hành chuyên nghiệp vẫn khôngtránh đợc lỗi, đặc biệt là các lỗi an toàn bảo mật cho phép tin tặc tấn công các máy
có sử dụng các phiên bản Windows này Điều này có thể thấy rõ qua sự phát hoạicủa sâu máy tính Blaster và các biến thể của nó do đã khai thác đợc lỗi tràn bộ đệmcủa các phiên bản Windows
Thứ ba, tuy phần mềm nào cũng tiềm tàng lỗi nhng chất lợng phần mềm không vì
thế mà giảm đi Trái lại, nó còn có xu hớng tốt lên sau mỗi lần có lỗi đợc phát hiện
và sửa chữa Cũng vẫn trong trờng hợp virus Blaster tấn công hệ điều hànhWindows, sau khi đã cập nhật các bản sửa lỗi hoặc cấu hình tờng lửa thì ta hoàntoàn có thể vô hiệu hóa khả năng lây nhiễm và phá hoại của sâu Blaster Nóichung, sau mỗi lần sửa lỗi nh thế, phần mềm lại trở nên tốt hơn
Thứ t, phần mềm rất dễ bị mất bản quyền Sở dĩ vậy bởi việc sao chép phần mềm
rất đơn giản Khi đã có một bản phần mềm, chỉ cần một vài động tác sao chép là cóthể có ngay một bản thứ hai Điều này thật quá dễ dàng so với việc làm ra mộtchiếc ô tô, hay một TV giống hệt cái ban đầu Đáng chú ý là việc mất bản quyền ở
đây không chỉ là mất bản quyền về bản thân phần mềm đó mà còn bao gồm bản
Trang 6quyền về ý tởng sản xuất ra phần mềm đó Vì thế, có thể nói ý tởng phần mềm làcủa chung.
Thứ năm, vòng đời phần mềm rất ngắn ngủi Điều này thật dễ hiểu vì CNTT là một
công nghệ biến chuyển nhanh Phần mềm, hệ thần kinh mà con ngời trang bị chomáy tính để máy tính hoạt động theo ý muốn mình, cũng phải thay đổi theo Khi đã
có một phần mềm mới ra đời, u việt hơn thì phần mềm cũ chắc chắn sẽ bị đào thải
Thứ sáu, đầu t cho R&D để hoàn thiện sản phẩm phần mềm là rất lớn Đây là một
điều bắt buộc nếu các doanh nghiệp sản xuất phần mềm muốn tồn tại và phát triểnbởi nh ta đã biết, chu kỳ phần mềm rất ngắn ngủi Nếu không nghiên cứu để làm raphần mềm mới thay thế phần mềm cũ, hoặc cải tiến phần mềm cũ, doanh nghiệp sẽmất khách hàng, thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh
Thứ bảy, tính toàn cầu và cạnh tranh trong ngành sản xuất và xuất khẩu phần mềm
rất mãnh liệt Đặc tính này là hệ quả của hai đặc tính trên Với một sản phẩm cóvòng đời ngắn, có đầu t cho R&D lớn, cạnh tranh là điều tất yếu Với sự phát triểnmạnh của CNTT, cạnh tranh đã không chỉ còn dừng trong biên giới quốc gia màcòn vơn tới phạm vi toàn cầu
Thứ tám, bán trên mạng là hình thức phân phối chủ yếu Đây là một đặc tính nổi
bật của phần mềm Phần mềm là một bộ phận của CNTT mà CNTT ngày này gắnliền với khái niệm mạng Hơn bất kỳ sản phẩm nào khác, bán hàng qua mạng làhình thức thuận tiện và dễ dàng nhất khi kinh doanh phần mềm
2.2. Sản phẩm và dịch vụ phần mềm
Không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm phần mềm – một khái niệm thuộc lĩnh
vực CNPM, sản phẩm phần mềm là một khái niệm gắn liền với sự hình thành và
phát triển của CNpPM Chỉ khi phần mềm đợc đem ra mua bán trao đổi, trở thànhhàng hóa thì mới xuất hiện CNpPM Và sản phẩm phần mềm càng phong phú đadạng thì CNpPM càng lớn mạnh
Trang 7Quyết định số 128/2000 QĐ - Ttg của Thủ tớng chính phủ quy định: “Sản phẩm
phần mềm là phần mềm đợc sản xuất và đợc thể hiện hay lu trữ ở bất kỳ một dạng vật thể nào, có thể đợc mua bán hoặc chuyển giao cho đối tợng khác sử dụng.” Sản phẩm phần mềm theo cách hiểu của Quyết định này bao gồm phần
mềm nhúng, phần mềm đóng gói, phần mềm chuyên dụng và sản phẩm thông tin sốhóa
• Phần mềm nhúng là sản phẩm phần mềm đợc nhà sản xuất thiết bị cài sẵn vào
thiết bị và đợc sử dụng cùng thiết bị mà không cần có sự cài đặt của ngời sửdụng hay ngời thứ ba
• Phần mềm đóng gói là sản phẩm phần mềm có thể sử dụng đợc ngay sau khi
ngời sử dụng hoặc nhà cung cấp dịch vụ cài đặt vào các thiết bị hay hệ thống.Chúng gồm hai loại: phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng
• Phần mềm chuyên dụng là sản phẩm phần mềm đợc phát triển theo yêu cầu cụ
thể và riêng biệt của khách hàng
• Sản phẩm thông tin số hóa là nội dung thông tin số hóa đợc lu trữ trên một vật
động cung cấp dịch vụ liên quan đến phần mềm Có lẽ vì vậy mà đối tợng đợc hởng
u đãi nh quy định trong Quyết định 128/2000 QĐ - Ttg là những tổ chức, cá nhânsản xuất sản phẩm phần mềm và cung cấp dịch vụ phần mềm Theo quyết định này,
dịch vụ phần mềm đợc định nghĩa là “mọi hoạt động trực tiếp phục vụ việc sản xuất sản phẩm phần mềm, khai thác, nghiên cứu, sử dụng, đào tạo, phổ biến và hoạt động tơng tự khác liên quan đến phần mềm.” Các dịch vụ này bao gồm: t
Trang 8vấn phần mềm, tích hợp, cung cấp hệ thống, dịch vụ chuyên nghiệp về phần mềm,gia công phần mềm, dịch vụ xử lý dữ liệu, huấn luyện và đào tạo…
Theo tinh thần này, hoạt động xuất khẩu phần mềm phải đợc hiểu là xuất khẩu cảsản phẩm lẫn dịch vụ phần mềm Vì vậy, kể từ đây, trong phạm vi luận văn này, nếukhông có giải thích gì khác, xin đợc dùng khái niệm “phần mềm” để chỉ chung cảsản phẩm lẫn dịch vụ phần mềm mỗi khi đề cập đến hoạt động sản xuất và xuấtkhẩu phần mềm
3. Các hình thức xuất khẩu phần mềm
Xuất khẩu phần mềm (XKPM) đợc tiến hành dới bốn hình thức: gia công phầnmềm xuất khẩu, xuất khẩu phần mềm đóng gói, xuất khẩu phần mềm tại chỗ vàxuất khẩu lao động phần mềm Tuy nhiên, căn cứ vào thực trạng hoạt động XKPMnớc ta hiện nay - thị phần giành cho xuất khẩu phần mềm tại chỗ quá nhỏ, còn xuấtkhẩu lao động phần mềm cha đủ sức để vơn ra thế giới, chỉ xin đi sâu phân tích haihình thức đầu
3.1. Gia công phần mềm xuất khẩu
Gia công phần mềm xuất khẩu là việc công ty phần mềm trong nớc theo yêu cầu
đặc tả của khách hàng nớc ngoài mà làm ra sản phẩm phần mềm và nhận phí giacông Khách hàng nớc ngoài có thể hỗ trợ về tài chính nếu nh khối lợng công việctơng đối lớn
Nh vậy, gọi là gia công xuất khẩu nhng gia công phần mềm xuất khẩu không giống
nh gia công các hàng hóa khác Đối với các hàng hóa thông thờng, bên đặt gia côngthờng cung cấp nguyên liệu thô để bên nhận gia công chỉ việc tiến hành sản xuấtrồi thu phí gia công Còn với gia công phần mềm, không có nguyên liệu thô để giaocho bên nhận gia công mà chỉ có trờng hợp bên đặt gia công yêu cầu bên kia sửdụng một ngôn ngữ lập trình nào đó Nếu đây là một ngôn ngữ thông dụng mà bêngia công đã có sẵn tại cơ sở thì thôi, còn nếu là một ngôn ngữ đặc biệt thì bên đặt
Trang 9gia công sẽ cung cấp Bên nhận gia công tự tìm hiểu ngôn ngữ đó rồi tiến hành theoyêu cầu của khách hàng.
Đây là hình thức xuất khẩu phần mềm chủ yếu của các nớc đang phát triển bởi nó
có khá nhiều u điểm
• Trớc hết, các công ty gia công không phải lo đầu ra cho sản phẩm, không phải
lo thiết kế và tạo lập ý tởng về sản phẩm, không phải đầu t vốn Điều này rất phùhợp với các doanh nghiệp vừa, nhỏ ở các nớc đang phát triển bởi các doanhnghiệp này vốn ít, nhân lực mỏng, thiếu cả kinh nghiệm cạnh tranh lẫn kiếnthức về thị trờng quốc tế
• Ngoài ra, từ những hợp đồng gia công nh vậy, các nớc nhận gia công có thể tiếpcận với công nghệ mới, làm quen dần với thị trờng quốc tế
Tuy vậy, gia công phần mềm xuất khẩu cũng có nhiều nhợc điểm
• Thứ nhất, công ty nhận gia công chỉ thu đợc mức phí gia công nhỏ bé Khoảntiền này thờng chẳng là gì so với tổng lợi nhuận có đợc từ việc bán sản phẩmcuối cùng
• Thứ hai, bên nhận gia công không đợc giữ bản quyền sản phẩm Điều này về dàihạn là không tốt đối với công ty nhận gia công bởi họ sẽ không đợc thị trờngbiết đến, hoặc chỉ biết đến nh một ngời làm thuê
• Cuối cùng, công ty nhận gia công thụ động từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ.Khi tiềm lực còn nhỏ thì việc này là một u điểm bởi có thể học đợc công nghệmới, tận dụng đợc hệ thống phân phối của đối tác Nhng trong dài hạn, việc chỉdừng lại ở gia công xuất khẩu sẽ làm mất tính năng động của công ty, làm công
ty xa rời thị trờng và giảm năng lực cạnh tranh
3.2.Xuất khẩu phần mềm đóng gói
Xuất khẩu phần mềm đóng gói là việc công ty phần mềm trong nớc dựa trên các kếtquả nghiên cứu thị trờng của mình, lựa chọn sản xuất sản phẩm để tiêu thụ trên thị
Trang 10trờng nớc ngoài Khách hàng là ngời sử dụng cuối cùng còn công ty phần mềm làngời nắm giữ bản quyền sản phẩm.
Xuất khẩu phần mềm đóng gói có những u điểm mà gia công phần mềm không có
đợc Đó là:
• Ngời xuất khẩu không phải chia xẻ lợi nhuận với một ai Đây là một u điểmlớn so với gia công phần mềm xuất khẩu, hình thức xuất khẩu mà ngời nhận giacông chỉ đợc nhận một khoản phí gia công nhỏ bé
• Ngời xuất khẩu và ngời nhập khẩu tiếp xúc trực tiếp với nhau Vì thế ngờixuất khẩu nắm rất rõ tình hình thị trờng thế giới Bản quyền sản phẩm làm ra lạinằm trong tay ngời xuất khẩu nên nếu muốn phát triển vị thế của mình trên thịtrờng không gặp nhiều trở ngại nh công ty chỉ chuyên gia công phần mềm xuấtkhẩu
Những u điểm này có đợc là do công ty xuất khẩu phần mềm đóng gói đảm nhậnmọi công đoạn, từ khâu sản xuất phần mềm cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm Nhngcũng chính điều này làm cho hình thức xuất khẩu phần mềm đóng gói có một sốnhợc điểm
• Nếu công ty nhận gia công phần mềm xuất khẩu hoàn toàn yên tâm về việcsản phẩm làm ra chắc chắn sẽ tiêu thụ đợc thì với công ty xuất khẩu phần mềm
đóng gói, tỷ lệ rủi ro do không đảm bảo đợc thị trờng đầu ra cho sản phẩm khálớn, nhất là với tốc độ phát triển mạnh mẽ của CNTT hiện nay
• Để có thể đảm đơng đợc mọi khâu nh vậy, công ty cần có một tiềm lực nhất
định về vốn cũng nh về nhân lực
• Ngay cả khi đủ tiềm lực về vốn và nhân lực, công ty xuất khẩu phần mềm
đóng gói vẫn gặp rất nhiều rủi ro bởi phải đảm nhận nhiều công đoạn từ phântích, thiết kế, lập trình kiểm thử và phân phối
Trang 11ë ViÖt Nam hiÖn nay, do nÒn CNpPM cßn kÐm ph¸t triÓn, tiÒm lùc cña c¸c c«ng typhÇn mÒm cha lín nªn h×nh thøc xuÊt khÈu phæ biÕn nhÊt vÉn lµ gia c«ng phÇnmÒm xuÊt khÈu.