1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam

39 440 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việc Phát Triển Thị Trường Tài Chính Việt Nam
Tác giả Mai Thị Thanh Thuỷ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 66,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, thu nhập của dân c ngàycàng đợc nâng cao, vì vậy ngoài hình thức huy động vốn truyền thống, hệ thốngNgân hàng Việt Nam đã thực hiện đa dạng

Trang 1

Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trờng tài chính Việt Nam

I Thực trạng hoạt động thị trờng tài chính Việt Nam

1 Thị tr ờng tiền tệ

1.1 Quá trình hình thành thị trờng tiền tệ Việt Nam

Quá trình hình thành và phát triển thị trờng tiền tệ Việt Nam gắn liền vớiquá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam Trớc năm 1986, hệthống ngân hàng Việt Nam vẫn chịu ảnh hởng của nền kinh tế tập trung baocấp Toàn bộ hệ thống ngân hàng đều hoạt động theo cơ chế một cấp, Ngânhàng Nhà nớc (NHNN) ra đời năm 1951 thực hiện chức năng phát hành tiền tệ,

điều tiết cung cấp tiền tệ và đợc giúp đỡ bởi các ngân hàng thơng mại quốcdoanh nh Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công thơng, Ngân hàng Đầu tphát triển và ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam NHNN Việt Nam thời gian đókhông chỉ đơn thuần thực hiện chức năng quản lý nhà nớc mà nó còn trực tiếptham gia vào các hoạt động kinh tế với t cách nh một Ngân hàng thơng mại(NHTM) Giai đoạn này, thị trờng tiền tệ của Việt Nam là thị trờng đóng cửavới đối tợng đợc phục vụ chính là các xí nghiệp và cơ quan Nhà nớc Mối quan

hệ ngân hàng và khách hàng không dựa trên cơ sở kinh tế mà chủ yếu theo cơchế hành chính mệnh lệnh

Bắt đầu từ cuối những năm 1980, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đợc cảicách và cơ cấu lại Hệ thống ngân hàng hai cấp ra đời với những loại hình ngânhàng mới trớc đây cha từng có Nhng phải đến năm 1994, các ngân hàng thơngmại ngoài quốc doanh mới thực sự thể hiện hoạt động thông qua việc nắm giữmột phần các tài sản của hệ thống ngân hàng

Trang 2

Bảng 3: Quy mô phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Nguồn: Vụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà n ớc Việt Nam

Trong thập kỷ 90, tỷ lệ cung cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng so vớiGDP tăng gần gấp hai lần từ 13% lên 25%, tỷ lệ huy động vốn cũng tăng t ơng

tự từ 10% GDP đến 20% GDP Quan trọng hơn là ngoài các doanh nghiệp quốcdoanh, các thành phần kinh tế đã tham gia vào thị trờng tiền tệ Tỷ lệ tín dụngcho các xí nghiệp và công ty quốc doanh giảm gần 2 lần từ 90% xuống 48%,phần vốn tín dụng cung cấp bởi 4 ngân hàng thơng mại quốc doanh cũng chỉchiếm 80% tổng tín dụng

Trong những năm qua, các NHTM đã mở ra nhiều hình thức huy động vốnvới những kỳ hạn khác nhau: từ không kỳ hạn, đến kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 1năm, 2 năm, 3 năm

Phơng thức huy động vốn truyền thống qua tiền gửi tiết kiệm, với lãi suấtcác loại tiền gửi đợc xác định trên cơ sở tỷ lệ trợt giá cộng với khoảng 3-5% lãisuất thực hiện trong thời gian qua đã khuyến khích ngời dân gửi tiền vào Ngânhàng Nếu số d tiền gửi tiết kiệm những năm 1986-1987, 1989 chỉ đạt trên dới

2000 tỷ VND thì đến cuối năm 2000 đã lên tới 30.000 tỷ VND

Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, thu nhập của dân c ngàycàng đợc nâng cao, vì vậy ngoài hình thức huy động vốn truyền thống, hệ thốngNgân hàng Việt Nam đã thực hiện đa dạng hóa thêm những hình thức huy độngvốn mới vừa tiên tiến, vừa phù hợp với thói quen và tâm lý của ngời Việt Nam.Mọi ngời dân có nguốn tiền nhàn rỗi không chỉ có một cách gửi tiền tiết kiệm

nh trớc đây nữa mà còn đợc chủ động lựa chọn nhiều hình thức gửi tiền khácnhau với nhiều mức lãi suất khác nhau: nh kỳ phiếu NHTM bằng VND vàngoại tệ, trái phiếu NHTM, tiết kiệm xây dựng nhà ở…

1.2 Thực trạng hoạt động thị trờng tiền tệ Việt Nam

Điều 9, khoản 2 Luật NHNN định nghĩa “Thị trờng tiền tệ là thị trờng vốnngắn hạn, nơi mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, bao gồm tín phiếu kho bạc,tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác”

Điều 70 Luật các tổ chức tín dụng cũng quy định: “Tổ chức tín dụng đợctham gia thị trờng tiền tệ do NHNN tổ chức, bao gồm thị trờng đấu giá tín

Trang 3

phiếu kho bạc, thị trờng nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trờng có giá ngắnhạn khác theo quy định của NHNN”

Nh vậy, có thể hiểu thị trờng tiền tệ do NHNN tổ chức bao gồm các thị ờng sau: Thị trờng đấu giá tín phiếu kho bạc; Thị trờng nội tệ liên ngân hàng;Thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng; Thị trờng giấy tờ có giá ngắn hạn khác Thị tr ờng tín phiếu kho bạc: đợc triển khai thí điểm từ tháng 12/1994.chính thức đi vào hoạt động năm 1995 Thành viên tham gia ngoài các NHTM,ngân hàng liên doanh; các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài còn có các công tytài chính, công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu t – gọi chung là các tổchức tài chính trung gian Ngời mua là các tổ chức tài chính trung gian, ngờibán là Bộ tài chính (Kho bạc Việt Nam, giá mua là lãi suất qua đấu thầu, hìnhthức mua là ở dạng ghi sổ hay dạng chứng chỉ tín phiếu

tr-Cho đến nay, dới hình thức đấu thầu tín phiếu kho bạc Kho bạc Nhà nớc

đã thu đợc hàng ngàn tỷ đồng Việc đấu thầu qua NHNN đã tiết kiệm đợc mộtkhoản chi phí rất lớn cho ngân sách Nhà nớc so với việc chi cục kho bạc trựctiếp bán tín phiếu kho bạc

Từ đầu năm 2000, thị trờng đấu thầu tín phiếu Kho bạc Nhà nớc đã hoạt

động thờng xuyên hơn góp phần hoàn thiện thị trờng tài chính ở nớc ta Đếnngày 20/10/2000 có 47 thành viên tham gia thị trờng này Tuy nhiên hoạt độngcủa thị trờng này vẫn còn kém sôi động

Từ ngày 21/2/2000 – 25/9/2000 đã tổ chức đợc 30 phiên đấu thầu, có 111lợt thành viên dự thầu tức là bình quân mỗi phiên cha có tới 4 thành viên Mặc

dù đây là thị trờng đấu thầu lãi suất, song mỗi phiên rất ít ngời bán và ngờimua Điều này cho thấy sự kém hấp dẫn của thị trờng tín phiếu kho bạc Tổng

kế hoạch đấu thầu của 30 phiên là 4450 tỷ đồng, bình quân gần 150 tỷ

đồng/phiên Tổng số tiền tín phiếu kho bạc nhà nớc đã trúng thầu, đã bán đợc,tiền nộp vào kho bạc nhà nớc là 3793 tỷ đồng đạt 85.2% kế hoạch và bằng43.6% nhu cầu đăn ký của thành viên

Tín phiếu kho bạc nhà nớc phát hành theo hình thức ghi sổ, ngân hàng

th-ơng mại hay công ty bảo hiểm trúng thầu nộp tiền cho kho bạc nhà nớc theohình thức trừ lãi suất và đợc kho bạc nhà nớc thanh toán theo mệnh giá tínphiếu khi đến hạn Đối tợng tham gia đầu t tín phiếu kho bạc chủ yếu mới làcác ngân hàng thơng mại quốc doanh, chiếm trên 70% khối lợng tín phiếutrúng thầu trên thị trờng

Trang 4

Từ đầu năm 2001 đến cuối năm 2002 đã có 96 phiên giao dịch trong đó có

90 phiên giao dịch tín phiếu có kỳ hạn 364 ngày và 6 phiên giao dịch tín phiếu

có kỳ hạn 182 ngày, đạt 12.365 tỷ đồng Trong khi năm 2001 khối lợng trúngthầu chỉ đạt 46,25% so với giá trị tín phiếu dự kiến phát hành qua NHNN thìnăm 2002 đạt 100% so với giá trị tín phiếu dự kiến phát hành qua NHNN.(Bảng 4)

Trang 5

Bảng 4: Bảng kết quả hoạt động của thị trờng đấu thầu tín phiếu kho

bạc qua NHNN

kiến quaNHNN(tỷ VND)

Khối lợngtrúng thầu(Tỷ VND)

Nguồn: Vụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà n ớc Việt Nam

Thị tr ờng nội tệ liên ngân hàng: hoạt động từ tháng 7/1993 với các thànhviên là các NHTMCP, NHNN và nhằm giải quyết mối quan hệ vay mợn giữacác tổ chức tín dụng Trong năm 1993 mỗi tuần chỉ có 3 phiên giao dịch diễn ra

và các giao dịch này đợc tiến hành thông qua NHNN Nh vậy NHNN vừa đóngvai trò là ngời tổ chức thị trờng vừa đóng vai trò là thành viên thị trờng

Giai đoạn 1993 đến 1998 các thành viên thị trờng trực tiếp tiến hành cácgiao dịch với nhau và các phiên giao dịch đợc tiến hành vào tất cả các ngàytrong tuần Doanh số giao dịch một chiều (đi vay hoặc cho vay) hàng năm tronggiai đoạn này khoảng 80.000 - 140.000 tỷ VND, số d trung bình trên thị trờngkhoảng 10.000 - 15.000 tỷ VND

Trang 6

Bảng 5: Doanh số giao dịch qua trung tâm thị trờng liên

-Nguồn: Vụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà n ớc Việt Nam

Trong giai đoạn 1998 - 2002 trên thị trờng nội tệ liên ngân hàng ngoài cácthành viên cũ nh các NHTM, NHTMCP, NHNN còn có các chi nhánh NH nớcngoài, NH liên doanh Tổng doanh số giao dịch trên thị trờng nội tệ liên ngânhàng trong giai đoạn này đạt trên 140.000 tỷ VND trong đó các NHTM quốcdoanh thực hiện trên 60% tổng số các giao dịch; các chi nhánh NH nớc ngoài,

NH liên doanh thực hiện trên 25% tổng số các giao dịch (Bảng 6)

Bảng 6: Doanh số giao dịch trên thị trờng liên ngân hàng

(Phân loại theo loại hình tổ chức tín dụng)

Nguồn: Vụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà n ớc Việt Nam

Thị tr ờng ngoại tệ liên ngân hàng: bắt đầu hoạt động từ 15/10/1994 Thànhviên của thị trờng là các ngân hàng đợc phép kinh doanh ngoại tệ Qua thị trờngnày các ngân hàng có điều kiện gặp gỡ, mua – bán ngoại tệ lẫn nhau, giảiquyết đợc tình trạng thừa, thiếu ngoại tệ tạm thời, tăng tốc độ chu chuyển ngoại

tệ và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về ngoại tệ của nền kinh tế Thị tr ờng này làcơ sở cho việc thành lập thị trờng hối đoái tại Việt Nam và là nơi xác định tỷgiá thị trờng, làm cơ sở cho việc xác định tỷ giá chuẩn của NHNN và can thiệpcủa NHNN Tổng doanh số mua bán ngoại tệ của các ngân hàng với nhau là rất

Trang 7

ít chỉ chiếm trên dới 30% tống số giao dịch, so với tổng doanh số mua bánngoại tệ của các ngân hàng với khách hàng là trên 60% (Bảng 7)

Thị tr ờng các giấy tờ có giá ngắn hạn khác : (bao gồm cả thị trờng mở) lànơi thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhợng và trao đổi các giấy tờ cógiá ngắn hạn nh: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng, thơng phiếu, chứng chỉtiền gửi tiết kiệm và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác Mỗi năm doanh số giaodịch của các giấy tờ có giá ngắn hạn đạt khoảng 10.000 tỷ VND trong đó 98%

là doanh số giao dịch của kỳ phiếu Tuy nhiên, các giấy tờ có giá ngắn hạn chỉchiếm dới 6% tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng (Bảng 8)

Bảng 7: Tỷ trọng doanh số mua bán ngoại tệ

của các tổ chức tín dụng

m

Doanh sốmua bán

Với kháchhàng

TrênInterbank19

Nguồn: Vụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà n ớc Việt Nam

Bảng 8: Tình hình phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng

6.7906.588

12.05911.509

- Dài hạn (trong đó):

Trái phiếu

10.5284.682

16.2224.412

26.1026.158GTCG/Tổng nguồn

vốn (%)

Trang 8

nguồn vốn (%)

Nguồn: Vụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà n ớc Việt Nam

Tín dụng ngân hàng là hình thức huy động vốn chủ yếu của các doanhnghiệp Việt Nam Song cho tới nay, khả năng tiếp cận và chất lợng tín dụngngân hàng vẫn là vấn đề nổi cộm nhất, thể hiện qua độ sâu tài chính không cao,việc phân bổ tín dụng còn thiên lệch và tỷ lệ nợ xấu cao

Các ngân hàng thơng mại quốc doanh hiện chiếm 75% - 80% thị phần chovay và huy động cũng nh tài sản của toàn hệ thống ngân hàng Phần lớn tíndụng của các ngân hàng thơng mại quốc doanh đợc phân bổ cho các DNNN vàkhu vực nông nghiệp hoặc các ngành thay thể nhập khẩu, khả năng cạnh tranhyếu nh: giấy, xi măng, sắt thép, phân bón, mía đờng

Chất lợng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng thấp, thể hiện ở tỷ lệ nợquá hạn còn cao, mặc dù đã giảm từ khoảng 12,5% năm 1997 xuống còn 5%vào cuối năm 2002 (tính theo tiêu chuẩn Việt Nam, nếu tính theo tiêu chuẩnquốc tế thì nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng thơng mại cao hơn nhiều).Trong khi đó hệ thống ngân hàng thơng mại vẫn chứa đựng nhiều rủi ro Tỷ lệvốn tự có còn thấp, mới đạt 5,9% vào cuối năm 2002 so với mức thông lệ quốc

tế 8% Chơng trình xử lý nợ xấu cha triệt để và quá trình tái cơ cấu hệ thốngngân hàng diễn ra còn chậm Nợ quá hẹn tiếp tục có nguy cơ phát sinh do tăngcung tín dụng và việc cho vay theo chỉ định đối với nhiều công trình lớn, hiệuquả kinh tế có thể thấp Vấn đề "sai lệch kép" (cả sai lệch về cơ cấu thời hạn vàcơ cấu đồng tiền) cũng khá nghiêm trọng, dễ gây sốc cho hệ thống do tìnhtrạng đô la hoá cao, lãi suất đã (gần nh) thả nổi, trong khi hiệu lực điều tiết củacác công cụ chính sách tiền tệ còn thấp Năng lực quản lý rủi ro của các ngânhàng thơng mại nhìn chung còn nhiều bất cập Đây cũng là cản trở lớn cho sựphát triển lành mạnh của thị trờng tín dụng

Thị trờng tín dụng u đãi tồn tại song song với thị trờng tín dụng thơng mạinhng ranh giới giữa hai thị trờng này cha đợc tách bạch Việc thành lập Quỹ Hỗtrợ phát triển là nhằm tách bạch hoạt động cho vay chính sách với hoạt độngcho vay thơng mại Tuy nhiên, hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển có nhiềutác động ảnh hởng tới sự phát triển lành mạnh của thị trờng tín dụng, đặc biệttrong việc hình thành lãi suất tín dụng thơng mại hợp lý, cũng nh việc kiểm soáthữu hiệu cung tiền tệ

Bên cạnh thị trờng tín dụng chính thức, ở nớc ta còn tồn tại thị trờng tíndụng phi chính thức, chủ yếu ở địa bàn nông thôn Mặc dù quy mô thị trờng là

Trang 9

không lớn nhng phạm vi hoạt động rộng và có những tác động nhất định đến thịtrờng tín dụng, nhất là hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thông và Ngân hàng Chính sách xã hội.

Đối với họat động cho vay của NHNN trên thị trờng tiền tệ thì có tất cả 5nghiệp vụ đợc tiến hành đó là: nghiệp vụ thị trờng mở; nghiệp vụ cho vay táicấp vốn; nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá; nghiệp vụ hoán đổingoại tệ và phát hành tín phiếu kho bạc

Trang 10

Bảng 9: Doanh số hoạt động của các nghiệp vụ

trên thị trờng tiền tệ của NHNN

Năm Thị trờng mở (Tỷ

VND)

Tái cấp vốn (Tỷ VND)

Chiết khấu (Tỷ VND)

Hoán đổi ngoại tệ (triệu USD)

TPKB (Tỷ VND)

Nguồn: Vụ chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà n ớc Việt Nam

Từ tháng 7 năm 2000, nghiệp vụ thị trờng mở đợc chính thức hoạt động ởViệt Nam và cho đến hết năm 2001 doanh số giao dịch của nghiệp vụ này làgần 4000 tỷ VND và đến hết năm 2002 con số này đã gấp trên 2 lần Tơng tựnghiệp vụ tái cấp vốn cũng tăng gấp đôi vào năm 2002 so với năm 2001 Trongkhi đó nghiệp vụ chiết khấu giảm đi một nửa Điều này cho thấy sự can thiệptrực tiếp của NHNN nhằm thực hiện chính sách tiền tệ đã giảm Thay vào đónghiệp vụ thị trờng mở (biện pháp can thiệp gián tiếp) đang tăng dần

2 Thị tr ờng chứng khoán

2.1 Tình hình hoạt động thị trờng chứng khoán Việt Nam

Sau 3 năm đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của thị trờngchứng khoán Việt Nam, thời gian còn quá ngắn để đánh giá sức sống của mộtthể chế tài chính mới nh TTCK, song điều ghi nhận đợc đầu tiên là, mặc dù vớiquá nhiều khó khăn trong một môi trờng kinh tế vĩ mô cha hoàn toàn thuận lợi, tr-

ớc những thử thách của một thể chế tài chính mới lần đầu tiên xây dựng ở nớc tanhng TTCK Việt Nam đã đợc giữ vững và ổn định, từng bớc phát triển Một điềucăn bản là xã hội Việt Nam đã phần nào làm quen đợc với sự tồn tại và hoạt

động của TTCK

Trang 11

Về hoạt động niêm yết và giao dịch chứng khoán:

Trong phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28 tháng 7 năm 2000 tại Trungtâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) chỉ có hai cổ phiếu đợc niêm yết, đó là

cổ phiếu REE và SACOM với tổng giá trị vốn niêm yết là 270 tỷ đồng Đếnphiên giao dịch thứ t ngày 4 tháng 8 năm 2000 có thêm hai cổ phiếu HAPACO

và TRANSIMEX đợc niêm yết Cổ phiếu LAFOOCO đợc niêm yết ngày 11tháng 12 năm 2001 Trong năm 2001 đã có thêm 5 cổ phiếu đợc niêm yết vàgiao dịch tại TTGDCK: SGH 16/7/2001, CAN 18/10/2001; DPC 26/11/2001;BBC, TRI 26/12/2001 Trong năm 2002, đã có 10 công ty cổ phần đợc cấp phépphát hành, 1 công ty tăng vốn, và đăng ký niêm yết cổ phiếu cho 11 công ty,nâng tổng giá trị cổ phiếu niêm yết trên TTCK lên 999,633 tỷ đồng Tính cho

đến tháng 7 năm 2003 thì tổng giá trị chứng khoán niêm yết là gần 6.600 tỷ

đồng bao gồm trên 1.000 tỷ đồng cổ phiếu của 21 công ty cổ phần và trên 5.500

tỷ đồng trái phiếu Chính phủ và trái phiếu ngân hàng Đầu t và Phát triển

(Nguồn: Tạp chí thị trờng chứng khoán Việt Nam - số 7 tháng 7 năm 2003)

Hiện nay trên thị trờng chứng khoán, loại trái phiếu công ty đợc niêm yết chỉ

có duy nhất một loại trái phiếu đó là trái phiếu Ngân hàng Đầu t và Phát triển ViệtNam Trái phiếu Ngân hàng Đầu t và Phát triển đợc phát hành ngày 26/1/2000(BID - 100) và đã chính thức đợc giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoánngày 15/11/2000 Đây là loại trái phiếu vô danh, kỳ hạn 5 năm, lãi suất 6,5%/nămtrả trớc và đợc điều chỉnh hàng năm nhng vẫn đảm bảo mức lãi suất tối thiểu là6,5%

Thời gian đầu TTGDCK chỉ thực hiện giao dịch 3 phiên 1 tuần, từ tháng3/2002 đã nâng lên 5 phiên 1 tuần Tính đến 30/6/2003 TTGDCK đã tổ chức đ-

ợc 570 phiên giao dịch chứng khoán liên tục, an toàn đạt trị giá chứng khoángiao dịch gần 3.700 tỷ đồng trong đó giao dịch cổ phiếu khoảng 88% và giaodịch trái phiếu gần 12%

Cho đến đến hết tháng 11 năm 2003, các công ty niêm yết đều là nhữngdoanh nghiệp nhà nớc đợc cổ phần hóa, và hoạt động kinh doanh của các công

ty có chiều hớng tốt, đều có lãi

Bảng 10: Tổng hợp cổ phiếu của các công ty niêm yết

STT Mã CK Tổng tài sản 2002

(tỷ đồng)

Lợi nhuận ròng 2002 (tỷ đồng)

Trang 12

Thời gian đầu khi thị trờng mới đi vào hoạt động, các công ty niêm yết đều

đã cố gắng để đáp ứng các quy định do ủy ban Chứng khoán Nhà nớc đề ra.Tuy nhiên, do cha có thói quen trong môi trờng hoạt động của TTCK, nên đa sốcác công ty niêm yết chỉ chú trọng vào thông tin định kỳ và thông tin phải cungcấp theo yêu cầu, cha chủ động cung cấp kịp thời thông tin liên quan tới hoạt

động của công ty

Việc lu ký chứng khoán đã tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch chứngkhoán tại TTGDCK Các thành viên lu ký đều tuân thủ các quy định về lu kýchứng khoán của UBCKNN và TTGDCK Hiện nay, hoạt động của các thànhviên lu ký nớc ngoài cha đáng kể do ngời nớc ngoài đầu t còn ít vào TTCK ViệtNam

Trang 13

Trong thời gian đầu, TTGDCK Tp Hồ Chí Minh, chỉ giao dịch 3 phiên/mộttuần; từ 1/3/2002 nâng lên 5 phiên một tuần, đồng thời nghiên cứu cải tiến quytrình thanh toán, giảm thời gian thanh toán từ 4 xuống còn 3 ngày theo thông lệquốc tế TTGDCK đã chủ động thực hiện việc cung cấp thông tin kịp thời thôngqua các công ty chứng khoán tới ngời đầu t, đến nay đã thực hiện cung cấpthông tin trực tuyến (on-line) thay cho việc cung cấp thông tin tại sàn thông qua

đại diện giao dịch của các công ty chứng khoán

Biên độ dao động giá chứng khoán là một trong những biện pháp đợc ápdụng nhằm ổn định thị trờng và bảo vệ các nhà đầu t trong thời kỳ hoạt độngban đầu của TTCK, và điều đó đợc thể hiện qua việc điều chỉnh biên độ theotình hình thực tế thị trờng Thời gian đầu, TTGDCK áp dụng biên độ dao độnggiá 2% sau đó tăng lên 7% và 3% Từ 20/5/2003 TTGDCK đã áp dụngmột số giải pháp kỹ thuật nh: hạ thấp lô giao dịch cổ phiếu, tăng từ 1 lên 2 lầnkhớp lệnh trong phiên giao dịch, bổ sung lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh(ATO), giảm tỷ lệ ký quỹ tối thiểu xuống 70% Việc áp dụng các giải pháp trênbớc đầu có tác dụng thu hút thêm nhà đầu t, đa dạng hình thức lệnh giao dịchtăng thêm lựa chọn cho nhà đầu t, tập dợt cho việc khớp lệnh liên tục sau này

Về chỉ số VN-index:

Đây là chỉ số chứng khoán duy nhất ở Việt Nam, phản ánh một cách kháiquát nhất tình hình hoạt động của thị trờng chứng khoán Việt Nam Phiên giaodịch đầu tiền đóng cửa của thị trờng chứng khoán Việt Nam đóng cửa với chỉ

số VN-index ở mức khởi điểm 100 và tổng giá trị giao dịch đạt 70,4 triệu đồng.Giá trị giao dịch trung bình của năm 2001 khoảng 6 tỷ đồng/phiên và năm 2002khoảng 4,2 tỷ đồng/phiên

Trong năm 2001 và 2002, VN-Index có những đợt tăng từ 15-20% nhngchủ yếu chỉ là những khoảng dừng để rồi thị trờng buộc phải nhấp nhận VN-Index trợt xuống các mức thấp hơn Tiếp theo đó là những đợt suy giảm lặp đilặp lại và bao giò cũng bắt đầu bằng lợng cầu yếu, rồi lợng cung tăng ồ ạt, đếnkhi giá cổ phiếu giảm thì lợng cung tăng đến “ngập lụt” thị trờng

Bảng 11: Chỉ số VN-index tại một số thời điểm

137 25-6-2001 571,04 Mức cao nhất trong thời gian qua

Trang 14

217 31-12-2001 235,4

Nguồn: Tạp chí chứng khoán số 7 tháng 7 năm 2003, www.mezfin.com

Trong năm 2003, VN-index có đợt tăng đột biến lần đầu trong 8 tháng đầuhoạt động của thị trờng chứng khoán Vào thời điểm này, VN-index tăng liêntục 2%/phiên và hầu nh không có một điểm dừng nào cho đến khi tăng gấp gần

5 lần giá trị ban đầu Trong giai đoạn cao trào trớc khi thị trờng bớc vào mộtcơn suy giảm, VN-index tiếp tục vọt lên 7%/phiên, để rồi sau đó tụt xuống saukhi VN-index tăng gấp 5,7 lần giá trị ban đầu

Tháng 11 năm 2003 là một trong những giai đoạn VN-index có tốc độ tăngtrởng cao nhất và tạo ra đợc ảnh hởng rõ nét nhất trong 40 tháng thành lập vàhoạt động của thị trờng chứng khoán Việt Nam Chỉ trong vòng 5 tuần, VN-index đã tăng hơn 27% Xét về quy mô, giá trị giao dịch của các chứng khoán(chỉ tính giao dịch cổ phiếu) trong tháng 11/2003 lớn hơn gấp gần 3 lần so mứctrung bình 10 tháng đầu năm 2003 và gần xấp xỉ quy mô giao dịch trung bìnhcủa hai năm 2001 và 2002 Yếu tố căn bản khác biệt tạo nên đợt tăng trởngtháng 11/2003 là sự phục hồi mạnh mẽ của sức cầu Đợt tăng trởng này cũngkéo về cho thị trờng những nhà đầu t “lạc lối” do mải đuổi theo giá vàng, giáUSD và lãi suất trong năm 2003 Trong năm 2002 và nửa đầu năm 2003, nhiềunhà đầu t đã chấp nhận bán cổ phiếu vì nhiều lý do, trong đó có lý do là tìmcách xoay vòng vốn

Về hoạt động của các công ty chứng khoán:

Cho đến tháng 7/2003, Uỷ bán chứng khoán Nhà nớc (UBCKNN) đã cấpgiấy phép hoạt động kinh doanh cho 12 công ty chứng khoán trong đó có 5công ty cổ phần và 7 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tình hìnhhoạt động của các công ty chứng khoán (trong số 12 công ty chứng khoán hiệnnay có 2 công ty mới bắt đầu hoạt động, đó là công ty chứng khoán Mê Kông -MSC triển khai hoạt động từ tháng 2/2003, công ty chứng khoán Thành phố HồChí Minh - HSC triển khai hoạt động từ tháng 4/2003 và công ty chứng khoánNgân hàng Đông á - EABS mới đợc phép tháng 5/2003) đợc thể hiện quanhững nôi dung sau:

Số tài khoản giao dịch chứng khoán mở tại các công ty chứng khoán tính

đến tháng 4/2003 tổng số tài khoản mở tại các công ty chứng khoán là gần

Trang 15

15.000 tài khoản, tăng 7% so với số lợng gần 14.000 tài khoản vào cuối năm

2002 và tăng hơn 65% so với số lợng 9.000 tài khoản vào cuối năm 2001 Nóichung, trong thời gian qua số lợng tài khoản giao dịch chứng khoán tại cáccông ty chứng khoán tăng lên, nhng trên thực tế con số này không phản ánh đ-

ợc trực trạng tình hình giao dịch trên thị trờng

Giao dịch chứng khoán: tổng trị giá giao dịch của các công ty chứng khoán

nói chung đã giảm sút mạnh so với các năm trớc Đến 31/3/2003, tổng trị giágiao dịch của các công ty chứng khoán đạt gần 237 tỷ đồng giảm hơn 47% sovới gần 450 tỷ đồng cùng kỳ năm trớc

Phí môi giới: phí môi giới của các công ty chứng khoán vẫn tiếp tục sút

giảm mạnh so với năm trớc Cụ thể, tổng phí môi giới của các công ty chứngkhoán thu đợc trong Quý I/2003 đạt gần 730 triệu đồng giảm hơn 65% so vớicùng kỳ năm trớc (quý I/2002 đạt hơn 2 tỷ đồng phí môi giới)

Trong 3 năm qua, các công ty chứng khoán không ngừng củng cố, hoànthiệ bộ máy tổ chức, mở rộng địa bàn hoạt động thông qua việc mở thêm chinhánh tại Hà Nội, Vũng Tàu, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai Kếtquả kinh doanh của các công ty chứng khoán đều có chiều hớng tốt, các chỉtiêu báo cáo tài chính cho thấy các công ty chứng khoán có tình hình tài chínhlành mạnh, khả năng thanh toán đợc đảm bảo Mặc dù năm 2003, các công tychứng khoán có sự giảm sút về lợi nhuận, nhng so với cùng kỳ năm trớc, tìnhhình sử dụng vốn của các công ty đã đợc cải thiện Tài sản dới dạng tiền giảm,

tỷ lệ tài sản cố định và đầu t dài hạn tăng lên Khả năng thanh toán của cáccông ty đợc đảm bảo

Nếu xét chung về cơ cấu doanh thu của các công ty chứng khoán có thểthấy thực tế tồn tại là doanh thu từ lãi vốn kinh doanh vẫn chiếm tỷ trọng lớntrong tổng doanh thu của các công ty chứng khoán mặc dù tỷ trọng doanh thunày ở từng công ty cũng rất khác nhau

Thị trờng cổ phiếu phi tập trung ra đời trớc thị trờng cổ phiếu tập trung,

có tiềm năng tơng đối lớn Hàng hóa của thị trờng bao gồm cổ phiếu của cácDNNN đợc cổ phần hóa và các công ty cổ phần đợc thành lập theo Luật Công

ty trớc đây và Luật Doanh nghiệp Cổ phiếu của các doanh nghiệp đợc cổ phầnhóa chiếm 90% tổng số cố phiếu đợc giao dịch trên thị trờng Giao dịch cổphiếu trên thị trờng phi tập trung đạt khoảng 1 tỷ USD, lớn hơn 5 lần so vớitổng giá trị cổ phiếu niêm yết tại thị trờng tập trung

Trang 16

Cho đến nay cha có luật điều chỉnh hoạt động của thị trờng phi tập trung.Các giao dịch trên thị trờng đợc tự tổ chức, mang tính tự phát, còn nhiều rủi ro.Hiện nay và trong thời gian tới, thị trờng này vẫn sẽ là nơi giao dịch cổ phiếuchủ yếu và góp phần huy động vốn đầu t dài hạn của nhiều công ty cổ phần.Những biến động của thị trờng này cũng có nhiều tác động đến hoạt động củathị trờng cổ phiếu tập trung.

2.2 Đánh giá chung về hoạt động thị trờng chứng khoán Việt Nam

* Những tiến bộ bớc đầu quan trọng

Thứ nhất, thị trờng chứng khoán Việt Nam đã có một thị trờng cấp 2 chính

thức với mô hình tổ chức và quản lý phù hợp với điều kiện của Việt Nam, thực

sự là hạt nhân trung tâm của thị trờng, tạo ra một cơ hội đầu t mới và thu hút

đ-ợc sự quan tâm từ các nhà đầu t trong nớc và nớc ngoài Các giao dịch chứngkhoán tại trung tâm giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (TTGDCKHCM) luôn

đảm bảo đợc tính liên tục và những yêu cầu điều tiết của Nhà nớc Hoạt độngcủa TTGDCKHCM cũng mở ra những cơ hội cho sự phát triển của các địnhchế, các tổ chức trung gian, đặc biệt là sự tham gia của các NHTM, trên cơ sở

đó góp phần hoàn thiện hệ thống tài chính Việt Nam Rồi đây, các ngân hàng

sẽ có điều kiện để khai thác các hình thức huy động và sử dụng vốn của thị ờng chứng khoán

tr-Thứ hai, với hoạt động của TTGDCKHCM, thị trờng chứng khoán Việt

Nam đã thực sự là một động lực góp phần thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá cácDNNN Tính đến trớc tháng 7 năm 2003 tức là đúng 3 năm hoạt động củaTTGDCKHCM số lợng công ty đợc cổ phần hoá đã tăng 1026 công ty, đến nay

đã có 1.100 DNNN đợc cổ phần hoá Điều quan trọng hơn là đã có sự thay đổi

về chất, cổ phần hoá giờ đây mới thực sự là cổ phần hoá, ngời mua cổ phầnkhông phải chỉ là công nhân viên thuộc công ty để giữ chỗ làm việc

Thứ ba, hoạt động của TTGDCKHCM đã chứng minh một thực tế rằng thị

trờng chứng khoán là thực sự cần thiết và có thể trở thành hiện thực, bổ sungcho hoạt động của hệ thống ngân hàng trong việc đứng vồn đầu t cho nền kinh

tế Thêm nữa, thị trờng chứng khoán cũng đã trực tiếp huy động đợc một lợngvốn cho ngân sách Nhà nớc, thông qua hoạt động của thị trờng trái phiếu Chínhphủ Chắc chắn trong tơng lai gần, các loại chứng khoán Nhà nớc sẽ đợc giaodịch nhộn nhịp hơn

Trang 17

Thứ t, với sự ra đời và hoạt động của TTGDCKHCM bớc đầu đã hình thành cho

các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các công ty niêm yết, cung cách và nền nếpmới, tích cực và phù hợp với những yêu cầu, nguyên tắc quản lý và hoạt động kinhdoanh có hiệu quả, có trách nhiệm với uy tín của bản thân doanh nghiệp và tráchnhiệm với cộng đồng

Thứ năm, hoạt động của TTGDCKHCM là bớc thí điểm tập dợt ban đầu có

ý nghĩa quan trọng, giúp cho các cơ quan quản lý, các thành viên tham gia đợcthực hành các hoạt động tài chính bậc cao của một nền kinh tế thị trờng hiện

đại vốn còn rất mới mẻ đối với Việt Nam Trên cơ sở đó, nâng cao kiến thức vàkinh nghiệm cũng nh hoàn thiện mọi mặt cần thiết để mở rộng, phát triển các

bộ phận khác của thị trờng chứng khoán trong giai đoạn tiếp theo

* Những mặt hạn chế và tồn tại

Bên cạnh những tiến bộ kể trên, hoạt động của thị trờng chứng khoán ViệtNam trong thời gian qua thể hiện là một "thị trờng còn rất sơ khai" và bộc lộnhiều hạn chế và tồn tại nh sau:

Thứ nhất, hàng hoá ít và nghèo nàn về chủng loại do vậy mà quy mô thị

tr-ờng quá nhỏ bé, khả năng rủi ro cao Các công ty niêm yết hầu hết là có số vốn

nhỏ (Bảng 10) Vấn đề này dẫn tới những hạn chế về lợng giao dịch và quan hệ

cung cầu trong các phiên giao dịch Trung bình mỗi phiên giá trị giao dịch chỉ

đạt khoảng 5 tỷ VND ở thị trờng cổ phiểu, nhiều phiên không có giao dịch tráiphiếu hoặc tổ chức đấu thầu không thành công Trái phiếu chính phủ cha thực

sự trở thành một công cụ đầu t hấp dẫn, thiếu sự đa dạng về chủng loại cũng

nh về thời hạn

Thứ hai, phạm vi ảnh hởng của thị trờng còn nhỏ hẹp dẫn tới lợng vốn huy

động qua thị trờng không đáng kể so với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội củanớc ta Các loại chứng khoán trên thị trờng cha mang tính chất đại diện cho cácngành công nghiệp nói riêng cũng nh phản ánh thực trạng phát triển của nềnkinh tế nói chung do các công ty niêm yết hiện nay đều không phải là các đơn

vị chủ chốt trong lĩnh vực hoạt động Số lợng công ty tham gia niêm yết trên thịtrờng còn quá ít do các quy định về tiêu chuẩn cha hợp lý hoặc do chính cácdoanh nghiệp cha muốn niêm yết

Thứ ba, cha có sự tham gia tích cực của các ngân hàng thơng mại quốc

doanh chủ chốt vừa là một hạn chế vừa là một nguyên nhân khiến cho hoạt

động của thị trờng chứng khoán Việt Nam nói chung và TTGDCKHCM nói

Trang 18

có thể cha hoạt động đủ điều kiện trong khi các định chế tài chính trung giankhác hầu nh cha có hoặc mới hình thành.

Thứ t, hệ thống giao dịch và các hoạt động phụ trợ của TTGDCKHCM

nhìn chung cha hoàn thiện Hoạt động của các công ty chứng khoán hiện naymới chỉ tập trung vào hoạt động môi giới mà cha thể cung cấp đợc các dịch vụtiện ích cho khách hàng Chính điều này đã làm hạn chế khả năng kinh doanhcủa các nhu cầu đầu t trên thị trờng chứng khoán Thời gian thanh toán còn dài.công tác thông tin chứng khoán và thị trờng còn ít và cha kịp thời

Thứ năm, công tác quản lý và cơ chế điều tiết còn nhiều bất cập Cha có

các tổ chức quản lý giám sát cần thiết nh: tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm Cơchế điều tiết vẫn mang đặc tính hành chính, chủ quan, duy ý chí vừa không chặtchẽ vừa quá cứng nhắc Điều này tất yếu dẫn đến hiệu quả quản lý nhà nớckhông những bị hạn chế thậm chí gây nên những tác động không theo mongmuốn

Thứ sáu, thị trờng chứng khoán tập trung - TTGDCKHCM tồn tại một

cách đơn độc, thiếu sự trợ giúp của các thị trờng "vệ tinh" nh thị trờng liên ngânhàng, thị trờng bán tập trung OTC Trong khi đó, "thị trờng ngầm" buôn báncác loại cổ phiếu cha niêm yết, nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nớc và các cơquan chức năng lại âm thầm hoạt động với quy mô khá lớn hàm chứa nhiềunguy cơ rủi ro cao và có thể sẽ có tác động không mong muốn

3 Đánh giá chung về thị tr ờng tài chính Việt Nam

3.1 Những mặt đợc của việc phát triển thị trờng tài chính

Một là, các cấu thành cơ bản của TTTC đã đợc hình thành Các thị trờng

tiền tệ, thị trờng trái phiếu và thị trờng cổ phiếu cùng loại công cụ tài chính haygiấy tờ có giá, đã dần trở nên quen thuộc với công chúng Nhiều định chế trunggian mới nh các công ty bảo hiểm nhân thọ, công ty chứng khoán, công ty tàichính đợc thành lập, một số đã đi vào hoạt động tơng đối và có hiệu quả

Hai là, TTTC đã bớc đầu tạo tiền đề cho việc thực hiện tốt vai trò, chức

năng của mình Thị trờng tiền tệ đang là một cơ sở quan trọng để Ngân hàngNhà nớc chuyển sang áp dụng có hiệu quả hơn các công cụ tiền tệ gián tiếp,thực thi linh hoạt chính sách tiền tệ, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và tăng tr-ởng kinh tế Thị trờng chứng khoán ra đời từ tháng 7/2000 tạo khả năng chonền kinh tế có đợc một kênh huy động vốn mới tiềm tàng Đặc biệt, hệ thốngngân hàng và tín dụng ngân hàng đã và đang có những thay đổi căn bản theo h-

Trang 19

ớng tích cực, áp lực cạnh tranh, công cuộc tái cơ cấu, và việc nâng cao năng lựcgiám sát của NHNN đang góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh của hệ thốngngân hàng thơng mại, nhất là các ngân hàng thơng mại quốc doanh Chính sáchtín dụng đối xử ngày càng bình đẳng hơn đối với mọi thành phần kinh tế.

Ba là, thị trờng tài chính (chính thức) đợc vận hành trong khung khổ pháp

lý xác định, bớc đầu kết hợp đợc kinh nghiệm quốc tế với tình hình cụ thể ởViệt Nam Các nguyên tắc quản lý tài chính tiên tiến và chuẩn mực quốc tế vềtính minh bạch, kế toán, kiểm toán, giám sát đã và đang từng bớc đợc thể chếhoá và ứng dụng trong thực tế Các chính sách quản lý, phát triển thị trờng tàichính cũng từng bớc đợc hoàn thiện

Bốn là, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trực tiếp quản lý TTTC và

các định chế tài chính (NHNN, Bộ Tài chính, và Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớc)

đã đợc thể chế hoá Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý hệ thống tài chính vàTTTC cũng nh với các Bộ ngành liên quan trong xử lý các vấn đề tác nghiệpphát sinh đã chặt chẽ và hiệu quả hơn

3.2 Những bất cập, yếu kém của thị trờng tài chính Việt Nam

Nhìn tổng thể, TTTC nói chung và các thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn nóiriêng ở nớc ta vẫn còn ở trình độ phát triển thấp, ngay cả so với nhiều nớc đangphát triển

Tuy TTTC đã đợc hình thanh với các cấu thành cơ bản, song vẫn còn thiếuvắng một số định chế tài chính quan trọng nh các quỹ hu trí, quỹ đầu t tơng hỗ,quỹ đầu t mạo hiểm, công ty định mức tín nhiệm Nhiều công cụ tài chínhhiện đại, nhất là công cụ phái sinh (nh chứng quyền, quyền mua trớc) còn cha

đợc sử dụng hoặc đợc áp dụng song ít có tác dụng Ngoài ra, trong nhiều trờnghợp, các lực lợng tham gia TTTC chỉ là danh nghĩa và các thành viên thực tếchủ yếu vẫn là các ngân hàng thơng mại quốc doanh

Mức độ phát triển của TTTC nớc ta xét theo chiều sâu còn rất thấp Dunglợng thị trờng vốn còn quá nhỏ bé Năm 2002, giá trị d nợ trái phiếu (Chính phủ

và công ty) tơng đơng 2% GDP; tỷ lệ vốn hoá của thị trờng chứng khoán chínhthức (giá trị cổ phiếu đợc giao dịch trên thị trờng) chỉ đạt khoảng 0,45% GDP;

và số d tín dụng ngân hàng mới đạt 52% GDP Những chỉ số này nhỏ hơn rấtnhiều so với của Trung Quốc (Năm 1999, các chỉ số tơng ứng của Trung Quốc

là 21%, 25% và 130% GDP) và nói chung cũng còn nhỏ so với của nhiều nớcASEAN (Năm 2000, các chỉ số tơng ứng của Indonesia là: 2%, 20% và 21%;

Ngày đăng: 05/10/2013, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Bảng kết quả hoạt động của thị trờng đấu thầu tín phiếu kho - Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam
Bảng 4 Bảng kết quả hoạt động của thị trờng đấu thầu tín phiếu kho (Trang 5)
Bảng 6: Doanh số giao dịch trên thị trờng liên ngân hàng - Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam
Bảng 6 Doanh số giao dịch trên thị trờng liên ngân hàng (Trang 6)
Bảng 5: Doanh số giao dịch qua trung tâm thị trờng liên - Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam
Bảng 5 Doanh số giao dịch qua trung tâm thị trờng liên (Trang 6)
Bảng 8: Tình hình phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng - Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam
Bảng 8 Tình hình phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng (Trang 7)
Bảng 9:  Doanh số hoạt động của các nghiệp vụ - Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam
Bảng 9 Doanh số hoạt động của các nghiệp vụ (Trang 10)
Bảng 10: Tổng hợp cổ phiếu của các công ty niêm yết - Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam
Bảng 10 Tổng hợp cổ phiếu của các công ty niêm yết (Trang 11)
Bảng 11: Chỉ số VN-index tại một số thời điểm - Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam
Bảng 11 Chỉ số VN-index tại một số thời điểm (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w