1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề lý luận liên quan đến đổi mới chính sách thương mại của Việt Nam

48 574 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề lý luận liên quan đến đổi mới chính sách thương mại của Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại bài luận
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 48,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thơng mại khu vực và quốc tế công nhận, qua đó vị thế củanền kinh tế nớc ta trên trờng quốc tế đã thay đổi đáng kể.Nền kinh tế của ta đang và sẽ hội tụ đầy đủ các yếu tố cầnthiết để hội

Trang 1

Một số vấn đề lý luận liên quan đến đổi mới

chính sách thơng mại của Việt Nam

I Sự cần thiết phải đổi mới chính sách thơng mại

1 Đặc điểm của kinh tế Việt Nam

Qua hơn 15 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã cóthêm thế và lực để bớc vào giai đoạn phát triển mới Chúng ta

đã đạt đợc một số thành tựu to lớn nh nhịp độ phát triển kinh

tế khá nhanh và ổn định, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịchtheo hớng tiến bộ, kiềm chế và đầy lùi đợc nạn siêu lạm phát,nâng cao đời sống nhân dân Mặc dù vậy, chúng ta cũngphải nhận thấy rằng Việt Nam vẫn đang còn là một nớc nôngnghiệp, công nghiệp còn nhỏ bé, kết cấu hạ tầng còn kémphát triển, cơ sở vật chất - kỹ thuật cha xây dựng đợc baonhiêu Nền kinh tế có mức tăng trởng cao nhng năng suất, chấtlợng và hiệu quả còn thấp Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế chacao Nhà nớc còn quản lý rất chặt chẽ nhiều lĩnh vực quantrọng nh ngân hàng, bu điện, điện lực…Những tệ nạn nhtham nhũng, buôn lậu, vi phạm kỷ cơng còn nặng và phổbiến

Tuy nhiên khó khăn còn đang tồn tại và sẽ tiếp tục phát sinhnhng những thách đố gay go nhất của thời kỳ chuyển toàn bộnền kinh tế từ cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới và

sự hẫng hụt về viện trợ, đảo lộn về ngoại thơng do có sự sụp

đổ của Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu đã qua rồi Không có khókhăn nào có thể lớn hơn những khó khăn đã gặp phải trongnhững năm đầu khởi động chơng trình đổi mới Khó khăn

đang tồn tại và sẽ phát sinh chỉ là khó khăn của yêu cầu phát

Trang 2

triển, tăng tốc độ nền kinh tế chứ không phải là khó khăn cóthể dẫn đến nền kinh tế sụp đổ nh những năm trớc đây.Mặt khác, bên cạnh những khó khăn, thách đố, nền kinh tếViệt Nam còn có thời cơ và thuận lợi, nội lực và ngoại lực Nếukhai thác tốt các yếu tố thuận lợi, tận dụng đợc thời cơ sẽ chophép khắc phục khó khăn, vợt qua thách đố, hành trang củanền kinh tế Việt Nam trên con đờng hội nhập chứa đựngthuận lợi nhiều hơn khó khăn, thời cơ lớn hơn thách đố.

2 Vai trò của chính sách thơng mại đối với nền kinh

tế quốc dân nói chung và đối với ngoại thơng nói riêng.

Hoạt động kinh tế trong một nền mậu dịch tự do diễn ratheo các quy luật kinh tế, đó là quy luật về giá cả, cung cầu,quy luật cạnh tranh …, các quy luật kinh tế này tồn tại kháchquan ngoài ý muốn của con ngời Nếu một nền kinh tế nàohoạt động dới tác động, điều tiết của quy luật kinh tế thì sẽtối đa hoá đợc lợi nhuận có thể rút ra từ các nguồn tài nguyênhiện có

Nhng với một nền kinh tế thị trờng không có sự quản lý củaNhà nớc sẽ dễ dàng nảy sinh ra những khuyết tật của thị trờng

nh tình trạng phân hoá giàu nghèo rất cao, tình trạng thấtnghiệp sẽ ngày càng nghiêm trọng mà từ đó sẽ nảy sinh ranhững tệ nạn xã hội, hoặc có những lĩnh vực có ích cho cộng

đồng và phát triển kinh tế nh xây dựng hạ tầng cơ sở, đầu tvào giáo dục, y tế cần nhiều vốn nhng thời gian thu hồi chậm

và lợi nhuận thu đợc ít thì sẽ không đợc các nhà đầu t quantâm

Trang 3

Chính vì những lý do trên, để hớng nền kinh tế phát triểntheo hớng có lợi nhất và phù hợp nhất với đặc điểm kinh tế củatừng quốc gia, chính sách tự do hoá thơng mại cũng cần có sựquản lý của Nhà nớc dù ở mức độ can thiệp, quản lý của Nhà n-

ớc vào nền kinh tế thị trờng nh thế nào lại phụ thuộc vào điềukiện lịch sử và quan điểm nhận thức của mỗi nớc Vì vậy,chúng ta thấy hiện nay các nớc đều sử dụng chính sách thơngmại của mình để can thiệp vào thị trờng, thúc đẩy kinh tếtrong nớc phát triển bền vững, ổn định và khuyến khích xuấtkhẩu, xâm nhập ra thị trờng nớc ngoài

Chính sách thơng mại là một hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nớc áp dụng để quản

lý, điều chỉnh các hoạt động thơng mại của quốc gia trong từng thời kỳ, nhằm đạt đợc các mục đích đã định trong chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia đó.

Chính sách thơng mại là một trong những chính sách quantrọng mà mỗi quốc gia xuất phát từ đặc điểm và mục tiêukinh tế - xã hội của mình xây dựng nên một cách phù hợp.Ngoài ra chính sách thơng mại của một nớc chịu ảnh hởng vàcũng chi phối hoạt động ngoại thơng của các nớc khác

ở Việt Nam, chính sách thơng mại đã dần xoá bỏ đợc các

định kiến Chuyển đổi chính sách thơng mại từ quản lý theomô hình kế hoạch hoá tập trung sang kiểu quản lý theo cơchế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa Từ năm 1995 ta đãsửa đổi lại chính sách thuế, chính sách phi quan thuế, chínhsách tài chính tiền tệ… phù hợp với yêu cầu của Hiệp địnhCEPT, Hiệp định thuế quan của khối APEC và của Tổ chức th-

ơng mại thế giới WTO Những thay đổi đó đã đợc các tổ chức

Trang 4

thơng mại khu vực và quốc tế công nhận, qua đó vị thế củanền kinh tế nớc ta trên trờng quốc tế đã thay đổi đáng kể.Nền kinh tế của ta đang và sẽ hội tụ đầy đủ các yếu tố cầnthiết để hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia vào quá trình

tự do hóa thơng mại đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới.Riêng đối với lĩnh vực ngoại thơng, chính sách thơng mạichịu ảnh hởng và cũng chi phối rất lớn đến lĩnh vực này.Chính sách thơng mại đã thúc đẩy các doanh nghiệp tích cựctham gia sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, góp phần làmkim ngạch xuất khẩu tăng với tốc độ cao Cơ chế xuất nhậpkhẩu thể hiện trong chính sách của Nhà nớc ngày càng mởrộng, linh hoạt đã tạo điều kiện và cơ hội cho các doanhnghiệp chủ động tìm đối tác và thị trờng xuất khẩu Mặtkhác, sự cạnh tranh cả ở thị trờng trong nớc và thị trờng quốc

tế đã buộc các doanh nghiệp phải cải tiến mẫu mã sản phẩm,

áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, do đó đã nâng cao đợc khốilợng kim ngạch và chất lợng xuất khẩu

Một vấn đề rất đáng chú ý là chính sách thơng mại đãthúc đẩy xuất khẩu tới thị trờng đích và nhập khẩu từ thị tr-ờng nguồn Chính sách tự do hoá thơng mại và các quy chế cụthể đã giúp các doanh nghiệp mạnh dạn đầu t chế biến hàngxuất khẩu để đa tới thị trờng tiêu dùng (thị trờng đích) vànhập khẩu, nhất là nhập khẩu máy móc thiết bị từ thị trờng cócông nghệ hiện đại (thị trờng nguồn)

Chính sách thơng mại của nớc ta đã từng bớc cụ thể hoá ờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc, đa nớc ta từ một nền kinh

đ-tế đóng sang một nền kinh đ-tế mở, đã và đang gặt hái đợcnhiều thành công rất đáng khích lệ

Trang 5

3 Tính cấp thiết phải đổi mới chính sách thơng mại

Chính sách thơng mại là một trong những chính sách quantrọng mà mỗi quốc gia, xuất phát từ đặc điểm và mục tiêukinh tế - xã hội của mình xây dựng nên một cách phù hợp Tuynhiên, không có chính sách thơng mại nào là phù hợp cho tất cảcác quốc gia, trong mọi thời điểm bởi vì các quy luật kinh tếchi phối nền kinh tế của thế giới cũng nh của các quốc gia luônluôn biến động, sự biến động của các quy luật này kéo theo

sự thay đổi chiến lợc kinh tế của từng quốc gia, do đó chínhsách thơng mại tất yếu cũng thay đổi theo

Hiện nay, xu hớng phát triển kinh tế của thế giới đang thay

đổi và xu thế tự do hoá thơng mại ngày càng khẳng định

đ-ợc vị trí của mình Tất cả các quốc gia, nếú không muốn

đứng ngoài dòng chảy của sự phát triển kinh tế thế giới thìbuộc phải tham gia vào quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoákinh tế, từng bớc hội nhập nền kinh tế thế giới Cụ thể là phải

mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá thơng mại, giảm bớtcác hàng rào thuế quan, phi thuế quan, các biện pháp bảo hộnền sản xuất trong nớc, ban hành những chính sách kinh tếthông thoáng hơn để thu hút đầu t nớc ngoài và kích thíchsản xuất trong nớc, khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnhxuất khẩu Chính vì những yêu cầu thực tiễn trên mà các nhàhoạch định chính sách không thể không nghĩ đến vấn đềcải cách và đổi mới chính sách thơng mại của nớc mình đểphù hợp với xu thế phát triển chung của toàn thế giới

Đối với Việt Nam, chúng ta không thể duy trì mãi chínhsách khép kín, chia cắt trong hoạt động thơng mại và cô lập

Trang 6

trong quan hệ quốc tế đã góp phần làm cho nền kinh tế rơivào khủng hoảng nghiêm trọng, kinh tế không phát triển và tụthậu so với các nớc khác trên thế giới Trong hơn 15 năm qua, ViệtNam đã không ngừng cải cách, đổi mới chính sách thơng mại

và thành công của công cuộc đổi mới đã đợc thể hiện bằngnhững kết quả đáng ghi nhận nh tốc độ tăng trởng GDP, kimngạch xuất nhập khẩu …

Có thể nói, đổi mới chính sách thơng mại là một lựa chọntất yếu không chỉ riêng Việt Nam mà còn là của tất cả các nớctrên thế giới

II Nội dung và quá trình đổi mới chính sách thơng mại

1 Khái quát chính sách thơng mại trớc đổi mới.

1.1 Chính sách thơng mại trớc đổi mới.

Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, nền kinh tế

n-ớc ta vẫn là một nền kinh tế lạc hậu, lệ thuộc nhiều vào nguồnnguyên liệu, phụ tùng và thiết bị của bên ngoài Nhà nớc vẫnduy trì chính sách kinh tế đóng, quan hệ buôn bán với nớcngoài cha phát triển, chủ yếu là buôn bán với các nớc XHCN, hoạt

động xuất nhập khẩu còn manh múm, chính vì vậy, chínhsách thơng mại thời kỳ này chủ yếu là quản lý, điều chỉnh cácquan hệ kinh tế trong nớc và giữa nớc ta với các nớc XHCN

Xuất phát từ nền kinh tế đợc xây dựng trên cơ sở chế độcông hữu và mô hình kế hoạch hoá tập trung ảnh hởng của hệ

t tởng xã hội chủ nghĩa, độc quyền Nhà nớc đối với ngoại

th-ơng đã trở thành quy phạm pháp luật có tính bắt buộc Điềunày có thể thấy đợc thông qua các khía cạnh sau:

- Nhà nớc độc quyền quản lý về ngoại thơng

Trang 7

Mọi hoạt động ngoại thơng đều tập trung vào Nhà nớc, BộNgoại thơng là cơ quan duy nhất thay mặt Nhà nớc quản lýhoạt động ngoại thơng Bộ Ngoại thơng xây dựng kế hoạchxuất nhập khẩu và trực tiếp phân bổ kế hoạch chó các doanhnghiệp đợc phép kinh doanh xuất nhập khẩu, đồng thời Bộtrực tiếp điều tiết, quản lý hoạt động ngoại thơng bằng cácchỉ tiêu pháp lệnh và thông qua hệ thống cấp giấy phép xuấtnhập khẩu Vì vậy, Bộ Ngoại thơng thay mặt Nhà nớc trực tiếpkiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch xuất nhập khẩu củacác doanh nghiệp Trong quá trình thực hiện, nếu gặp khókhăn, vớng mắc, các doanh nghiệp phải báo cáo Bộ và xin ýkiến chỉ đạo, không đợc tự ý sửa đổi kế hoạch.

- Nhà nớc độc quyền kinh doanh ngoại thơng

Các quan hệ thơng mại, kinh tế giữa nớc ta với các nớc XHCN

kế khác đều mang tính chất Nhà nớc và đợc thực hiện trên cơ

sở các hiệp định và Nghị định th mà Chính phủ ta ký kết vớichính phủ các nớc XHCN

Hoạt động kinh doanh ngoại thơng do Nhà nớc độc quyền,

Bộ Ngoại thơng cho phép một số doanh nghiệp quốc doanh

đ-ợc phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp với nớc ngoài, cácdoanh nghiệp này chỉ đợc kinh doanh những mặt hàng vàngành hàng đợc cho phép Thực chất đây cũng là những tổchức kinh doanh độc quyền về các mặt hàng và ngành hàng

đợc giao Tính độc quyền của Nhà nớc trong kinh doanh ngoạithơng rất cao và gần nh là tuyệt đối Số lợng các doanhnghiệp đợc phép kinh doanh ngoại thơng là rất nhỏ, tính đếnnăm 1981, chỉ có 12 doanh nghiệp Nhà nớc đợc phép kinhdoanh xuất nhập khẩu, đến năm 1987 là 35 doanh nghiệp

Trang 8

Tính độc quyền trong kinh doanh ngoại thơng còn đợc thểhiện trong quá trình thực hịên hoạt động ngoại thơng, cácdoanh nghiệp phải thực hiện theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhànớc, điều đó nghĩa là sản xuất cái gì, xuất khẩu, nhập khẩumặt hàng gì, trị giá bao nhiêu, thị trờng nào hầu nh đều doNhà nớc chỉ đạo, thậm chỉ trong nhiều trờng hợp ngay cả giácả cũng do Nhà nớc quy định

Hạch toán kinh tế ở giai đoạn này chỉ mang tính chất hìnhthức Thông qua chế độ “thu bù chênh lệch ngoại thơng”, cáckhoản đợc coi là lãi phải nộp cho Nhà nớc, các khoản đợc coi là lỗthì đợc Ngân sách Nhà nớc cấp bù

Tuy nhiên, từ khi Nghị định số 40/CP ngày 7/2/1980 ra

đời, quyền kinh doanh ngoại thơng đợc mở rộng hơn cho các

địa phơng thông qua các tổ chức ngoại thơng địa phơng

Mở rộng quyền xuất khẩu trực tiếp cho các liên hiệp xí nghiệp.Các liên hiệp xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trực thuộc các

Bộ quản lý sản xuất Từ quy định này hình thành nên Bộquản lý Nhà nớc về ngoại thơng (Bộ Ngoại thơng) và Bộ chủquản của các tổ chức sản xuất đợc quyền hoạt động ngoại th-

ơng (Bộ quản lý ngành)

Ngoài ra, Nghị định này còn đề cập đến việc sửa đổicông tác kế hoạch hoá xuất khẩu theo hớng thu hẹp các chỉ tiêupháp lệnh đối với hàng xuất khẩu, cho phép xuất khẩu nhữngsản phẩm ngoài kế hoạch, do đó đã hình thành hàng xuấtkhẩu theo kế hoạch và hàng xuất khẩu ngoài kế hoạch

- Nhà nớc độc quyền về tài sản trong kinh doanh ngoại

th-ơng

Trang 9

Do hoạt động kinh doanh ngoại thơng tập trung vào cácdoanh nghiệp Nhà nớc, tài sản phục vụ cho lu thông và hànghoá xuất nhập khẩu thuộc quyền sở hữu của Nhà nớc Nhà nớcthực hiện chế độ bao cấp trong kinh doanh ngoại thơng

Trong một thời gian dài, nguyên tắc Nhà nớc độc quyềnngoại thơng đợc mở rộng ra toàn bộ các lĩnh vực kinh tế đối

ngoại và đợc ghi vào Hiến pháp Việt Nam năm 1980: “Nhà nớc

độc quyền ngoại thơng và các quan hệ kinh tế đối ngoại”

(Điều 21) Trong thời kỳ này, nền kinh tế nớc ta đợc thực hiệntheo cơ chế quản lý tập trung, hoạt động ngoại thơng đợc tậptrung vào tay Nhà nớc Bộ Ngoại thơng có chức năng quản lýNhà nớc (hoạch định chính sách, soạn thảo pháp luật, kiểm tra,giám sát các hoạt động ngoại thơng…) đồng thời có chức năngchỉ đạo các nghiệp vụ kinh doanh (ấn định các danh mụchàng hoá xuất nhập khẩu, thị trờng, phơng thức mua bán, giácả ) từ đó dẫn đến sự lẫn lộn giữa chức năng quản lý Nhà nớc

và chức năng kinh doanh và quản lý kinh doanh

Tuy nhiên, mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung chỉ cóthể thực hiện đợc trong điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế,xã hội nhất định Ngày nay, hệ thống XHCN ở Liên Xô và các n-

ớc Đông Âu tan vỡ, cùng với xu hớng quá trình quốc tế hoá đờisống kinh tế – xã hội, Việt Nam cũng phải thực hiện công cuộc

đổi mới toàn diện, phát triển sản xuất hàng hoá với nền kinh

tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng, do đóchính sách thơng mại thời kỳ này với việc Nhà nớc độc quyềnngoại thơng không còn phù hợp nữa Chính vì thế, Nhà nớc ta

đã có chủ trơng đổi mới về chính sách và cơ chế quản lý đề

Trang 10

ngày càng phù hợp hơn với xu thế tự do hoá thơng mại đangdiễn ra mạnh mẽ trong khu vực và trên toàn thế giới.

1.2 Hoạt động ngoại thơng trong thời kỳ

1976-1985:

Trong bối cảnh đất nớc đã thống nhất, hoạt động ngoại

th-ơng có những thuận lợi mới, đồng thời có những khó khăn mới

Đất nớc đợc thống nhất, chúng ta có điều kiện và khả năngkhai thác có hiệu quả tiền năng của đất nớc (đất đai, rừng,biển, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, nguồn lao

động và yếu tố con ngời, vị trí của Việt Nam …) để đẩymạnh xuất khẩu, phát triển du lịch, các dịch vụ thu ngoại tệ,phát triển ngoại thơng mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học kỹthuật với nớc ngoài, thu hút vốn và kỹ thuật nớc ngoài Nhng bêncạnh những thuận lợi mới, chúng ta cũng đứng trớc những khókhăn gay gắt bắt nguồn từ trình độ phát triển kinh tế của cảnớc còn thấp, cơ sở vật chất và kỹ thuật còn thấp lém, kinh tếhàng hoá cha phát triển, cha có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế,nền kinh tế còn bị lệ thuộc nặng nề vào bên ngoài Chiếntranh kéo dài làm đã để lại những hậu quả kinh tế nặng nềlàm cho đất nớc phát triển chậm lại nhiều năm Bên cạnh đó,một số nớc phơng Tây đã thực hiện chính sách cấm vận vàphân biệt đối xử với nớc ta

Hoàn cảnh quốc tế không thuận lợi đó đã gây ra cho nớc takhông ít khó khăn, nhng kinh tế nói chung và xuất nhập khẩunói riêng vẫn đợc tiếp tục phát triển

Sau đây là kết qủa hoạt động xuất, nhập khẩu giai đoạn

1976 -1985:

Qua bảng thống kê sau chúng ta thấy:

Trang 11

- Kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm Tỷ lệ tăng ởng bình quân trong 10 năm (1976 - 1985) của xuất khẩutăng cao hơn tỷ lệ tăng của tổng kim ngạch buôn bán haichiều và của nhập khẩu Trong khi tỷ lệ tăng trởng bình quântrong 10 năm của xuất khẩu là 13,5% thì của XNK cộng lại là8,4%, và của nhập khẩu chỉ có 7%/ năm.

tr Trị giá xuất khẩu tuy có tăng nhng trong 10 năm (1976tr 1985) xuất khẩu cũng chỉ đảm bảo đợc 30,8% tổng số tiềnnhập khẩu

(1976 Cán cân thơng mại quốc tế luôn nghịch sai (nhập siêu)

Nhậpkhẩu

Cán cân thơng mạiTrị giá Tỉ lệ %

Trang 12

1984 2.394,6 649,6 1.745,0 -1.095,4 37,2

1985 2.555,9 698,5 1.857,4 -1.158,9 37,6

Tổng số 18.773,0 4.423,5 14.349,5 -9.926,0 30,8

Nguồn: Giáo trình Kinh tế ngoại thơng - 1997

Hầu hết các loại hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đờisống đều phải nhập khẩu toàn bộ hay một phần di sản xuấttrong nớc không đảm bảo

Ngoài sắt thép, xăng dầu, máy móc thiết bị còn nhậpkhẩu cả hàng tiêu dùng Kể cả những loại hàng hoá lẽ ra sảnxuất trong nớc có thể đáp ứng đợc nh lúa gạo, vải mặc Trongnhững năm 1976 -1985 đã nhập khẩu 60 triệu mét vải các loại

và gần 1,5 triệu tấn lơng thực quy ra gạo

Xuất khẩu tuy có tăng nhng trị giá xuất khẩu quá thấp.Hàng xuất khẩu chủ yếu dựa vào thu gom sản phẩm từ nềnsản xuất hàng hoá kém phát triển: 63% trị giá xuất khẩu củanăm 1985 là nông, lâm, thuỷ sản: 28,9% là hàng công nghiệpnhẹ và thủ công nghiệp

2 Nội dung cơ bản của đổi mới chính sách thơng mại:

2.1 Mở rộng quyền tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Nghị định 33/CP ngày 19/4/1994 của Chính phủ về quản

lý Nhà nớc đối với hoạt động xuất nhập khẩu là một bớc ngoặtquan trọng đánh dấu sự thay đổi tơng đối cơ bản về chínhsách xuất nhập khẩu nớc ta Từ năm 1994 trở về trớc, có thể nóiNhà nớc ta độc quyền về ngoại thơng, hoạt động xuất nhập

Trang 13

khẩu hầu nh chỉ thực hiện theo cơ chế Nghị định th và giaocho các doanh nghiệp Nhà nớc thực hiện; các biện pháp quản lýchủ yếu là phi thuế quan.

Từ năm 1994 trở đi, với sự ra đời của Nghị định 33/CP,công cụ phi thuế quan chỉ còn giá trị đối với một số mặthàng thuộc danh mục cấm xuất khẩu, nhập khẩu, còn “tất cảhàng hoá đều đợc xuất, nhập khẩu và chịu điều tiết bằngthếu theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trừ một sốmặt hàng thuộc danh mục còn chịu sự điều chỉnh bằngnhững biện pháp quản lý phi thuế quan” (Điều 4 Nghị định33/CP) áp dụng với các mặt hàng: hàng cấm xuất, nhập khẩu,hàng quản lý bằng hạn ngạch, hàng chuyên dụng và hàng cóliên quan đến các cân đối lớn của nền kinh tế

Nghị định 33/CP ra đời đã mở rộng quyền tham gia kinhdoanh cho tất cả các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện mà

Nhà nớc đặt ra Thứ nhất, các doanh nghiệp có vốn lu động

bằng tiền Việt Nam tơng đơng 200.000 USD (với doanhnghiệp lu thông), có u tiên cho các doanh nghiệp ở các tỉnh

miền núi hoặc khó khăn về kinh tế (100.000 USD), thứ hai,

phải có đội ngũ cán bộ có đủ trình độ kinh doanh, ký kết vàthực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng thì đợc Bộ Thơngmại cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, ngoài giấy

đăng ký kinh doanh bình thờng

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cũng đợcphép tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu Mặc dù thời kỳ nàycha có những cơ chế khuyến khích xuất khẩu thích đáng.Các doanh nghiệp này chỉ đợc xuất khẩu những sản phẩmhàng hoá do chính mình làm ra

Trang 14

Việc xuất nhập khẩu do khu chế xuất thực hiện đã không

đợc tính vào kim ngạch xuất nhập khẩu chung của cả nớc Tuynhững năm này, kim ngạch xuất nhập khẩu của các khu chếxuất cha đáng kể, nhng theo thông lệ ngoại thơng quốc tế,kết quả xuất khẩu của khu vực này thuộc phạm vi của xuấtnhập khẩu

Hoạt động gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nớcngoài ngày càng đợc phát triển Riêng về gia công, hàng nămkim ngạch hàng gia công của nớc ta chiến không dới 20% tổngkim ngạch, còn hoạt động đại lý cũng đặt ra yêu cầu ngàycàng bức xúc, song trong nhiều năm qua, các lĩnh vực hoạt

động này cha có những quy chế điều hành một cách có hệthống, nên các doanh nghiệp cũng nh các cấp quản lý cònnhiều lúng túng

Bên cạnh những điểm tích cực, Nghị định 33/CP cònnhiều hạn chế và trên thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩutrong cơ chế thị trờng đã dần dần bộc lộ những tồn tại Đó làquyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp bịhạn chế bởi những yêu cầu mang nặng tính thủ tục Việc cấpgiấy phép xuất nhập khẩu theo quy định trên tuy có mặt tíchcực nhất định trong giai đoạn đầu để tiếp tục quản lý chặtchẽ hoạt động ngoại thơng ở nớc ta nhng tác động rõ nét nhất

là gây phiền hà cho doanh nghiệp, phải mất nhiều thời gian locác thủ tục để đợc giấy phép xuất nhập khẩu, kể cả có nhiềudoanh nghiệp phải tìm mọi cách để đối phó với các yêu cầu

về vốn, về trình độ cán bộ… Đồng thời cũng là điều kiện làmxuất hiện nhiều thủ tục hành chính rờm rà, tạo kẽ hở cho sự hối

Trang 15

lộ, tham nhũng phía ngời xin giấy phép lẫn ngời cấp giấyphép.

Trớc những vấn đề đó Nghị định 57/CP ngày 31/07/1998của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thơng mại vềhoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bánhàng hoá với nớc ngoài; Quyết định 55/QĐ-TTg ngày03/03/1998 của Thủ tớng Chính phủ về việc phê duyệt Danhmục hàng hoá xuất khẩu có giấy phép kinh doanh xuất nhậpkhẩu, đã giải phóng xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Namthuộc mọi thành phần kinh tế và việc ban hành Quyết định0321/1998/QĐ-BTM ngày 14/03/1998, Quyết định0625/1998/QĐ-BTM ngày 03/06/1998 của Bộ Thơng mại về xuấtnhập khẩu, tiêu thu sản phẩm tại Việt Nam và gia công của cácdoanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, là hết sức cần thiết và

đáp ứng đợc những nhu cầu rất bức xúc của thực tiễn

Nghị định 57/CP đã quy định rộng hơn nhiều so vớiNghị định 33/CP trớc đây và vấn đề quan trọng nhất là từnăm 1998, Nhà nớc đã ban hành Luật Thơng mại Việt Nam

điều chỉnh mọi hoạt động thơng mại

Tại Điều 5 – Luật Thơng mại quy định thơng nhân đợchiểu “gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có

đăng ký kinh doanh hoạt động thơng mại một cách độc lập,thờng xuyên” Điều kiện để trở thành thơng nhân cũng hếtsức đơn giản “ Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lựchành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình

có đủ điều kiện để kinh doanh thơng mại theo quy định củapháp luật nếu có yêu cầu hoạt động thơng mại thì đợc cơquan Nhà nớc có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký

Trang 16

kinh doanh và trở thành thơng nhân.” (Điều 17 – Luật Thơngmại)

Đối với thơng nhân Việt Nam, xuất nhập khẩu hàng hoá kểcả xuất nhập khẩu uỷ thác và uỷ thác xuất nhập khẩu, đợc thựchiện theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Điều 3 – Nghị

định 57) không cần phải xin giấy phép xuất nhập khẩu qua

Bộ Thơng mại nữa Các chi nhánh công ty, công ty cũng đợcxuất nhập khẩu hàng hoá thích hợp, theo uỷ quyền của tổnggiám đốc, giám đốc doanh nghiệp Những hàng hoá cấm xuấtnhập khẩu hoặc xuất nhập khẩu có điều kiện sẽ do Chính phủtrực tiếp phê duyệt hoặc uỷ quyền cho các cấp có thẩmquyền phê duyệt Trong trờng hợp cần thiết, Chính phủ có thểquyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu với một thị trờnghoặc với một số mặt hàng nhất định để thực hiện quyền tự

vệ theo pháp luật và thông lệ quốc tế

Mọi thơng nhân kinh doanh cùng ngành hàng đều đợcphép thành lập hội liên hiệp hội ngành hàng xuất khẩu, nhậpkhẩu theo quy chế của Bộ Thơng mại

Mọi thơng nhân Việt Nam đợc phép nhận gia công cho

th-ơng nhân nớc ngoài, không hạn chế số lợng, chủng loại; nhữngmặt hàng cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc tạm ngừng xuấtkhẩu, nhập khẩu đợc điều chỉnh thông qua Bộ Thơng mại,

đồng thời đợc quyền gia công ở nớc ngoài các loại hàng hoá đã

đợc phép lu thông trên thị trờng Việt Nam để kinh doanh theoquy định của pháp luật

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, doanhnghiệp đợc phép xuất khẩu, tiêu thụ những sản phẩm dodoanh nghiệp sản xuất hoặc không do doanh nghiệp sản xuất

Trang 17

theo quy định của giấy phép đầu t, trên tinh thần mở rộng tối

đa quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp FDI và khuyếnkhích mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu đối với khu vực này

2.2 Chính sách đa dạng hoá mặt hàng và thị ờng.

tr-Đại hội lần thứ VII của Đảng (1991) thông qua cơng lĩnhxây dựng đất nớc trong 10 năm trong bối cảnh mới của đất nớc

và của thế giới Đại hội đã nhất trí với chủ trơng “đa dạng hoá

và đa phơng hoá” các quan hệ đối ngoại, thực hiện chínhsách mở cửa để phát triển kinh tế, xuất nhập khẩu đợc xác

định là khâu đột phá đầu tiên trong tiến trình “Việt Namlàm bạn với tất cả các nớc”

Hội nghị Trung ơng 3 (khoá VII) đã đa ra một nghị quyếtriêng về kinh tế đối ngoại theo hớng “xây dựng một nền kinh

tế mở, hớng mạnh về xuất khẩu” Nh vậy, từ đây chiến lợccông nghiệp hoá hớng về xuất khẩu đã đợc khẳng định, điềunày cũng đồng nghĩa với việc coi thị trờng bên ngoài là một

động lực quan trọng để tăng trởng kinh tế của Việt Nam Nớc ta tiếp tục mở rộng quan hệ buôn bán với tất cả các nớc(không phân biệt chế độ chính trị) theo phơng thức đa dạnghoá và đa phơng hoá thị trờng Mở rộng thị trờng mới, khaithông những thị trờng cũ đã bị ách tắc

ở giai đoạn này các chính sách nhằm vào đa dạng hoá cácmặt hàng xuất, khẩu khai thác tiềm năng các mặt hàngtruyền thống và các mặt hàng mới mà nớc ta đang có lợi thế.Trong những năm 1991-1995, nhờ chuyển hớng kịp thờisang thị trờng các nớc trong khu vực, nớc ta khắc phục đợctình trạng hẫng hụt khi mất thị trờng các nớc XHCN trớc đây,

Trang 18

nhờ đó hoạt động xuất nhập khẩu vẫn đạt đợc mức tăng trởngcao Tuy nhiên, do các nguyên nhân khác nhau, nớc ta lại bị rơivào thế phụ thuộc nặng nề vào thị trờng các nớc châu á.Trong khi đó, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nớc ta vớinhiều nớc trong khu vực lại tơng đồng, các nớc này chỉ nhậpkhẩu hàng hoá của nớc ta ở dạng thô để chế biến và tái xuất

đi các thị trờng khác nên hiệu quả xuất khẩu của nớc ta rấtthấp Mặt khác, nhập khẩu của nớc ta từ các nớc này cha phải làcác công nghệ nguồn nên ảnh hởng của nhập khẩu đến biến

đổi cơ cấu kinh tế còn rất hạn chế

Đứng trớc tình hình đó, Đảng và Nhà nớc ta kiên trì đờnglối đa dạng hoá và đa phơng hoá thị trờng, tìm cách đểdoanh nghiệp Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trờng tiềmnăng ở các khu vực địa lý khác nhau Bên cạnh việc tiếp tụckhôi phục các thị trờng truyền thống, Nhà nớc đã quan tâm

đặc biệt đến các thị trờng không đòi hỏi hạn ngạch vànhững thị trờng ít chịu ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ vừa qua

Nhà nớc tăng cờng vai trò của hệ thống thơng vụ Việt Nam

ở nớc ngoài; ngoài việc cung cấp thông tin thờng xuyên còn đợcgiao nhiệm vụ tìm kiếm thị trờng, kể cả việc đăng ký chỉtiêu xuất khẩu vào thị trờng để trực tiếp giúp các doanhnghiệp xuất khẩu

Những năm cuối của thập kỷ 90, nớc ta đã tích cực nối lạicác mối quan hệ hợp tác toàn diện với các nớc XHCN trớc đây,

đồng thời thúc đẩy việc mở rộng thị trờng sang các thị trờngquan trọng nh EU, Nhật, ASEAN…

Trang 19

Đặc biệt là việc ký kết Hiệp định thơng mại Việt Nam –Hoa Kỳ đã mở ra một thị trờng đầy tiềm năng đối với hoạt

động xuất nhập khẩu

Về chính sách mặt hàng: Nhà nớc bắt đầu chú ý đếnviệc xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, tạo mọi điềukiện đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu tối đa các mặt hàngchủ lực nh dầu thô, dệt may, thuỷ sản, gạo, cà phê, giày dép,cao su, hạt điều, than đá, thủ công mỹ nghệ; đồng thờikhuyến khích mở rộng thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lựcmới nh rau, hoa quả, thịt, hàng chế tạo cơ khí, hàng điện tử –tin học…vào các thị trờng truyền thống nh Liên bang Nga, cộng

đồng các quốc gia độc lập SNG, Đông Âu và khu vực, nhằm tạocơ sở vững chắc cho tăng trởng xuất khẩu

Đối với những loại vật t hàng hoá đợc đáp ứng chủ yếu từnguồn sản xuất trong nớc nh thép xây dựng, xi măng đen cácloại, giấy viết, giấy trong và giấy bao bì, đờng kính, giao cho

Bộ Kế hoạch và Đầu t chủ trì cùng Bộ Tài chính và các bộ sảnxuất, Bộ Thơng mại xác định nhu cầu nhập khẩu bổ sung vàxây dựng quy chế điều hành theo nguyên tắc: chỉ nhậpkhẩu những vật t, hàng hoá với chủng loại, quy cách sản phẩmtrong nớc cha sản xuất đợc hoặc sản xuất cha đủ nhu cầu Đốivới loại trong nớc cha sản xuất, sẽ điều tiết chủ yếu bằng thuế.Hàng tiêu dùng nhập khẩu sẽ điều tiết chủ yếu bằng thuế

và có điểm mới là các doanh nghiệp nhập khẩu hàng tiêu dùngphải cân đối ngoại tệ từ nguồn thu của mình do xuất khẩuhoặc hoạt động dịch vụ mang lại

Đối với hàng quản lý chuyên ngành, sẽ rà soát để xử lý theohớng giảm hơn nữa danh mục và số lợng nhập khẩu

Trang 20

Đồng thời tiếp tục đề nghị tăng thêm phụ thu đối với một

số mặt hàng nh đò điện gia dụng, trái cây tơi, khô, mỹphẩm… Ngoài các chính sách chung, có chính sách và cơ chế

điều hành tiêng cho từng nhóm mặt hàng tuỳ theo đặc

điểm của từng loại:

- Loại có thị trờng tiêu thụ và có năng lực sản xuất trong nớc

đợc tập trung u tiên khai thác hết tiềm năng cho sản xuất;

đặc biệt lu ý trớc hết đến các mặt hàng có kim ngạch lớn, thuhút nhiều lao động và có thể đẩy nhanh đợc xuất khẩu nhhàng dệt và may mặc, giày dép, thủy hải sản, hàng thủ công

mỹ nghệ… Chính sách chủ yếu đối với các mặt hàng này là

đầu t cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lợng, hạ giáthành sản phẩm … để một mặt củng cố vị thế ở các thị tr-ờng truyền thống, mặt khác rất quan trọng là để tiếp cận và

mở rộng xuất khẩu vào các thị trờng không hạn ngạch và cácthị trờng mới cũng có những lợi thế so sánh

- Loại có thị trờng tiêu thụ nhng năng lực sản xuất trong nớc

có hạn nh gạo, dầu thô, cà phê…sẽ đợc tăng cờng chính sáchtiếp thị để nắm chắc giá cả trong nớc và trên thế giới, đồngthời nghiên cứu chính sách đầu t chế biến linh hoạt để tăngnhanh xuất khẩu sản phẩm qua chế biến, thu lại giá trị xuấtkhẩu cao hơn

- Loại có năng lực sản xuất trong nớc dồi dào nhng còn thiếu

“đầu ra” do cha tìm thấy thị trờng hoặc do chủng loại, chất ợng cha phù hợp hoặc do phơng thức thanh toán còn khó khăn,

l-nh lạc, dệt may, giày dép, thuỷ hải sản, thịt chế biến, rauquả… sẽ cố gắng tìm thị trờng, đổi mới công nghệ, cải tiếnmẫu mã, nâng cao chất lợng và tăng cờng đàm phán ở các cấp

Trang 21

có thẩm quyền để cải thiện các thủ tục thanh toán hoặc ápdụng rộng hình thức hàng đổi hàng…

Chính sách khuyến khích mở rộng thị trờng và mặt hàng

đợc ban hành: Quyết định 746/QĐ-TTg ngày 24/08/1998 vềlập quỹ thởng xuất khẩu Theo quy định của Thủ tớng Chínhphủ và Bộ Thơng mại, doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế có thành tích xuất khẩu xuất sắc, hiệu quả cao, đều

đợc xét khen thởng Các tiêu chuẩn cụ thể để xét khen thởng

đợc quy định cho các doanh nghiệp lần đầu tiên xuất khẩunhững sản phẩm sản xuất trong nớc hoặc xuất sang các thị tr-ờng hoàn toàn mới mà có hiệu quả; các doanh nghiệp mở rộng

đợc thị trờng truyền thống hoặc thị trờng mới với những mặthàng thuộc danh mục hàng hoá khuyến khích xuất khẩu, cóhiệu quả, với tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất khẩu trên20%/năm; các mặt hàng xuất khẩu đạt chất lợng cao đợc quốc

tế công nhận; các doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu từ 10triệu USD/năm trở lên đối với xuất khẩu hàng gia công chếbiến bằng nguyên vật liệu trong nớc chiếm từ 60% trở lên hoặcmặt hàng sản xuất trong nớc thu hút nhiều lao động, nh hàngthủ công mỹ nghệ, nông, lâm, thuỷ, hải sản chế biến, hàngmay mặc không hạn ngạch; có kim ngạch xuất khẩu đối với cácmặt hàng ngoài kim ngạch hoặc ngoài chỉ tiêu đợc phân từ

50 triệu USD/năm trở lên…

Ngoài ra, Nhà nớc sẽ dành một phần thích đáng cho cácdoanh nghiệp có thành tích xuất khẩu hàng dệt may sang cácthị trờng không hạn ngạch hoặc xuất khẩu các sản phẩm có sửdụng phần lớn các nguyên, phụ liệu trong nớc Đối với các mặthàng nhập khẩu còn quản lý giấy phép, nói chung, Nhà nớc u

Trang 22

tiên phân cho các doanh nghiệp có xuất khẩu để khích lệ họ

đẩy mạnh xuất khẩu, gắn xuất khẩu với nhập khẩu Mặt khác

đề nghị thực hiện phụ thu và điều chỉnh mức phụ thu theo

sự biến động của thị trờng thế giới và dùng nguồn thu này đểgóp phần hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp có thành tíchcao hoặc có nhiều nỗ lực để xuất khẩu đợc mặt hàng mớihoặc mở thêm đợc thị trờng mới

2.3 Thuế xuất, nhập khẩu có nhiều thay đổi căn bản và hoàn thiện hơn.

Thuế là một vấn đề đợc Đảng và Nhà nớc ta hết sức quantâm chú ý Trong những năm qua, đi đôi với việc sửa đổi cơchế quản lý ngoại tệ, xây dựng một chính sách tỷ giá thíchhợp, chính sách thuế xuất nhập khẩu cũng đợc hết sức quantâm Hàng loạt những thay đổi, những quy định mới đã đợc

đa ra để dần hoàn thiện theo hớng mở cửa, dần hội nhập vàonền kinh tế thế giới và khu vực Cụ thể nh: lập lại danh mụchàng hoá theo cách phân loại của thị trờng quốc tế; quy định

rõ những hàng hoá cấm nhập, cấm xuất, những hàng hoá xuấtnhập khẩu phải quản lý bằng hạn ngạch và các biện pháp hànhchính khác; dùng thuế làm công cụ chính để điều tiết xuấtnhập khẩu Thuế suất đợc xây dựng tuỳ thuộc vào mức độkhuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu, vào mức chênhlệch giữa giá cả quốc tế với giá cả trong nớc Thực hiện chínhsách bảo hộ hợp lý đối với sản xuất trong nớc Quy chế ban hànhthuế suất đợc thay đổi để có thể điều chỉnh kịp thời theonhững biến động của thị trờng Công tác hải quan cũng đợctăng cờng, phối hợp với các Bộ ngành và với các nớc có chung biên

Trang 23

giới để chống buôn lậu, áp dụng biện pháp truy thu thuế đốivới hàng ngoại trốn thuế nhập khẩu lu thông trong nội địa.

Về chính sách cụ thể nhằm đổi mới và thúc đẩy hoạt

động xuất nhập khẩu, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Banchấp hành Trung ơng Đảng khoá VI có nêu rõ: “Sửa đổi thủ tụccấp giấy phép xuất, nhập khẩu, tạo điều kiện cho hoạt độngxuất khẩu, nhập khẩu đợc thuân lợi, kịp thời

Nhà nớc thu thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng cóhiệu suất thu ngoại tệ cao và có chính sách trợ giá đối với một

số mặt hàng khác…

Ban hành chính sách thuế đối với hàng nhập khẩu theo ớng khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu, phụ tùng thiết bị,hạn chế việc nhập hàng tiêu dùng xa xỉ và những mặt hàngtrong nớc đã sản xuất đợc”

h-Đối với thuế xuất nhập khẩu, ở Việt Nam từ năm 1979 với

m-ời mức thuế suất đối với 12 mặt hàng xuất khẩu và 28 mứcthuế suất đối với mặt hàng nhập khẩu hình thành nên một hệthống thuế xuất nhập khẩu phức tạp, khó quản lý về mặt vĩmô

Luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam đợc ban hành vàonăm 1987 và đã sửa đổi hoàn thiện 3 lần vào các năm1991,1993 và 1998 Nhng thực chất Luật thuế ban hành năm

1987 đã đợc thay thế gần nh toàn bộ bằng Luật thuế năm

1991 với lý do quan hệ thơng mại của thời điểm này khác hoàntoàn so với năm 1987

Lĩnh vực hoạt động buôn bán với các nớc có chung biên giớicũng đợc quy định cụ thể Quyết định số 78/TTg ngày28/02/1994 của Thủ tớng Chính phủ quy định chấn chỉnh

Trang 24

việc quản lý tình hình buôn bán giữa Việt Nam với các nớc cóchung biên giới, thực hiện theo đúng Hiệp định thơng mại đã

ký kết với các nớc và tập quán thơng mại quốc tế Đặc biệttrong tình hình kinh tế mới, để khuyến khích xuất khẩu,kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, ngày 08/08/1998, Thủ tớngChính phủ đã ra Quyết định số 143/1998/QĐ-TTg sửa đổichế độ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tiểu ngạch Quyết

định này bãi bỏ chế độ thuế xuất khẩu, nhập khẩu tiểu ngạchquy định tại Quyết định số 115/HĐBT ngày 09/02/1992 củaHội đồng Bộ trởng, áp dụng chế độ thuế hàng hoá xuất nhậpkhẩu chính ngạch đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tiểu ngạch

để thống nhất chế độ thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu; quản

lý tốt hơn hoạt động xuất nhập khẩu

Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu cũng đợc lập lại cụ thểhơn, hoàn thiện hơn, phù hợp với tình hình mới, với tiến trìnhhội nhập kinh tế Năm 1992 theo Quyết định số 172/TCTK-QĐngày 01/1/1992, Tổng cục Thống kê đã ban hành Danh mụchàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam trên cơ sở hệ thống điềuhoà (HS) của Hội đồng hợp tác Hải quan thế giới (CCC) Trongbảng danh mục này, hàng hoá đợc phân theo phần, chơng,nhóm, phân nhóm và mặt hàng đến cấp mã 6 chữ số Kể từkhi ban hành, bảng danh mục đã phục vụ có kết quả cho nhiềumục đích trong đó có công tác xuất nhập khẩu Cùng với sựphát triển nhanh chóng của hoạt động thơng mại quốc tế nớc

ta trong quá trình đổi mới và việc nớc ta trở thành thành viênASEAN, danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu của nớc ta cũng đã

đợc hoàn thiện thêm và phân loại chi tiết hơn Theo sự chỉ

đạo của Thủ tớng Chính phủ (Văn bản số 5469/KHTH ngày

Ngày đăng: 05/10/2013, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1976 -1985 - Một số vấn đề lý luận liên quan đến đổi mới chính sách thương mại của Việt Nam
Bảng 1 Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1976 -1985 (Trang 8)
Bảng 2:  Tăng trởng GDP và đóng góp của xuất khẩu vào GDP - Một số vấn đề lý luận liên quan đến đổi mới chính sách thương mại của Việt Nam
Bảng 2 Tăng trởng GDP và đóng góp của xuất khẩu vào GDP (Trang 29)
Bảng 3:  Cơ cấu xuất khẩu của các NIC Đông á thời kỳ 1965-1986 - Một số vấn đề lý luận liên quan đến đổi mới chính sách thương mại của Việt Nam
Bảng 3 Cơ cấu xuất khẩu của các NIC Đông á thời kỳ 1965-1986 (Trang 29)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w