Ví dụ, dọc đường tàu bị sét đánhlàm hàng hóa của chủ hàng A bị cháy, tổn thất của hàng A là do thiên tai, chủhàng A phải tự chịu, hoặc đòi công ty bảo hiểm, không được phan bổ tổn thấtch
Trang 1KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN VÀ CÔNG TÁC KHAI THÁC TRONG BH HÀNG HOÁ XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.1.Tổng quan về BH hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường
biển.
1.1.1.Vai trò của vận chuyển bằng đường biển và các loại rủi ro,tổn thất trong quá trình vận chuyển bằng đường biển.
1.1.1.1.Vai trò của vận chuyển bằng đường biển.
Trong xu thế vận động và phát triển của kinh tế toàn cầu ngày nay,thươngmại ngày càng phát triển mạnh mẽ,đặc biệt là thương mại quốc tế, trong đó vậnchuyển đóng một vai trò vô cùng quan trọng, là cầu nối cho sự lưu thông vàphát triển của thương mại quốc tế.Có thể nói “không có thương mại nếu không
có vận chuyển”,đặc biệt là vận chuyển bằng đường biển chiếm khoảng 90%tổng khối lượng hàng hoá XNK của thế giới.Có rất nhiều lý do khiến vậnchuyển bằng đường biển trở nên phổ biến như vậy:
- Vận chuyển bằng đường biển có thể đảm nhận những khối lượng hàng hoá lớnvới khối lượng lớn mà các phương tiện vận tải khác không làm được chẳng hạnvận chuyển các loại hàng hoá siêu trường, siêu trọng
- Hiệu quả sử dụng của các tuyến đường cao vì đường biển rất rộng lớn mà chiphí đầu tư xây dựng không cao do dựa nhiều vào điều kiện tự nhiên.Cũng chính
vì vậy mà giá thành vận chuyển bằng đường biển thường thấp hơn so với cácphương tiện khác
- Vận chuyển bằng đường biển còn có đặc thù là trải qua nhiều vùng biển khácnhau và nhiều nước khác nhau nên nó góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh
tế với các nước và mở rộng quan hệ làm ăn cho các bên,góp phần tăng thu ngoại
tệ cho Nhà Nước
1.1.1.2.Các loại rủi ro,tổn thất trong vận chuyển bằng đường biển.
Trang 2 Các loại rủi ro.
Mặc dù vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều lợi thế nhưng nó vẫn tồn tạimột số nhược điểm mà nhược điểm lớn nhất chính là khả năng xày ra rủi ro đốivới tàu biển là khá lớn,không những thế giá trị tổn thất khi xảy ra rủi ro cũng rấtcao Rủi ro ở đây được hiểu là rủi ro hàng hải,đó là những rủi ro do thiên tai, tainạn bất ngờ trên biển gây ra làm hư hỏng hàng hoá và phương tiện chuyênchở.Để tiện cho việc kiểm soát và sử dụng các biện pháp khắc phục người tathường phân loại các loại rủi ro theo nguyên nhân, theo đó có rủi ro do thiên tai,rủi ro do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người :
+ Thiên tai là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động, bão, lốc,sét,thời tiết quá xấu… mà con người không chống lại được
+ Tai nạn bất ngờ trên biển:Mắc cạn, đắm tàu, bị phá huỷ, cháy nổ,mất tích,đâm va với các tàu khác hoặc đâm va với một vật thể nào đó mà không phải lànước,sự phá hoại của thuyền trưởng và thuỷ thủ trên tàu…
+ Hành động của con người:Ăn trộm, ăn cắp hàng,mất cướp, chiến tranh, đìnhcông,bắt giữ,tịch thu…
Ngoài ra còn có các rủi ro khác như rủi ro lúc xếp dỡ hàng,hàng bị nhiễm mùi,lây bẩn…
Các loại tổn thất.
Rủi ro xảy ra thường gây ra tổn thất đối với hàng hoá được vận chuyển bằngđường biển, thông thường rủi ro được phân chia theo các cách sau:
- Căn cứ vào mức độ và quy mô, tổn thất đựơc chia thành hai loại:
+ Tổn thất bộ phận (patial loss): Là sự mất mát một phần đối tượng bảo hiểmthuộc một hợp đồng bảo hiểm Ví dụ lô hàng 10 tấn đường trong quá trình vậnchuyển bị tổn thất 1 tấn
+ Tổn thất toàn bộ (total loss): Là hàng hóa bảo hiểm bị mất 100% giá trị hoặcgía trị sử dụng Tổn thất toàn bộ gồm 2 loại:
Trang 3* Loại 1: Tổn thất toàn bộ thực sự (actual total loss) : Là tổn thất mà do hànghóa bị phá hủy hoàn toàn hay bị hư hỏng nghiêm trọng không còn là vật phẩmnhư cũ hoặc người được bảo hiểm bị tước quyền sở hữu với hàng hóa.
Như vậy tổn thất toàn bộ thực sự có thể là do hàng hóa bảo hiểm bị phá hủyhoàn toàn như cháy hoặc nổ, hay hàng hóa bị hư hỏng nghiêm trọng như gạohay ngô bị thối do ngấm nước hoặc người được bảo hiểm bị tước hẳn quyền
sở hữu đối với hàng hóa như hàng vị mất do mất tích hay do tầu bị đắm
* Loại 2: Tổn thất toàn bộ ước tính (contructive total loss) : Là tổn thất vềhàng hóa mà không sao tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực sự hay những chi phíphải bỏ ra để sửa chữa, khôi phục và đưa hàng hóa về bến đến bằng hoặc vượtquá trị giá hàng hóa
Tổn thất toàn bộ ước tính gồm 2 dạng:
Thứ nhất: Chắc chắn tổn thất toàn bộ thực sự sẽ xảy ra, ví dụ một lôngô được chở từ nước ngoài về Việt Nam, dọc đường ngô bị ngấmnước và bắt đầu thối, nếu cố mang về Việt Nam thì ngô sẽ thối hết, tổnthất toàn bộ thực sự chắc chắn sẽ xảy ra
Thứ hai: Xét về tài chính thì coi là tổn thất toàn bộ, ví dụ vận chuyểnsắt thép từ nước ngoài về Việt Nam, dọc đường tàu hỏng máy buộcphải vào Hồng Kông để sửa chữa Ðể chữa tàu phải dỡ sắt lên bờ, trongthời gian chữa phải lưu kho lưu bãi sắt thép, khi chữa xong phải tái xếpsắt thép xuống tàu và đưa sắt thép về Việt Nam Tổng các chi phí phải
bỏ ra trong trường hợp này có thể bằng hoặc lớn hơn trị giá bảo hiểmcủa sắt thép
Khi hàng hóa bị tổn thất toàn bộ ước tính, người được bảo hiểm có thể từ bỏhàng hóa Từ bỏ hàng hóa là từ bỏ mọi quyền lợi liên quan đến hàng hóa hay
là sự tự nguyện của người được bảo hiểm chuyển quyền sở hữu về hàng hóa
Trang 4cho người bảo hiểm để đòi bồi thường toàn bộ Muốn từ bỏ hàng phải tuânthủ các quy định sau;
Một là: Tuyên bố từ bỏ hàng (notice of abandonment - NOA) gửi chongười bảo hiểm bằng văn bản
Hai là: Chỉ từ bỏ khi hàng hóa còn ở dọc đường và chưa bị tổn thất toàn
bộ thực sự
Ba là: Khi từ bỏ đã được người bảo hiểm chấp nhận thì không thay đổiđược nữa, sở hữu về hàng hoá thuộc về người bảo hiểm và người đượcbảo hiểm được đòi bồi thường toàn bộ
- Căn cứ vào quyền lợi và trách nhiệm, tổn thất được chia làm hai loại:
+ Tổn thất riêng (particular average) : Là tổn thất của từng quyền lợi bảohiểm do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây nên Ví dụ, dọc đường tàu bị sét đánhlàm hàng hóa của chủ hàng A bị cháy, tổn thất của hàng A là do thiên tai, chủhàng A phải tự chịu, hoặc đòi công ty bảo hiểm, không được phan bổ tổn thấtcho chủ tàu và các chủ hàng khác Tổn thất trong trường hợp này là tổn thấtriêng
+ Tổn thất chung (general average): Là những thiệt hại xảy ra do những chiphí hoặc hi sinh đặc biệt được tiến hành một cách cố ý và hợp lý nhằm mụcđích cứu tàu, hàng hóa và cước phí trong một hành trình chung trên biển khỏi
sự nguy hiểm chung đối với chúng
Tổn thất chung được chia làm 2 bộ phận
* Bộ phận thứ nhất: Hy sinh tổn thất chung : Là những thiệt hại hoặc chi phí
do hậu quả trực tiếp của một hành động tổn thất chung Ví dụ: Tàu gặp bãolớn, buộc phải vứt hàng của chủ hàng A xuống biển để cứu toàn bộ hànhtrình Hàng A bị vứt xuống biển là hy sinh tổn thất chung
Trang 5* Bộ phận thứ 2: Chi phí tổn thất chung: Phải trả cho người thứ ba trong việccứu tàu, hàng, cước phí thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình.Những chi phí sau đây được coi là chi phí tổn thất chung; Chi phí tàu ra vàocảng lánh nạn, chi phí lưu kho lưu bãi tại cảng lánh nạn, chi phí tạm thời sửachữa những hư hại của tàu, chi phí tăng thêm về nhiên liệu do hậu quả củahành động tổn thất chung.
Các thiệt hại,chi phí hoặc hành động được coi là tổn thất chung khi có các đặctrưng sau:
Hành động cứu tàu phải là hành động tự nguyện,hữu ý của người cóquyền hành trên biển là thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyềntrưởng
Hy sinh hoặc chi phí phải đặc biệt, bất thường
Hy sinh hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung, vì lợi ích chung củatất cả quyền lợi của các bên liên quan trong cuộc hành trình
Nguy cơ đe doạ toàn bộ hành trình phải nghiêm trọng và thực tế
Mất mát,thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành động tổnthất chung
TTC phải xảy ra trên biển
TTC và TTR có những điểm khác nhau: TTR xảy ra một cách ngẫu nhiên và chỉảnh hưởng đến quyền lợi riêng biệt của các bên mà không có sự đóng gópchung trong khi TTC là cố tình và có sự chia sẻ tổn thất của các bên có liênquan.TTR có thể xảy ra trên biển hoặc bất kì địa điểm nào khác trong khi TTCchỉ xảy ra trên biển và đây là loại tổn thất mà công ty bảo hiểm luôn chịu tráchnhiệm bồi thường cho các chủ hàng đối với mức đóng góp của mỗi bên còn đốivới TTR công ty bảo hiểm có bồi thường hay không còn tuỳ vào điều kiện bảohiểm.Thông thường khi có TTC xảy ra công ty bảo hiểm phải tiến hành tínhtoán mức độ đóng góp tổn thất của các bên để bồi thường hợp lý
Trang 61.1.2.Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiềurủi ro và tổn thất khó lường , trong lịch sử đã có không ít các rủi ro gây tổn thấtrất lớn cho các chủ hàng, gây ra những ảnh hưởng rất xấu đến công việc kinhdoanh của họ và con người đã có nhiều biện pháp chống lại những tác động xấunày nhưng thực tế cho thấy biện pháp hữu hiệu nhất là bảo hiểm Hình thức sơkhai ban đầu là các chủ hàng đã tự bảo hiểm cho nhau bằng cách cùng chở hàngcho nhiều chủ hàng trên một con tàu, như vậy nếu có xảy ra rủi ro tổn thất thìcác chủ hàng sẽ san sẻ tổn thất cho nhau và không ai phải gánh chịu rủi ro mộtmình cả, đây là cách làm rất hiệu quả vì vậy nó tiếp tục được nhân rộng và hoànthiện dưới dạng các đơn bảo hiểm được cung cấp đa dạng bởi các công ty bảohiểm như ngày nay Vì bảo hiểm có quy mô và phạm vi bảo vệ rộng nên nó cóthể đảm nhận vai trò là tấm lá chắn cho các chủ hàng khỏi những tổn thất lớn vềtài chính mà họ không thể kham nổi Nếu không có bảo hiểm các chủ hàng cóthể sẽ không thể vực dậy hoạt động kinh doanh của mình khi có những tổn thấtlớn xảy ra, nền kinh tế có thể sẽ gặp phải những biến động lớn khi những tổnthất mang tính chất thảm hoạ, chính bảo hiểm sẽ là tấm lá chắn che chở chohoạt động kinh tế của các chủ thể diễn ra một cách an toàn và thông suốt Hơnthế nữa,bảo hiểm cho hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển góp phầnthúc đẩy mối quan hệ kinh tế quốc tế thông qua con đường thương mại và còn
có ảnh hưởng tới vấn đề kinh tế xã hội của cả nước xuất khẩu và nước nhậpkhẩu.Chính vì lẽ đó, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu trở thành một vấn đềquan trọng và cần thiết,trở thành tập quán thương mại quốc tế bắt buộc được ápdụng rộng rãi trên thế giới ngày nay
1.1.3.Những nội dung cơ bản của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển.
1.1.3.1.Đối tượng bảo hiểm và trách nhiệm các bên liên quan
Trang 7Đối tượng được bảo hiểm là hàng hoá xuất nhập khẩu được vận chuyển và xếp
dỡ bằng đường biển có giấy tờ mua bán và nguồn gốc xuất xứ rõ ràng được thểhiện qua các hợp đồng mua bán,hợp đồng vận chuyển và hợp đồng giao nhận.Thông thường hoạt động XNK hàng hoá được thực hiện qua 3 loại hợp đồng cụthể là:
- Nhóm E: EXW(ex-work) nghĩa là điều kiện trong đó hàng xuất đi được bảohiểm kể từ khi nó được giao tại cơ sở của người bán
- Nhóm F: Hàng hoá được bảo hiểm không bao gồm cước vận chuyển chính vàbao gồm các điều kiện giao hàng cụ thể sau:
+ FCA( free carrier ) : hàng được bảo hiểm kể từ khi nó được giao cho ngườivận chuyển gọi là điều kiện giao hàng cho người vận chuyển
+ FAS( free alongside ship): hàng hoá được bảo hiểm kể từ khi nó được giaoqua mạn tàu gọi là điều kiện giao hàng dọc mạn tàu
+ FOB (free on board) : hàng hoá được bảo hiểm khi nó đã nằm trên tàu gọi làđiều kiện giao hàng lên tàu
- Nhóm C :Hàng hoá được bảo hiểm đã bao gồm cả cước vận chuyển chính vàbao gồm các điều kiện giao hàng cụ thể sau:
+ CFR( Cost and freight): Giá trị bảo hiểm được bao gồm tiền hàng và cước phívận chuyển
+ CIF( Cost insurance freight) : Giá trị bảo hiểm bao gồm tiền hàng, phí bảohiểm và cước phí
Trang 8+ CPT ( carriage paid to…): cước trả tới
+ CIP ( Carriage and insurance paid to…) tiền cước và phí bảo hiểm trả tới.-Nhóm D: Bảo hiểm cho hàng hoá khi hàng đến, tức là khi người bán đã giaohàng tại nước người mua, bao gồm:
+ DAF (Delivered at frontier) : bắt đầu bảo hiểm có hiệu lực khi hàng hoá đượcgiao tại biên giới
+ DES ( Delivered ex-ship): bắt đầu bảo hiểm có hiệu lực khi hàng hoá đượcgiao tại tàu
+ DEQ(Delivered ex-quay): bắt đầu bảo hiểm có hiệu lực khi hàng hoá đượcgiao tại cầu cảng
+ DDU( Delivered duty paid) : hàng hoá bắt đầu được bảo hiểm khi nó đượcgiao tại đích và đã nộp thuế cho hải quan
Trong các điều kiện trên thì điều kiện FOB và điều kiện CIF là được sử dụngthường xuyên nhất trong đó điều kiện FOB thường được các doanh nghiệp ViệtNam sử dụng khi xuất khẩu và điều kiện CIF thường được sử dụng khi nhậpkhẩu
Về cơ bản, trách nhiệm của các bên được phân chia như sau:
- Người bán(người xuất khẩu): Chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng về sốlượng, chất lượng, loại hàng,bao bì đóng gói, thời hạn tập kết hàng ở cảng thủtục hải quan, kiểm dịch…
Nếu bán theo giá CIF thì người bán phải mua bảo hiểm cho hàng hoá, sau đó kíhậu vào đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người mua
- Người mua(người nhập khẩu) :Có trách nhiệm nhận hàng của người chuyênchở theo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợpđồng mua bán, lấy giấy chứng nhận kiểm đến biên bản kết toán giao nhận hàngvới chủ tàu, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên (nếu có)
Nếu sai lệch về số lượng, chất lượng với hợp đồng mua bán nhưng đúng đối vớihợp đồng vận chuyển thì người mua bảo lưu quyền khiếu nại đối với người
Trang 9bán.Nếu phẩm chất, số lượng sai lệch so với biên bản giao hàng thì người muacăn cứ vào hang hư hỏng do tàu đổ vỡ gây nên mà khiếu nại người vận chuyển.Ngoài ra, người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá hoặc nhậnhợp đồng bảo hiểm do người bán chuyển nhượng lại.
- Người vận chuyển: Có trách nhiệm chuẩn bị phương tiện vận chuyển theo yêucầu kỹ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải,giao nhận hàng theo đúng quyđịnh của hợp đồng vận chuyển Theo tập quán thương mại quốc tế, tàu chở hàngcũng được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm thân tàu.Ngoài ra, người vận chuyểncòn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng Vận đơn( Bill of Lading)
là một chứng từ vận chuyển hàng trên biển do người vận chuyển cấp cho ngườigửi hàng nhằm nói lên mối quan hệ pháp lý giữa người vận chuyển, người gửihàng và người nhận hàng
- Người bảo hiểm có trách nhiệm đối với hàng hoá đăng kí bảo hiểm.Chẳng hạnkiểm tra chứng từ về hàng hoá,về hành trình và bản thân con tàu vận chuyển…
1.1.3.2.Giá trị bảo hiểm,Số tiền bảo hiểm và Phí bảo hiểm.
Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm(GTBH) là giá trị thực tế của lô hàng đăng kí tham gia bảohiểm,thường là giá CIF,bao gồm : Giá hàng hoá, cước phí vận chuyển,phí bảohiểm và các chi phí liên quan khác.Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu khách hàng,các công ty bảo hiểm còn tổ chức bảo hiểm cho lợi nhuận dự tính của lô hàng.Giả sử là các hợp đồng bảo hiểm đều bảo hiểm cho cả lô hàng hoá và cả lợinhuận thương mại của lô hàng(tối đa 10% giá CIF) thì giá trị bảo hiểm của lôhàng lớn nhất bằng 110% CIF Có thể xác định giá trị bảo hiểm( GTBH ) theogiá CIF theo công thức sau:
V=C+F/1-R
Trong đó:
- V (Value) là GTBH của hàng hoá XNK theo giá CIF
- C(Cost) là giá hàng được tính bằng giá FOB ở cảng đi
- F(freight) là cước phí vận chuyển
Trang 10- R(rate) là tỷ lệ phí bảo hiểm
Hoặc nếu bảo hiểm theo lãi dự tính thì GTBH = (C+F).(a+1)/1-R
Trong đó a là tỉ lệ phần trăm lãi dự tính của lô hàng so với tổng giá trị của lôhàng(gồm giá trị hàng hoá và cước phí vận chuyển)
Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm(STBH ) là số tiền được đăng kí bảo hiểm ghi trong hợp đồngbảo hiểm,nó được xác định trên cơ sở GTBH GTBH lại thường được xác địnhcăn cứ vào hoá đơn hàng hoá.Thường thì có 3 trường hợp sau đây:
-Nếu STBH bằng GTBH thì gọi là bảo hiểm ngang giá trị hay bảo hiểm toànphần
-Nếu STBH cao hơn GTBH thì gọi là bảo hiểm trên giá trị hay bảo hiểm vượtmức
-Nếu STBH thấp hơn GTBH thì gọi là bảo hiểm dưới giá trị hay bảo hiểm dướimức
Các chủ hàng thường đăng kí bảo hiểm cho hàng hoá theo bảo hiểm ngang giátrị hoặc thấp hơn giá trị
Phí bảo hiểm.
Khi tham gia bảo hiểm, người tham gia phải trả cho nhà bảo hiểm một khoảnphí gọi là phí bảo hiểm để nhà bảo hiểm bảo hiểm cho những rủi ro mà hànghoá có thể gặp phải.Phí bảo hiểm được xác định trên cơ sở STBH và tỷ lệ phíbảo hiểm.Phí bảo hiểm(P) được xác định như sau:
Trang 11Như đã nói ở trên,vì các chủ hàng thường mua bảo hiểm ngang giá trị nên phíbảo hiểm có thể được xác định theo công thức :
P=CIF.R(nếu không có phần bảo hiểm thêm cho lãi dự tính)
Hoặc P=CIF.(a+1).R(nếu bảo hiểm thêm phần lãi dự tính a)
Tỷ lệ phí bảo hiểm R được thoả thuận và quy định trong hợp đồng bảo hiểm.Tỷ
lệ này phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Loại hàng hoá:Hàng dễ bị tổn thất nhưng dễ vỡ,dễ bị mất cắp thì tỉ lệ phí bảohiểm sẽ cao hơn
- Loại bao bì:Bao bì càng chắc chắn thì tỷ lệ phí bảo hiểm càng hạ
- Phương tiện vận chuyển cũng là một nhân tố quan trọng quyết định đến tỷ lệphí bảo hiểm:hàng hoá được chở trên tàu trẻ và có chất lượng chuyên chở tốt sẽ
có tỉ lệ phí bảo hiểm thấp hơn hàng chở bằng tàu già
- Hành trình: Tỷ lệ phí bảo hiểm tăng lên đối với những hành trình có nhiều rủiro(theo thống kê kinh nghiệm) hoặc hành trình qua các vùng có xung đột vũtrang…
- Điều kiện bảo hiểm:Điều kiện bảo hiểm có phạm vi càng hẹp thì tỷ lệ phí bảohiểm càng thấp
Các bộ luật và quy tắc bảo hiểm hàng hải đều lưu ý rằng việc nộp phí bảo hiểm
là điều kiện vô cùng quan trọng để xác định HĐBH có hiệu lực Công ty bảohiểm có quyền huỷ HĐBH nếu người được bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụtrả phí theo thoả thuận hoặc có quyền từ chối bồi thường khi rủi ro xảy ra
Giám định và bồi thường tổn thất.
Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.
Khi có rủi ro xảy ra đối với phương tiện vận chuyển hoặc đối với bản thân hànghoá mà đe doạ tới sự an toàn của hàng hoá của người được bảo hiểm thì ngườiđược bảo hiểm phải có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan liên quan nơi gầnnhất như cơ quan hàng hải, cơ quan bảo hiểm …để những cơ quan này có biệnpháp theo dõi và phòng bị cho tàu và hàng hoá.Nếu nhận được thông tin hayphát hiện hàng hoá bị tổn thất thì người được bảo hiểm cần phải thông báo ngay
Trang 12cho người bảo hiểm hay đại lý họ chỉ đến giám định Việc giám định này chỉđược thực hiện khi có đơn đề nghị của người được bảo hiểm gửi đến cho ngườibảo hiểm.
Bên cạnh đó việc tổ chức các hoạt động bảo vệ tài sản trước những tổn thất lớnhơn có thể xảy ra hoặc hạn chế tổn thất đã xảy ra là trách nhiệm của cả haibên,nó đòi hỏi nỗ lực lớn từ cả hai bên và hành động cứu chữa hàng hoá nàykhông hề là dấu hiệu cho thấy bất kì sự gian dối hay từ chối nào từ phía nhà bảohiểm hay nói cách khác việc cứu chữa hàng hoá không làm ảnh hưởng đến cáchthức và nội dung giải quyết bồi thường của cả hai bên mà nó chỉ có mục đíchduy nhất là nhằm giảm thiểu tổn thất cho hàng hoá
Khiếu nại đòi bồi thường.
Trong mọi trường hợp,người được bảo hiểm hay đại lý của họ có trách nhiệmđảm bảo việc thực hiện và bảo lưu đầy đủ cho người bảo hiểm quyền khiếu nạiđối với người chuyên chở,người nhận uỷ thác hàng hoá hay người thứ bakhác.Đặc biệt họ cần làm theo các quy định sau đây:
- Khiếu nại ngay người vận chuyển,chính quyền cảng hay những người nhận uỷthác hàng về bất kì kiện hàng nào bị mất
- Yêu cầu đại diện người chuyên chở hay người nhận uỷ thác hàng hoá tham giaviệc chứng kiến giám định ngay khi phát hiện hàng hoá có hiện tượng mất mát
hư hỏng và qua giám định nếu thấy thực tế có giám định tổn thất thì phải lập hồ
sơ khiếu nại họ
- Trừ khi đã có thư kháng nghị,trong mọi trường hợp không được cấp giấy biênnhận hoàn chỉnh cho những hàng hoá có hiện tượng nghi vấn
- Gửi giấy báo cho đại diện người chuyên chở hay người nhận uỷ thác hàng hoátrong vòng ba ngày sau khi nhận hàng nếu tổn thất thuộc loại khó phát hiện vàothời gian nhận hàng
Nếu người được bảo hiểm không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như đã quy địnhtrên đây thì người bảo hiểm có quyền từ chối những khiếu nại thuộc trách nhiệmngười chuyên chở,người nhận uỷ thác hàng hoá hay người thứ ba khác
Trang 13Khi đòi người bảo hiểm bồi thường về những mất mát hay hư hỏng thuộc tráchnhiệm hợp đồng bảo hiểm,người được bảo hiểm cần phải nộp đủ các giấy tờchứng minh trong đó tuỳ trường hợp liên quan phải có:
- Bản chính của đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm
- Bản chính hoặc bản sao hoá đơn gửi hàng,kèm tờ kê chi tiết hàng hoá và/hoặcphiếu ghi trọng lượng
- Bản chính của vận tải đơn và /hoặc hợp đồng chuyên chở các loại
- Biên bản giám định và chứng từ tài liệu khác chỉ rõ mức độ tổn thất
- Giấy biên nhận và giấy chứng nhận tàu giao hàng và phiếu ghi trọng lượng tạinơi nhận cuối cùng
- Bản sao báo cáo hải sự và/hoặc trích sao nhật kí hàng hải
- Công văn thư từ trao đổi với người chuyên chở và các bên khác về trách nhiệmcủa họ đối với tổn thất
- Thư đòi bồi thường
Trường hợp các chứng từ trong bộ hồ sơ khiếu nại chưa làm sáng tỏ được tổnthất có thuộc trách nhiệm của bảo hiểm hay không,người bảo hiểm yêu cầucung cấp thêm các chứng từ sau:
- Giấy chứng nhận đăng kiểm tàu
- Các biên bản của công an,chính quyền cảng …
Giám định và bồi thường tổn thất.
Sau khi nhận được thông báo tổn thất về hàng hoá của người tham gia bàohiểm,nhà bảo hiểm phải nhanh chóng xem xét để giải quyết các khiếu nại nàycho khách hàng.Quy trình này bao gồm giám định và bồi thường tổn thất
Trang 14Xử lý thông tin ban đầu
Nhận thông tin từ khách hàng
Báo cáo lãnh đạo
Trực tiếp giám định
Thoả thuận và theo dõi, khắc phục hậu quả
Lập biên bản giám định
Bồi thường
Báo cáo tổng công ty
Chỉ định giám định
Nhận biên bản giám định, trả phí
Theo dõi, đánh giá
* Giám định là việc làm của người bảo hiểm hoặc người được ủy thác nhằm
đánh giá,xác định nguyên nhân mức độ và trách nhiệm đối với tổn thất của đốitượng được baỏ hiểm để làm căn cứ cho việc bồi thường.Tiến trình giám địnhđược tổ chức thực hiện theo sơ đồ sau:
Có thể tóm tắt quá trình thực hiện giám định như sau:
Công ty bảo hiểm nhận thông báo của khách hàng về đối tượng được bảo hiểm
bị tổn thất hoặc gặp tai nạn, các cán bộ chuyên môn vào sổ tiếp nhận để tiếnhàng theo dõi yêu cầu giám định của khách hàng.Đối với các trường hợp có giátrị tổn thất khoảng nhỏ hơn 10 triệu đồng và những vụ đơn giản thì thông báocho bộ phận giám định viên của công ty để xử lý, nếu tổn thất lớn và phức tạpthì công ty bảo hiểm sẽ thông báo về văn phòng tổng công ty để hỏi xin ý kiếncủa các cấp lãnh đạo cao hơn cùng phối hợp xử lý, thường thì lúc đó lãnh đạotổng công ty sẽ chỉ định giám định viên tiến hành giám định Dù giám định theophương pháp tự làm hay thuê ngoài thì công ty bảo hiểm cũng phải có đẩy đủcác thông tin đầy đủ về đối tượng được bảo hiểm và vụ tổn thất nhằm tiến hànhgiám định một cách khách quan, chính xác Mục đích của công tác giám định làxác định nguyên nhân và mức độ của tổn thất làm căn cứ cho quá trình bồithường.Việc xác định tổn thất cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Trang 15- Tổn thất toàn bộ như đã nói ở trên gồm tổn thất toàn bộ thực tế và tổn thất toàn
bộ ước tính
- Khi xảy ra mất mát hư hỏng thuộc phạm vi trách nhiệm hợp đồng bảohiểm,nếu hàng hóa đựơc bảo hiểm bị phá hủy hoàn toàn hay bị hư hỏng nghiêmtrọng tới mức không còn là vật phẩm tính với tính chất ban đầu của nó nữa hoặcngừời được bảo hiểm bị mất hẳn quyền sở hữu hàng hóa thì được coi là tổn thấttoàn bộ thực tế
- Khi hàng hóa được bảo hiểm bị mất mát hay hư hỏng thuộc phạm vi tráchnhiệm hợp đồng bảo hiểm,nếu xét thấy không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộthực tế hoặc do các chi phí cứu hàng,chi phí chỉnh lý và gửi hàng đến nơi nhậnghi trong hợp đồng bảo hiểm có thể vượt quá giá trị hàng khi tới nơi nhận nó thìđược coi là tổn thất toàn bộ ước tính
- Bất kì trường hợp tổn thất hay hư hỏng nào không thuộc loại tổn thất đã nói ởhai phần trên thì đều đựơc coi là tổn thất bộ phận
- Nếu tàu chở hàng bị mất tích thì hàng hóa được bảo hiểm sẽ được coi là tổnthất toàn bộ thực tế.Tàu chở hàng được coi là mất tích khi không tới đựơc đếnbến và cũng không có tin tức gì,về thời gian thì đã quá ba lần quãng thời giancần thiết để cho tàu đi từ điạ điểm dừng lại cho tới bến đến.Tuy nhiên thời giancần thiết để xác định việc mất tích tàu không được ít hơn 3 tháng Nếu việcthông báo tin tức bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoặc những hoạt động quân sựthì thời hạn này được đổi thành 6 tháng
thường
Thông báo bồi thường
và lưu hồ sơ
Công việc sau bồi thường
Đòi tái
BH
Bán cứu vướt tài sản
Đòi người thứ 3
Đạt
Tr
ên ph
an cấ p
Bồi thường
Kh ôn
g bồi th ườ ng
Khách hàng Không đồng ý Khách hàng không đồng ý
Trang 16- Ngay sau khi việc giám định được tiến hành xong, nhân viên của công ty bảohiểm sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ bộ hồ sơ khiếu nại và dựa vào đó
để làm căn cứ xét bồi thường.Cán bộ bồi thường phải làm tờ trình bồi thường vàtrình cho cán bộ lãnh đạo xem xét, cho ý kiến và duyệt hồ sơ bồi thường theophân cấp.Nếu không đồng ý bồi thường vì một lý do nào đó, cán bộ bồi thườngphải lập công văn gửi cho người khiếu nại giải thích rõ lý do vì sao lại từ chốibồi thường.Nếu hồ sơ được cán bộ lãnh đạo xét duyệt cho bồi thường thì cán bộbồi thường lập thông báo bồi thường và gửi cho khách hàng để lấy ý kiến của
họ về việc bồi thường.Ở bước này, phải tuỳ vào phản ứng của khách hàng để cónhững xử lý phù hợp: Nếu khách hàng chấp nhận việc bồi thường thì tiến hànhbước tiếp theo là thanh toán bồi thường, nếu họ không chấp nhận thì phải quaylại từ bước xét bồi thường còn nếu khách hàng đồng ý nhưng vẫn còn có một sốkhiếu nại phát sinh thì cần tiến hành xử lý những khiếu nại này.Sau khi bồithường, nhà bảo hiểm thực hiện các công việc như đòi tái bảo hiểm, đòi ngườithứ ba, bán cứu vớt Những công việc này là nhằm giảm gánh nặng bồi thườngcho nhà bảo hiểm.Quá trình bồi thường thì quan trọng nhất là cách tính toán vàthanh toán số tiền bồi thường,những công việc này khi thực hiện cũng phải tuântheo một số nguyên tắc như:
- Khi hàng hóa được bảo hiểm bị tổn thất bộ phận thì số tiền bồi thường đựơcxác định bằng tổng giá trị hàng hóa khi còn nguyên vẹn trừ đi tổng giá trị hànghóa còn lại sau khi đã bị tổn thất tại nơi nhận hàng trên cơ sở tỷ lệ giữa số tiềnbảo hiểm và giá trị bảo hiểm
Trình tổng công ty
Từ chối
Xử lý khiếu nại của khách hàng
Trang 17- Trường hợp tổn thất chung thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì số tiềnđóng góp tổn thất chung của người đựơc bảo hiểm sẽ đựơc bảo hiểm bồi thườnglại đầy đủ.Tuy nhiên,nếu số tiền bảo hiểm của hàng hóa lại thấp hơn giá trị tổnthất chung thì người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường số tiền đóng góptổn thất chung theo tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị đóng góp.
- Trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ giới hạn ở số tiền bảo hiểm.Tuy nhiên,người bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm đối với số tổn thất cộng với các chiphí cứu hộ,chi phí giám định ,chi phí đánh giá và bán lại hàng hóa bị tổnthất,chi phí đòi người thứ ba bồi thường và tiền đóng góp tổn thất chung,dù chotổng số tiền bồi thường như vậy có thể vượt quá số tiền bảo hiểm
- Người bảo hiểm có quyền được miễn mọi trách nhiệm quy định trong hợpđồng bảo hiểm bằng cách khước từ quyền lợi về hàng hóa bảo hiểm và quyềnkhiếu nại người thứ ba, đồng thời bồi thường cho người được bảo hiểm toàn bộ
số tiền bảo hiểm.Khi thực hiện quyền này thì người bảo hiểm phải thông báocho ngưòi được bảo hiểm biết trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận đượcthông báo của người được bảo hiểm về thảm họa đã xảy ra và hậu quả củanó.Những chi tiết hợp lý cần thiết mà người bảo hiểm đã chi trước khi nhânđược thông báo trên nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất sẽ được ngườibảo hiểm bồi hoàn
- Việc bồi thường được giải quyết bằng loại tiền quy định trong hợp đồng hoặcgiấy chứng nhận bảo hiểm,không bồi thường bằng hiện vật
Quá trình bồi thường lại thường cần lưu ý những công việc đặc biệt như:
- Chuyển quyền đòi bồi thưòng(đòi người thứ ba)
Sau khi thanh toán bồi thưòng theo hợp đồng bảo hiểm,mọi khoản khiếu nại vàquyền khiếu nại của người được bảo hiểm đối với những ngưòi thứ ba đều đượcchuyển cho người bảo hiểm mà giới hạn là số tiền bồi thưòng
Ngay khi nhận được tiền bồi thường của người bảo hiểm,người được bảo hiểm
có trách nhiệm chuyển giao cho ngưòi bảo hiểm mọi tài liệu và bằng chứng của
họ và phaỉ làm đầy đủ thủ tục đáp ứng yêu cầu thực hiện quyền truy đòi của