1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty giầy Cẩm Bình

24 443 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty giày Cẩm Bình
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 46,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ngược lại trên thị trường cấp cao các doanh nghiệp coi giá là là yếu tố khảng định những tính năng vượt trội, công dụng của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, ngoài ra các yếu tố khác n

Trang 1

Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty giầy Cẩm Bình

I Nhân tố ảnh hưởng phát triển thị trường của công ty.

1 Nhân tố bên ngoài.

1.1 Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế

Những yếu tố thuộc môi trường kinh tế mà doanh nghiệp cần quan tâm là: tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, phân phối thu nhập,

cơ cấu kinh tế với mỗi thị trường, mỗi một nước có các chỉ số khác nhau do

đó doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, xem xét Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh mức độ hấp dẫn của thị trường, nếu tốc độ kinh tế phát triển mà cao thì khả năng tiêu thụ sản phẩm của công ty lớn, và ngược lại Thu nhập bình quân đầu người tăng thì chứng tỏ mức sống của dân cư tăng lên thì khả năng tiêu dùng cao, khi đó sản phẩm của công ty sẽ tăng cả về số lượng và chất lượng, chủng loại đáp ứng nhu cầu của thị trường Sự phân phối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư sẽ cho doanh nghiệp thấy đựơc các đoạn thị trường khác nhau với mức

độ co giãn của cầu theo giá khác nhau Trên thị trường cấp thấp các doanh nghiệp sẽ coi giá là “điểm nhấn” trong chiến lược cạnh tranh của mình ngược lại trên thị trường cấp cao các doanh nghiệp coi giá là là yếu tố khảng định những tính năng vượt trội, công dụng của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, ngoài ra các yếu tố khác như tỷ lệ lạm phát, lãi suất tiết kiện, cơ cấu ngành cũng ảnh hưởng tới nhu cầu thực tế của thị trường, nghĩa là ảnh hưởng tới nhu khả năng cung ứng của cônng ty Nó tác động mạnh mẽ tới tình hình sản xuất của công ty, lúc đó cần phải xem xét sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào cho phù hợp, chủng loại như thế nào Ngày nay cả ở việt nam cũng như ở các nước khác trên thế giới thì thu nhập cá nhân của mức dân cư ngày càng cao, do đó khả năng tiêu dùng cho các mặt hàng thiết yếu, cũng như các mặt hàng tiêu dùng ngày càng cao,ngày một lớn, song mức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng nghành ngày càng gay gắt, khốc liệt cả trên thị trường trong nước lẫn thị trường nước ngoài, điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải xem xét một cách kỹ lượng

Trang 2

các yếu tố tác động tới khả năng phát triển thị trường của doanh nghiệp để ra một quyết định đúng đắn nhất cho công ty.

1.2 Các nhân tố thuộc môi trường chính trị

Các ảnh hưởng của hệ thống chính trị, luật pháp thường làm giảm tính cạnh tranh thuần tuý trong các cuộc cạnh tranh trên thị trường cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, đặc biệt là khi mở rộng thị trường sang một nước nào đó thì doanh nghiệp cần phải cân nhắc một số vấn đề sau:

- Thái độ của chính phủ đối với các nhà kinh doanh nước ngoài Nếu chính phủ

có thái độ khuyến khích các nhà doanh nghiệp thì các doanh nghiệp sẽ giảm bớt được các chi phí về tiền bạc, thời gian cho những thủ tục hành chính phức tạp, không những thế doanh nghiệp còn nhận được sự hỗ trợ của chính phủ về mặt vật chất như là: Thuế nhập khẩu, thuế chuyển về nước, thông tin

- Sự ổn định về chính trị: Ở các nước mà sự ổn định về chính trị không được đảm bảo thì khách hàng sẽ dè dặt hơn trong tiêu dùng Doanh nghiệp sẽ gặp phải cầu khống hoặc cầu thoái trong các phân tích hay dự báo về cầu của công ty Hơn nữa, độ rủi ro cao trong chính trị thường khiến các doanh nghiệp phải thay đổi phương thức xâm nhập thị trường của mình, giữ phần vốn cố định

ở mức thấp, thu hẹp các khoản tín dụng thương mại cho khách hàng

- Các công cụ điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước: các công cụ này gồm: Chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái,chính sách phát triển thành phần kinh tế đây cũng là các yếu tố quan trọng mà doanh nghiệp cần phải xem xét cả ở thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài, điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết

để có thể phản ứng lại các yếu tố bên ngoài, hoặc tận dụng các thay đổi từ các chính sách đó

- Tính hiệu lực của bộ máy chính quyền: Nếu bộ máy chính quyền hoạt động hiệu quả sẽ tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh cho các daonh nghiệp trên thị trường Ngược lại nếu hiệu lực của bộ máy chính quyền không cao, thiếu nhất quán sẽ làm cho các doanh nghiệp khó dự đoán được các chỉ số khi

Trang 3

phân tích kinh doanh và xây dựng các chiến lược kinh doanh dài hạn Thậm chí nếu chính phủ can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ làm hạn chế quyền lựa chọn trong việc mở rộng thị trường, cũng như thâm nhập thị trường.

1.3 Các nhân tố thuộc môi trường luật pháp

Với mỗi quốc gia thì đều có một quy định riêng, có một thể chế riêng, doanh nghiệp tồn tại trong môi trường thể chế nào thì phải tuân theo qui luật thể chế của đất nước đó và chịu sự điều khiển của luật pháp đó Trong quan hệ quốc tế,

để điều chỉnh quan hệ kinh tế đối ngoại, mỗi quốc gia đều có những qui định riêng cho mình song thống nhất với các cam kết song phương và đa phương đồng thời phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước trong từng thời kỳ cụ thể Tất cả qui định đó chỉ rõ doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng gì trên thị trường

đó, chất lượng hàng hoá phải đảm bảo các điều kiện gì? Doanh nghiệp có quyền

và nghĩa vụ gì, như thế nào ở các chính quyền sở tại Những yếu tố trên tác động không nhở tới tình hình phát triển thị trường của doanh nghiệp

Ngoài các luật của mỗi quốc gia, công ty cũng phải hiểu rõ các nguyên tắc của luật quốc tế, các hệ thống luật quốc tế chi phối tới hoạt động xuất khẩu của công ty, cũng như nhập khẩu Luật quốc tế bao gồm công ước, hiệp điịnh, tập quán thương mại quốc tế Do vậy để đảm bảo khả năng thâm nhập thị trường của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải xem xét tất cả các luật có liên quan tới thị trường mà doanh nghiệp đang đầu tư, hoặc chuẩn bị đầu tư Đặc biệt doanh nghiệp cần phải chú trọng tới vấn đề xung đột pháp luật( có nhiều nguồn luật có thể được viện dẫn để điều chỉnh một quan hệ pháp luật phát sinh) Vì vậy việc lựa chọn bộ luật dẫn chiếu, lựa chọn toà án giải quyết tranh chấp cũng là những nội dung cần thiết khi chuẩn bị đầu tư vào một thị trường nào đó

1.4 Các nhân tố thuộc môi trường văn hoá

Mỗi quốc gia đều có những tập tục riêng, giá trị văn hoá và những chuẩn mực riêng Tất cả các yếu tố này qui định thái độ, hành vi tiêu dùng của công chúng Mặc dù ngày nay có sự hội nhập của các nền kinh tế, cả về văn hoá

Trang 4

doanh nghiệp cũng chỉ thành công trong việc biến đổi các giá trị văn hoá thứ phát bằng nghệ thuật thuyết phục của mình Các giá trị văn hoá thứ phát khi thay đổi sẽ tạo ra các cơ hội thị trường hoặc các khuynh hướng tiêu dùng mới Khai thác điểm này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác nghiên cứu thị trường, nhiên cứu khách hàng để đưa ra các sản phẩm phù hợp Thậm chí các chương trình quảng cáo, khuyếch trương của doanh nghiệp còn phải làm nhiện vụ định hướng khuynh hướng tiêu dùng của khách hàng Đối với các giá tri văn hoá cốt lõi thì doanh nghiệp nên định hướng sản phẩm của mình theo những giá trị văn hoá truyền thống hơn là thay đổi nó.

Nhìn chung yếu tố văn hoá ảnh hưởng rất lớn tới sản phẩm được tiêu thụ và các hoạt động xúc tiến của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải cân nhắc xem những thay đổi nào cho sản phẩm là cần thiết, các sản phẩm nào, mẫu mã nào, chất lượng nào sẽ làm nổi bật và thuyết phục được khách hàng Đối với một doanh nghiệp hoạt động tại nhiều thị trường khác nhau các chính sách thương mại quốc tế của doanh nghiệp phải vượt qua hàng rào về ngôn ngữ, tập tục, thói quen, lễ giáo cũng như các giá trị thẩm mỹ khác nhau song song tồn tại với khách hàng của mình

1.5 Đối thủ cạnh tranh

Với cơ chế thị trường, sự tự do cạnh tranh là yếu tố nổi bật va tất yếu Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh với nhhiều ngành nghề khác nhau, họ có thể cạnh tranh về mặt hàng kinh doanh, sản phẩm thay thế đối với nghành da giầy là nghành xuất khẩu đứng thứ 4 về xuất khẩu sau dầu thô, dệt may, thuỷ sản Do vậy có rất nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường như một số công ty là: BiTis, Thượng Đình, công ty giầy Hải Dương họ đã có nhãn hiệu lớn trên thị trường, trong khi đó thì công ty giầy Cẩm Bình là công ty non trẻ Vì vậy để tồn tại và phát triển công ty phải đối mặt với nhiều khó khăn, cạnh tranh gay gắt với các công ty khác Để thắng được trong cạnh tranh thì công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình phải tận dụng, phát huy

Trang 5

được điểm mạnh và hạn chế điểm yếu , đồng thời tạn dụng dược các thời cơ của thị trường.

2 Nhân tố bên trong.

2.1 Cơ cấu sản phẩm

Từ khi chuyển đổi sang sản xuất kinh doanh mặt hàng giầy thì công ty cổ phần giầy Cẩm Bình thoát khỏi tình trạng kinh doanh thua lỗ như những năm trước, công ty luôn sản xuất kinh doanh năm sau cao hơn năm trước, đó cũng là

do công ty đã đa dạng hoá sản phẩm sản xuất nhưng chủ yếu công ty tập chung vào các loại sản phẩm như: Giầy người lớn da thật, giầy người lớn dả da, giầy người trẻ em

Cơ cấu sản phẩm chủ yếu của công ty giầy Cẩm Bình.

(nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty)

Qua biểu đồ ta thấy sản phẩm của công ty sản xuất các loại giầy thể thao người lớn giả da có phần giảm điều đó là do thị trường xuất khẩu của công ty về mặt hàng này giảm Tuy nhiên giầy thể thao người lớn da thật có xu hướng tăng, năm 2003 công ty mới sản xuất và xuất khẩu được 500 nghìn đôi, nhưng năm

2004 sản xuất và xuất khẩu được là 150249 đôi đây là mặt hàng sản xuất và cũng là mặt hàng xuất khẩu chủ yêú của công ty vì nhu cầu thị trường của sản phẩm này rất lớn và phong phú Trong khi đó mặt hàng giầy thể thao trẻ em cũng là mặt hàng có tiền năng phát triển, cả giầy thể thao người lớn và giầy thể thao trẻ em có thị trường xuất khẩu tiềm năng rất lớn cả ở trong nước và nước ngoài

2.2 Đặc điểm nhân sự

Trang 6

Như chúng ta đã biết, sản xuất giầy dép là loại hình sản xuất mùa vụ, làm theo đơn đặt hàng Chính vì vậy mà vào những tháng có đơn hàng hoặc theo mùa vụ thì đòi hỏi số lượng công nhân cao hơn để đáp ứng được các đơn hàng, và ftheo yêu cầu của sản xuất Do vậy số lượng lao động trong công ty có sự thay đổi, vào những tháng có đơn đặt hàng, mùa vụ thì ngoài số lượng công nhân biên chế trong công ty thì doanh nghiệp còn thêu thêm lao động bên ngoài để đảm bảo tiến độ sản xuất, giao hàng đúng thời hạn cho khách hàng.

Việc tăng giảm lao động trong công ty là vấn đề khó khăn đối với các cấp quản

lý trong công ty vì khi đó đòi hỏi trình độ tay nghề của công nhân viên phải đạt yêu cầu kĩ thuật, đồi hỏi sự khéo léo, đáp ứng sự thay đổi của sản phẩm Do đặc thù của loại hình công việc, hiện nay công ty có tới 84.59% số lượng công nhân là

Trang 7

(Nguồn báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhcủa công ty)

Qua bảng tổng hợp ta thấy tình hình lao động của công ty trong những năm qua ngày càng tăng

+ Ta thấy lao động gián tiếp của công ty nămm 2005 là cao nhất 59 người cao nhơn so với năm 2004 là 1 người hay tăng 1.69% điều này chứng tỏ trong năm 2005 công ty làm ăn tốt, cần nhiều lao động quản lý hơn để quản lý công việc, đảm bảo cho công vệc đản bảo tiến độ thực hiện

+ Lao động gián tiếp thì ta thấy số lượng người có trình độ đại học chiếm cao, năm 2003 là 30 người chiếm 1.85% tổng số lao động,trong khi đó năm

2004 là 58 người chiếm 3.27% tăng hơn so với năm 2003.năm 2005 có 59 người chiếm3.26% tổng số lao động trong công ty

+ Lao động quản lý có trình đô trung cấp năm 2003 là 22 người chiếm 1.36%, trong khi năm 2004 là 25 người chiếm 1.4% ,năm 2005 là 25 người chiếm 1.38% như vậy ta thấy lao động qản lý có trình độ trung cấp ngày càng giảm Điều này cho thấy công ty hiện đang có đội ngũ cán bộ quản lý tương đối tốt, có trình độ, đây là nguồn lực góp phần quan trọng giúp công ty ngày càng khảng định mình trên thị trường trong thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai

+ Đối với bất kì ngành sản xuất nào thì công nhân sản xuất trực tiếp cũng chiếm phần quan trọng không thể thiếu, đặc biệt với ngành sản xuất da giầy

Trang 8

Nhìn vào bảng ta thấy số lượng công nhân trực tiếp trong các năm ngày càng tăng, năm 2003 số lượng là 1562 ngưòi chiếm 96.77% tổng số lao động, năm

2004 số lao động là 1715 ngưòi chiếm 96.72%, năm 2005 1748 người chiếm 96.73% tổng số lao động trong công ty số lượng công nhân trên nói đến tình hình phát triển của công ty ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu

+ Nhìn vào bảng ta thấy công nhân bậc 1, bậc 2, bậc 3 chiến đa số Đây là lực lượng trẻ đã được đào tạo và có thời gian sản xuất thực tế, tuy tay nghề chưa cao nhưng sẽ là lực lượng lòng cốt trong của công ty trong những năm sau Còn công nhân bậc cao tăng không đáng kể năm 2003 là 22 người, năm 2004 là 25 người, năm 2005 là 27 người Đây là nguồn lao động cao, có trình độ tay nghề cao, khéo léo có thể kèm cặp, giúp đỡ lực lượng lao động trẻ trong công ty

+ Số lao động không bậc trong công ty ta thấy có xu hướng ngày càng giảm, năm 2003 là 150 người chiếm 9.29%, năm 2004 là 120 người chiếm 6.76%, năm 2005 là 95 người chiếm 5.25% tổng số lao động trong công ty Như vậy công ty đang có xu hướng trình độ hoá lực lượng lao động,giảm lực lượng lao động không có trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu của chất lượng sản phẩm, nhu cầu của thời kì mở của,cạnh tranh bình đẳng và xu thế hội nhập kinh tế

Ngoài ra công ty còn quan tâm yới đến đời sống của công nhân, cán bộ trong công ty bằng các hoạt động xã hội như hàng năm tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao, lập các quỹ phúc lợi xã hội giúp người lao động yên tâm công tác, làm việc

Hiện nay công ty đang tích cực thi hành chính sách nâng cao chất lượng năng lực cán bộ công nhân viên chức như: cơ cấu lại bộ máy tổ chức, xắp xếp lại nơi làm việc,mở các lớp đào tạo nâng cao tay nghề, kiến thức tiếp tục tuyển dụng công nhân có năng lực, có tay nghề

2.3 Máy móc công nghệ

Máy móc là thiết bị thiết yếu trong sản xuất của công ty, giá trị của nó chiếm phần lớn trong tổng số vốn cố định của công ty Trong hoạt động sản xuất của

Trang 9

công ty do đặc thù của ngành, đặc thù của sản phẩm, máy móc thiết bị đống vai trò lớn trong việc nâng cao năng suất cũng như chất lượng sản phẩm cuẩ công ty.

Từ một công ty dệt, trong quá trình chuyển đổi sản xuất sang ngành giầy da thì máy móc công nghệ chủ yếu được nhập trong những năm gần đây, chủ yếu nhập

từ Hàn Quốc, Đài Loan

Trang 10

( Một số máy móc thiết bị chủ yếu)

STT Máymóc thiết bị Đv tính Nước sx Số lượng Giá trị còn

Qua bảng ta thấy dây chuyền máy móc thiết bị của công ty có nhiều chủng loại, mỗi loại được nhập từ các nước khác nhau, đáp ứng được các yêu cầu về kĩ thuật, nhưng trong quá trình sản xuất công ty mới chỉ sử dụng được khoảng 60%- 70% công suất thiết kế Như vậy máy móc công nghệ ảnh hưởng rất lớn tới quá trình tiêu thụ sản phẩm của công ty vì công nhệ sản xuất có cao thì sảm xuất ra sản phẩm mới đảm bảo chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, đáp ứng được nhu cầu thị trường Do doanh nghiệp đi sau trong quá trình sản xuất giầy thể thao xuất khẩu do đó công nghệ máy móc đều là tiên tiến, có chất lượng tốt, có khả năng cạnh tranh tốt trên thị trường Đáp ứng được các nhu cầu cả trong nước và nước ngoài

2.4 Nguyên vật liệu đầu vào

Nguyên vật liệu đầu vào được xác định là nhân tố chính trong quá trình sản xuất và kinh doanh, là yếu tố quan trọng trong quá trình hạ giá thành sản phẩm

Trang 11

Do vậy để tăng khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp cần phải chú trọng tới vấn

đề nguyên vật liệu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm Với công ty cổ phần giầy Cẩm Bình thì nguyên vật liệu đầu vào của doanh nghiệp chủ yếu là các loại da(da trắng, da vàng, da đen ) chỉ khâu, cao su, trong đó nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng tới 80%- 85% trong giá thành sản phẩm, do vậy việc quản lý mua và sử dụng nguyên vật liệu là có ý nghĩa rất lớn trong việc tiết kiệm nguyên vật liệu và hạ giá thành sản phẩm Hiện nay thì do tính chất sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ thì nguyên vật liệu đầu vào của doanh nghiệp là chủ yếu là nhập từ nước ngoài, từ các nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc do vậy thì quá trình bảo quản, quản lý nguyên vật liệu của doanh nghiệp là vấn đề cấp thiết của công ty

Theo cơ chế của công ty thì phòng vật tư, phòng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp là phòng lên kế hoạch vấn đề cung ứng nguyên vật liệu của công ty, song

do vấn đề là nguyên vật liệu phần lớn nhập khẩu từ nước ngoài do vậy công ty cũng phần nào gặp những vấn đề khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh như vấn đề về chất lượng, giá cả, thời điểm cung ứng với những vấn đề như vậy ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề giá cả, khả năng cạnh tranh trên thị trường của công ty

Hiện nay, để đảm bảo sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, công ty đã áp dụng hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu áp dụng cho từng loại sản phẩm, từng loại nguyên vật liệu chính Việc áp dụng hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu đã góp phần tiết kiệm được nguyên vật liệu lãng phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho người lao động nâng cao được ý thức trách nhiệm của mình trong việc sử dụng nguyên vật liệu, mặt khác khuyến khích công nhân trong doanh nghiệp làm việc qua các phần thưởng xứng đáng đối với người hoàn thành định mức và vượt chỉ tiêu

2.5 Quản lý chất lượng sản phẩm

Trang 12

Quản lý chất lượng là khâu không thể thiếu tronng quá trình sản xuất và kinh doanh của công ty, đặc biệt là trong tình hình kinh tế cạnh tranh như ngày nay, một công ty muốn sản phẩm mình được khách hàng chấp nhận thì phải đảm bảo chất lượng sản phẩm, đảm bảo các thông số kĩ thuật mà nhà sản xuất cam kết với khách hàng Để thực hiện được như vậy thì công ty đã đề ra chiến lược quản

ký chất lượng bằng cách áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, khi áp dụng hệ thông này thì đã hạn chế tối đa đựơc hiện tượng chồng chéo trong quá trình quản lý ,phân định rõ ràng trách nhiện của các bộ phận và cá nhân trong trong hệ thống chất lượng của công ty

Trong quá trình áp dụng ISO 900 vào công tác quản lý chất lượng thì công ty

dã đạt được một số kết quả nhất định như đảm bảo chất lượng sản phẩm, giữ được thị trường cũ và phát triển thị trường mới, để đảm bảo chất lượng ngoài hệ thống quản lý chất lượng thì công ty phải thực hiện tốt những nhiện vụ sau:

- Xác định rõ mục tiêu, kế hoạch cụ thể của quản lý chất lượng và thông bào rộng rãi

- Có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hợp lý

- Có hệ thống thủ tục, quy trình xác lập và người thực hiện

- Có nguồn lực để điều phối, vốn,cơ sở vật chất

- Có đầy đủ bằng chứng khách quan để chứng tỏ khả năng đảm bảo chất lượng của mình

- Các yếu tố phải được kiểm soát, làm rõ, lập biểu đồ quan sát, biểu đồ quá trình

- Khi thực hiện phải tuân theo các quy trình đã cam kết

- Có các biện pháp phòng ngừa thích hợp

- Các cấp lãnh đạo cần phải có sự quản lý điều hành một cách trực tiếp và gián tiếp đối với quá trình quản lý chất lượng

II.Thực trạng phát triển thị trưòng của công ty cổ phần giầy Cẩm Bình.

1 Tình hình thị trường tiêu thụ của công ty cổ phần giầy Cẩm Bình

1.1 Thị trường trong nước

Ngày đăng: 05/10/2013, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Như chúng ta đã biết, sản xuất giầy dép là loại hình sản xuất mùa vụ, làm theo đơn đặt hàng - Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty giầy Cẩm Bình
h ư chúng ta đã biết, sản xuất giầy dép là loại hình sản xuất mùa vụ, làm theo đơn đặt hàng (Trang 6)
Qua bảng tổng hợp ta thấy tình hình lao động của công ty trong những năm qua ngày càng tăng - Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty giầy Cẩm Bình
ua bảng tổng hợp ta thấy tình hình lao động của công ty trong những năm qua ngày càng tăng (Trang 7)
Qua bảng ta thấy dây chuyền máy móc thiết bị của công ty có nhiều chủng loại, mỗi loại được nhập từ các nước khác nhau, đáp ứng được các yêu cầu về kĩ  thuật, nhưng trong quá trình sản xuất công ty mới chỉ sử dụng được khoảng  60%- 70% công suất thiết kế - Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty giầy Cẩm Bình
ua bảng ta thấy dây chuyền máy móc thiết bị của công ty có nhiều chủng loại, mỗi loại được nhập từ các nước khác nhau, đáp ứng được các yêu cầu về kĩ thuật, nhưng trong quá trình sản xuất công ty mới chỉ sử dụng được khoảng 60%- 70% công suất thiết kế (Trang 10)
Qua bảng số liệu cho ta thấy năm 2003 tiêu thụ của công ty theo từng sản phẩm là 360.500 ngìn đồng , vượt so với kế hoạch là 3% - Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty giầy Cẩm Bình
ua bảng số liệu cho ta thấy năm 2003 tiêu thụ của công ty theo từng sản phẩm là 360.500 ngìn đồng , vượt so với kế hoạch là 3% (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w