NB) Bài giảng Tài chính công: Phần 1 được biên soạn nhằm cung cấp cho các bạn những kiến thức về khu vực công và tài chính công, hiệu quả và công bằng trong phân phối, ngoại tác, hàng hóa và chi tiêu công.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA KINH TẾ
BÀI GIẢNG
MÔN: TÀI CHÍNH CÔNG
(Dùng cho đào tạo tín chỉ - Bậc đại học)
Người biên soạn: Th.S Phạm Thị Ý Nguyện
Năm 2019
Trang 2MỤC LỤC CHƯƠNG 1
KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG 1
1.1 Khu vực công 1
1.1.1 Khái niệm khu vực công 1
1.1.2 Khu vực công và những vấn đề kinh tế cơ bản 1
1.1.3 Khu vực công và vai trò của chính phủ 2
1.2 Khái niệm và đặc điểm Tài chính Công 3
1.2.1 Khái niệm 3
1.2.2 Đặc điểm 4
1.3 Sự phát triển Tài chính Công 4
1.3.1 Tài chính công cổ điển 4
1.3.2 Tài chính công hiện đại 6
1.4 Bản chất và chức năng Tài chính Công 7
1.4.1 Bản chất 7
1.4.2 Chức năng 8
1.5 Vai trò của tài chính công trong hệ thống tài chính quốc gia 10
CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG TRONG PHÂN PHỐI 13
2.1 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc 13
2.2 Hiệu quả Pareto 13
2.2.1 Khái niệm 13
2.2.2 Các điều kiện đạt hiệu quả Pareto 14
2.3 Các định lý về hiệu quả trong kinh tế học phúc lợi 20
2.3.1 Định lý thứ nhất 20
2.3.2 Định lý thứ hai 22
2.3.3 Thất bại của thị trường trong phân bổ nguồn lực 25
2.4 Mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng 27
2.4.1 Khái niệm công bằng 27
Trang 33.2.2 Ngoại tác tích cực 36
3.3 Những giải pháp của khu vực tư về vấn đề ngoại tác 38
3.3.1 Giải pháp và định lý Coase 38
3.3.2 Những hạn chế của giải pháp Coase 39
3.4 Khu vực công giải quyết vấn đề ngoại tác 39
3.4.1 Đánh thuế điều chỉnh 40
3.4.2 Trợ cấp 40
3.4.3 Điều tiết lượng sản xuất 41
3.5 Sự khác nhau giữa cách tiếp cận giá cả và số lượng để giải quyết vấn đề ngoại tác 42
3.5.1 Mô hình cơ bản 42
3.5.2 Đánh thuế và điều tiết lượng sản xuất 43
CHƯƠNG 4 HÀNG HÓA VÀ CHI TIÊU CÔNG 48
4.1 Hàng hóa công 48
4.1.1 Khái niệm 48
4.1.2 Phân loại 48
4.1.3 Cung cấp hàng hóa công 49
4.2 Khái niệm và vai trò chi tiêu công 51
4.2.1 Khái niệm chi tiêu công 51
4.2.2 Phân loại chi tiêu công 52
4.2.3 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chi tiêu công 53
4.2.4 Vai trò chi tiêu công 53
4.3 Đánh giá chi tiêu công 54
4.3.1 Mục đích đánh giá 54
4.3.2 Nội dung đánh giá 54
4.4 Quản lý chi tiêu công 56
4.4.1 Khái niệm quản lý chi tiêu công 56
4.4.2 Các phương thức quản lý 57
4.4.3 Chiếu lược quản lý 59
CHƯƠNG 5 PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG 63
5.1 Khái niệm phương pháp phân tích 63
5.2 Những vấn đề cơ bản trong phân tích lợi ích – chi phí đầu tư công 63
5.2.1 Xác định giá trị hiện tại và giá trị tương lai của dự án 63
5.2.2 Tỷ suất hoàn vốn nội bộ 65
5.2.3 Tỷ suất lợi tức và chi phí trong 1 dự án đầu tư 65
Trang 45.3 Phân tích lợi ích và chi phí dự án công 65
5.3.1 Tỷ suất chiết khấu của khu vực công 65
5.3.2 Đánh giá lợi ích và chi phí trong các DA của khu vực công 67
CHƯƠNG 6 KHUÔN KHỔ PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ 71
6.1 Thuế và sự phân phối thu nhập 71
6.1.1 Mô hình cân bằng cục bộ 71
6.1.2 Mô hình cân bằng tổng quát 81
6.2 Thuế và hiệu quả kinh tế 86
6.2.1 Định nghĩa gánh nặng phụ trội 87
6.2.2 Đo lường gánh nặng phụ trội 90
6.2.3 Gánh nặng phụ trội của thuế đánh vào thu nhập 91
6.3 Phân tích thuế tối ưu 92
6.3.1 Thuế hàng hóa tối ưu 92
6.3.2 Thuế thu nhập tối ưu 96
Trang 5CHƯƠNG 1 KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG 1.1 Khu vực công
1.1.1 Khái niệm khu vực công
Trong đời sống hàng ngày, mỗi người chúng ta đều rất cần đến những loại hàng hóa do khu vực công cung cấp, như: giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng… Vậy, khu vực công là gì?
Từ khi nhà nước ra đời, nền kinh tế - xã hội được chia thành hai khu vực: khu vực công và khu vưc tư nhân Trong nhiều tài liệu, thuật ngữ khu vực công được sử dụng tương đương như là khu vực nhà nước hay khu vực của chính phủ Tất cả khái niệm này đều hàm ý khu vực công là khu vực phản ánh hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội do nhà nước quyết định Theo Joseph E Stigitz, một cơ quan hay đơn vị được xếp vào khu vực công có đặc điểm sau:
- Trong một chế độ dân chủ, những người chịu trách nhiệm lãnh đạo các cơ quan công lập đều trực tiếp hay gián tiếp được công chúng bầu ra hoặc được chỉ định
- Các đơn vị trong khu vực công được giao một số quyền hạn nhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân không thể có được Ví dụ: chính phủ
có quyền buộc công chúng phải nộp thuế, thi hành nghĩa vụ quân sự, tịch thu tài sản… Theo đó, có thể nêu ra một số hoạt động thuộc khu vực công:
- Hệ thống các cơ quan công quyền:
+ Hệ thống các cơ quan quyền lực của nhà nước, gồm các cơ quan lập pháp, tư pháp và hành pháp
+ Hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh
+ Hệ thống các đơn vị cung cấp dịch vụ công: giáo dục, y tế, thể dục thể thao…
- Hệ thống các lực lượng kinh tế nhà nước:
Hệ thống các đơn vị kinh tế nhà nước, các đơn vị được nhà nước cấp vống hoạt động, các đơn vị công ích…
1.1.2 Khu vực công và những vấn đề kinh tế cơ bản
Khi nghiên cứu về quy luật khan hiếm, kinh tế học đã chỉ ra các vấn đề cơ bản
mà các nền kinh tế phải giải quyết để phân bổ tối ưu nguồn lực khan hiếm của mình: Sản xuất cái gì? Sản xuất cái đó như thế nào? Sản xuất cái đó cho ai? Quyết định các vấn đề đó như thế nào?
Như mọi lĩnh vực của kinh tế học, khi vực công cũng liên quan trực tiếp đến giải quyết các vấn đề cơ bản trên trong quá trình phân bổ nguồn lực công Phân bổ nguồn lực của khu vực công liên quan đến sự lựa chọn công, vai trò của chính phủ và cách thức can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế…
Trang 6Đối với khu vực công, khi nghiên cứu giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh tế học trong phân bổ nguồn lực cần chú ý đến các vấn đề:
- Xác định các hoạt động mà khu vực công có thể tham gia và cách thức tổ chức các hoạt động đó
- Dự đoán và tiên liệu các tác động hay hậu quả các hoạt động của chính phủ có thể gây ra cho nền kinh tế và khu vực thư nhâ
- Đánh giá các kịch bản của chính sách công Có thể dựa vào phương pháp thực chứng hay phương pháp chuẩn tắc
1.1.3 Khu vực công và vai trò của chính phủ
Quá trình phát triển và hoàn thiện chức năng của nhà nước gắn liền với sự phát triển của xã hội từ nền kinh tế hành hóa giản đơn, tự do cạnh tranh đến nền kinh tế thị trường hiện đại
Trong nền kinh tế hàng hóa đơn giản và kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, nhà nước chỉ có chức năng cai trị với những hoạt động cơ bản: quản lý hành chính, trật tự
xã hội, an ninh quốc phòng Các hoạt động kinh tế nằm ngoài chức năng của nhà nước Quy mô kinh tế lúc bấy giờ nhỏ bé và chịu sự chi phố hoàn toàn bởi cơ chế tự điều tiết của thị trường
Tư tưởng tự do kinh tế, kinh tế nằm ngoài phạm vi quan tâm của nhà nước mất dần chỗ đứng vào đầu thế kỷ XX và nhường chỗ cho một quan điểm mới: nền kinh tế cần có sự can thiệp của nhà nước, nhà nước phải trở thành một chủ thể kinh tế, phải có vai trò tích cực hơn
Trong tác phẩm kinh tế học của mình, Samuelson cũng khẳng định nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì giống như chỉ vỗ tay bằng một bàn tay Nhà nước trong giai đoạn hiện đại có nhiều chức năng với nhiều sứ mệnh khác nhau Nhà nước mang sứ mệnh của người cảnh sát và của quan tòa trong việc giữ gìn trật tự, ngăn chặn mọi hành vi vi phạm phát luật của các thế lực trong và ngoài nước và phán xét các hành vi đó; nhà nước mang sứ mệnh của một nhà sản xuất trong việc tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội; nhà nước lại có sứ mệnh phải chăm lo cho phúc lợi và an sinh xã hội Tóm lại, nhà nước không chỉ là một hệ thống cai trị với các cơ quan quản lý hành chính và an ninh mà còn là một hệ thống
Trang 7- Giai đoạn 1950 – 1970
Từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nền kinh tế đều cho rằng chính phủ có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội và thiết lập chính sách phát triển kinh tế theo mô hình hướng nội Trong mô hình này, chính phủ được coi là người quyết định sự phân bổ mọi nguồn lực trong xã hội thông qua các chương trình
kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh; khu vực doanh nghiệp nhà nước ngày càng bành trướng trong hê thống kinh tế và lấn át hoạt động kinh doanh của khu vực tư Tuy nhiên, xét kết quả cuối cùng về phát triển kinh tế, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung không mang lại thành quả đáng khích lệ, nền kinh tế mất cân đối trầm trong, thiếu hụt ngoại tệ, công nghiệp què quặt
- Giai đoạn 1970 – 1990
Từ thực tiễn các cuộc khủng hoảng dầu lửa vào những năm 1972, 1979 và cuộc khủng hoảng nợ ở nhiều nước năm 1982, quan điểm về vài trò của chính phủ đã thay đổi nhất định ở các nền kinh tế thị trường Ở hầu hết các nước, chính sách can thiệp của chính phủ đã thay đổi theo hướng giảm bớt sự can thiệp của chính phủ, thu hẹp khu vực công, đồng thời đảy mạnh các chính sách tự do hóa kinh tế và tài chính phù hợp với xu hướng hội nhập toàn cầu Mô hình này có những tác động nhất định trong việc kích thích khu vực tư phát triển, theo đó, các nguồn lực trong nền kinh tế được khai thác và phân bổ có hiệu quả hơn Thế nhưng, chính sự thu hẹp khu vực công đã làm giảm sút sự cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho người nghèo, kéo theo là gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội về phân phối thu nhập ngày càng lớn
- Giai đoạn từ 1990 đến nay
Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra với tốc độ nhanh, thêm vào đó là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ liên tiếp xảy ra ở những nền kinh tế mới nổi châu Á trong các năm giữa thập kỷ 90 đã dấy lên làn sóng chỉ trích sự yếu kém về vai trò điều tiết vĩ mô của chính phủ Nhiều nhà kinh tế cho rằng sự tác động giữa lực lượng thị trường và chính phủ không phải đơn thuần là vấn đề can thiệp và sự tự do của khu vực tư, mà cả hai khu vực đều có vai trò quan trọng như nhau trong quá trình phát triển kinh tế Khu vực tư có tính năng động của nó trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho xã hội, thì chính phủ phải có nhiệm vụ xây dựng khuôn khổ thể chế, tăng cường vai trò giám sát, bảo vệ thị trường, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của khu vực tư phát triển, đảm bảo cung cấp những dịch vụ công cần thiết cho người nghèo
1.2 Khái niệm và đặc điểm Tài chính Công
1.2.1 Khái niệm
Khái niệm tài chính công có thể được tìm thấy trong tác phẩm của A.Smith, trong
đó về nguyên tắc A.Smith xuất phát từ hệ thống kinh tế gia đình và nguyên tắc này được rút ra vận dụng cho tài chính công, trước hết là cho ngân sách nhà nước – hàng
Trang 8năm ngân sách nhà nước phải cân đối và tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản của khu vực công Quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển chủ yếu cho rằng, tài chính công là khoa học nghiên cứu sự tài trợ các khoản chi tiêu công Trong bối cảnh kinh tế hiện
đại, Giáo sư Harvey Rosen cho rằng tài chính công là “là lĩnh vực kinh tế học phân
tích thuế và chính sách chi tiêu của chính phủ” Theo các nhà kinh tế Pháp, tài chính
công chính là nghiên cứu quản lý tài chính của các tổ chức công quyền Như vậy, quan điểm chung của các nhà kinh tế khi định nghĩa phạm trù tài chính công biểu hiện tập
trung ở đặc trưng: tài chính công là lĩnh vực kinh tế giải quyết vấn đề lập ngân sách
thu và chi của chính phủ, của các đơn vị công quyền
Tài chính công là phạm trù kinh tế quản ánh những hoạt động thu chi tiền tệ của chính phủ, của các đơn vị công quyền nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước
1.2.2 Đặc điểm
- Tài chính công là loại hình tài chính thuộc sở hữu nhà nước
Trong thực tế, nguồn lực tài chính công được phân quyền cho nhiều đơn vị công quyền quản lý và sử dụng, nhưng chủ thế pháp lý của tài chính công vẫn là nhà nước Quyền quyết định thu chi tài chính công do nhà nước định đoạt và áp đặt lên mọi công dân Nhà nước sử dụng tài chính công như là công cụ để duy trì hoạt động của bộ máy quản lý và can thiệp vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội
- Tài chính công cung cấp các hàng hóa công cho xã hội trong điều kiện khu vực
tư chưa thể thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về những loại hàng hóa này
Nhà nước có thể cung cấp những loại hàng hóa công cho xã hội dưới hình thức
“người hưởng tự do không trả tiền” hoặc dưới dạng thu phí, lệ phí – một hình thức thu hồi chi phí đầu tư của nhà nước, nhưng không theo cơ chế giá thị trường Thông qua các khoản chi tiêu công phải tạo ra sự kết hợp trong việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính quốc gia nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, khơi dậy các nguồn lực tiềm năng trong nền kinh tế quốc dân
- Quản lý tài chính công phải tôn trọng nguyên tắc công khai, minh bạch và có sự tham gia của công chúng
Công khai và minh bạch tạo ra đạo đức chính trị Khía cạnh đạo đức chính trị và
Trang 9Tài chính công cổ điển là thuật ngữ dùng để phản ánh hoạt động của tài chính công gắn liền với bối cảnh kinh tế - xã hội từ cuối thế kỷ 19 trở về trước Tài chính công cổ điển có những đặc trưng cơ bản:
- Tài chính công có tính trung lập
+ Tài chính công không can thiệp, không gây ảnh hưởng đối với mọi hoạt động kinh tế; không làm thay đổi thực trạng kinh tế Hay cách khác, mọi khoản thu chi của nhà nước không dẹo đuổi, không nhằm vào bất kỳ mục đích kinh tế - xã hội nào Thuế và các khoản thu công chỉ thực hiện mục đích cơ bản là tạo nguồn thu cho nhà nước Chi tiêu công chỉ có một đối tượng duy nhất là đáp ứng nhu cầu tài chính của nhà nước, không có mục đích can thiệp vào đời sống kinh tế - xã hội
+ Tính độc lập của tài chính công Kế hoạch thu, chi tài chính công được lập một cách độc lập với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Kế hoạch tài chính công được lập
ra trong khuôn khổ ngắn hạn một năm và hoàn toàn chỉ chú trọng đến khía cạnh tài chính, không bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế - xã hội Nguyên tắc quan trọng nhất của tài chính cổ điển là phải thăng bằng thu chi Kho bạc luôn phải đảm bảo sao cho
đủ tiền để nhà nước chi tiêu
- Thuế là nguồn thu quan trọng nhất của tài chính công
Để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của nhà nước, tài chính công cổ điển sử dụng các công cụ cơ bản sau:
+ Thu nhập từ việc nhà nước cho khu vực tư thuê công sản (nhà, đất) Ở thời kỳ đầu của phương thức nhà nước phong kiến, thu nhập từ cho thuê công sản là nguồn thu quan trọng để nhà nước tài trợ cho bộ máy hành chính Trong khi đó thuế là nguồn thu không ổn định, chỉ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên của nhà nước Nhưng đến thế kỷ 18, với sự gia tăng chi tiêu công và sự suy giảm về công sản mà nhà nước
sở hữu, nên nguồn thu nhập từ cho thuê công sản ngày càng giảm dần trong tổng số thu của nhà nước
+ Nguồn thu từ công trái Nhà nước có thể đi vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu công Học thuyết về công trái của tài chính công cổ điển đã lập luận rằng:
Công trái là hình thức thu có tính liên thế hệ - khoản thu trong hiện tại, nhưng thế
hệ tương lai phải trả Với lập luận này, các nhà kinh tế cổ điển cho rằng, nhà nước chỉ nên sử dụng hình thức thu công trái khi nào số tiền vay của dân dùng để tài trợ cho khoản chi tiêu mà tạo ra những lợi ích thiết thực cho thế hệ tương lai, như chi đầu tư xây dựng đường xá, bệnh viện, trường học…
Công trái là một khoản thuế thu trước Cũng giống như quan hệ tín dụng ngân hàng, nhà nước đi vay, tất nhiên là phải trả nợ vào một kỳ hạn đã định Nguồn để nhà nước trả lãi chủ yếu lấy từ thuế
Trang 10Từ những lập luận trên, học thuyết kinh tế cổ điển cho rằng, công trái không phải
là cong cụ lâu dài để tài trợ cho các khoản chi tiêu công mà chỉ là công cụ tạm thời + Nguồn thu từ thuế Thuế là nguồn thu có tính cưỡng chế và không hoàn lại Bằng quyền lực của mình, nhà nước quy định bắt buộc mọi người dân phải có nghĩa
vụ nộp thuế
Theo các nhà kinh tế, tài chính công cổ điển là môn khoa học nghiên cứu những công cụ tài chính mà nhà nước sử dụng để tạo lập nguồn lực qua đó tài trợ cho chi tiêu công Công cụ ngân sách nhà nước được thiết lập nhằm mục đích ấn định con số chi tiêu công trong một năm mà nhà nước phải tìm kiếm nguồn để tài trợ Đồng thời, ngân sách nhà nước đưa ra những quy tắc về kế toán để theo dõi chi tiết và chặt chẽ các khoản chi tiêu công với mục đích để kiểm soát tình hình chi tiêu của nhà nước, tránh được sự phí phạm nguồn lực tài chính công để sao cho chi tiêu công của nhà nước được hợp pháp và có thể được tài trợ bằng những nguồn thu ổn định
1.3.2 Tài chính công hiện đại
Tài chính công hiện đại phát triển gắn liền với bối cảnh kinh tế - xã hội:
∙ Nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường có sự can thiệp của nhà nước
∙ Hệ thống tiền tệ không ổn định
∙ Nền kinh tế phát triển theo xu hướng quốc tế hóa
Trong bối cảnh đó, tài chính công hiện đại có những đặc trưng sau:
- Quy mô tài chính công có xu hướng ngày càng tăng so với GDP
Với sự gia tăng nhanh về quy mô, chi tiêu công đã khiến cho nhà nước không thể giải quyết mọi vấn đề của tài chính công biệt lập với việc giải quyết những vấn đề kinh
tế Điều này có nghĩa là, trong nền kinh tế hiện đại, tài chính công không còn trung lập với các hoạt động kinh tế như trong thời kỳ nền kinh tế tự do cạnh tranh
- Tính phi tập trung của tài chính công
Tài chính công không những là công cụ để nhà nước huy động các nguồn lực của
xã hội để tài trợ mọi chu cầu chi tiêu của nhà nước mà còn là công cụ để nhà nước can thiệp vào các hoạt động kinh tế - xã hội
+ Về phương diện kinh tế, nhà nước thực hiện chính sách thuế có phân biệt ưu
Trang 11+ Về phương diện quản lý, tài chính công hiện đại không nhất thiết luôn phải có
sự cân bằng giữa thu và chi, mà có thể hy sinh sự cân bằng này để góp phần điều chỉnh nền kinh tế vận hành theo định hướng của nhà nước Theo đó, khuôn khổ quản lý thu chi ngân sách không bị giới hạn trong một năm mà phải gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế trung và dài hạn
- Tài chính công sử dụng nhiều công cụ khác nhau để tạo lập nguồn lực cho nhà nước
Do chi tiêu công có quy mô ngày càng tăng nên nhà nước phải sử dụng nhiều công cụ để tạo lập nguồn lực tài chính Thuế không còn là công cụ duy nhất như trong thời kỳ tài chính cổ điển Bên cạnh thuế, nhà nước thường xuyên sử dụng công cụ công trái Khoa học tài chính công hiện đại đã dần dần xây dựng nền tảng lý thuyết mới về quy mô huy động nguồn lực của nhà nước Khi đưa thêm các công cụ tài chính
để gia tăng nguồn lực cho nhà nước, muốn hợp lý, muốn cho khoa học, yêu cầu nhà nước phải giải quyết bài toán kinh tế rất phức tạp, trong đó cần phải xác lập các biến
số về quy mô GDP của nền kinh tế, khả năng đóng góp của xã hội, các yếu tố động lực của tăng trưởng kinh tế
- Cải cách tài chính công không còn xuất phát từ quan điểm của từng quốc gia riêng lẻ mà phải tính đến những yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa
Sự hội nhập yêu cầu các quốc gia cải cách và tổ chức lại thể chế tài chính công ngày càng phải đạt được quy chuẩn của quốc tế về chính sách thuế, chính sách quản lý
nợ quốc gia, kế toán và sự minh bạch thông tin về ngân sách nhà nước Hơn nữa sự hội nhập sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế dễ dàng tiếp cận và khai thác các khoản vay trên thị trường tài chính quốc tế, nhưng cũng chính điều này đặt ra cho tài chính công của quốc gia phải gánh chịu nhiều rủi ro không chỉ bao gồm các khoản nợ trực tiếp, rõ ràng mà còn cả các khoản nợ bất thường, ngầm định
1.4 Bản chất và chức năng Tài chính Công
1.4.1 Bản chất
- Bản chất kinh tế
Tài chính công phản ánh tổng thể mối quan hê kinh tế giữa nhà nước và xã hội trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính Tài chính công, xét về hiện tượng, phản ánh hoạt động thu chi bằng tiền của nhà nước Nhưng đằng sau hiện tượng đó là
ẩn giấu mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa nhà nước với xã hội trong quan hệ phân phối nguồn lực tài chính, biểu hiện ra là mâu thuẫn giữa khả năng đóng góp nguồn lực tài chính của xã hội cho nhà nước thông qua nộp thuế với nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Về tổng thể, nguồn lực tài chính biểu hiện dưới hai dạng: khối lượng tiền tệ hiện hữu
mà các chủ thể kinh tế - xã hội đang nắm giữ và khối lượng tài sản tiềm năng có thể chuyển hóa thành tiền của chủ thể đó Trong một nền kinh tế, nguồn lực tài chính luôn
Trang 12có sự giới hạn nhất định về quy mô và khả năng tạo lập Vì vậy, trong chính sách huy động nguồn lực của mình, nhà nước cần chú trọng sử dụng các công cụ của tài chính công ở chừng mực sao cho tạp lập nguồn lực tài chính với quy mô thích hợp trong sự cân bằng về lợi ích kinh tế với khu vực tư để nhằm tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế phát triển
Việc khu vực tư đóng nộp thuế cho nhà nước thể hiện một sự hy sinh một phần thu nhập của họ trong tiêu dùng hay đầu tư Vì vậy, chi tiêu công và sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế cần phải tạo ra những lợi ích nhất định và ít ra là phải đủ để bù lại sự hy sinh của khu vực này
- Bản chất chính trị
Chính trị là yếu tố cơ bản và chi phối toàn bộ hoạt động tài chính công Tài chính công không thể vận hành bên ngoài khuôn khổ chính trị, vì không có chính trị thì không thể nào thoản mãn được các mục tiêu có tính xã hội Quyền lực chính trị giúp chính phủ có được nguồn lực tài chính công, qua đó trang trải các nhu cầu chi tiêu công nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu xã hội
Chính trị là nền tảng tổ chức các mặt hoạt động của xã hội, nên khi nghiên cứu tài chính công phải chú trọng mối quan hệ chặt chẽ với toàn bộ hệ thống quền lực chính trị của quốc gia Tuy nhiên, do vừa mang tính chất tương tác và lan tỏa, đôi khi
có tính định đoạt đối với việc hình thành các thể chế, tài chính công tạo thành một tập hợp rất phong phú và phản ánh đầy đủ mối quan hệ kinh tế - xã hội
1.4.2 Chức năng
1.4.2.1 Chức năng huy động nguồn lực
Thực hiện chức năng này, nhà nước thiết lập hệ thống ccs công cụ tài chính với nhiều hình thức huy động khác nhau: huy động cưỡng chế, huy động tự nguyện… từ các chủ thể kinh tế - xã hội để tập trung nguồn lực tài chính tài trợ cho nhu cầu chi tiêu công
Chức năng huy động nguồn lực của tài chính công được thực hiện dựa trên một tiến trình phân tích các yếu tố chính sách:
- Đánh giá nguồn lực tài chính tiềm năng của nền kinh tế
- Tính toán nhu cầu về chi tiêu công và mối quan hệ giữa chính sách thu công với
Trang 13(1) Cơ sở kinh tế cho việc hình thành nguồn thu tài chính công chủ yếu bắt nguồn
từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế Do vậy, một sự tăng lên nguồn thu từ thuế chỉ là kết quả trực tiếp của quá trình tăng trưởng kinh tế, biểu hiện ra
là thu nhập bình quân đầu người tăng Nếu thu thuế không tính đến mức độ tăng GDP thì sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình tiết kiệm – đầu tư của khu vực doanh nghiệp và dân cư, do đó gây kìm hãm đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế - xã hội
(2) Khi nguồn tiết kiệm không đủ tài trợ cho nhu cầu đầu tư, chính phủ phải đi vay nợ trong và ngoài nước Khi chính phủ mở rộng vay nợ sẽ gây ra hiệu ứng chèn lấn kinh tế Trước hết là hiệu ứng chèn lấn đầu tư trong nước Việc gia tăng vay nợ của chính phủ sẽ dẫn đến gia tăng lãi suất thị trường Kéo theo khu vực tư sẽ giảm nhu cầu đầu tư do tỷ suất sinh lời giảm thấp Một sự giảm suất đầu tư cố định của khu vực tư
có thể làm tổn hại đến sự tăng trưởng tiềm năng dài hạn của nền kinh tế Thứ hai, một hiệu ứng chèn lấn khác thường thấy là ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất khẩu Vay nợ của chính phủ có thể dẫn đến làm gia tăng lãi suất đồng nội tệ, dẫn đến đồng nội tệ lên giá so với đồng ngoại tệ Khi đó, hiệu ứng chèn lấn hoạt động xuất khẩu sẽ xảy ra
1.4.2.2 Chức năng phân bổ nguồn lực tài chính
Chức năng phân bổ nguồn lực của tài chính công thể hiện qua việc sắp xếp, lựa chọn và đánh đổi giữa các nhu cầu chi tiêu công của nhà nước trong sự giới hạn của nguồn lực tài chính công để hướng vào thực hiện theo những ưu tiên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã được hoạch định Nói cách khác, qua chức năng phân bổ nguồn lực tài chính công, các quỹ tiền tệ chuyên dùng được hình thành với những quy
mô nhất định tương ứng với nhu cầu chi tiêu công Mức phân bỏ cho chi tiêu được phản ánh trong dự toán ngân sách hàng năn và khuôn khổ ngân sách trung hạn
Về khía cạnh kỹ thuật, chức năng phân bổ nguồn lực của tài chính công thể hiện qua việc lập kế hoạch chiến lược chi tiêu Kế hoạch này gồm hai phần: (i) quyết định phân bổ cơ bản, bao gồm lựa chọn các danh mục chi tiêu để tài trợ, (ii) xác lập các khoản mục ưu tiên, lựa chọn và đánh đổi các mục tiêu trong sự so sánh với nguồn lực sẵn có
1.4.2.3 Chức năng tái phân phối thu nhập
Trên cơ sở thực hiện chức năng huy động và chức năng phân bổ nguồn lực, tài chính công có chức năng tái phân phối thu nhập Chức năng tái phân phối thu nhập được thể hiện qua hai quá trình: (i) chính phủ thu thuế từ các chủ thể trong xã hội; (ii) sau đó thực hiện phân bổ và chuyển giao nguồn thu này trở lại cho xã hội theo cơ chế:
- Cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho mọi đối tượng trong xã hội
Trang 14- Hỗ trợ để ổn định giá cả của những mặt hàng hóa thiết yếu trong đời sống kinh
ra nếu như số tiền mà một cá nhân nào đó đóng nộp cho chính phủ ngang bằng với lợi ích mà cá nhân đó nhận được từ các khoản chi tiêu công
1.4.2.4 Chức năng giám sát
Chức năng này bắt nguồn từ nhận thức về bản chất kinh tế và bản chất chính trị của tài chính công Mục đích của chức năng giám sát tài chính là để nâng cao hiệu quả hoạt động của tài chính công, qua đó thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước Chức năng giám sát của tài chính công được thực hiện xuyên suốt trong quá trình huy động nguồn lực và phân bổ nguồn lực Nội dung kiểm tra của tài chính công bao gồm:
- Kiểm tra các hoạt động liên quan đến việc sử dụng nguồn lực tài chính công, bao gồm kiểm tra tính tuân thủ/chấp hành luật pháp và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động
- Cung cấp thông tin cho người quản lý để đưa ra các giải pháp điều chỉnh hoạt động của tài chính công
1.5 Vai trò của tài chính công trong hệ thống tài chính quốc gia
Trong hê thống tài chính quốc gia, giữa tài chính công và các khâu tài chính thuộc khu vực tư có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ gắn liền với quá trình phân phối các nguồn lực tài chính Trong mối quan hệ đó, tài chính công giữ vai trò chủ đạo:
- Cung cấp hàng hóa công cần thiết để duy trì và đẩy mạnh sự hoạt động của các khâu tài chính thuộc khu vực tư
Cơ chế thị trường đã hình thành quy luật: khu vực kinh tế tư nhân có những thất bại nhất định trong việc sản xuất hàng hóa công Khu vực tư không thể cung cấp các hàng hóa an ninh, quốc phòng và cũng không đủ nguồn lực để cung cấp các loại hàng hóa công thuộc kết cấu hạ tầng Chính sự thiết hụt những loại hàng hóa công này có
Trang 15kinh tế theo ngành, vùng, lãnh thổ; khuyến khích sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa; khuyến khích khu vực tư mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo
ra môi trường cạnh tranh lành mạnh Đồng thời, các khoản chi tiêu công như: chi dầu
tư phát triển, chi tài trợ vốn, trợ giá, tín dụng ưu đãi… sẽ tạo ra động lực phát triển kinh tế cho khu vực tư; nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính quốc gia; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; giải quyết việc làm và giảm thất nghiệp
- Điều chỉnh sự hoạt động của các khâu tài chính thuộc khu vực tư
Trong quá trình thực hiện chức năng giám sát, tài chính công phát hiển a những hiện tượng mất cân đối, sự chệch hướng về phân bổ và sử dụng nguồn lực của khu vực
tư, từ đó có biện pháp điều chỉnh lại sự phân bổ nguồn tài chính của khu vực tư theo đúng định hướng phát triển của nhà nước
Trang 16CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Tại sao sự tái phân phối có thể dẫn đến mất hiệu quả? Tại sao sự tái phân phối
từ người này sang người khác có thể dẫn đến quy mô tổng thể của chiếc bánh kinh tế giảm?
2 Bill có 100$ Giả sử chính phủ thực hiện tái phân phối số tiền cho Ted bằng việc đánh thuế vào Bill 40$ và chuyển cho Ted 35$, chi phí hành chính 5$ Sự tái phân phối này có làm gia tăng phúc lợi hay không? Giải thích?
Trang 17CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG TRONG PHÂN PHỐI 2.1 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
Kinh tế học thực chứng là phương phương pháp tiếp cận khoa học phân tích dựa vào sự thiết lập mối quan hệ nguyên nhân và kết quả trong số các biến số kinh tế Lý thuyết thực chứng tập trung phân tích các vấn đề kinh tế một cách khách quan, không đưa ra các giả định về cái gì tốt hoặc xấu hoặc cái gì nên hoàn thành Nó chỉ thiết lập các giả thiết đa dạng mà có thể kiểm định từ các sự kiện thực tiễn
Kinh tế học chuẩn tắc là phương phương pháp tiếp cận khoa học dựa vào đánh giá giá trị về cái gì được mong đợi hoặc cái gì nên thực hiện để đạt được các kết quả mong muốn Lý thuyết chuẩn tắc bắt đầu với các tiêu chí được xác định trước và bắt buộc chính sách công phải đạt được các tiêu thức này một cách tốt nhất Vì thế, kinh tế học chuẩn tắc được thiết kế để hình thành các khuyến nghị thuộc các dạng: cái gì nên được thực hiện và hoàn thành; cái gì không nên thực hiện
Cả cách tiếp cận chuẩn tắc lẫn thực chứng đều rất hữu dụng Thực tế có một sự phụ thuộc nhất định giữa 2 cách tiếp cận này Lý thuyết chuẩn tắc không thể đưa ra những khuyến nghị để đạt được các kết quả nhất định nếu như không có lý thuyết về hành vi cơ bản của con người Nếu như các chỉ tiêu/tiêu thức thực chứng được sử dụng
để khuyến nghị chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền thực hiện một chính sách cụ thể nào đó nhằm gia tăng thu nhập của cá nhân, thì nó phải tiên liệu được sự ảnh hưởng của các hành động như thế đến hoạt động sản xuất và tiêu dùng Một chính sách với ý tốt nhưng có thể tạo ra kết quả không như mong muốn khi không quan tâm đầy
đủ đến các động lực kinh tế
Lý thuyết thực chứng bản thân nó là hiện thân về kỹ thuật phân tích, trong đó nó phải sử dụng rất nhiều kết quả từ những công trình nghiên cứu của các nhà lý thuyết chuẩn tắc bằng việc sử dụng các nguyên tắc có tính chuẩn tắc để chọn lựa các hành vi tương tác của con người trong việc phân tích chính sách công Vì thế, cách tiếp cận chuẩn tắc là rất hữu ích đối với cách tiếp cận thực chứng, trong đó nó xác định những vấn đề nguyên tắc thích hợp cho phân tích
2.2 Hiệu quả Pareto
2.2.1 Khái niệm
Hiệu quả là tiêu chí chuẩn tắc dùng để đánh giá tình trạng sử dụng nguồn lực của các cá nhân Theo nghĩa thông thường, hiệu quả có nghĩa là tạo ra kết quả mong đợi với chi phí thấp nhất
Kinh tế học phúc lợi sử dụng khái niệm hiệu quả Pareto để xác lập tính hiệu quả trong phân bổ đạt được khi không có cách nào tổ chức lại quá trình sản xuất hay tiêu dùng để có thể tăng thêm độ thỏa dụng của người này mà không làm giảm mức độ
Trang 18thỏa dụng của người khác Như vậy, một phương án được đánh giá là đạt được hiệu quả Pareto khi ngoài phương án đó ra không có sự phân bổ nguồn lực nào để ít nhất một người có lợi hơn mà lại không làm giảm lợi ích của người khác
Theo quan điểm hiệu quả của Pareto:
- Mỗi cá nhân/công ty/đơn vị là người đánh giá tốt nhất độ thỏa dụng của mình
- Xã hội đơn thuần là con số tổng cộng của các cá nhân trong cộng đồng
- Nếu có thể tái phân bổ các nguồn lực để làm tăng độ thỏa dụng của một cá nhân khác thì phúc lợi xã hội sẽ tăng thêm
Sơ đồ 2.1: Minh họa hiệu quả Pareto
2.2.2 Các điều kiện đạt hiệu quả Pareto
2.2.2.1 Điều kiện hiệu quả Pareto trong tiêu dùng
a Hộp Edgeworth
Trong tiêu dùng sản phẩm xã hội, hiệu quả Pareto phản ánh chính sách lựa chọn phân phối và tiêu dùng số lượng hàng hóa giữa các cá nhân theo cách thức sao cho tăng thêm lợi ích cho người này mà không phải giảm lợi ích của người khác
Để đơn giản hóa phân tích, giả định nền kinh tế chỉ có hai người (A và E), tiêu dùng hai mặt hàng (lương thực và quần áo) với mức cung cố định Viê ̣c phân phói lương thực và quần áo trong nền kinh tế giữa A và E được thể hiê ̣n bằng lý thuyết hộp Edgeworth Francis Y Edgeworth (1845-1926) là một nhà kinh tế học người Anh
Các phân bổ đạt phân bổ hiệu quả Pareto
Mọi điểm nằm trên đường cong này đều đạt phân bổ hiệu quả Pareto
Mức thỏa dụng của E
Trang 19Hình 2.1 Hộp Edgeworth
Chiều dài hộp Edgeworth (đoạn thẳng Os) thể hiện tổng số lương thực của nền kinh tế; chiều cao Or đo lường tổng số quần áo Lượng hàng hóa người A tiêu thụ được đo bằng khoảng cách từ điểm O; lượng hàng tiêu thụ của người E được đo bằng khoảng cách từ điểm O' Ở điểm u, người A tiêu thụ Ou quần áo và Ox lương thực, còn người E tiêu thụ O'y lương thực và O’w quần áo Như vậy, bất kỳ điểm nào trong hộp Edgeworth cũng biểu thị cách thức phân phối hàng hóa lương thực và quần áo giữa người A và người E
Do nhu cầu của mỗi người khác nhau nên người A và người E có một tập hợp
các đường đẳng dụng riêng biểu thị những sở thích của họ đối với lương thực và
quần áo Hình 2.1 thể hiện tập hợp những đường đẳng dụng của cả hai người cùng đặt
vào trong hộp Edgeworth Tập hợp các đường thẳng dụng của A là Ai; tập hợp các đường thẳng dụng của E và Ej Các đường đẳng dụng có chỉ số càng lớn biểu thị độ thỏa dụng càng cao Độ thỏa dụng của người A trên đường A3 cao hơn trên đường A2
và A1 Tương tự, độ thỏa dụng người E trên đường E3 cao hơn E2 và E1
Hình 2.2 Các đường đẳng dụng trong hộp Edgeworth
Trang 20- Hiệu quả Pareto và sự cải thiện Pareto
Với điểm g trên hình 2.3 – điểm bát kỳ sự phân phối giữa hàng hóa lương thực và quần áo biểu thị đường thẳng dụng Ag của người A cắt ngang đường đẳng dụng Eg của người E Xét điểm h, người A sẽ ở trong tình trạng phân phối tốt hơn, bởi vì đường đẳng dụng Ah thể hiện độ thỏa dụng cao hơn đường Ag; trong khi người E cũng không thiệt hơn tại điểm h vì đường đẳng dụng gốc hay ban đầu của người E là Eg nếu như người A di chuyển đường đẳng dụng thêm nữa về hướng ra xa góc tọa độ (đông bắc)
mà vẫn còn nằm trên đường Eg thì điều này có thể xảy ra Cứ lập lại tiến trình này cho đến khi đường đẳng dụng của người A tiếp cận đường Eg tại điểm p (hình vẽ 2.3) Cách này sẽ đặt người A trên đường đẳng dụng cao hơn so với đường Ap thay vì di chuyển người E xuống đường đẳng dụng thấp hơn Điểm p chính là điểm đạt hiệu
quả Pareto Đó là điểm duy nhất để làm cho một người nào đó trở nên có lợi hơn
nhưng không làm cho bất kỳ người khác bị thiệt đi Từ điểm đạt hiệu quả Pareto,
chúng ta cũng có thể tìm ra cơ chế tái phân phối nguồn lực làm cho một người trở nên tốt hơn mà không làm cho người khác bị thiệt Hình 2.3 miên tả sự di chuyển các điểm phân phối và theo đó tạo ra sự cải thiện hiệu quả Pareto, cụ thể g dịch chuyển đến h và
từ h đến p Cơ chế này được gọi là sự cải thiện Pareto trong phân phối
Hình 2.3: Sự phân bổ làm tăng phúc lợi cho người A mà không làm giảm
phúc lợi của người E
Phân phối đạt hiệu quả Pareto
s
Trang 21Hình 2.5: Sự phân phối làm tăng phúc lợi cho người E và người A
Ở trên, chỉ xem xét những di chuyển đường đẳng dụng sao cho một người nào đó trở nên tốt hơn nhưng vẫn giữ nguyên mức thỏa dụng của người khác Còn trong hình 2.5, từ điểm g có thể thiết lập cơ chế tái phân phối làm cho cả người A và người E đều tốt hơn Thật vậy, tại điểm p2 ta thấy: (i) đường Ap2 dịch ra xa góc tọa độ – hướng đông bắc so với đường Ag, ở vị trí này người A tốt hơn so với điểm g; (ii) người E có
Trang 22vị trí tốt hơn vì đường Ep2 dịch về góc tọa độ – hướng tây nam so với đường Eg Điểm
p2 là đạt hiệu quả Pareto vì tại điểm đó không có thể làm cho cả hai đều tốt hơn mà không làm người khác bị thiệt đi Nói tóm lại, từ điểm g, sẽ tìm ra được tập hợp các điểm sẽ nhận được bao nhiêu điểm phân phối đạt hiệu quả Pareto trong mỗi cách phân phối nguồn lực như thế?
Hình 2.6: Xác định các điểm phân phối bất kỳ đạt hiệu quả Pareto
Bên cạnh điểm g, có thể lập lại quá trình tìm kiếm các điểm phân phối đạt hiệu quả Pareto trong hộp Edgeworth Xét hình 2.6, nếu điểm k là phân phối ban đầu, có thể tìm ra các phân phối đạt hiệu quả Pareto là điểm p3 và p4 Bằng cách làm như vậy, chúng ta sẽ xác định được tập hợp các điểm phân phối đạt hiệu quả Pareto trong hộp Edgeworth Kết nối tất cả các điểm đạt hiệu quả Pareto ta có được đường liên kết, biểu thị bằng đường mm như trong hình 2.7
- Điều kiện đạt hiệu quả Pareto trong tiêu dùng
Vì một phân phối đạt hiệu quả Pareto phải là điểm ở tại đó đường đẳng dụng của người A và người E tiếp xúc với nhau, nên giá trị tuyệt đối của độ dốc đường đẳng dụng biểu thị tỷ lệ mà ở tại đó một cá nhân sẵn lòng mua một món hàng để có thêm
một món hàng khác Tỷ lệ này gọi là tỷ suất biên thay thế (MRS) Điều kiện hiệu quả
Pareto trong tiêu dùng yêu cầu tỷ suất thay thế biên của tất cả các cá nhân tiêu dùng phải bằng nhau Nghĩa là:
Trang 23Để minh họa khái niệm đường khả năng sản xuất, có thể thay đổi các yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất hai loại hàng hóa lương thực và quần áo Khi đó, sản lượng của hai loại hàng hóa này có thể thay đổi với giả thiết là các yếu tố đầu vào được sử dụng có hiệu quả Nếu như lương thực được sản xuất nhiều hơn thì số lượng quần áo sẽ giảm xuống và ngược lại Đường khả năng sản xuất biểu thị số lượng tối đa quần áo có thể sản xuất được tương ứng với bất kỳ số lượng lương thực cho trước nhất định Đường khả năng sản xuất thông thường có hình dạng như đường C trong hình vẽ 2.8 Theo hình 2.8, có thể chọn lựa cho nền kinh tế mức sản xuất Ow quần áo và Ox lương thực Nền kinh tế có thể tăng số lượng hàng hóa lương thực từ Ox lên Oz, với khoảng cách là xz Để làm điều này cần phải chuyển một phần các yếu đầu vào sản xuất quần áo sang sản xuất lương thực Số lượng quần áo sẽ giảm bằng khoảng cách
wy nếu như số lượng lương thực tăng bằng xz Tỷ lệ giữa đoạn wy so với đoạn xz được gọi là tỷ suất chuyển đổi biên của hàng hóa lương thực để có được hàng hóa quần áo LT
Hình 2.8: Đường khả năng sản xuất
- Điều kiện đạt hiệu quả Pareto trong sản xuất
có thể đồng nghĩa tỷ suất chuyển đổi biên (MRT) với chi phí biên (MC) – chi phí sản xuất tăng thêm khi tăng thêm một sản phẩm đầu ra Nếu sản xuất thêm xz lương thực thì phải mất đi wy quần áo, nên wy chính là chi phí biên của hàng hóa lương thực (MCLT) Tương tự, xz là chi phí biên của hàng hóa quần áo (MCQ) Giá trị tuyệt đối của độ dốc đường khả năng sản xuất được đo lường bằng wy chia cho xz, hay MCLT chia cho MCQ Tỷ lệ này còn gọi là tỷ suất chuyển đổi biên:
LT
LT Q
Q
MC MRT
Trang 24Hiệu quả Pareto trong sản xuất yêu cầu tỷ suất chuyển đổi biên giữa hai loại đầu vào bất kỳ phải như nhau đối với các loại hàng hóa, nghĩa là:
mà không làm cho người B bị thiệt đi trong quá trình chuyển đổi đó Một sự trao đổi như vậy luôn có thể xảy ra miễn là tỷ suất thay thế biên không bằng tỷ suất chuyển đổi biên Chỉ khi nào độ dốc đường đẳng dụng của mỗi người bằng nhau thì không thể tạo
ra một sự cải thiện Pareto Đến đây ta thấy, MRTLT.Q = MRSLT-Q chính là điều kiện cần thiết đạt hiệu quả Pareto Khi đó, tỷ suất chuyển đổi hàng hóa lương thực sang quần áo (MRTLT-Q) bằng với tỷ lệ mà người tiêu dùng sẵn lòng đổi lương thực lấy quần áo (MRSLT-Q) Nếu sử dụng MC để minh họa điều kiện đạt hiệu quả Pareto thì phương trình (2.3) có thể viết lại như sau:
LT
LT Q LT Q Q
Định lý thứ nhất phát biểu: Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, người sản
xuất và người tiêu dùng chấp nhận giá cả, thì các phân phối nguồn lực của nền kinh tế đều đạt hiệu quả Pareto
Trang 25+ Quyền lực kinh tế được phân tán; tất cả mọi người phải chấp nhận giá; mỗi người sản xuất và người tiêu dùng là tương đối nhỏ so với thị trường; hành động riêng
lẻ của mỗi người không tác động gì đến giá cả
+ Tất cả người mua và người bán đều có thể tiếp cận các thông tin thích hợp trên thị trường
+ Các nguồn lực có thể di chuyển và các doanh nghiệp có thể tự do khai thác Giả sử nền kinh tế chỉ có 2 người (A và E), cả hai đều trả cùng một mức gá cho hàng hóa lương thực (Pa) và hàng hóa quần áo (Pf) Để tối đa hóa độ thỏa dụng, người
A sẽ lựa chọn tiêu dùng hàng hóa lương thực và quần áo như sau:
A LT
LT Q
Q
P MRS
cả có thể phát ra tín hiệu sai lệch về sự phân bổ nguồn lưc (2) Hiệu quả chỉ là một tiêu thức phân bổ nguồn lực Chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề bất bình đẳng giữa người giàu và nghèo, tức là sự công bằng trong phân phối
Trang 262.3.2 Định lý thứ hai
Định lý thứ hai phát biểu: Trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh, chính phủ có
thể đạt tới bất kỳ sự phân phối hiệu quả nào bằng cách phân phối lại thu nhập ban đầu Định lý này cho rằng vấn đề hiệu quả và công bằng có thể giải quyết một cách
độc lập
Để minh chứng định lý trên, sử dụng mô hình đơn giản với giả định tổng lượng mỗi hàng hóa là cố định Từ hình 2.9, trên đường liên kết mm, chúng ta so sánh hai điểm phân phối: p5 (ở dưới góc trái của hộp) và q (nằm gần trung tâm) Vì nằm trên đường liên kết, nên điểm p5 đạt hiệu quả Pareto, trong khi điểm q không đạt hiệu quả Pareto, nhưng ;iệu phân phối của điểm P5 có tốt hơn so với điểm q hay không? Câu trả
lời còn tùy thuộc vào quan điểm thế nào là tốt hơn Nếu xã hội có thiên hướng lựa
chọn tính công bằng trong phân phối q (công bằng) có thể được ưa thích hơn p6 (hiệu quả), cho dù q không đạt hiệu quả Pareto Còn nếu xã hội coi trọng lợi ích người E hơn người A thì p5 (hiệu quả) được ưa chuộng hơn điểm q (công bằng)
Hình 2.9: Hiệu quả đối nghịch với công bằng
Từ lập luận trên, ta thấy tiêu chuẩn hiệu quả Pareto bản thân nó không đủ để bao quát hết các cách thức phân phối nguồn lực Bên cạnh tiêu thức hiệu quả, xã hội còn quan tâm đến tính công bằng trong phân phối mức thỏa dụng
- Đường khả năng thỏa dụng
Trang 27lớn hơn mức thỏa dụng của người A Điểm P3 trong hình 2.10 tương ứng với điểm p3
trên hình 2.9 thì ngược lại Điểm q~ tương ứng với điểm q trên hình 2.9 Vì q nằm ngoài đường liên kết, nên điểm
~
q phải nằm bên trong đường khả dụng1 Mọi điểm phân phối nằm ở trên hay phía dưới đường khả năng thỏa dụng cho thấy xã hội đều có khả năng đạt được Mọi điểm nằm phía trên đường khả dụng là điều xã hội không có khả năng đạt được Còn mọi điểm phân phối nằm ở trên đường UU đều đạt hiệu quả Pareto, và đồng thời chúng biểu thị cho những phân phối thu nhập khác nhau giữa người A và người E
Hình 2.10 Đường khả năng thỏa dụng
- Hàm phúc lợi xã hội
Vấn đề đặt ra là chúng ta phải xác định trong các điểm phân phối thì điểm nào tốt nhất? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải sử dụng công cụ phân tích hàm phúc lợi xã hội Xét góc độ đại số, phúc lợi xã hội (W) là hàm số (F) phản ánh mức thỏa dụng của mỗi cá nhân, biểu thị qua công thức dưới đây:
Với phương trình 2.12, ta thấy giá trị phúc lợi xã hội gia tăng khi hoặc UA tăng hoặc UE tăng Nghĩa là xã hội sẽ tốt hơn khi bất kỳ các thành viên xã hội có mức phúc lợi xã hội được cải thiện Cũng như hàm thỏa dụng của một cá nhân về hàng hóa tạo nên tập hợp các đường đẳng dụng của hàng hóa đó, thì hàm phúc lợi xã hội cũng tạo nên một tập hợp các đường đẳng dụng, phản ánh mối liên hệ về mức thỏa dụng của mọi người Hình 2.11 miêu tả tập hợp các đường đẳng dụng của xã hội Chiều dốc
Trang 28xuống của các đường đẳng dụng biểu thị độ thỏa dụng của người E giảm đi và để duy trì mức phúc lợi xã hội theo mức đã định thì phải tăng mức thỏa dụng của người A, và ngược lại Phúc lợi xã hội tăng theo hướng đông – bắc; điều này phản ánh thực tế là sự gia tăng phúc lợi của mỗi cá nhân sẽ làm gia tăng phúc lợi xã hội trong khi điều kiện các yếu tố khác không thay đổi
Hình 2.11: Các đường đẳng dụng của xã hội
Hình 2.12 minh họa các đường đẳng dụng xã hội chồng lên đường khă năng thỏa dụng ở hình 2.10 Ta thấy rằng điểm i không được xã hội ưa chuộng bằng điểm ii (điểm ii nằm trên đường đẳng dụng xã hội cao hơn điểm i), mặc dù điểm i đạt hiệu quả Pareto còn điểm ii thì không Ở điểm phân phố ii thể hiện quan điểm của xã hội là thiên hướng ủng hộ sự phân phối thu nhập công bằng hơn Dĩ nhiên, trên hình vẽ cũng cho thấy điểm iii tốt hơn hai điểm phân phối i và ii, vì tại đó phân phối của xã hội vừa đạt hiệu quả vừa công bằng
Hình 2.12: Tối đa hóa phúc lợi xã hội
Trang 29chính phủ để hướng sự phân phối đạt được mục tiêu công bằng, giảm bớt sự bất bình đẳng trong xã hội Hơn nữa, cơ chế kinh tế thị trường có cũng có những thất bại, vì vậy phải có sự phối hợp với hành động của chính phủ đề tạo ra hiệu quả Pareto
2.3.3 Thất bại của thị trường trong phân bổ nguồn lực
Có hai lý do cơ bản để lý giải vì sao cơ chế thị trường không thể phân bổ nguồn lực có hiệu quả, đó là quyền lực thị trường và sự không tồn tại thị trường
Các định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi dựa trên giả định các doanh nghiệp
và người tiêu dùng đều phải chấp nhận quy luật cạnh tranh của giá cả Nếu một doanh nghiệp có khả năng tác động đến giá cả, thì việc phân bổ nguồn lực thường sẽ không hiệu quả Doanh nghiệp có quyền lực thị trường có thể nâng giá hàng cao hơn chi phí biên bằng cách cắt giảm sản lượng cung cấp Khi đó, một trong những điều kiện cần thiết để đạt hiệu quả Pareto không được tuân thủ (phương trình 2.8); nguồn lực xã hội không được sử dụng đầy đủ để sản xuất hàng hóa đó Một doanh nghiệp có quyền lực thị trường, hay còn gọi là doanh nghiệp độc quyền, có thể tăng giá bằng nhiều cách khác nhau Một khi đã xuất hiện độc quyền thì hầu như không có cơ hội cho những cá nhân hay doanh nghiệp khác thâm nhập vào thị trường
Hình 2.13: Tổn thất trong lợi ích ròng do bởi độc quyền
Hình 2.13, miêu tả nhà độc quyền tối đa hóa lợi nhuận ở mức độ đầu ra/ tháng tại
đó thu nhập biên (MR) ngang bằng chi phí biên Đường cong nhu cầu đối với sản
phẩm của nhà độc quyền phản ánh lợi ích xã hội biên (MSB) ở các mức đầu ra có thể
có Giả sử chi phí biên của nhà độc quyền phản ánh giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất đầu ra tăng thêm Vì thế chi phí biên nhà độc quyền phản ánh chi phí xã hội biên (MSC) Doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất đầu ra QM/ tháng Tương ứng mức sản lượng này, chúng ta xác định điểm A, tại đó MR = MSC và giá cả của các đầu ra/ tháng là PM Đó cũng là lợi ích xã hội biên của các đầu ra hàng tháng (MSBM) Bởi vì thu nhập biên (MR) của nhà độc quyền nhỏ hơn giá cả sản xuất
0 QM Q* Sản lượng/ tháng
Tổn thất trong lợi ích ròng = ABE
Trang 30(PM), nên chi phí xã hội biên của sản xuất cũng sẽ nhỏ hơn giá cả Ứng với mức đầu ra hàng tháng QM, thì P = MSB > MSC và ở mức này thì xã hội không thể đạt được hiệu quả
Hiệu quả có thể đạt được nếu như chính phủ ép buộc nhà độc quyền gia tăng đầu
ra cho đến khi giá cả giảm xuống ở mức ngang bằng xã hội xã hội biên Lợi ích thuần tăng thêm có thể từ gia tăng đầu ra từ QM đến Q*/ tháng, như được biểu thị bằng diện tích hình tam giác ABE Điều này cho thấy lợi ích xã hội biên lớn hơn chi phí xã hội biên nếu như đầu ra/ tháng gia tăng đến điểm mà tại đó MSB = MSC
- Sự không tồn tại của một số thị trường
Sự không tồn tại của một số thị trường xuất phát từ các nguyên nhân cơ bản sau:
+ Tình trạng thông tin bất cân xứng:
Trong các định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi đều đưa ra giả định là nền kinh
tế tồn tại thị trường cho mọi loại hàng hóa Nếu thị trường đối với một loại hàng hóa nào đó không tồn tại, chúng ta không thể kỳ vọng nguồn lực được phân bổ có hiệu quả Tuy là vậy, trong thế giới hiện thực, cũng có một số thị trường hàng hóa không tồn tại Chúng ta đều biết, bảo hiểm có thể xem là một loại hàng hóa có vai trò quan trọng trong một thế giới đầy rủi ro Thị trường bảo hiểm cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ bảo hiểm cho xã hội, nhưng vẫn có một vài sự kiện bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm không thể triển khai, chẳng hạn nhu cầu mua bảo hiểm để phòng chống sự nghèo nàn Liệu trên thị trường bảo hiểm có doanh nghiệp bảo hiểm nào có thể kiếm được lợi nhuận từ dịch vụ cung cấp bảo hiểm nghèo hay không? Câu trả lời là hoàn toàn không, bởi lẽ nếu như bạn mua loại bảo hiểm này thì bạn sẽ không chịu khó làm việc nữa Về phía công ty bảo hiểm, để ngăn chặn hành vi tiêu cực của bạn, công ty bảo hiểm sẽ phải tăng cường giám sát mọi hành động của bạn để xem xét nguyên nhân nghèo của bạn là do thiếu may mắn hay lười biếng Quả thật thực hiện giám sát là điều quá khó, tốn kém nhiều chi phí Do đó, thị trường bảo hiểm nghèo không thể tồn tại,
và không có công ty bảo hiểm nào bán loại bảo hiểm này Nguyên nhân cơ bản ở đây
là do xuất hiện tình trạng thông tin bất cân xứng: một bên tham gia giao dịch có đầy
đủ thông tin, trong khi đối tác còn lại thì hoàn toàn không có đủ thông tin Thị trường
có sự thất bại trong việc cung cấp các loại hàng hóa này, nên chính phủ phải hình
Trang 31người bạn cùng phòng với bạn hút thuốc, gây ô nhiễm không khí và làm cho bạn cảm thấy khó chịu Vấn đề ở đây người hút thuốc đang sử dụng một nguồn lực hạn chế trong khi hút thuốc đó là không khí trong sạch Thực tế không có tồn tại thị trường không khí trong sạch để buộc anh ta phải trả tiền khi sử dụng quá mức Trong trường hợp này, hệ thống giá cả thị trường hoàn toàn thất bại trong việc cung cấp tín hiệu về chi phí cơ hội của những loại hàng hóa như thế
Có thể áp dụng phương pháp phân tích kinh tế học phúc lợi để giải thích về ngoại tác Xét phương trình 2.8, với giả thiết là chi phí biên đồng nghĩa chi phí xã hội biên,
nó phản ánh giá trị gia tăng của mọi nguồn lực xã hội được đưa vào sản xuất Tuy nhiên, trong ví dụ trên, chi phí cá nhân biên của người hút thuốc nhỏ hơn chi phí xã hội biên vì không phải trả tiền cho lượng khí sạch đã sử dụng Giá cả điếu thuốc chỉ phản ánh chi phí cá nhân biên chứ không phản ánh chính xác chi phí xã hội biên Vì các điều kiện của phương trình 2.8 không thỏa mãn, nên phân phối nguồn lực không đạt hiệu quả Cũng cần lưu ý rằng, ngoại tác tạo ra tích cực (lợi ích), nhưng cũng có thể tạo ra tiêu cực (giảm đi hay hạn chế sự gia tăng phúc lợi xã hội) Một nhà nghiên cứu sinh vật xuất bản một ấn phẩm về kỹ thuật ghép gen mới và các doanh nghiệp được có thể ứng dụng để bào chế thuốc Tuy vậy, lợi ích mà ấn phẩm mang lại là quá nhỏ bé, cung cấp không đầy đủ so với nhu cầu xã hội
Liên quan chặt chẽ với ngoại tác là tính chất hàng hóa công, một loại hàng hóa không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Một khi đã có người tiêu dùng hàng hóa này thì không thể ngăn cản người khác tiêu dùng nó Lấy ví dụ về ngọn hải đăng, khi nó thắp sáng, thì tất cả tàu thuyền đi lại trên biển đều có thể thụ hưởng lợi ích từ sự phát sáng này Trong quá trình thụ hưởng lợi ích của ngọn hải đăng, các chủ thuyền đều có động cơ che giấu sở thích thực sự của họ bằng cách biện hộ rằng ngọn hải đăng không
có ý nghĩa gì đối với mình với hy vọng trở thành người hưởng tự do mà không trả tiền Nếu mọi người có động cơ như vậy, thì không có ai bỏ tiền ra để xây dựng ngọn hải đăng cho dù nó có nhiều lợi ích Như thế cơ chế thị trường sẽ thất bại trong việc buộc mọi người biểu thị hết sở thích của họ về hàng hóa công Kết quả là nền kinh tế không
có đủ nguồn lực để sản xuất và cung cấp các loại hàng hóa công như thế
2.4 Mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng
Trong lĩnh vực tài chính công, công bằng được xem xét gắn liền với chính sách phân phối thu nhập
2.4.1 Khái niệm công bằng
Công bằng là khái niệm mang tính chuẩn tắc Nó tùy thuộc quan điểm của mỗi người trong sự so sánh về lợi ích thông qua đánh giá mức độ thỏa đáng của họ về các loại hàng hóa và dịc vụ mà họ nhận được từ sự cung cấp của xã hội Có hai loại công bằng
Trang 32- Công bằng theo chiều dọc:
Các chủ thể trong điều kiện khác nhau (vật chất, tinh thần và môi trường) thì phải được đối xử khác nhau Trong lĩnh vực tài chính công, nhận thức công bằng theo chiều dọc yêu cầu chính sách của chính phủ phải có phân biệt giữa các đối tượng khác nhau trong xã hội khi thực hiện chính sách trợ cấp an sinh xã hội và điều tiết thuế
- Công bằng theo chiều ngang
Các chủ thể trong điều kiện như nhau (vật chất, tinh thần và môi trường) thì phải được đối xử như nhau Hàm ý trong tài chính công, nhận thức công bằng theo chiều ngang yêu cầu các chính sách trợ cấp của chính phủ và điều tiết tài chính của chính phủ không được phân biệt đối xử giữa các đối tượng có điều kiện kinh tế hay xã hội như nhau
2.4.2 Sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng
Trong phân phối, về lý thuyết có thể chọn một điểm vừa đạt được hiệu quả
Pareto vừa đáp ứng yêu cầu công bằng của xã hội như điểm iii trên hình vẽ 2.12 Thế
nhưng trên thực tế rất khó để có được điểm tối ưu này, vì thị trường có những thất bại của nó trong phân phối và bản thân chính phủ cũng có những thất bại trong chính sách Hay nói khác đi, giữa hiệu quả và công bằng có sự đánh đổi lẫn nhau Trong hình 2.12,
điểm i đạt được hiệu quả Pareto nhưng nếu xã hội thiên hướng về phía cạnh công bằng thì chắc chắn điểm ii sẽ được ưa thích hơn; ngược lại, nếu xã hội có thiên hướng về hiệu quả thì sẽ chọn điểm i Có thể mô ta sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng qua
Trang 33cách nghiêm trọng Từ thập kỷ 90 trở lại đây, các nhà kinh tế nhận được rằng chính nghèo và mất bình đẳng gia tăng là nguyên nhân làm cho nên kinh tế không bền vững Chỉ có tăng trưởng kinh tế không thôi thì không đủ để bảo vệ những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội Trong bối cảnh đó, chính phủ đóng vai trò rất quan trọng trong việc giả ghèo và bất bình đẳng Vấn đề khó khăn nẩy sin trong chính sách công
là làm thế nào đo lường nghèo và bất bình đẳng
Trong kinh tế học, đường cong Lorenz là công cụ rất đơn giản thường được sử dụng rộng rãi để miêu tả và phân tích dữ liệu phân phối thu nhập Đường cong này cung cấp phương pháp rất hữu dụng để sắp xếp sự phân phối thu nhập theo quan điểm phúc lợi xã hội Có thể miêu tả đường cong Lorenz trong một hình vuông Cạnh bên hình vuông là % thu nhập cộng dồn, cạnh đáy biểu thị % các nhóm dân cư sắp xếp theo thứ tự mức thu nhập tăng dần Đường cong Lorenz thể hiện mối quan hệ giữa tỷ
lệ % dân số được cộng dồn với tỷ lệ % thu nhập được cộng dồn tương ứng Chúng ta
có thể giải thích ý tưởng này theo một ví dụ đơn giản Giả sử có 5 người và thu nhập của họ có thể sắp xếp theo thứ tự tăng dần là 2, 3, 5, 6 và 8 Tổng số thu nhập là 24 Ty
lệ dân số cộng dồn mà thu nhập của họ nhỏ hơn hoặc bằng 2, 3, 5, 6 và 8 được thể hiện
1 2 3 4 5 , , , ,