1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LY THUYET KE TOAN TIEU LUAN MO HINH KE TOAN THEO GIA DAU RA

14 80 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 131 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

. Ngoài kế toán theo giá gốc, kế toán theo mức giá chung, kế toán giá hiện hành….Tiểu luận này sẽ tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển cũng như các tranh luận lý thuyết chung quanh “mô hình định giá kế toán theo giá đầu ra” .

Trang 1

Mục lục Danh mục chữ viết tắt

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Nội dung kế toán theo giá đầu ra 2

1.1 Đóng góp của Keneth MacNeal 2

1.2 Đóng góp của Chambers 3

1.3 Đóng góp của Sterling 5

2 Ưu, nhược điểm kế toán theo giá đầu ra 5

2.1 Ưu điểm 5

2.2 Nhược điểm 6

3 Hướng đi mới của kế toán theo giá đầu ra 6

4 Kết luận 11

Tài liệu tham khảo 12

Trang 2

Danh mục chữ viết tắt

CoCoA Kế toán điều chỉnh liên tục theo hiện tại

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Một trong những vấn đề quan trọng của công tác kế toán là định giá, nhằm xác định giá trị bằng tiền của các đối tượng kế toán để phục vụ cho công việc ghi chép và lập báo cáo tài chính (BCTC)

Định giá cung cấp giá trị của các nguồn lực và nghĩa vụ của doanh nghiệp, làm

cơ sở xác định vốn chủ sở hữu hay là tài sản thuần của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Mặt khác, định giá cho phép xác định doanh thu và đặc biệt là chi phí

để tính ra lợi nhuận của doanh nghiệp

Trên thực tế, hiện nay kế toán sử dụng một sự pha trộn hỗn hợp nhiều loại giá khác nhau Ngoài kế toán theo giá gốc, kế toán theo mức giá chung, kế toán giá hiện hành….Tiểu luận này sẽ tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển cũng như các tranh

luận lý thuyết chung quanh “mô hình định giá kế toán theo giá đầu ra”

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành vẫn còn rất nhiều thiếu sót em mong nhận được sự góp ý của thầy để tiểu luận này được hoàn chỉnh hơn

Trang 4

1 Nội dung kế toán theo giá đầu ra

Kế toán giá đầu ra (exit price accounting) dựa trên giá bán trên thị trường để đo lường và đánh giá tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Kế toán giá đầu ra đặt những nền móng cho hướng phát triển kế toán theo thị trường (mark- to- market accounting) sau này

1.1 Đóng góp của Keneth MacNeal

Giá đầu ra được Keneth MacNeal nghiên cứu lý thuyết kế toán đề cập trong tác phẩm “Sự thật trong kế toán” 1939

MacNeal nghiên cứu lịch sử kế toán và kết luận rằng các nguyên tắc kế toán truyền thống dựa trên các điều kiện sơ khai mà phần lớn không còn tồn tại nữa Ông chia lịch sử phát triển của kế toán thành ba thời kỳ:

+ Thế kỷ XII - XVII: đây là thời kỳ mà vai trò của người kế toán là cung cấp thông tin cho người chủ và cũng là người quản lý của doanh nghiệp về các chi phí trong các “phi vụ” và dự án Thông tin này nhằm xác định lợi nhuận khi kết thúc “phi vụ” hay dự án nói trên Nói chung, các hoạt động kinh doanh này thường mang tính chất ngắn hạn trong vòng vài năm nên chi phí chủ yếu được tính bằng giá gốc

+ Thế kỷ XVIII – XIX: Trong thời kỳ này, các DN đã được thiết lập vững chắc hơn và các hoạt động đã bớt rủi ro nhiều so với thời kỳ trước Với bối cảnh này, các chủ nợ đã có thể cho doanh nghiệp vay tiền dựa trên tài sản thuần của DN Họ yêu cầu DN cung cấp các báo cáo về tài sản thuần và lợi nhuận trước khi vay Các kế toán viên độc lập là người được giao nhiệm vụ này và từ đó nghề kế toán công ra đời Tuy nhiên, lúc này người chủ DN vẫn chỉ là một hay một vài cá nhân Điều này khiến cho các nhà kế toán công nói trên chỉ phục vụ cho hai đối tượng là chủ nợ (vốn quan tâm chủ yếu đến khả năng trả nợ đúng hạn) và chủ sở hữu (cũng là người quản lý nên am hiểu các hoạt động của DN)

Chủ nợ lo lắng chủ yếu đến việc khai khống trên báo cáo tài chính nên phương pháp kế toán thận trọng dựa trên giá gốc làm họ hài lòng Trong khi đó, những nhà quản lý rất am hiểu về DN nên họ dễ dàng điều chỉnh số liệu báo cáo để phản ánh đúng hơn tình hình của DN nên họ cũng chấp nhận về giá gốc

+ Thế kỷ XIX đến nay: trong thời kỳ này, quy mô DN tăng trưởng và hình thức công ty cổ phần phát triển mạnh Người chủ không còn nắm giữ vai trò quản lý nữa mà đã hình thành đội ngũ các nhà quản lý làm thuê chuyên nghiệp Các công ty

Trang 5

có rất nhiều cổ đông là những chủ sở hữu nhưng chỉ nắm được tình hình công ty qua BCTC và các phương tiện thông tin đại chúng Trong bối cảnh này, vai trò của kế toán trở nên quan trọng hơn rất nhiều

MacNeal cho rằng kế toán giá gốc theo truyền thống không còn thích hợp trong vai trò cung cấp thông tin hữu ích cho quyết định của nhà đầu tư nữa; vì tài sản được ghi nhận dựa trên giá mua vào trong quá khứ ở những thời kỳ khác nhau nên nhà đầu

tư không biết được giá trị hiện tại của các tài sản công ty mà họ nắm giữ cổ phần, không so sánh giữa BCTC của các công ty khác nhau

MacNeal đề nghị các giải pháp như sau:

- Các tài sản có thị trường giao dịch phản ảnh theo giá thị trường (giá đầu ra)

- Các tài sản không có thị trường giao dịch nhưng có thể tái sản xuất phản ánh theo giá thay thế (giá hiện hành)

- Các tài sản không thuộc cả hai loại trên sẽ sử dụng giá gốc

Như vậy, MacNeal đề xuất giá đầu ra như một giải pháp ưu tiên cho kế toán nhằm giúp cho thông tin đáp ứng được nhu cầu của cổ động công ty Tuy nhiên, MacNeal chưa đưa ra được các kỹ thuật cũng như lý thuyết giải thích cho các kỹ thuật

xử lý theo giá đầu ra

1.2 Đóng góp của Chambers

Trong tác phẩm “Kế toán, định giá và hành vi kinh tế” năm 1966, Chambers đưa

ra một giải pháp toàn diện cho áp dụng giá đầu ra, gọi là hệ thống “kế toán điều chỉnh liên tục theo hiện tại” (continuously contemporary accounting - viết tắt CoCoA) Theo CoCoA, tất cả tài sản đều được tính theo giá bán ra được trên thị trường tại thời điểm kết thúc niên độ

Chambers giải thích cách xử lý này bằng khái niệm “hành vi thích ứng” của doanh nghiệp Theo ông, DN phải thích ứng trong môi trường kinh doanh của mình

để tồn tại Các nhà đầu tư vào DN xét cho cùng đều mong đợi gia tăng lợi ích của mình, đó chính là dòng tiền mà họ có thể nhận được từ DN Trong bối cảnh đó, DN phải báo cáo về tình hình tài chính của mình bằng giá thị trường, được xác định bằng giá có thể thực hiện được điều kiện giao dịch ngắn hạn bình thường, để phản ảnh các dòng tiền có thể được tạo ra Chambers cho rằng chỉ như vậy mới nói lên được khả năng của DN tham gia thị trường và thích nghi với hoàn cảnh hiện tại ở thời điểm báo cáo Ví dụ một DN có dự trữ một cách hợp lý các tài sản có khả năng chuyển đổi

Trang 6

thành tiền sẽ dễ thích ứng hơn so với các DN giữ các tài sản không có giá trị bán ra trên thị trường

Đối với tài sản dài hạn, những người ủng hộ giá gốc cho rằng cần trình bày theo giá gốc vì tài sản này được giữ để sử dụng chứ không phải để bán Chambers lập luận rằng việc trình bày tài sản dài hạn theo giá bán không có nghĩa là tài sản được giữ để bán mà có nghĩa là trình bày nó dưới góc độ một khoản tương đương với tiền mà DN đang nắm giữ

Mặt khác, khi DN mua một tài sản dài hạn, khả năng thích ứng của DN đã thay đổi vì họ giảm mất một lượng tiền nhất định trong việc sử dụng vào các mục đích khác Do đó, họ chỉ tiếp tục giữ tài sản này khi giá trị hiện tại của khoản tiền thuần mang lại trong tương lai của việc sử dụng tài sản lớn hơn giá trị hiện tại của khoản tiền thuần mang lại trong tương lai của các hoạt động đầu tư khác Nói cách khác, giá trị tài sản chính là chi phí cơ hội mà DN phải bỏ ra để giữ tài sản Chi phí cơ hội này, theo Chambers được đo bằng giá bán sẽ đúng hơn là giá hiện hành (giá thay thế) vì giá bán tượng trưng cho dòng tiền mà DN sẽ có nếu bạn đi tài sản

Chambers cũng so sánh giữa giá trị trao đổi (giá đầu ra) và giá trị sử dụng (value

in use) của tài sản Giá trị sử dụng thường được tính bằng giá trị hiện tại của dòng tiền thuần sẽ thu được trong tương lai từ sử dụng tài sản Theo ông, giá sử dụng là một kỹ thuật tính toán mang tính chủ quan cao nên việc sử dụng giá bán sẽ hợp lý khi xác định giá trị tài sản

Tóm lại, Chambers đã đưa ra các lập luận để chứng minh, rằng giá bán (giá đầu ra) là giải thích hợp nhất để phản ảnh tài sản trên BCTC

Theo CoCoA, tất cả các khoản chênh lệch giá giữa giá trị trên sổ sách vào cuối niên độ với giá thị trường sẽ được phản ảnh vào báo cáo kết quả hoạt động DN dưới hai loại:

+Lợi nhuận hoạt động từ giá đầu ra (exit value operating profit) là chênh lệch

đo đánh giá hàng tồn kho theo giá đầu ra

+Các hoạt động đánh giá lại khác (other price valuation activities) là chênh lệch đánh giá lại của các tài sản khác theo giá đầu ra (tài sản cố định, các khoản đầu tư…) Do cách xử lý này, tài sản cố định không cần tính khấu hao

Trang 7

Ngoài ra, Chambers cũng đề nghị áp dụng chỉ số giá để điều chỉnh tăng các khoản vốn chủ sở hữu Phần chênh lệch được trừ khỏi kết quả hoạt động để tính ra lợi nhuận thuần

1.3 Đóng góp của Sterling

Sterling trình bày các nghiên cứu của mình liên quan đến giá đầu ra trong hai tác phẩm: Lý thuyết về đo lưởng lợi nhuận doanh nghiệp (1970) và Hướng đến một khoa học kế toán (1979)

Đóng góp chủ yếu của Sterling trong lĩnh vực này chủ yếu là đưa ra các phân tích về kinh tế học nhằm chứng minh tính ưu việt của giá đầu ra

Sterling xem xét các phương pháp định giá và đo lường lợi nhuận khác nhau trên hai tiêu chuẩn: tính thích và tính xác thực Kết quả ông cho rằng giá đầu ra là ưu việt nhất, vì các lý do sau đây:

- Thích hợp cho tất cả các đối tượng trong việc ra quyết định trong khi các phương pháp định giá khác chỉ thích hợp cho một hay một vài đối tượng nhất định

- Có thể xác định một cách đáng tin cậy

- Có khả năng cộng hợp (additivity), hiểu theo nghĩa là khi cộng các yếu tố riêng biệt cung cấp một thông tin tổng hợp có ý nghĩa

- Có tính nhất quán về mặt thời gian, nghĩa là tất cả các tài sản cùng được đo lường tại một thời điểm

2 Ưu, nhược điểm kế toán theo giá đầu ra

2.1 Ưu điểm

Khả năng cộng hợp là một ưu điểm nổi trội của giá đầu ra vì nó cho phép xác định tất cả các tài sản trên cùng mặt bằng giá Điều này có tác dụng giúp cho khả năng cộng hợp các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính hình thành một con số có ý nghĩa

Các khoản chênh lệch giữa giá gốc với giá đầu ra vào thời điểm lập Báo cáo tài chính phản ánh doanh nghiệp có tăng sức mua của tài sản thuần so với các doanh nghiệp khác

Thí dụ DN C và DN D cùng nua một lô hàng giá 530 và bán lô hàng với giá 550; sau

đó DN C đã mua lại một lô hàng khác với giá 540 trong khi DN D chưa mua Vào thời điểm lập BCTC lô hàng của DN C còn trong kho và giá bán là của chúng là 560 Như vậy, lợi nhuận theo giá gốc của hai DN cũng là 20, nhưng lợi nhuận do chênh lệch giá

Trang 8

của DN C là 20 trong khi DN D là 0 Khoản lợi nhuận này cho thấy DN C đã tăng sức mua của tài sản thuần lên 20 so với DN D đã giữ tiền mà không mua hàng vào

Tạo ra những nền tảng lý thuyết quan trọng cho các khái niệm tài sản, lợi nhuận của kế toán… Bổ sung hoặc thay thế cho giá gốc

Nghiên cứu trên mẫu cho thấy giá đầu ra cho kết quả ít phân tán hơn giá gôc Giá trị sử dụng là một kỹ thuật mang tính chủ quan (tính NVP từ việc sử dụng tài sản) nên không hợp lý để xác định giá trị tài sản

Đảm bảo tài sản, nợ phải trả của đơn vị được báo cáo theo mức giá phù hợp với mức giá kỳ vọng chung của thị trường, thích hợp với các quyết định tài chính trong điều kiện thị trường chứng khoán và thị trường tài chính đang phát triển ở từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu

2.2 Nhược điểm

Bell 1971: Việc đánh giá tài sản theo giá đầu ra và ghi vào kết quả hoạt động sẽ thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm đến việc tối đa hóa giá trị tương đương tiền của tài sản trong ngắn hạn hơn là tập trung vào kinh doanh

Larson 1966: Giá trị các tài sản được xác định riêng rẽ sẽ khác biệt với giá trị tài sản được bán trọn gói, xuất phát từ các yếu tố vô hình phát sinh do sự liên kết giữa các tài sản Cách tính của CoCoA đã bỏ qua yếu tố này và do đó tính cộng hợp có thể bị nghi ngờ

Giá đầu ra nhấn mạnh đến giá trị trao đổi mà bỏ qua giá trị sử dụng, có thể có các tài sản được sử dụng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mặc dù không có giá thị trường

Giá đầu ra dựa trên giá bán thị trường của tài sản nên khó xác định một cách khách quan

3 Hướng đi mới của kế toán theo giá đầu ra

Giá trị hợp lý là một bước phát triển của giá đầu ra, khắc phục được nhược điểm của mô hình giá đầu ra và các mô hình định giá khác (Sebastian và cộng sự, 2014) Trong thời gian qua, GTHL được sử dụng trong các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực BCTC quốc tế với nhiều cách thức khác nhau gắn với từng chuẩn mực cụ thể

IASB định nghĩa: giá trị hợp lý là giá trị mà một tài sản được trao đổi hay một

công nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ sự hiểu biết trong một giao dịch bình thường

Trang 9

FASB định nghĩa: giá trị hợp lý là giá mà có thể nhận được khi bán một tài sản,

hoặc có thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch bình thường giữa những người tham gia trên thị trường tại ngày định giá

Nhìn chung, các chuẩn mực kế toán (IAS) và chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc

tế (IFRS) hiện hành đều sử dụng định nghĩa: Giá trị hợp lý là mức giá mà một tài sản

có thể được trao đổi giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong một giao dịch ngang giá Như vậy, theo quy định của các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế hiện hành, giá trị hợp lý được vận dụng trong đánh giá và ghi nhận các yếu tố của BCTC là khá phổ biến Tuy nhiên, việc sử dụng cơ sở giá trị hợp lý có sự khác nhau trong từng tình huống, từng chuẩn mực cụ thể Có thể khái quát việc sử dụng giá trị trong các chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành theo một số khía cạnh nổi bật như sau:

Một là, giá trị hợp lý được sử dụng để đánh giá và ghi nhận ban đầu Giá trị hợp

lý trong trường hợp này được sử dụng là giá gốc khi nhận ban đầu (Ghi nhận ban đầu

"Nhà xưởng, máy móc, thiết bị"; "Bất động sản đầu tư"; "Tài sản sinh học"; "Tài sản thuê tài chính” )

Hai là, giá trị hợp lý được sử dụng sau ghi nhận ban đầu Sau ghi nhận ban đầu, giá trị hợp lý được xác định tại mỗi thời điểm lập báo cáo tài chính (Ví dụ: Đánh giá sau khi nhận ban đầu đối với tài sản tài chính, bất động sản đầu tư ; Xác định giá trị đánh giá lại của nhà xưởng, máy móc thiết bị theo mô hình đánh giá lại của IAS 16, tài sản vô hình theo IAS 38)

Ba là, ghi nhận chênh lệch phát sinh do sự biến động của giá trị hợp lý Các khoản chênh lệch phát sinh do sự thay đổi giá trị hợp lý giữa các thời điểm báo cáo có thể được ghi là thu nhập, chi phí trong báo cáo lãi, lỗ (Ví dụ: Tài sản tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý qua báo cáo lãi lỗ, bất động sản đầu tư, tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp) hoặc điều chỉnh chỉ tiêu thuộc nguồn vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán như (Chênh lệch đánh giá tăng (giảm) tài sản )

Trong hầu hết các trường hợp, việc sử dụng giá trị hợp lý trong đánh giá và ghi nhận tài sản, nợ phải trả được quy định trong các chuẩn mực kế toán quốc tế đều kèm theo điều kiện nhất định, đặc biệt là điều kiện về sự tồn tại của thị trường hoạt động của tài sản, nợ phải trả và doanh nghiệp có thể thu thập được thông tin từ thị trường một cách đáng tin cậy để áp dụng các phương pháp kỹ thuật xác định giá trị hợp lý Vì

Trang 10

vậy, việc sử dụng giá trị hợp lý trong đo lường và ghi nhận tài sản và nợ phải trả thường được xác định là một mô hình mà đơn vị báo cáo có thể lựa chọn Bên cạnh đó các chuẩn mực còn quy định các mô hình định giá và ghi nhận thay thế như mô hình ghi nhận theo giá gốc (Cost model) hoặc mô hình ghi nhận theo giá gốc được phân bổ (Cost amortised model)

Liên hệ thực tiễn

Giá trị hợp lý trong thông tư 200 của Bộ tài chính và Luật kế toán sửa đổi 2015

Thực ra, cho đến nay, vẫn còn không ít những tranh luận xunh quanh việc sử dụng giá trị hợp lý (vấn đề được tranh luận nhiều nhất là tính đáng tin cậy và phương pháp xác định giá trị hợp lý) Tại Việt Nam, giá trị hợp lý đã được đề cập đến từ hơn

10 năm nay, và đầu tiên được định nghĩa trong Chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu

và thu nhập khác: giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản

nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong trao đổi ngang giá Trong kế toán Việt Nam, giá trị hợp lý được sử dụng chủ yếu trong ghi nhận ban đầu, chẳng hạn: ghi nhận ban đầu tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác, ghi nhận ban đầu và báo cáo các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh

Về phương pháp xác định giá trị hợp lý, ngoại trừ đoạn 24 của Chuẩn mực kế toán số 4 - Tài sản cố định vô hình - có đề cập đến phương pháp xác định Giá trị hợp

lý của tài sản cố định vô hình, và thông tư 21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính có hướng dẫn việc xác định Giá trị hợp lý trong xác định giá phí hợp nhất kinh doanh, đến nay thông tư 200/2014/TT-BTC cũng đề cập đến một số trường hợp

cụ thể Ngoài ra Luật kế toán sửa đổi 2015 cũng đề cập rõ hơn về giá trị hợp lý

Trong thông tư 200/2014/TT-BTC có một số quy định, cụ thể:

Đối với chứng khoán kinh doanh

Chứng khoán kinh doanh phải được ghi sổ kế toán theo giá gốc, bao gồm: Giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có) như chi phí môi giới, giao dịch, cung cấp thông tin, thuế, lệ phí và phí ngân hàng Giá gốc của chứng khoán kinh doanh được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản thanh toán tại thời điểm giao dịch phát sinh

Mọi trường hợp hoán đổi cổ phiếu đều phải xác định giá trị cổ phiếu theo giá trị hợp lý tại ngày trao đổi Được thực hiện như sau:

Ngày đăng: 08/06/2020, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w