Tỷ lệ người không sử dụng bao cao su thường xuyên trong quan hệ tình dục là 28%.Trong mô hình hồi quy logistic các biến độc lập được đưa vào mô hình nghiên cứu yếu tố ảnhhưởng đến hành v
Trang 1YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TÌNH DỤC KHÔNG AN TOÀN
CỦA NGƯỜI TIÊM CHÍCH MA TÚY TẠI VIỆT NAM
Vũ Văn Chiểu, Nguyễn Thị Minh Tâm
Cục Phòng, chống HIV/AIDS-Bộ Y tế
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 2008, theo báo cáo tình hình HIV/AIDS trên toàn cầu của UNAIDS, số người nhiễm HIV là33,4 triệu người, trong đó riêng khu vực châu Á có 4,7 triệu người Tại khu vực châu Á, lây nhiễmHIV tập trung ở nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao như người nghiện chích ma túy (NCMT), gáimại dâm, khách làng chơi và nam giới có quan hệ tình dục đồng giới [1]
Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2009, trong số 160.019 người đang sống với HIV và 44.540 đã chếtbởi HIV/AIDS, số người NCMT chiếm đến 50,6%[2] và theo ước tính dự báo tỷ lệ nhiễm HIV trongnhóm người NCMT giai đoạn năm 2010 đến 2012 là 30%[3] Tính đến tháng 7/2009, trên toàn quốc có153.682 người nghiện ma túy [4], trong đó số người tiêm chích ma túy chiếm 90%[5] Người NCMTkhông những có nguy cơ lây nhiễm HIV qua dùng chung bơm kim tiêm họ còn có thể bị lây nhiễm quahành vi quan hệ tình dục không an toàn Đây là hành vi nguy cơ chính làm lây lan HIV từ nhóm ngườiNCMT ra cộng đồng Vì vậy, thông tin liên quan đến tình dục không an toàn của nhóm người NCMT làrất cần thiết cho một chương trình phòng chống HIV/AIDS cho việc phòng lây nhiễm HIV cho họ cũngnhư giảm lây truyền HIV từ người nghiện chích ma túy cho người vợ/chồng hoặc bạn tình của họ
Dự án phòng lây nhiễm HIV ở Việt Nam do Bộ phát triển Quốc tế Vương quốc Anh và Cơ quanhợp tác phát triển Vương quốc Nauy tài trợ thực hiện tại 21 tỉnh trong thời gian 2004-2009 với mụctiêu “Góp phần hạn chế và ngăn chặn sự lan tràn đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam, khống chế tỷ lệ mắcHIV trong dân cư trưởng thành ở mức dưới 1% thông qua các mô hình can thiệp trực tiếp làm giảm lâynhiễm HIV trong các nhóm có hành vi nguy cơ cao và nâng cao năng lực cho cán bộ phòng chốngAIDS các cấp, tăng cường các hoạt động giảm thiểu tác hại của HIV/AIDS” Trong khuôn khổ cáchoạt động của Dự án, nghiên cứu này nhằm phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tình dụckhông an toàn của những người nghiện chích ma túy Hai vấn đề thuộc hành vi tình dục không an toànđược quan tâm đến là quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc với người bán dâm vàviệc không sử dụng thường xuyên bao cao su trong quan hệ tình dục Do nguy cơ lây nhiễm HIV từngười tiêm chích ma túy sang vợ/chống hoặc bạn tình thường xuyên của họ là rất cao nên việc luôn sửdụng bao cao su kể cả trong quan hệ tình dục với vợ/chồng hoặc bạn tình thường xuyên là rất cần thiết
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại 6 tỉnh/TP trong số 21 tỉnh thuộc Dự án Phònglây nhiễm HIV ở Việt Nam (PHP) bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh, CầnThơ và An Giang
- Đối tượng của nghiên cứu là những người NCMT tại địa bàn nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: tháng 9/2008
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang có phân tích
- Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho điều tra cắt ngang theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiênđơn, cỡ mẫu tính được cho 6 tỉnh/TP là 684 người NCMT, thực tế 587 đối tượng đã từng quan hệ tìnhdục được lựa chọn cho nghiên cứu này
- Kỹ thuật chọn mẫu: Tại mỗi tỉnh/thành phố, lập danh sách tất cả các quận huyện được coi là
“điểm nóng” của tỉnh sau đó bốc thăm ngẫu nhiên 3 quận/huyện để điều tra Tại mỗi huyện được chọn,tiến hành lập danh sách các đối tượng là người NCMT sau đó tiến hành chọn ngẫu nhiên trong danhsách này
- Kỹ thuật thu thập thông tin: Phỏng vấn đối tượng bằng bộ câu hỏi chuẩn bị trước
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Stata 9.0 để phân tích số liệu Mô hình hồi quylogistic sử dụng cho việc nghiên cứu mối tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
- Độ tin cậy trên 95% (p<0,05) được xét là có ý nghĩa thống kê
Trang 2III KÕt qu¶ vµ bµn luËn
1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm của nhóm đối tượng nghiện chích ma túy
là nam giới, chiếm tỷ lệ 90%
Về trình độ học vấn, số người học hết Trung học cơ sỏ chiếm 46%, số người học hết Trung học phổthông hoặc có học vấn cao hơn như Cao đẳng và Đại học chiếm 34%, số người đã học tiểu học hoặcchưa hết tiểu học chiếm 20%
Tất cả đối tượng của nghiên cứu này là người đã từng quan hệ tình dục Tuy vậy, số người chưa kếthôn chiếm đến 53%, số người đã kết hôn chiếm 38%, và số người đã ly dị hoặc góa vợ/chồng chiếm9% Tỷ lệ người nghiện chích ma túy của nghiên cứu này sống thất nghiệp chiếm 35%
2 Kiến thức, thái độ về HIV/STI và nhận thức về nguy cơ lây nhiễm HIV của bản thân người NCMT
Bảng 2 Phân bố điểm đánh giá kiến thức, thái độ về HIV/STI
Trang 3Trung bình = 1,9; Trung vị = 1; Độ lệch chuẩn = 1,7; Thấp nhất = 0; Cao nhất=6
Bảng 2 mô tả sự phân bố số điểm đánh giá kiến thức, thái độ về HIV/STI Có 9 câu hỏi để đánh giákiến thức, thái độ về HIV, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm Điểm kiến thức, thái độ về HIV củangười NCMT tương đối cao với điểm trung bình là 7,5 điểm, điểm thấp nhất là 0 và cao nhất là 9 Tỷ
lệ người nghiện chích ma túy đạt 7 điểm và cao hơn chiếm 77%, tỷ lệ người đạt điểm cao nhất (9điểm) là 25% Có 6 triệu chứng chính của STI để đánh giá kiến thức về STI, mỗi triệu chứng STI màngười được phỏng vấn có thể liệt kê sẽ đạt 1 điểm Bảng 2 cho thấy kiến thức về STI rất thấp, điểmtrung bình là 1,9 điểm, điểm thấp nhất là 0, cao nhất là 6 điểm và có đến một phần ba số người không
có khả năng liệt kê các triệu chứng STI Tỷ lệ người nhận thức được nguy cơ lây nhiễm HIV của bảnthân là 62%
3 Hành vi sử dụng chất ma túy
Hai vấn đề liên quan đến hành vi sử dụng chất ma túy bao gồm thời gian tiêm chích ma túy và việc
sử dụng chung bơm kim tiêm Thời gian tiêm chích ma túy của đối tượng nghiên cứu trung bình là 8năm, thời gian tiêm chích thấp nhất là 8 năm và dài nhất là 45 năm Phần lớn đối tượng có thời giantiêm chích dưới 15 năm (chiếm 92%) Tỷ lệ đối tượng trong 6 tháng qua có dùng chung bơm kim tiêmcủa các đối tượng là 18%
Trang 4tiêm Dùng chung 4.689*** 2.012**
Nhận thông tin về
tình dục an toàn
Không nhận được thông tin
Nhận bao cao su miễn
phí
Không nhận được bao cao su
(ref)Nhóm đối chiếu
Tỷ lệ người nghiện chích ma túy có quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc ngườibán dâm là 79% Tỷ lệ người không sử dụng bao cao su thường xuyên trong quan hệ tình dục là 28%.Trong mô hình hồi quy logistic các biến độc lập được đưa vào mô hình nghiên cứu yếu tố ảnhhưởng đến hành vi quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc người bán dâm (Mô hình1) bao gồm các biến về tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm, kiến thức,thái độ về HIV/STI, thời gian tiêm chích ma túy, dùng chung bơm kim tiêm, và tiếp cận thông tin vềtình dục an toàn Mô hình 2 nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng việc sử dụng không thường xuyên bao cao
su, ngoài các biến độc lập như mô hình 1, biến độc lập nhận bao cao su miễn phí được thêm vào môhình này
5 Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc với người bán dâm
Tình trạng hôn nhân:
So với nhóm người NCMT chưa kết hôn, tỷ lệ có quan hệ tình dục với bạn tình không thườngxuyên hoặc người bán dâm trong nhóm người NCMT đã kết hôn thấp hơn 0,27 lần (p<0,001) Nếu cácbiến độc lập không thay đổi, tỷ lệ người NCMT đã kết hôn có quan hệ tình dục với bạn tình khôngthường xuyên hoặc người bán dâm là 68%, đối với nhóm người NCMT chưa kết hôn, người góa, lythân hoặc ly dị có tỷ lệ 88%
Kiến thức, thái độ về HIV:
Kiến thức, thái độ về HIV có mối tương quan nghịch liên quan đến quan hệ tình dục với bạn tìnhkhông thường xuyên hoặc người bán dâm Tăng 1 điểm kiến thức, thái độ về HIV sẽ giảm 24%(p<0,01) tỷ lệ có quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc người bán dâm Đồ thị 1 chothấy nếu các biến độc lập không thay đổi, người không có kiến thức về HIV (điểm kiến thức, thái độ
về HIV là 0 điểm) thì tỷ lệ có quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc người bán dâm
là 87%, với số điểm tối đa 9 điểm là 58%
3 điểm
4 điểm
5 điểm
6 điểm
7 điểm
8 điểm
9 điểm
Đồ thị 1 Điểm kiến thức về HIV và tỷ lệ % có quan hệ tình dục với bạn tình
không thường xuyên hoặc người bán dâm
Trang 50 điểm 1 điểm 2 điểm 3 điểm 4 điểm 5 điểm 6 điểm
Đồ thị 2 Điểm kiến thức về STI và tỷ lệ % có quan hệ tình dục với bạn tình
không thường xuyên hoặc người bán dâm
Dùng chung bơm kim tiêm:
Tỷ lệ người NCMT dùng chung bơm kim tiêm có quan hệ tình dục với bạn tình không thườngxuyên hoặc người bán dâm cao hơn 4,68 lần (p <0,001) so với người không sử dụng chung bơm kimtiêm trong 6 tháng gần đây Nếu các biến độc lập khác không thay đổi, tỷ lệ người NCMT dùng chungbơm kim tiêm có quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc người bán dâm là 94%, tỷ lệnày đối với người NCMT không dùng chung bơm kim tiêm là 78%
6 Yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng bao cao su không thường xuyên
Nhóm tuổi:
Nhóm người NCMT tuổi 35-44 có tỷ lệ sử dụng bao cao su thường xuyên cao gấp 0,48 lần (p<0,05)
so với nhóm 15-24 tuổi Nếu các biến độc lập khác không thay đổi, tỷ lệ người NCMT thuộc nhómtuổi 35-44 sử dụng bao cao su không thường xuyên là 19% và trong các nhóm tuổi khác là 32% Tình trạng hôn nhân:
Nhóm người NCMT đã kết hôn không sử dụng bao cao su thường xuyên cao gấp 2,61 lần (p<0,001)
so với nhóm người chưa kết hôn Nếu các biến độc lập không thay đổi, tỷ lệ người NCMT đã kết hônkhông sử dụng bao cao su thường xuyên là 43% và trong các nhóm khác bao gồm người chưa kết hôn,sống ly thân, ly dị hoặc góa là 26%
Dùng chung bơm kim tiêm:
Tỷ lệ người NCMT dùng chung bơm kim tiêm không sử dụng bao cao su thường xuyên cao gấp2,01 lần (p<0,01) so với người không sử dụng chung bơm kim tiêm Nếu các biến độc lập khác khôngthay đổi, tỷ lệ người NCMT dùng chung bơm kim tiêm không sử dụng bao cao su thường xuyên là44%, tỷ lệ này đối với người NCMT không dùng chung bơm kim tiêm là 30%
Nhận bao cao su phát miễn phí:
Người NCMT nhận được bao cao su miễn phí có tỷ lệ sử dụng bao cao su thường xuyên cao gấp0,64 lần (p<0,05) so với nhóm không nhận được bao cao su miễn phí Nếu các biến độc lập kháckhông thay đổi, tỷ lệ người NCMT nhận được bao cao su miễn phí không sử dụng bao cao su thườngxuyên là 28%, tỷ lệ này đối với người không nhận được bao cao su miễn phí là 41%
iV KÕt luËn
Kiến thức về HIV của người NCMT là tương đối cao nhưng kiến thức về STI là rất thấp, trong đókiến thức về HIV có mối tương quan nghịch với quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyênhoặc người bán dâm;
Tỷ lệ người NCMT có quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc người bán dâmchiếm 77%, tỷ lệ sử dụng bao cao su không thường xuyên chiếm 28%;
Dùng chung bơm kim tiêm có quan hệ tương quan với hành vi tình dục không an toàn, trong đó tỷ
lệ người NCMT sử dụng chung bơm kim tiêm có quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyênhoặc người bán dâm cao gấp 4,68 lần và sử dụng bao cao su không thường xuyên cao gấp 2,01 lần sovới người không dùng chung bơm kim tiêm;
Tỷ lệ người NCMT đã kết hôn có quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc ngườibán dâm thấp hơn 0,27 lần nhưng tỷ lệ sử dụng bao cao su không thường xuyên trong nhóm này caogấp 2,61 lần so với người NCMT chưa kết hôn
Tỷ lệ sử dụng bao cao su thường xuyên trong nhóm người NCMT 35-44 tuổi cao gấp 0,48 lần sovới nhóm 15-24 tuổi, tỷ lệ này trong nhóm người nhận được bao cao su miễn phí cao gấp 0,64 lần sovới nhóm không nhận được bao cao su miễn phí
Trang 6Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy các hoạt động phòng chống HIV/AIDS dự phòng lây nhiễmHIV cho người NCMT qua đường tình dục cần quan tâm đến các vấn đề sau:
Công tác thông tin, giáo dục truyền thông về STI và tình dục an toàn cho đối tượng NCMT cầnđược nâng cao chất lượng và hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức về HIV cần tiếp tục duy trì.Công tác truyền thông thay đổi hành vi cần tập trung tuyên truyền người NCMT giảm hành vi quan
hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên hoặc người bán dâm Khuyến khích người NCMT có ýthức sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục kể cả khi quan hệ tình dục với bạn tình thường xuyênhoặc vợ/chồng
Mối tương quan giữa sử dụng chung bơm kim tiêm và tình dục không an toàn khuyến nghịchương trình phân phát bơm kim tiêm cần được mở rộng và bao cao su cần được phân phát miễn phícho người NCMT
Tµi liÖu tham kh¶o
1 UNAIDS (2009) AIDS epedimic update
2 Bộ Y tế (2010) Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS năm 2009 theo Công văn số AIDS ngày 06/4/2010
1991/BYT-3 Bộ Y tế (2007) Ước tính dự báo tình hình HIV/AIDS giai đoạn 2007-2012
4 Bộ Công an (2009) Báo cáo của Bộ Công an tại cuộc họp ngày 22/7/2009 của Ủy ban quốc giaphòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy mại dâm
5 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2007) Báo cáo kinh nghiệm các mô hình cai nghiện matúy giai đoạn 2001-2006
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
TẠI 4 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
Ở QUẢNG NINH, QUẢNG TRỊ VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PGS.TS Nguyễn Thị Thiềng, Phạm Thị Thu Ba, Trần Thị Thu Hà TÓM TẮT
1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá nhu cầu của sinh viên sư phạm về giáo dục Sức khoẻ sinh sản và phòng, chống HIV/AIDSđược thực hiện nhằm tìm hiểu nhu cầu về giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV của sinhviên sư phạm và những cơ hội lồng ghép giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV/AIDS vàochương trình đào tạo dành cho sinh viên Cao đẳng và Đại học sư phạm
Nghiên cứu này là một phần của chương trình hỗ trợ của PEPFAR/USAID cho Bộ Giáo dục và Đàotạo để thực hiện Chương trình hành động Giáo dục SKSS và phòng, chống HIV/AIDS cho học sinhtrung học Dự án do Vụ Công tác học sinh, sinh viên và các đơn vị liên quan của Bộ Giáo dục và Đàotạo thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của tổ chức cứu trợ trẻ em tại Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu sứckhoẻ gia đình và phát triển cộng đồng (CEFACOM) và sự phối hợp với các cơ quan liên quan của LiênHiệp quốc
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh (ĐHSPTP.HCM), Đại học (ĐH) Sài Gòn và hai trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) Quảng Ninh; Quảng Trị.Nghiên cứu này đã được thực hiện với kết hợp của ba phương pháp thu thập thông tin:
1 Nghiên cứu địa bàn được thực hiện để rà soát, phân tích chương trình đào tạo của các trường,chương trình chi tiết các môn học liên quan đến giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV màcác trường thực hiện;
2 Điều tra định tính bao gồm cả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: Phỏng vấn sâu cá nhân đượctiến hành đối với đại diện Ban giám hiệu, Phòng đào tạo; Lãnh đạo các khoa và giảng viên phụ tráchmôn học có nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV tại các trường khảo sát Tổng
Trang 7số có 34 phỏng vấn sâu được tiến hành; Thảo luận nhóm được tiến hành đối với sinh viên năm thứ ba.Đây là những sinh viên đã được học về giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV tại các trườngkhảo sát Tổng số có 9 thảo luận nhóm đã được tiến hành.
3 Điều tra định luợng được tiến hành theo phương pháp tự điền đối với sinh viên năm thứ ba hoặcnăm thứ tư của các trường được khảo sát
ii KÕt qu¶ nghiªn cøu
1 Khung chương trình đào tạo, kinh nghiệm và cơ hội
Dựa vào chuơng trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường xây dựng chương trình chocác chuyên ngành của trường với yêu cầu 60% môn học thuộc chương trình khung đối với bậc Đại học
và và 70-80% đối với bậc Cao đẳng học, phần còn lại là do trường tự xây dựng Chương trình đào tạocủa các trường cũng được xây dựng theo quy trình nghiêm ngặt và phải được hội đồng khoa họctrường gồm các giáo sư hàng đầu của mỗi chuyên ngành thông qua và giám hiệu phê duyệt Như vậy,nếu muốn đưa một môn học nào đó vào chương trình của trường, phải được hội đồng khoa học trườngđồng ý và hiệu trưởng phê duyệt
Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV không được quy định là môn bắt buộctrong chương trình khung của Bộ giáo dục và đào tạo hoặc trong chương trình chung cho toàn trườngcủa bất kỳ trường Đại học Sư phạm nào Tuy nhiên, tại một số trường Đại học Sư phạm, môn học
“Giáo dục dân số - sức khỏe sinh sản” đã được đưa vào giảng dạy ở một số khoa 1 Đối với khối Caođẳng, trong chương trình khung của bộ đã quy định đưa môn học này vào chương trình bắt buộc chomột số khoa với tiêu đề “Dân số, Môi trường, AIDS và Ma tuý”2
Khi nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản và/hoặc phòng, chống HIV/AIDS được đưa thành môn họctrong chương trình đào tạo, nó chỉ được đưa vào 4 khoa: Sinh học, Văn học (đối với trường Cao đẳng
Sư phạm) và Tâm lý Giáo dục (với trường Đại học Sư phạm), Giáo dục Công dân và Địa lý Giáo viên
là người quyết định nên tập trung vào giảng dạy nội dung nào Từ khi chuyển sang đào tạo theo chế độtín chỉ, tại một số trường Cao đẳng, môn học “Dân số, Môi trường, AIDS và Ma tuý” đã bị bỏ ra khỏichương trình
Cả giảng viên và sinh viên các trường đại ĐH và CĐSP đều cho rằng giáo dục sức khỏe sinh sản vàphòng, chống HIV cho sinh viên Sư phạm là việc làm cần thiết và mang lại lợi ích kép vừa cho bảnthân sinh viên trong cuộc sống hàng ngày vừa có lợi ích nghề nghiệp khi họ trở thành những giáo viên.Phân tích khung chương trình của Bộ, các chương trình đào tạo của các trường và các phỏng vấnsâu đã thực hiện cho phép rút ra kết luận: Việc đưa môn học này vào chương trình đào tạo của trường
có thể có cơ hội lớn hơn so với đưa vào chương trình khung của Bộ Có hai khẳ năng sau:
1) Đưa môn học này vào nội dung môn học tự chọn: Đối với các trường Đại học Sư phạm cần vậnđộng để có sự ủng hộ của Ban Giám hiệu và Hội đồng Khoa học trường Đối với các trường CĐSP,
môn học Dân số, Môi trường, AIDS và Ma tuý đã là môn bắt buộc trong chương trình khung của Bộ
giáo dục Vì vậy, cần vận động để các trường tuân thủ chương trình khung này ngay cả khi đào tạotheo tín chỉ
2) Đưa vào đào tạo ngoại khoá: Lồng ghép với các cuộc sinh hoạt đoàn thanh niên/hội sinh viên.Cần thiết phải chuẩn hoá nội dung và phương pháp đào tạo và sử dụng các tài liệu tương tác đa phươngtiện Các chủ đề cũng có thể được bổ sung vào chương trình sẵn có ngay từ đầu mỗi năm học
2 Khảo sát về kiến thức thái độ và thực hành liên quan đến SKSS và phòng, chống HIV/AIDS của sinh viên sư phạm
Kiến thức của sinh viên sư phạm về sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV chỉ đạt mức trung bình.Không có sự khác biệt rõ rệt giữa các trường và các cấp học
Sinh viên hiểu biết về các biện pháp tránh thai nhiều hơn các nội dung khác của sức khỏe sinh sảnhoặc phòng, chống HIV/AIDS Có ít sinh viên hiểu đúng về cách sử dụng bao cao su và nạo phá thai
an toàn
iii KÕt luËn vµ khuyÕn nghÞ
1 MOET/NIES/UNFPA Population and Reproductive Health curriculum is taught in Ha Noi University of Education; Pedagogical University of Hue and HCMC University of Pedagogy through VIE/01/P11 supported by UNFPA Cycle 6 (2001-2005) and Cycle 7 (2006-2008)
2 MOET/NIES/UNFPA Population and Reproductive Health curriculum is taught in Ha Noi University of Education; Pedagogical University of Hue and HCMC University of Pedagogy through VIE/01/P11 supported by UNFPA Cycle 6
Trang 8Sinh viên rất quan tâm đến việc học về giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV/AIDSkhông chỉ để phục vụ cá nhân trong cuộc sống hàng ngày mà còn để phục vụ nghề nghiệp tương lai khi
đã trở thành những giáo viên trung học
Có rất ít khả năng đưa môn học Giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV/AIDS vàochương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như chương trình đào tạo chung cho sinh viêntoàn trường của các trường Đại học và Cao Đẳng Sư phạm Việc chuyển từ đào tạo theo chế độ niênchế sang đào tạo tín chỉ đòi hỏi phải giảm bớt thời gian sinh viên học tập trên lớp cũng là một khókhăn trong việc đưa môn học này vào chương trình đào tạo Tuy nhiên, các trường Đại học và Caođẳng Sư phạm có thể đưa nội dung này vào môn học tự chọn hay đào tạo ngoại khoá Với sự kết hợpgiữa phương pháp giảng dạy hiện đại và phương tiện hỗ trợ giảng dạy, Đoàn thanh niên/Hội sinh viên
là đầu mối tốt nhất có thể đảm nhận việc tổ chức các khoá học này
Ngoài ra, cần vận động Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường Cao đẳng Sư phạm thực hiệnchương trình khung của Bộ đưa môn học“ Dân số, Môi trường, AIDS và Ma tuý” vào môn học bắtbuộc của một số khoa đã quy định, ngay cả khi các trường chuyển sang đào tạo theo chế độ tín chỉ.Kết quả điều tra định lượng và định tính cho thấy rằng sinh viên có hiểu biết tương đối tốt về một sốnội dung của sức khỏe sinh sản, và có thái độ tích cực đối với hầu hết các vấn đề về giáo dục sức khỏesinh sản và phòng, chống HIV/AIDS Tuy nhiên một số kiến thức và kỹ năng liên quan về sức khỏe sinhsản và phòng, chống HIV còn thiếu chính xác và không đầy đủ cần phải được củng cố và nâng cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Plan for launching a new subject module of Biology Education Major, Intake 9, full-timecollege level, Sai Gon University
2 Curriculum of Politics Education Major, full-time bachelor level, HCMC University ofPedagogy
3 Curriculum of Education Psychology Major, full-time 4-year bachelor level, HCMC University
6 Outline of Special Topic on Population, HCMC University of Pedagogy
7 Pham Trong Binh – Nguyen Huu Sinh, Population – Environment – AIDS – Drugs (Textbookfor training secondary school teachers, college level)
8 Education of skills for living, health protection and HIV & AIDS prevention in school,Teaching Guidebook for teachers of grade 8
9 Special Topic: HIV & AIDS prevention Experimental program on Education of HealthyLiving and Living skills for secondary school students, September 2004
10 Le Dinh Tuan Textbook of Population-RH Education, MoET, Hanoi, 2009
11 Dr Nguyen Van Cu Textbook of Population-RH Education, MoET, Hanoi, 2009
12 Asc.Prof Dr Tran Quoc Khanh Textbook of Population-RH Education, MoET, Hanoi, 2009
Trang 9HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM VÀ TỶ LỆ NHIỄM HIV
TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TUÝ TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN MIỀN NÚI TỈNH BẮC GIANG – NĂM 2010
Nguyễn Thanh Long 3 , Phan Thị Thu Hương 1 , Nguyễn Văn Kỳ 1 , Bùi Hoàng Đức 1 , Nguyễn Thị Bản 2 và Cộng sự Tãm t¾t nghiªn cøu
Điều tra tra cắt ngang trên 368 đối tượng NCMT tại địa bàn 4 huyện miền núi Bắc Giang tháng 8/2010 nhằm đánh giá thực trạng hành vi nguy cơ lây nhiễm và tỷ lệ nhiễm HIV để có căn cứ lập kế hoạch phòng chống HIV/AIDS Kết quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm HIV là 17.07%, 91,85% người NCMT là người Kinh, tuổi trung bình của người NCMT là 29,9 tuổi Trình độ học vấn chủ yếu là THCS (52,99%) Tuổi trung bình lần đầu tiêm chích ma túy là 28.8 tuổi, 73.68% có thời gian tiêm chích từ 1 năm trở lên Tỷ lệ đã từng dùng chung BKT là 25,54% Tỷ lệ dùng BKT sạch trong lần tiêm chích gần nhất chiếm 91,29% Tuổi trung bình lần đầu QHTD là 20,35 tuổi Tỷ lệ dùng BCS trong quan hệ tình dục lần gần nhất là 33,64% đối với bạn tình thường xuyên (vợ/chồng/người yêu); 52,22% đối với GMD; 48.48% đối với bạn tình bất chợt Tỷ lệ người NCMT có kiến thức đúng về tất cả các phương cách dự phòng lây truyền HIV chiếm tỷ lệ 42,15% Tỷ lệ người NCMT được cấp BKT sạch trong 6 tháng qua là 76,0%
Mục tiêu nghiên cứu.
Đánh giá kiến thức và hành vi nguy cơ, đồng thời xác định tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm NCMT tạimột số huyện nông thôn miền núi tỉnh Bắc Giang
§èi tîng vµ ph¬ng ph¸p nghiªn cøu
1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang định lượng
2 Đối tượng nghiên cứu: Người NCMT (là những người từng sử dụng các loại ma túy không
phải thuốc y tế kê theo đơn bằng cách tiêm/chích trong 6 tháng qua, đang sống và sinh hoạt ngoài cộngđồng từ 16 tuổi trở lên
3 Địa bàn điều tra: 4 huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Yên Dũng.
4 Thời gian điều tra: Tháng 8/2010.
5 Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS)
6 Các chỉ số điều tra: Các chỉ số điều tra được xây dựng dựa trên bộ chỉ số theo dõi và đánh giá
quốc gia chương trình phòng chống HIV/AIDS
7 Thu thập và xử lý số liệu: Phỏng vấn trực tiếp người NCMT Toàn bộ phiếu được nhập vào
máy tính bằng chương trình EpiData 3.1 và được phân tích bằng phần mềm STATA
KÕt qu¶
1 Đặc điểm chung.
Đối tượng điều tra là người Kinh chiếm 91.85% Tuổi trung bình của người NCMT là 29,9 tuổi và64,87% trong độ tuổi từ 20-39 tuổi Tỷ lệ người NCMT hiện đang sống với người thân/vợ chồng haybạn tình chiếm tỷ lệ cao 89,0% Mặc dù tỷ lệ mù chữ rất thấp (0,82%) nhưng đa phần người NCMT cótrình độ học vấn thấp tập trung ở cấp Trung học cơ sở 52,99% Phần lớn người NCMT có nghề nghiệpkhông ổn định, tỷ lệ người làm nghề tự do chiếm hơn một nửa (53,1%) và làm nghề nông chiếm29,70% Thu nhập của người NCMT ở mức thấp trung bình 1.47 triệu đồng/tháng
31: Ban quản lý dự án trung ương - Dự án Phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam,
Trang 10lần/ngày (47,93%), tiếp theo là khoảng 1 lần/ngày (32,51%) 71,55% người NCMT thường mua/nhậnBKT từ hiệu thuốc và 64,09% nhận BKT là từ các đồng đẳng viên.
Hành vi dùng chung BKT: Tỷ lệ cho biết đã từng dùng chung BKT, thuốc/dụng cụ pha thuốc trong
vòng 6 tháng qua chiếm khoảng 1/3 Tuy nhiên, phần lớn trong số này cho biết họ dùng chung ở mức
“đôi khi”: 25,54% dùng chung BKT và 33,97% dùng chung thuốc hoặc dụng cụ pha thuốc (biểu đồ 1).
Tỷ lệ dùng chung BKT trong vòng 1 tháng trước khi điều tra đều ở mức cao với tỷ lệ dùng lại BKTcủa bạn chích là 16,03% và tỷ lệ đưa BKT đã dùng cho bạn chích là 14,95% Hai tỷ lệ này cao hơn rấtnhiều so với tỷ lệ tương ứng trong điều tra năm 2008 (p<0,001) Đáng lưu ý, trong số những ngườidùng chung BKT với bạn chích, có tới 47,69% không bao giờ làm sạch BKT trước khi dùng và33,85% chỉ “đôi khi” làm sạch BKT
Biểu đồ 1 Tỷ lệ dùng chung thuốc, dụng
cụ pha thuốc trong 6 tháng qua
Biểu đồ 2 Tỷ lệ dùng chung BKT trong 1 tháng qua
Loại ma túy thường dùng là Hêrôin (97,28%) Tỷ lệ tiêm chích tại nơi công cộng là 55,59% cao gấphơn hai lần so với tỷ lệ tiêm chích tại nhà Tỷ lệ dùng BKT mới trong lần tiêm chích gần nhất chiếm tỷ
lệ khá cao (91,29%)
3 Quan hệ tình dục với các loại bạn tình
Có tới 91,30% đối tượng NMCT được điều tra đã QHTD và trong số này có 74,11% có QHTDtrong vòng 12 tháng qua Tuổi trung bình trong lần QHTD lần đầu tiên là 20.35 tuổi (trung vị = 20) Sốbạn tình phổ biến là 1 người và trong số này chủ yếu là bạn tình thường xuyên (54,17%)(vợ/chồng/người yêu) Tỷ lệ đã từng sử dụng BCS là 81,08% Việc tiếp cận với BCS được ngườiNCMT đánh giá là khá thuận tiện với tỷ lệ 88,97% họ có thể lấy được BCS bất cứ khi nào cần
QHTD với bạn tình thường xuyên (vợ/chồng/người yêu): Tần xuất QHTD trung bình trong 1 tháng
qua đối với bạn tình thường xuyên 5.38 lần Nhìn chung, tỷ lệ dùng BCS với bạn tình thường xuyênthường thấp: 33,64% dùng BCS trong lần QHTD gần nhất và 12,33% dùng BCS trong tất cả các lầnQHTD trong 12 tháng
QHTD với GMD: Tỷ lệ dùng BCS trong lần QHTD gần nhất với GMD ở mức thấp và chỉ đạt
52.22% Có tới 46,76% người NMCT cho biết họ không sử dụng BCS khi QHTD với GMD lần gầnđây nhất và tỷ lệ sử dụng BCS trong tất cả các lần QHTD trong 12 tháng qua chỉ chiếm 22,46%
QHTD với bạn tình bất chợt không trả tiền: Tỷ lệ dùng BCS trong lần QHTD gần nhất là 48.48%.
Trong 12 tháng qua, tỷ lệ người NCMT dùng BCS trong tất cả các lần QHTD vẫn ở mức thấp(33,33%)
Khoảng trên một nửa người NCMT có kiến thức về triệu chứng phổ biến của các bệnh LTQĐTD
Tỷ lệ người báo cáo bị mắc bệnh LTQĐTD là 6,79%
4 Kiến thức và thực hành phòng, chống HIV/AIDS
Tỷ lệ người đã từng nghe nói về HIV chiếm 93,48% Hầu hết người NCMT có kiến thức tốt đườnglây, cách phòng tránh, tuy nhiên, tỷ lệ người NCMT vẫn cho rằng HIV có thể lây nhiễm do muỗi đốtchiếm khoảng 1/3 tổng số người tham gia nghiên cứu
Trang 11So với kết quả điều tra tại Tp Bắc Giang năm 2008, tỷ lệ người NMCT cho rằng mình có nguy cơnhiễm HIV chiếm tỷ lệ khá cao (59,59% và 49,0%) (p<0,001) Trong đó tỷ lệ người NCMT cho biếtmình thuộc nhóm có nguy cơ cao là 22,09% và nhóm nguy cơ thấp là 37,50%.
5 Tiếp cận với các chương trình can thiệp
Chương trình cai nghiện: Có 14,95% người NCMT cho biết đã từng ở trung tâm cai nghiện và hầu
hết họ chỉ ở trung tâm cai nghiện 1 lần
Chương trình BKT sạch: Nguồn cung cấp BKT cao nhất là từ đồng đẳng viên (96,24%) và tiếp theo
là từ các cán bộ y tế (26,32%) Tỷ lệ người NCMT cho biết dễ dàng tiếp cận với BKT là 95,99% Cótới 76,0% người NMCT được cấp BKT sạch trong 6 tháng qua và hầu hết người NMCT đều đượccung cấp BKT sạch trong vòng 1 tháng qua (97,0%) với trung bình là 4,3 lần/tháng và trung bình 11,5cái BKT/lần phát
Chương trình thông tin, truyền thông: Hầu hết người NCMT đều được nhận các thông tin về tình
dục an toàn trong 1 tháng qua (88,0%), tuy nhiên tỷ lệ này tính trong 6 tháng qua chỉ là 56,0% Tương
tự, 90% người NMCT nhận được thông tin về tiêm chích an toàn trong 1 tháng qua và 55,0% nhậnđược thông tin trên trong vòng 6 tháng qua Nguồn cung cấp hai thông tin trên chủ yếu qua các đồngđẳng viên
Chương trình tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện (VCT): Chỉ có khoảng 39,51% người NMCT biết
nơi xét nghiệm HIV, tỷ lệ người đã từng xét nghiệm HIV chiếm tỷ lệ rất thấp (8,17%) và cũng chỉ có4,35% cho biết có xét nghiệm HIV trong vòng 1 năm qua
6 Tỷ lệ nhiễm HIV: Tỷ lệ nhiễm HIV trong điều tra này là 9,51% thấp hơn so với kết quả điều tra
tại khu vực Tp Bắc Giang năm 2008 là 17,07% (p<0,001)
Bµn luËn
Đây là nghiên cứu thứ 2 tiến hành trong nhóm NCMT tại tỉnh Bắc Giang, khác nhau về địa bànnghiên cứu so với nghiên cứu năm 2008 (chủ yếu tại thành phố Bắc Giang) nên kết quả giữa hainghiên cứu có sự khác biệt đáng kể Nhóm NCMT tại 4 huyện điều tra năm 2010 có tuổi trung bình29,9 trẻ hơn so với nhóm NCMT trong điều tra năm 2008 là 33,7 tuổi (p<0,001)[1] Tuy nhiên, nhómNCMT giữa hai cuộc điều tra có một số đặc điểm chung như trình độ học vấn thấp, thu nhập thấp vàkhông có nghề nghiệp ổn định
Mặc dù tỷ lệ cho biết có dùng chung BKT trong 6 tháng qua chủ yếu ở mức đôi khi (25,54%), tuy
nhiên tỷ lệ báo cáo có sử dụng chung BKT trong 1 tháng qua lại rất cao với 16,03% dùng lại BKT củangười khác và 14,95% đưa BKT cho người khác dùng, các tỷ lệ này cũng tương tự so với kết quả củamột số tỉnh trong nghiên cứu IBBS vòng II năm 2009 [2] Các tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với điềutra năm 2008 tại Bắc Giang [1] Mặc dù hầu hết người NCMT dùng BKT mới trong lần gần nhấtchiếm tới 91,29% nhưng các kết quả trên cho thấy chương trình BKT rất cần phải được tiếp tục mởrộng độ bao phủ duy trì
Đối với người NCMT, nguy cơ nhiễm HIV không chỉ là do tiêm chích không an toàn mà còn doQHTD không an toàn Cũng tương tự như kết quả của nhiều nghiên cứu khác ta thấy, chiều hướng sửdụng BCS hầu hết tăng dần theo các nhóm vợ/người yêu, bạn tình bất chợt và gái mại dâm Tỷ dùngBCS với vợ/người yêu cao hơn rất nhiều so với trong nghiên cứu của Nguyễn Trần Hiển tại 7 tỉnh năm
2002 (từ 3,9-12,6%)[4] Tỷ lệ dùng BCS trong tất cả các lần QHTD với GMD trogn 12 tnáng qua là rấtthấp (22,46%), và tỷ lệ này cũng thấp hơn hẳn so với kết quả trong nghiên cứu IBBS vòng 1 năm2005-2006[3] Như vậy, song song với việc triển khai chương trình BKT, chương trình BCS cũng rấtcần được tăng cường triển khai trong nhóm NCMT trong thời gian tới
Mặc dù tỷ lệ tiếp cận của người NCMT với chương trình BKT và BCS trong 1 tháng qua đều chiếmkhoảng 90%, tuy nhiên tỷ lệ sử dụng chung BKT và tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD với các loại bạntình cho thấy hai chương trình này cần tiếp tục được cải thiện về chất lượng và hiệu quả Tỷ lệ ngườiNCMT biết các địa điểm xét nghiệm HIV chỉ chiếm tỷ lệ thấp là 39,51% Bên cạnh đó, tỷ lệ ngườiNCMT đã từng đi xét nghiệm HIV trong vòng 1 năm qua cũng chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ là 4,35%, tỷ
lệ này thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu IBBS vòng 1 năm 2005-2006 với tỷ lệ tương ứng dao độngtrong khoảng từ 30-40%[3] Kiến thức của người NMCT tại 4 huyện điều tra là khá tốt, hầu hết ngườiNMCT đều có kiến thức đúng về đường lây, cách dự phòng; đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc đẩymạnh chương trình can thiệp tại tỉnh Bắc Giang
Trang 12Điều tra năm 2010 tại 4 huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang đã góp phần bổ sung thêm các thông tin
về nhóm NMCT trên địa bàn tình Kết quả cuộc điều tra sẽ góp phần quan trọng trong việc giúp tỉnhxây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp và hiệu quả trong thời gian tới cho nhóm NCMT Qua kết quảđiều tra, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị như sau:
- Tiếp tục duy trì và tăng cường triển khai chương trình BKT, BCS, trong đó chú trọng tuyêntruyền lợi ích việc sử dụng BCS trong tất cả các lần QHTD với các loại bạn tình khác nhau
- Kênh truyền thông, can thiệp hiệu quả cho nhóm đối tượng NMCT là thông qua nhóm đồng đẳngviên, cán bộ y tế cơ sở
- Quảng bá thông tin về các phòng VCT trên địa bàn tỉnh cho người NCMT
- Tuyên truyền, vận động người NCMT tới các phòng VCT và tiến hành xét nghiệm HIV định kỳ(ít nhất 1 năm/1 lần) Xem xét việc hỗ trợ kinh phí đi lại để tăng tỷ lệ người NCMT đến với các phòngVCT hoặc có thể thành lập các đội VCT lưu động để tăng tính dễ tiếp cận với dịch vụ trên địa bàn
Tài liệu tham khảo chính
1 Dự án Phòng, chống HIV tại Việt nam do WB tài trợ (2008), Báo cáo kết quả điều tra kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống HIV tại tỉnh Bắc Giang năm 2008 (Báo cáo chưa xuất bản),
ĐÁNH GIÁ HÀNH VI VÀ XÁC ĐỊNH TỶ LỆ NHIỄM HIV
TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TRIỂN KHAI DỰ ÁN PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
TỈNH CAO BẰNG DO NGÂN HÀNG THẾ GIỚI TÀI TRỢ, NĂM 2010
Nguyễn Thanh Long, Phan Thị Thu Hương, Doãn Hồ Phước, Bùi Hoàng Đức, và cộng sự.
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi và xét nghiệm máu cho 400 người nghiện chích ma túy (NCMT) tại tỉnh Cao Băng trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2010 Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng về kiến thức và hành vi nguy cơ phòng chống HIV/AIDS, xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý tại tỉnh Cao Bằng năm 2010 và so sánh với kết quả năm 2008, từ đó đề xuất các can thiệp phù hợp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của người NCMT là 30,8 tuổi trẻ hơn điều tra năm
2008 gần 1 tuổi (31,5 tuổi) Thời gian sử dụng ma túy trung bình là 7,3 năm thấp hơn một chút so với kết quả năm 2008 (7,5 năm) Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra người NCMT có kiến thức tốt về HIV/AIDS điểm kiến thức về HIV/AIDS của người NCMT là 4,35 điểm/5điểm tối đa Khả năng tiếp cấp với bơm kim tiêm (BKT) sạch của người NCMT cao (81,75%), chủ yếu qua đồng đẳng viên (96,3%) Hành vi sử dụng chung BKT khi tiêm chích ma túy của người NCMT giảm đáng kể so với năm 2008 từ 8,06% xuống còn 5,0% Tỷ lệ nhiễm HIV cũng giảm từ 24,17% năm 2008 xuống còn 21,5% năm 2010.
Trang 13I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cao Bằng là một tỉnh miền núi vùng cao biên giới, kinh tế vẫ còn nghèo so với cả nước, thu nhậpbình quân trên đầu người còn thấp Sự giao lưu thông thương kinh tế giữa các vùng trong tỉnh và vớicác tỉnh lân cận đã góp phần phát nền kinh tế, nhưng cũng kèm theo đó là sự gia tăng về tệ nạn xã hội
Từ năm cuối năm 2005 đầu năm 2006, Dự án phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam do Ngân hàng Thếgiới tài trợ triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại tại tỉnh Cao Bằng trong đó tập trung trungcan thiệp cho nhóm nghiện chích ma túy (NCMT) Trong năm 2008, Dự án đã tiến hành nghiên hành
vi và xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy trên địa bàn triển khai dự án tại tỉnhCao Băng Đến năm 2010, nhằm đánh giá lại hiệu quả sau 2 năm can thiệp trong nhóm NCMT tại tỉnhCao Bằng, Dự án thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá hành vi và xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong nhómnghiện chích ma túy trên địa bàn triển khai dự án phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Cao Bằng do Ngânhàng thế giới tài trợ - năm 2010”
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng về kiến thức và hành vi nguy cơ phòng chốngHIV/AIDS, xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý tại tỉnh Cao Bằng năm 2010 và
so sánh với kết quả năm 2008
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: Người tiêm chích ma tuý tại tỉnh Cao Bằng
Nghiện chích ma tuý được định nghĩa như sau: là những người đã từng sử dụng các loại ma tuýkhông phải thuốc y tế kê theo đơn bằng cách tiêm/chích trong 6 tháng qua, đang sống và sinh hoạt tạicộng đồng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
2. Địa bàn và thời gian
Nghiên cứu được tiến hành tại 6 huyện, thị triển khai dự án tỉnh Cao Bằng trong thời gian từ tháng4/2010 đến tháng 6/2010
3. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích, phỏng vấn theo bộ câu hỏi được in
sẵn
4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tính cỡ mẫu theo công thức ngẫu nhiên, chọn mẫu
theo xác suất tỷ lệ theo cỡ mẫu (PPS) Cỡ mẫu điều tra là 400 người
5. Nhập và phân tích số liệu: Nhập liệu trên phần mềm EpiData 3.0 và phân tích trên phần
mềm SPSS 16.0
6. Đạo đức nghiên cứu: Các đối tượng điều tra được phát phiếu tự nguyện, được phép từ chối nếu không muốn tham gia Các thông tin cá nhân đảm bảo bí mật
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Phân tích dựa trên kết quả phỏng vấn và kết quả xét nghiệm HIV của 400 người nghiện chích matúy túy tại Cao Bằng Tỷ lệ nhiễm HIV của ngưởi NCMT là: 21,50% giảm hơn đáng kể so với năm
2008 (24,17%) Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới đây:
1 Đặc trưng nhân khẩu - xã hội học
Tuổi trung bình của người NCMT là 30,8 trẻ hơn điều tra năm 2008 gần 1 tuổi (31,5 tuổi), người trẻtuổi nhất là 15 tuổi và người cao tuổi nhất là 58 tuổi Tuổi của người NCMT trong độ tuổi từ 30 tuổichiếm hơn một nửa (53,5%) Tỷ lệ người NCMT dưới 20 tuổi chiếm tỷ lệ thấp: tuổi từ 15 – 19 tuổi chỉchiếm 5,75% Học vấn của người NCMT tại Cao Bằng chiếm hơn một nửa là phổ thông trung học với
tỷ lệ là 54,43% cao hơn một chút so với kết quả điều tra năm 2008 (53,33%), tỷ lệ người NCMT cótrình độ học vấn là trung học cơ sở chiếm 27,85% cao hơn so với năm 2008 (24,4%), tỷ lệ có học vấn
ở mức cao đẳng/đại học chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ là 4,05% ( năm 2008: 3,33%) Tuy nhiên, tỷ lệ mù chữtrong nhóm người NCMT năm 2010 (1,52%) lại cao hơn so với kết quả điều tra năm 2008 (0,83%) Một thực tế nữa là người NCMT có trình độ thấp sẽ không kiếm được việc làm hoặc có việc làmkhông ổn định, Thu nhập của đối tượng tham gia nghiên cứu thấp, trung bình 1.150.000 đồng/thángthấp hơn của Sơn La (1.300.000đồng/tháng), có tới 45,4% NCMT khai báo không có thu nhập trong
12 tháng qua, 22,75% mức thu nhập trung bình chỉ dưới 1.000.000 đồng/tháng
Phân lớn người NCMT tham gia nghiên cứu chưa lập gia đình chiếm tỷ lệ cao 61,0%, cao hơn sovới kết quả điều tra năm 2008 (57,78%), ly dị, ly thân chiếm 6,25% (năm 2008: 4,72%), hiện đang có
vợ chiếm 32%
2 Kiến thức về HIV và tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ
Trang 14Kiến thức về HIV/AIDS của người NCMT khá tốt, Hầu hết người NCMT trong nghiên cứu này đãtừng nghe nói về HIV là 97,2% tương tự như năm 2008 (97%) Để đánh giá chung về điểm kiến thứccủa người NCMT về HIV, chúng tôi dựa trên các tiêu chí đánh giá theo tổ chức UNAIDS khuyến cáo(bao gồm các tiêu tiêu chí sau và cho điểm cao nhất là 5 điểm, thấp nhất là 0 điểm), điểm kiến thức vềHIV/AIDS của người NCMT là 4,35 điểm
Có 81,75% người NCMT cho biết nhận được BKT sạch trong 1tháng qua, trong một tháng số lầnnhận được BKT sạch trung bình là 7,8 lần và trung bình mỗi lần nhận được 5,26 BKT sạch, nguồnnhận BKT sạch chủ yếu là từ đồng đẳng viên của dự án (96,3%) kế đến là từ cán bộ y tế, cộng tácviên dự án (3,4%)
3 Tiền sử tiêm chích ma túy, hành vi tiêm chích và tỷ lệ nhiễm HIV
Thời gian sử dụng ma túy trung bình của người NCMT trong nghiên cứu là 7,3 năm thấp hơn mộtchút so với kết quả năm 2008 (7,5 năm) Những người NCMT có thời gian sử dụng ma túy từ 5 nămtrở lên chiếm 2/3 Loại ma túy mà người NCMT tiêm chích trong 30 ngày qua là Heroin 99,5% Tần suất sử dụng ma túy trong 30 ngày qua của người NCMT: trên 50% dùng 1 lần/ngày, 24,4%dùng 2-3 lần/ngày
Tỷ lệ sử dụng chung bơm kim tiêm (BKT) của người NCMT trong 30 ngày qua năm 2010 (5,0%)giảm so với kết quả điều tra năm 2008 (8,06%) Kết quả lý giải cho tỷ lệ nghiễm HIV trong nhómNCMT năm 2010 là 21,5% thấp hơn đáng kể so với năm 2008
Biểu đồ 1.Tỷ lệ % nhiễm HIV trong nhóm người NCMT tham gia nghiên cứu
24.17
21.5
0 10 20 30
IV BÀN LUẬN
Tuổi trung bình 30,8 trẻ hơn điều tra năm 2008 gần 1 tuổi, cao hơn so với tỉnh Bến Tre (29,7 tuổi),Thanh Hóa (29,2 tuổi), trẻ hơn so với tuổi của người NCMT tại Sơn La (32,7 tuổi), Lai Châu (35,3tuổi) Điều này phù hợp với nhận định của Bộ Y tế: Nhiễm HIV có xu hướng "trẻ hoá" Chiều hướngnày được cắt nghĩa bởi hình thái dịch của Việt nam chủ yếu qua tiêm chích ma tuý và hầu hết nhữngngười NCMT đều trẻ, có thời gian chuyển từ hút sang chích khá nhanh, trong khi đó nguy cơ nhiễmHIV đặc biệt cao do dùng chung bơm kim tiêm
Trình độ văn hóa của người NCMT thấp, tỷ lệ mù chữ trong nhóm người NCMT năm 2010 là1,52%, cao hơn điều tra năm 2008 (0,83%), điều này ảnh hướng đến cơ hội kiếm việc làm và hạn chếthu nhập của người NCMT Điều này thể hiện qua thu nhập bình quân tháng của hộ khá thấp, trungbình 1.150.000 đồng/tháng ( Sơn La: 1.300.000đồng/tháng) và có tới 45,4% NCMT khai báo không cóthu nhập trong 12 tháng qua
Cùng với sự phát triển của phương tiện thông tin và các can thiệp hiệu quả của dự án đã góp phầntăng cường kiến thức của người NCMT về HIV/AIDS Điểm kiến thức về HIV/AIDS của ngườiNCMT là 4,35 điểm Bên cạnh việc tăng cường kiến thức, người NCMT còn được tiếp cận dịch vụcung cấp BKT miễn phí qua mạng lưới đồng đẳng viên của dự án với 81,75% người NCMT cho biếtnhận được BKT sạch trong 1tháng qua Điều này đóng góp đáng kể cho việc thực hiện hành tiêm chích
Trang 15an toàn của họ Kết quả điều tra minh chứng cho điều này với tỷ lệ người NCMT có dùng chung BKTkhi tiêm chích ma túy trong giảm từ 8,06% năm 2008 xuống còn 5,0% năm 2010
Kết quả nghiên cứu năm 2010 trên 400 đối tượng NCMT tỉnh Cao Bằng cho thấy được hiệu quảcủa chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại cho nhóm NCMT trong 2 năm 2008, 2009 và nhữngtháng đầu năm 2010 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT giảm từ 24,17% năm 2008 xuống còn21,5% năm 2010 Tỷ lệ này vẫn hơi cao hơn so với với tỷ lệ chung của cả nước qua giám sát trọngđiểm năm 2009, thấp hơn so với kết quả nghiên cứu tại Sơn La năm 2009 (31,1%) Đây là tín hiệu rấttích cực cho thấy rất có thể hiệu quả của chương trình can thiệp đã hạn chế được rất nhiều hành vinguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT, giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT từ đó cũng giántiếp làm giảm tác tại cho cộng đồng
V KHUYẾN NGHỊ
Để nhằm tiếp tục làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV cho nhóm NCMT xuống dưới 20%, cũng như qua kếtquả điều tra thấy rõ hiệu quả hoạt động cấp phát bơm kim tiêm của đồng đẳng viên là rất hiệu quả dovậy cần đẩy mạnh việc cung cấp đủ BKT cho người NCMT thông qua nhóm đồng đẳng viên
Bên cạnh đó cũng cần nghiên cứu phát triển thêm các mô hình phân phát BKT sạch khác nhằm tăngcường hơn nữa khả năng tiếp cận của người NCMT với BKT sạch như hộp BKT cố định, trao đổiBKT qua nhà thuốc
Để giải quyết khí khăn cho nhóm NCMT ở nơi xa trung tâm, cần trú trọng lập các điểm cung cấpBKT miễn phí cho các thôn bản ở xa trung tâm giúp NCMT có thể lấy được đủ BKT cho tiêm chíchhàng ngày để họ hạn chế việc dùng chung BKT
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1 Báo cáo Đánh giá hành vi và xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy trên địa bàn triển khai dự án phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Sơn La do Ngân hàng thế giới tài trợ - năm 2009
2 Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS tỉnh Cao Bằng năm 2009
3 Cục Y tế dự phòng và Phòng, chống HIV/AIDS, Ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam 2005 – 2010; (2005).
4 Cục phòng chống HIV/AIDS, báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS năm 2009
NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV TRONG NHÓM VỢ, BẠN TÌNH NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA TUÝ
TẠI LAI CHÂU – NĂM 2010
Nguyễn Thanh Long 1 , Phan Thị Thu Hương 1 , Bùi Hoàng Đức 1 , Nguyễn Văn Kỳ 2 , Nguyễn Văn Đối 3
Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm Vợ, bạn tình người nghiện chích ma túy là 5.2%, cao hơn tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai (0.15%, kết quả GSTĐ năm 2009) 4 và nhóm phụ nữ mại dâm (3.2%, kết quả GSTĐ năm 2009) 5 Nguy cơ lây nhiễm HIV chính trong nhóm này là do hành vi quan
4 Điều tra GSTĐ 2009 Cục phòng chống HIV/AIDS, 2009
Trang 16hệ tình dục không an toàn với chồng/người yêu nghiện chích ma túy, chỉ có 35.6% có sử dụng bao cao
su trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất Trong khi đó tỷ lệ hiểu biết về cách dự phòng lây nhiễm HIV và nhận thức được nguy cơ lây nhiễm còn rất thấp, chỉ có 63.2% người biết luôn sử dụng bao cao
su sẽ làm giảm nguy cơ nhiễm HIV, và 30.4% người cho rằng mình có nguy cơ nhiễm HIV Tỷ lệ tiếp cận với các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm này còn hạn chế khi chỉ có khoảng 50% có nhận được bao cao su trong 6 tháng trước đó
Nhóm vợ và bạn tình của người nghiện chích ma túy cần được xác định là một trong các nhóm đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV cao và cần triển khai các can thiệp dự phòng lây nhiễm trong nhóm đối tượng này
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ nhiễm HIV do lây nhiễm HIV qua đường máu vẫn chiếm tỷ lệ caonhất, tiếp đến là do lây truyền qua đường tình dục, tỷ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con chiếm tỷ lệthấp nhất Tuy nhiên, trong 5 năm trở lại đây, tỷ lệ nhiễm HIV báo cáo do lây nhiễm qua quan hệ tìnhdục không an toàn theo từng năm tăng dần từ 12% năm 2004 lên 29% năm 2009 và tính đến cuối tháng3/2010 tỷ lệ này là 38,7%
Kết quả điều tra trong nhóm nghiện chích ma tuý tại Lai châu tiến hành năm 2007 cho thấy tỷ lệnhiễm HIV trong nhóm này là 40.3% Tỷ lệ sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục với các loạibạn tình rất khác nhau, trong đó tỷ lệ có sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với vợ, người yêuchỉ là 37% Trong nghiên cứu nêu trên cũng cho thấy nam giới vẫn đóng vai trò chủ động trong quan
hệ tình dục
Để tìm hiểu nguy cơ lây nhiễm HIV từ nhóm nghiện chích ma tuý sang Vợ/bạn tình của họ, Dự ánphòng chống HIV/AIDS tỉnh Lai châu tiến hành điều tra “Nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm vợ, bạn
tình của người nghiện chích ma tuý tại tỉnh Lai châu – năm 2010” Mục tiêu nghiên cứu gồm:
1 Tìm hiểu nguy cơ lây nhiễm trong nhóm vợ, bạn tình của người nghiện chích ma tuý tại tỉnhLai châu – năm 2010
2 Xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm vợ, bạn tình của người nghiện chích ma tuý tại tỉnh Laichâu – năm 2010
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu định lượng mô tả cắt ngang
2 Địa điểm điều tra:
Điều tra được thực hiện tại 4 huyện/thị xã tỉnh Lai châu gồm: TX Lai Châu, các huyện Tam Đường,Tân Uyên, Than Uyên, Phong Thổ
3 Đối tượng nghiên cứu:
Vợ, bạn tình của người nghiện chích ma tuý:
Tiêu chí chọn vào:
+ Chồng, người yêu đang nghiện chích ma tuý
+ Sinh sống thường xuyên tại địa bàn trên 6 tháng
+ Tuổi từ 15-49
+ Có mặt tại địa phương trong thời gian điều tra
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ:
+ Không đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Không đủ năng lực thể chất hoặc tinh thần tham gia nghiên cứu
4 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 5/2010 đến tháng 8/2010
5 Cỡ mẫu:
Dựa trên cách tính bảng dịch tễ (Epitable-Calculator) của phần mềm Epi-Info phiên bản 6.04d(CDC, Atlanta, USA, 2001) để tính cỡ mẫu nhằm ước tính tỉ lệ hiện nhiễm cho một nghiên cứu cắtngang Cỡ mẫu cho nghiên cứu là 320 người
6 Phương pháp chọn mẫu:
Trang 17Chọn mẫu trong nghiên cứu này được tiến hành song song với chọn mẫu trong điều tra nhómnghiện chích ma tuý được tiến hành cùng thời gian và cùng địa bàn Đối tượng nghiện chích ma tuýnếu có vợ, bạn tình thì nhóm điều tra sẽ mời vợ, bạn tình của đối tượng này tham gia vào nghiên cứu.Tiến hành lấy mẫu như trên cho đến khi đủ cỡ mẫu phân bố
7 Thu thập số liệu:
Số liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi Điều tra viên và giám sát viên đượctập huấn kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng giám sát và sử dụng phiếu điều tra Mẫu máu được nhân viên y
tế thu thập và chuyển về Trung tâm phòng chống HIV/AIDS để làm xét nghiệm
III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1 Tỷ lệ nhiễm HIV Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm Vợ, bạn tình người nghiện chích ma túy là5.2% Tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai (0.15%, kết quả GSTĐ năm2009)6 và nhóm phụ nữ mại dâm (3.2%, kết quả GSTĐ năm 2009)7 So sánh kết quả điều tra nhómphụ nữ mại dâm tại 5 tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm vợ, bạntình người nghiện chích ma túy tại Lai châu chỉ thấp hơn tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mạidâm đường phố tại Vĩnh Long và Kiên giang (6.9% ở Vĩnh Long và 5.3% ở Kiên Giang)8 và cao hơn
tỷ lệ chung của nghiên cứu tại 5 tỉnh (3.8% trong nhóm PNMD đường phố và 1.8% trong nhóm phụ
nữ mại dâm nhà hàng)
2 Hôn nhân và quan hệ tình dục với chồng/người yêu Có 87.8% người trả lời cho biết có quan hệtình dục với chồng/người yêu trong vòng 12 tháng qua Trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất vớichồng/người yêu chỉ có 35.6% có sử dụng bao cao su Chỉ có 20.8% cho biết thường xuyên sử dụngBCS và 58.1% cho biết không bao giờ sử dụng BCS trong 12 tháng qua Có 51.5% cho biết là bản thân
họ là người gợi ý sử dụng BCS trong lần quan hệ tình dục đó, 44.7% cho biết là cùng nhau quyết định
và chỉ có 3.9% là do bạn tình gợi ý Lý do không thích dùng (57.5%) là lý do chính giải thích cho việckhông sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất, tiếp đến là lý do không cho sử dụng BCS là cầnthiết (27.5%), đã uống thuốc tránh thai (21.4%) Chỉ có 18.7% đề cập đến lý do không sử dụng là dobạn tình phản đối
Tỷ lệ tự bản thân, tỷ lệ cùng nhau quyết định sử dụng BCS cao và tỷ lệ bạn tình phản đối sử dụngBCS tương đối thấp trong nghiên cứu này phản ánh vai trò khá chủ động của nhóm Vợ/bạn tình củangười nghiện chích ma túy trong việc sử dụng BCS trong QHTD
3 Quan hệ tình dục với các bạn tình khác Chỉ có 11 đối tượng cho biết có quan hệ tình dục với bạntình bất chợt không trả tiền trong 12 tháng qua Trong đó có 6/11 (54.5%) có sử dụng BCS trong lầnQHTD gần đây nhất Trong đó lý do bạn tình phản đối và không thích dùng là 2 lý do chính được kềcập nhiều nhất để giải thích cho việc không sử dụng BCS Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng khôngghi nhận trường hợp nào có hành vi bán dâm trong 12 tháng qua
4 Sử dụng ma túy Có 6.4% (21/329) đối tượng cho biết đã từng sử dụng ma túy, trong đó 12/21(57.1%) sử dụng thuốc phiện, còn lại là sử dụng heroin Có 8/21 (38.1%) đã từng tiêm chích ma túy.Trong số đối tượng có tiêm chích ma túy, có 1/8 đối tượng có sử dụng lại BKT với chồng/người yêutrong tháng qua
5 Kiến thức về HIV Có 76.8% người đã từng nghe nói về HIV/AIDS Tỷ lệ đã từng nghe nói vềHIV/AIDS trong nhóm Vợ/bạn tình của người nghiện chích ma túy tại Lai châu thấp hơn tỷ lệ tương tựtrong nghiên cứu hộ gia đình tại Thái Bình và TP.Hồ Chí Minh (95.4%)9 và kết quả điều tra mẫu cácchỉ tiêu dân số và AIDS 2005 (VPAIS) (93%) Tuy nhiên tỷ lệ này cũng cao hơn nhiều tỷ lệ trongnhóm nữ dân tộc H’Mông (24.6%)10 Trong số những người đã từng nghe nói về HIV/AIDS, có 47.2%
có nghe nói về tiêm chích an toàn, 42.5% nghe nói về tình dục an toàn, 59.1% nghe nói về cai nghiện
ma túy và 77.4% có nghe nói về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Tỷ lệ biết luôn sử dụng bao cao su sẽ làm giảm nguy cơ nhiễm HIV của nhóm Vợ/bạn tình ngườinghiện chích ma túy trong nhóm này là 82.5% (tỷ lệ tính trên tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là63.2%) Tuy nhiên, tỷ lệ cho rằng một người khỏe mạnh có thể mang virut HIV rất thấp, chỉ có 17.1%
6 Điều tra GSTĐ 2009 Cục phòng chống HIV/AIDS, 2009
7 Điều tra GSTĐ 2009 Cục phòng chống HIV/AIDS, 2009
8 Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV và các yếu tố hành vi lây nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm tại các tỉnh miền Tây Nam
Bộ, Bộ Y tế, 2008
9 Điều tra hộ gia đình tỷ lệ nhiễm HIV và các chỉ số về HIV/AIDS tại TP.HCM và Thái Bình, Bộ Y tế, 2005
Trang 18Tỷ lệ hiểu biết đầy đủ và không có quan niệm sai lầm về HIV/AIDS trong nhóm Vợ/bạn tình củangười nghiện chích ma túy là 36/252 (14.3%) (tỷ lệ tính cho toàn bộ cỡ mẫu là 36/329, 10.9%).
10.9
2.4
46.2
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Vợ/người yêu của NCMT
Điều tra 15-49 dân tộc H'Mông, Lai châu, 2009
Điều tra SAVY 2009
Điều tra hộ gia đình tại TB &
HCM, 2005
So sánh tỷ lệ hiểu biết đầy đủ và không có quan niệm sai lầm về HIV/AIDS
Kết quả biểu đồ trên cho thấy, tỷ lệ hiểu biết đầy đủ và không có quan niệm sai lầm về HIV/AIDScủa nhóm Vợ/bạn tình người nghiện chích ma túy trong nghiên cứu này còn rất thấp Tỷ lệ này chỉ caohơn tỷ lệ trong nhóm đồng bào dân tộc H’Mông trong điều tra 2009 tại Lai châu, và thấp hơn nhiều sovới kết quả Điều tra quốc gia về về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ 2 năm 2009 và kếtquả điều tra hộ gia đình tại Thái Bình và thành phố Hồ Chí Minh năm 2005
6 Kiến thức về điều trị và dự phòng lây truyền mẹ con 63.2% người được hỏi biết được HIV có thểlây từ mẹ sang con, tỷ lệ này cao hơn so với 20.2% trong nhóm nữ dân tộc H’Mông11 Tỷ lệ biết về cácgiai đoạn có thể lan truyền HIV trong giai đoạn mang thai và cho con bú là gần tương đương nhau Tỷ
lệ biết đã có thuốc dự phòng lây truyền mẹ con là 45.9%, tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ trong nghiên cứu tạiThái bình và TP Hồ Chí Minh (23.7%) và cao hơn tỷ lệ 39.8% trong nhóm nữ 15-49 dân tộc H’Môngtrong nghiên cứu tại Lai châu năm 2009
Tương tự như trên tỷ lệ biết đã có thuốc điều trị HIV là 57.8%, tỷ lệ này cũng cũng cao hơn tỷ lệghi nhận được trong 2 nghiên cứu đã đề cấp ở trên
7 Tự đánh giá nguy cơ Có 30.4% người cho rằng mình có nguy cơ nhiễm HIV, còn lại là nhữngngười chưa bao giờ nghe nói về HIV (23.4%), tỷ lệ cho là không có nguy cơ chiếm 22.8% và tỷ lệkhông biết là 23.4% Trong đó 92% đề cập lý do là bạn tình có nguy cơ cao, 53% đề cập lý do làkhông dùng BCS và chỉ có 4% đề cập đến lý do là có tiêm chích ma túy, 4% có đề cập lý do là cónhiều bạn tình
8 Nhận được các hỗ trợ về phòng chống HIV/AIDS Có 43.5% cho biết đã nhận được các hỗ trợ vềphòng chống HIV/AIDS Trong đó có 69.9% được khám và điều trị STI, 50.3% có nhận được BCS,10.5% nhận được BKT
9 Xét nghiệm HIV Có 22.5% (74/239) người cho biết đã từng làm xét nghiệm HIV Trong đó,91.8% làm xét nghiệm tự nguyện, còn lại 8.2% là được đề nghị và đồng ý làm xét nghiệm 76.7% chobiết có được tư vấn trước xét nghiệm 71.2% có nhận kết quả xét nghiệm và 78.8% có được tư vấn sauxét nghiệm Tuy nhiên, tính trên tổng số người tham gia nghiên cứu chỉ 34/329 (10.3%) được làm xétnghiệm HIV, nhận kết quả và được tư vấn sau xét nghiệm Mặc dù vậy kết quả này vẫn cao hơn kếtquả trong nghiên cứu hộ gia đình tại Thái Bình và TP.HCM (0.2%) và cao hơn kết quả trong báo cáoUNGASS 200912 (2.9%)
IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận
11 Điều tra hành vi lây nhiễm HIV trong nhóm 15-49 dân tộc H’Mông, Lai châu, 2009
12 UNGASS, 2009
Trang 191 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm Vợ, bạn tình người nghiện chích ma túy là 5.2% Tỷ lệ này caohơn tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai (0.15%, kết quả GSTĐ năm 2009)13 và nhóm phụ
nữ mại dâm (3.2%, kết quả GSTĐ năm 2009)14
2 Nguy cơ lây nhiễm HIV chính trong nhóm này là hành vi quan hệ tình dục không an toàn vớichồng/người yêu Trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất với chồng/người yêu chỉ có 35.6% có sửdụng bao cao su Chỉ có 20.8% cho biết thường xuyên sử dụng BCS và 58.1% cho biết không bao giờ
sử dụng BCS trong 12 tháng qua Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng ma túy trong nhóm này cũng khá cao có6.4% (21/329) đối tượng cho biết đã từng sử dụng ma túy, trong đó 12/21 (57.1%) sử dụng thuốcphiện, còn lại là sử dụng heroin (tỷ lệ đã từng sử dụng ma túy trong nhóm phụ nữ mại dâm nhà hàngtại Hà nội là 17.3%, 1.4% tại Hải Phòng, 9.3% tại TP Hồ Chí Minh)15 Có 8/21 (38.1%) đã từng tiêmchích ma túy Trong số 17 trường hợp nhiễm HIV, có 5 trường hợp có tiền sử nghiện chích ma túy
3 Rào cản cho việc thay đổi hành vi trong nhóm này là trình độ dân trí tương đối thấp: có gần50% đối tượng mù chữ, 20.1% có trình độ tiểu học, 17.9% có trình độ trung học cơ sở, 8.5% có trình
độ phổ thông trung học và 4.0% có trình độ cao đẳng/đại học.Tỷ lệ hiểu biết đầy đủ và không có quanniệm sai lầm về HIV/AIDS là 36/252 (14.3%) (tỷ lệ tính cho toàn bộ cỡ mẫu là 36/329, 10.9%) Tỷ lệbiết luôn sử dụng bao cao su sẽ làm giảm nguy cơ nhiễm HIV của nhóm Vợ/bạn tình người nghiệnchích ma túy trong nhóm này là 82.5% (tỷ lệ tính trên tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là63.2%) Chỉ có 30.4% người cho rằng mình có nguy cơ nhiễm HIV, còn lại là những người chưa baogiờ nghe nói về HIV (23.4%)
4 Tiếp cận các dịch vụ can thiệp còn hạn chế: có 43.5% cho biết đã nhận được các hỗ trợ về phòngchống HIV/AIDS Có 10.3% được làm xét nghiệm HIV, nhận kết quả và được tư vấn sau xét nghiệm
2 KhuyÕn nghÞ
Như đang trình bày trong phần chọn mẫu, đối tượng vợ, bạn tình của người nghiện chích ma túytham gia nghiên cứu này được lựa chọn thông giới thiệu từ nghiên cứu tiến hành song song trên nhómđối tượng nghiện chích ma túy Tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm nghiện chích ma túy là 25.9%, tỷ lệ códùng chung dụng cụ tiêm chích hoặc dụng cụ pha thuốc trong vòng 6 tháng qua là 16% và tỷ lệ thườngxuyên sử dụng BCS khi QHTD với vợ trong vòng 12 tháng qua là 11.9%
Do đó theo những hành vi hiện tại có thể thấy nguy cơ nhiễm HIV từ bạn tình sang nhóm vợ, ngườiyêu là rất lớn Việc triển khai các hoạt động can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV sẽ không nên chỉ dừnglại trong nhóm nghiện chích ma túy mà cần mở rộng cho nhóm vợ, bạn tình của họ
Nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm vợ và bạn tình người nghiện chích ma túy chủ yếu vẫn là hành viquan hệ tình dục không an toàn Trong khi nam giới vẫn đóng vai trò chủ động chính trong quan hệtình dục nên việc thay đổi nhận thức và hành vi của nam giới về tình dục an toàn để đảm bảo dự phònglây nhiễm HIV cho bạn tình là rất quan trọng Thông điệp truyền thông chuyển tải đến nam giới nóichung và nam nghiện chích ma túy nói riêng trong nghiên cứu này nên không chỉ dừng lại ở không sửdụng chung BKT và dụng cụ tiêm chích, sử dụng BCS khi QHTD có nguy cơ mà nên bao gồm cả sửdụng BCS khi QHTD với vợ, người yêu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Cục phòng chống HIV/AIDS 2009 Báo cáo kết quả giám sát trọng điểm năm 2009
2 Bộ Y tế 2008 Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV và các yếu tố hành vi lây nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ
3 Bộ Y tế 2005 Điều tra hộ gia đình tỷ lệ nhiễm HIV và các chỉ số về HIV/AIDS tại TP.HCM và Thái Bình
4 Ban quản lý dự án phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam 2009 Nghiên cứu hành vi lây nhiễm HIV trong nhóm dân tộc H’Mông tại Lai châu
5 Bộ Y tế 2000 Báo cáo kết quả giám sát hành vi năm 2000
6 Bộ Y tế 2009 Báo cáo UNGASS
13 Điều tra GSTĐ 2009 Cục phòng chống HIV/AIDS, 2009
14 Điều tra GSTĐ 2009 Cục phòng chống HIV/AIDS, 2009
Trang 20THỰC TRẠNG NHIỄM HIV VÀ NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI
VỀ LÂY NHIỄM HIV/AIDS CỦA PHẠM NHÂN TẠI TRẠI GIAM TỈNH ĐIỆN BIÊN NĂM 2009
BS CKI Hoàng Xuân Chiến
Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Điện Biên
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại trại giam tỉnh Điện Biên Đối
tượng nghiên cứu là phạm nhân của trại giam Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2009 đến 08/2009.
Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả, với
cuộc điều tra cắt ngang (Cross secsional study)
Thiết kế nghiên cứu: Gồm hai phần
Phần thứ nhất: Lấy mẫu máu của phạm nhân để xét nghiệm khẳng định nhiễm HIV.
Phần thứ hai: Phỏng vấn phạm nhân bằng phiếu phỏng vấn đã được thiết kế sẵn, để xác định nhậnthức, thái độ, hành vi của phạm nhân về HIV/AIDS; xác định các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV/AIDS trong trại giam
Cỡ mẫu : Áp dụng cho cả 2 mục tiêu, được tính theo công thức tính cỡ mẫu tối thiểu của nghiên
Các biến số và chỉ số nghiên cứu:
Các vấn đề liên quan đến lý lịch của phạm nhân: Tên, tuổi, dân tộc, kinh tế gia đình, nghề nghiệp,trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, tình trạng hôn nhân của bản thân, tội danh
Thực trạng nhiễm HIV ở phạm nhân
Tình hình nhiễm HIV/AIDS của phạm nhân theo đặc điểm cá nhân
Tình hình nhiễm HIV/AIDS của phạm nhân theo đặc điểm gia đình
Các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV ở phạm nhân:
Kiến thức, thái độ, thực hành của phạm nhân về lây nhiễm HIV/AIDS
Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu:
Kỹ thuật xét nghiệm ELISA
Trang 21Kỹ thuật xét nghiệm sàng lọc HIV bằng Test nhanh Determine.
Phiếu điều tra KAP
Thảo luận nhóm:
Xử lý số liệu: Bằng phần mềm EPI - INFO 6.04 (WHO, 1998) và các thuật toán thống kê y sinh
học
Hạn chế trong nghiên cứu: Một số phạm nhân là người dân tộc không biết tiếng kinh, không biết
chữ; do đó trong quá trình phỏng vấn phải thông qua phiên dịch, nên kết quả phỏng vấn không thểtránh khỏi những sai sót
Đạo đức trong nghiên cứu: Các phạm nhân được lựa chọn vào nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện,
không bị ép buộc Các thông tin về đối tượng đều bảo đảm yếu tố bí mật và chỉ phục vụ cho mục đíchnghiên cứu
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thực trạng nhiễm HIV/AIDS của phạm nhân và một số yếu tố liên quan tại Trại giam tỉnh Điện Biên năm 2009.
Tỷ lệ phạm nhân nhiễm HIV ở Trại giam tỉnh Điện Biên năm 2009 là 10,25% Phạm nhân HIVdương tính cao nhất ở nhóm tuổi từ 26- 29 (12,2%) 16% phạm nhân dân tộc Thái và 11,5% phạmnhân dân tộc kinh nhiễm HIV Phạm nhân làm nghề nông nghiệp nhiễm HIV chiếm tỷ lệ cao nhất10,3%
Tỷ lệ phạm nhân trình độ học vấn trung học cơ sở nhiễm HIV cao nhất (16%), Thứ hai là nhómphạm nhân mù chữ ( 10%)
Phạm nhân nhiễm HIV cao nhất ở nhóm độc thân( 16,3%) Phạm nhân nhiễm HIV cao nhất ở nhóm
có nguồn thu nhập do gia đình cung cấp (14,8%)
Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phạm nhân vào trại 24 tháng (29,3%) nhóm đã ở trại trên 24 tháng
(0,7%) có ý nghĩa thống kê ( p < 0,001)
Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phạm nhân đã QHTD (8,3%); nhóm chưa QHTD (24,5%) có ý nghĩathống kê (p < 0,001) Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phạm nhân không dùng BCS khi QHTD (4,4%) thấphơn nhóm có dùng BCS (9,6%) không có ý nghĩa thống kê ( p >0,05)
Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phạm nhân NCMT là 38,1%; nhóm không NCMT là 0,3%; có ý nghĩathống kê (p < 0,001) Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phạm nhân nghiện ma tuý có TCMT là 44%; 0,3%nhóm không TCMT nhiễm HIV; có ý nghĩa thống kê ( p < 0,01)
Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phạm nhân TCMT có chích chung BKT là 53,6%; nhóm không chíchchung (1,2%) có ý nghĩa thống kê (OR = 7,3; p < 0,001) Nguy cơ nhiễm HIV của nhóm có chíchchung BKT cao hơn nhóm không chích chung 7,3 lần 45,3% phạm nhân TCMT có dùng lại BKTnhiễm HIV; có ý nghĩa thống kê ( p < 0,001)
22,9% phạm nhân có xăm trổ trước khi vào trại giam nhiễm HIV; nhóm không xăm trổ là 9%, có ýnghĩa thống kê (OR = 2,98; p < 0,05) Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phạm nhân có xăm trổ trong trại giam
là 23,1%, nhóm không săm trổ là 9,8%, không có ý nghĩa thống kê ( p > 0,05)
Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phạm nhân có cấy dị vật dương vật là 33,9%, nhóm không cấy là 9,9%,không có ý nghĩa thống kê (( p > 0,05)
2 Nhận thức, thái độ, hành vi của phạm nhân về HIV/AIDS trong trại giam tỉnh Điện Biên năm 2009.
73,7% phạm nhân biết HIV lây qua đường máu; 68,7% phạm nhân biết HIV lây qua QHTD; 58,5%phạm nhân biết HIV lây từ mẹ sang con
70 % phạm nhân nhận được thông tin về đường lây truyền HIV/AIDS; 62,7% phạm nhân nhậnđược thông tin về cách phòng lây nhiễm HIV; Có 39,5% phạm nhân không biết về tác nhân gây nhiễmHIV
68,7% phạm nhân hiểu không TCMT và 45,7% phạm nhân hiểu dùng BCS khi QHTD sẽ phòngđược lây nhiễm HIV
48% phạm nhân cho là chưa có thuốc điều trị bệnh AIDS; 42,3% phạm nhân không biết về thuốcđiều trị AIDS
Không có phạm nhân nào phân biệt, đối xử, kỳ thị hoặc xa lánh phạm nhân nhiễm HIV
Trang 22Có 13,1% phạm nhân chung, 24,2% phạm nhân HIV(+) QHTD với gái bán dâm có 17,7% phạm
nhân chung dùng BCS khi QHTD với gái bán dâm
13,2% phạm nhân không bao giờ làm sạch BKT, 32,9% phạm nhân làm sạch BKT bằng cách súcbằng nước lã Không có phạm nhân nào sử dụng ma tuý trong trại giam
Có 67,5% phạm nhân có kiến thức về phơi nhiễm HIV,62,7% phạm nhân biết cách xử trí tình trạngphơi nhiễm HIV
IV KIẾN NGHỊ
Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi đề xuất một số kiến nghị như sau:
Tăng cường hơn nữa các phương tiện và hoạt động truyền thông nhằm nâng cao kiến thức, thái độ,thực hành về HIV/AIDS cho phạm nhân và cán bộ, chiến sỹ để thay đổi hành vi giúp giảm thiểu lâynhiễm HIV cho cá nhân và cộng đồng
Nâng cấp cơ sở vật chất, bổ sung thêm trang thiết bị y tế phục vụ cho công tác quản lý, chăm sóc, tưvấn và điều trị ARV và điều trị nhiễm trùng cơ hội cho phạm nhân HIV/AIDS
Tổ chức xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV cho 100% phạm nhân nhập trại Tổ chức thực hiện mộtquy trình có hệ thống để thu thập dữ liệu về thực trạng nhiễm HIV/AIDS thông qua giám sát dịch tễhọc định kỳ cho phạm nhân trên phạm vi toàn quốc
NGHIÊN CỨU HÀNH VI VÀ CÁC CHỈ SỐ SINH HỌC HIV/STI
TRÊN NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI CẦN THƠ, 2006 - 2007
Lại Kim Anh, Nguyễn Thanh Long, Đỗ Văn Dũng, Hoàng Đình Cảnh (VAAC) và cộng sự
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Thành phố Cần Thơ là địa phương có tỉ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân đứng thứ 10 cả nước Cùngvới sự phát triển kinh tế xã hội, tệ nạn ma túy, mại dâm cũng đang có chiêud hướng gia tăng, kéo theođại dịch HIV/AIDS Hiện nay, mỗi năm Cần Thơ phát hiện khoảng 750 – 800 trường hợp nhiễm HIV.100% quận/huyện và xã/phường ở Cần Thơ đều đã phát hiện người nhiễm HIV Các quận nội ô: NinhKiều, Cái Răng, Bình Thủy và Ô Môn có số trường hợp nhiễm HIV chiếm trên 80% các trường hợpnhiễm của toàn thành phố
Để bổ sung cho những thông tin thiếu hụt về tỉ lệ hiện nhiễm HIV, STI và những hành vi làm lâylan HIV trong nhóm nghiện chích ma túy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Hành vi và các chỉ số sinhhọc HIV/STI trên nhóm nghiện chích ma túy tại Cần Thơ 2006 - 2007” với các mục tiêu sau đây:
1 Xác định tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT
2 Tìm hiểu hành vi nguy cơ nhiễm HIV trong các nhóm nghiện chích ma túy
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2006 đến tháng 6/2007
- Địa điểm nghiên cứu: nội ô thành phố Cần Thơ
2 Cỡ mẫu
Với mục đích mô tả tỉ lệ hiện nhiễm HIV, STI, các hành vi dùng BCS và dùng BKT, cỡ mẫu ướclượng lấy từ mỗi nhóm quần thể được tính toán dựa theo công thức:
2 2
) 2 1 (
)1
(
d
p p
Z
Trong đó: p là tỉ lệ sử dụng BCS và dùng riêng BKT, ước lượng p=0,5
Z là hệ số tin cậy lấy theo α Lấy α = 0,05 thì )
2 1 (
Z
)=1,96;
d là sai số cho phép, lấy d = 0,06
Trang 23Thay vào công thức ta có: N = 267
Cỡ mẫu dự kiến thu thập cho mỗi nhóm nguy cơ là 300 mẫu
3 Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu được tiến hành sau khi đã lập bản đồ các tụ điểm của nhóm NCMT Chọn mẫu dâychuyền có kiểm soát tại 36 tụ điểm, dự kiến bắt đầu từ 6 hạt giống và thực hiện 4 - 6 đợt tuyển chọn
4 Tiêu chí chọn mẫu: là nam giới, 18 tuổi trở lên, hiện đang TCMT ở thành phố Cần Thơ vào
thời điểm nghiên cứu và tự nguyện tham gia nghiên cứu
5 Thu thập dữ liệu: Phỏng vấn và xét nghiệm máu
6 Xử lý dữ liệu: bằng phần mềm STATA bản 8.2 được dùng để phân tích các dữ liệu này Sử dụng
phép kiểm χ2, Fisher's exact, tính PR với khoảng tin cậy 95%
III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1 Đặc điểm của nhóm NCMT
Về độ tuổi: dưới 30 chiếm tỉ lệ cao ở nhóm NCMT (71%) Kết quả này ở nhóm NCMT cao hơn sovới nghiên cứu của năm 2000 ở Cần Thơ (57%), cho thấy xu hướng trẻ hoá của nhóm NCMT, phù hợpvới nhận định có thể có làn sóng sử dụng ma túy trẻ thay thế cho nhóm NCMT từ trước 1975 Nhómtuổi này ở nhóm NCMT tại Cần Thơ cao hơn so với nghiên cứu ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, ĐàNẵng và tương đương với An Giang
Về trình độ học vấn, nhóm NCMT có trình độ phổ thông cơ sở cao (51% Đối với nhóm NCMT,tuổi học phổ thông cơ sở là tuổi thay đổi tâm sinh lý, dễ đua đòi, dễ bị bạn bè rủ rê lôi kéo sử dụng matuý Đây là một thử thách lớn đối với hoạt động truyền thông cũng như giáo dục tạo việc làm vàchuyển nghề cho họ
Về nghề nghiệp của nhóm NCMT, theo kết quả nghiên cứu, hầu hết đối tượng NCMT thất nghiệp,làm nghề tự do và các nghề khác như buôn bán nhỏ, nhặt ve chai (71%) Có thể do trình độ học vấncủa họ thấp, sức khoẻ kém nên họ khó tìm được việc làm ổn định, nhưng nhóm này cũng có một đặctính là lười lao động
Về mức thu nhập hàng tháng của nhóm NCMT, hầu hết là có mức thu nhập bình quân hàng tháng từ500.000 - <1.500.000 (69%), không có thu nhập chiếm tỉ lệ thấp (1%) Điều này phù hợp với trình độhọc vấn thấp và nghề nghiệp không ổn định đã nêu ở trên Trình độ văn hoá thấp, nghề nghiệp không
ổn định, thu nhập thấp, có thể dẫn đến người NCMT đến những việc làm phi pháp để đáp ứng nhu cầuhàng ngày và nhu cầu tiêm chích
2 Hành vi và chỉ số sinh học của nhóm NCMT
Trong số đối tượng NCMT được nghiên cứu, hầu hết ở độ tuổi ≤ 25 (72%), trong đó 39% sử dụng
ma tuý trước tuổi 20 Trong khi đó, hầu hết người NCMT đã có thời gian sử dụng ma tuý trên 1 năm,chứng tỏ nhiều người trong nhóm này đã sử dụng ma tuý lần đầu rất gần với tuổi vị thành niên, lànhóm tuổi học trò đang có những thay đổi về tâm sinh lý nên dễ bị tác động của bạn bè và môi trường
xã hội Kết quả này cho thấy cần phải có những chương trình giáo dục về ma tuý sớm cho học sinhtrung học cơ sở và trung học phổ thông Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Lê Bích Ngọc, NguyễnHoàng Tùng, Ngô Thị Thanh Hương, Nguyễn Bảo Châu tại Hà Nội, năm 2005 tại Hà Nội
Đa số nhóm NCMT đều có thời gian sử dụng ma túy (98%) và TCMT (96%) từ 1 năm trở lên saukhi biết sử dụng ma tuý họ sẽ chuyển sang sử dụng bằng cách tiêm chích rất nhanh, có thể do tiêmchích sẽ “phê hơn” hoặc tiết kiệm được tiền hơn Vì thế cần có giải pháp phát hiện sớm những người
sử dụng ma tuý để can thiệp kịp thời trước khi họ chuyển sang tiêm chích hoặc can thiệp để có hành vitiêm chích an toàn ngay trong những lần tiêm chích đầu tiên
Tần suất sử dụng ma tuý cao nhất là từ 2-3 lần/ngày (50%), phù hợp với tỉ lệ cao những ngườiTCMT có thời gian tiêm chích trên 1 năm đã tăng liều sử dụng Những người này họ sẽ cần nhiều tiềnhơn cho việc mua thuốc để tiêm chích trong khi thu nhập thấp và nghề nghiệp không ổn định, sẽ dẫnđến nguy cơ từ NCMT dễ dàng trở thành người buôn bán ma túy hoặc làm những việc phi pháp khác
để có thu nhập đáp ứng nhu cầu TCMT Bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều người TCMT tại Cần Thơ cótần suất tiêm chích 1 lần hoặc ít hơn mỗi ngày Cho thấy cần phải nắm bắt sớm cơ hội này để triển khaitiếp cận can thiệp sớm nhằm giúp họ không tăng liều và thuận lợi cho triển khai cấp phát BKT sạch:cung cấp cho họ 1 BKT dễ hơn và rẻ tiền hơn cung cấp 2 – 3 hoặc 4 BKT mỗi ngày So sánh vớinghiên cứu của Đại học Y Hà Nội, Cục phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế tại 7 tỉnh biên giới (2003),
Trang 24tần suất TCMT ≤ 1 lần/ngày ở Cần Thơ ít hơn các tỉnh (30-76%) cho thấy nguy cơ của nhóm NCMT ởCần Thơ cao hơn [5],[63],[64].
mà người khác vừa dùng xong tương đương nhau (17% và 14%); Tỉ lệ dùng chung thuốc và dụng cụpha thuốc trong vòng 6 tháng trước nghiên cứu và trong lần tiêm chích cuối cùng lần lượt là 35% và32% Chứng tỏ sự khai báo hành vi tiêm chích không an toàn có thể có sai lệch hồi tưởng theo thờigian Kết quả này cao hơn so với kết quả tại 1 số tỉnh thuộc nghiên cứu của dự án Ngân hàng châu Á ở
5 tỉnh đồng bằng Sông Cửu long năm 2004 và 7 tỉnh biên giới năm 2003 (18,7% - 37,6%)
Tỉ lệ sử dụng BKT mới trong lần tiêm chích cuối cùng cao (91%), nhưng tỉ lệ dùng chung thuốc vàdụng cụ pha thuốc cũng còn cao; do đó, tỉ lệ có hành vi tiêm chích đúng trong 1 tháng trước nghiêncứu chỉ 46% Cho thấy những người NCMT chưa có đủ thông tin về tiêm chích an toàn, cần cải thiệnthông điệp truyền thông hướng tới những thay đổi hành vi cụ thể, rõ ràng hơn
4 Tiền sử QHTD và số lượng các loại bạn tình của nhóm NCMT:
Mặc dù tỉ lệ có gia đình của nhóm NCMT dưới 20%, nhưng đến 66% người NCMT có QHTD lầnđầu trước 20 tuổi Trong khi đó, tỉ lệ người NCMT sử dụng ma túy lần đầu trước 20 tuổi gần 40% Tỉ
lệ người NCMT vẫn có QHTD trong 12 tháng qua là 78% Cho thấy đa số đối tượng vừa có QHTD,vừa có sử dụng ma túy khi còn rất trẻ Có thể trong nhóm này khi sử dụng ma tuý họ có nhu cầuQHTD cao, họ cũng có thể bị rủ rê sử dụng ma tuý khi QHTD hoặc ngược lại Kết quả này phù hợpvới nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu và đào tạo HIV/AIDS, trường Đại học Y Hà Nội (2005) sửdụng phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng về mối liên quan giữa bắt đầu sử dụng
ma túy và bắt đầu QHTD
Về QHTD với GMD, so với các tỉnh cùng nghiên cứu, kết quả tại Cần Thơ (23%) cao hơn một sốtỉnh khác (14 % - 20%), thấp hơn Đà Nẵng (35%) và An Giang (43%) Tỉ lệ này thấp hơn ở An Giang,
có thể do đặc trưng của An Giang là tỉnh biên giới nên hoạt động mại dâm phổ biến hơn Cần Thơ
5 Sử dụng BCS khi QHTD với các loại bạn tình của nhóm NCMT
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng BCS khi QHTD (trong 12 tháng và lần gần nhất) vớiGMD chiếm tỉ lệ cao nhất (57-68%), kế đến là với BTKTX (29-37%), thấp nhất là với BTTX (20-30%) Sự khác nhau về các tỉ lệ này có thể giải thích như sau: họ sử dụng BCS với GMD vì sợ lâybệnh, còn đối với BTTX và BTKTX họ tin tưởng hơn, hiểu rõ hơn nên ít sử dụng BCS hơn Đây làđiểm cần lưu ý vì QHTD an toàn là khi luôn luôn sử dụng BCS với tất cả các loại bạn tình
Kết quả này tương đương với kết quả giám sát hành vi năm 2000 tại Cần Thơ: 57% với GMD, 23%với BTTX và 25% với BTKTX [22] Tỉ lệ sử dụng BCS với GMD cao hơn kết quả nghiên cứu của dự
án Ngân hàng châu Á năm 2004 tại An Giang (30,4%) và tương đương với Kiên Giang (63,6%) [5],[32] So sánh với nghiên cứu cùng thời điểm thì tỉ lệ luôn luôn sử dụng BCS trong 12 tháng qua vớiGMD tại Cần Thơ cao hơn An Giang
Nghiên cứu dự báo xu hướng đan xen giữa hành vi TCMT và hành vi tình dục không an toàn trongnhóm NCMT có thể làm lây truyền HIV đến bạn tình và bạn chích Đồng thời cho thấy sự hạn chế nhấtđịnh về kiến thức và thực hành an toàn tình dục thể hiện ở tỷ lệ sử dụng BCS rất thấp với BTTX vàBTKTX Đặc biệt, với phần đông đối tượng NCMT <30 tuổi, đang trong độ tuổi sinh đẻ thì khả nănglây truyền sang BTTX và từ đó lây truyền sang con của họ là có thể có
6 Hiểu biết về triệu chứng và tình trạng STI của nhóm NCMT
Kiến thức về nhận biết các triệu chứng của STI ở nhóm NCMT thấp Người biết những triệu chứngđiển hình như chảy mủ, tiết niệu đạo hoặc loét, sùi ở bộ phận sinh dục chỉ chiếm tỉ lệ từ 11-39% Triệuchứng đau vùng bụng có tỉ lệ người biết thấp nhất (2%) Trong khi đó, 12 tháng qua có 13% cho biết
có ít nhất một trong các triệu chứng điển hình Có thể nhóm NCMT ngoài việc thiếu kiến thức về STI,thì có thể họ chỉ quan tâm đến những dấu hiệu cụ thể như các biểu hiện ở cơ quan sinh dục, còn cácdấu hiệu khác thì họ không nghĩ tới So với nghiên cứu cùng thời điểm, kết quả báo cáo có triệu chứng
Trang 25STI cao hơn Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, tương đương với Đà Nẵng, thấp hơn An Giang (22%)
và thành phố Hồ Chí Minh (41,6%) Tỉ lệ xét nghiệm giang mai dương tính (2%), thấp hơn Đà Nẵng,
An Giang, thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng
7 Kiến thức, nhận thức nguy cơ và tình trạng nhiễm HIV của nhóm NCMT
So với kiến thức về STI, kiến thức đúng về phương pháp phòng tránh và nhận biết các sai lầm vềđường lây truyền HIV ở nhóm NCMT chiếm tỉ lệ cao (89%) Có thể do lo sợ lây nhiễm HIV nhiều hơnnên họ tìm hiểu kiến thức này nhiều hơn Nhưng có thể đây cũng là kết quả của chương trình truyềnthông phòng, chống HIV/AIDS đã được triển khai từ nhiều năm nay tại Cần Thơ Tỉ lệ này cao hơnnghiên cứu của dự án Ngân hàng châu Á năm 2004 (62%)
Tự nhận thức về hành vi nguy cơ nhiễm HIV ở nhóm NCMT dưới 45%, tỉ lệ này giải thích tại sao tỉ
lệ dùng chung thuốc, dụng cụ pha thuốc, tỉ lệ cho mượn và nhận BKT vừa sử dụng còn cao đã nêu ởtrên Ngay cả trong số có hành vi sử dụng chung BKT hoặc không sử dụng BCS thường xuyên vớiGMD trong vòng 6 tháng trước nghiên cứu mỗi nhóm vẫn còn 30% cho rằng mình không có nguy cơnhiễm HIV Một lần nữa cho thấy thông điệp truyền thông cần được xây dựng rõ ràng, cụ thể để nhữngngười này có thể nhận biết đúng đối với các hành vi an toàn tiêm chích
Kết quả nghiên cứu cho biết tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT rất cao 44,5%, có nghĩa là cứ
2 người NCMT tại Cần Thơ thì có gần 1 người bị nhiễm HIV Tỉ lệ này tương đương với kết quả giámsát trọng điểm HIV các năm qua trong nhóm này tại Cần Thơ; cao hơn tại An Giang (13%) và thànhphố Hồ Chí Minh (34%) cùng thời điểm Kết quả nàyốc thể giải thích bởi thực tế dịch trong nhómNCMT tại An Giang xuất hiện sau Cần Thơ và tại thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết những ngườiNCMT ở thời điểm nghiên cứu tại cộng đồng có thể là nhóm có thời gian sử dụng ma tuý ít hơn tạiCần Thơ
8 Tiền sử xét nghiệm HIV và tiếp cận với các can thiệp dự phòng của nhóm NCMT
Về tiền sử xét nghiệm HIV: kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ đã từng xét nghiệm HIV ở nhómNCMT thấp (27%) Mặc dù chương trình tư vấn xét nghiệm tự nguyện miễn phí dấu tên đã được triểnkhai tại Cần Thơ từ năm 2004 và đã được quảng bá rộng rãi, nhưng cũng chỉ có 18% những người đãxét nghiệm HIV (14/80) nhận được dịch vụ này So với mẫu nghiên cứu, tỉ lệ này chỉ chiếm 5%(14/299) Như vậy, sẽ còn rất nhiều người NCMT đã nhiễm HIV chưa biết được tình trạng nhiễm củamình, chưa được tư vấn phòng ngừa và chưa được chăm sóc hỗ trợ Tỉ lệ này thấp có thể do các đốitượng NCMT không quan tâm đến dịch vụ này, cũng có thể do sự kỳ thị của cộng đồng làm hạn chếnhững người này tiếp cận dịch vụ
Tỉ lệ người NCMT đã từng vào Trung tâm 06 là 39%, trong số đó có 46% đã từng vào 2 lần trở lên.Cao hơn kết quả cùng nghiên cứu ở An Giang (21% và 7%), thành phố Hồ Chí Minh (23% và 6%); cóthể do người NCMT ở Cần Thơ có thời gian sử dụng ma tuý lâu hơn
Tỉ lệ người NCMT nhận được BKT (12%) và BCS (14%) là rất thấp trong khi tỉ lệ nhiễm HIVtrong nhóm này rất cao (44,5%) Có thể cần phải xem xét lại có phải do thiếu BKT và BCS hay dochương trình tiếp cận đồng đẳng chưa đủ đồng đẳng, hay do chất lượng tiếp cận của đồng đẳng Đồngthời cũng thể do mặc cảm với sự kì thị của cộng đồng nên nhóm NCMT không tiếp cận với cácchương trình này
Trang 26Kiến thức về HIV cao ( >90% hiểu biết đúng) nhưng kiến thức về STI thấp Tỉ lệ tự nhận biết cáctriệu chứng STI rất thấp, trong khi tỉ lệ báo cáo đã từng có ít nhất 1 triệu chứng của STI cao Mặc dù ởtrong nhóm có nguy cơ cao, nhưng tỉ lệ tự nhận biết hành vi nguy cơ rất thấp (44% NCMT)
4 Thực hành hành vi dự phòng
Nhóm NCMT tỉ lệ dùng BKT mới trong lần chích cuối cao (91%) nhưng tỉ lệ có hành vi tiêm chíchđúng chỉ 46%; bên cạnh đó những người NCMT sử dụng BCS với các loại bạn tình rất thấp (BTTX
<30%)
5 Tỉ lệ hiện nhiễm HIV/STI
- Tỉ lệ hiện nhiễm HIV rất cao trong nhóm NCMT (44,5%)
- Tỉ lệ hiện nhiễm giang mai nhóm NCMT 2%
6 Tiếp cận với các can thiệp:
- Tỉ lệ tiếp cận với VCT rất thấp ở nhóm NCMT (5%), tiếp cận thấp với can thiệp dự phòng quaTCMT, tỉ lệ nhận được BKT< 20%
4 Tạo điều kiện để cho NCMT tăng tiếp cận với các can thiệp dự phòng, nhất là VCT và BKT
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Bộ Y tế (2005), Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2000 – 2005, Tạpchí Y học thực hành, số 528,529
2 Bộ Y tế (2007), Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STItại Việt Nam 2005 - 2006
3 Bộ Y Tế (2008), Báo cáo kết quả hoạt động Phòng, chống HIV/AIDS 2007 và kế hoạch 2008
4 Douglas D Heckartthorn, Salaam Semaan, Robert Broadhead và cộng sự (2003), “Mở rộngphương pháp chọn mẫu thông qua người được giới thiệu: Một cách tiếp cận mới trong nghiên cứungười NCMT ở độ tuổi 18 – 25”, Bệnh AIDS và hành vi, Vol.6, No.1
5 Đỗ Văn Dũng (2007), Phương pháp nghiên cứu khoa học và phân tích thống kê với phần mềmSTATA 8.0, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh
6 Trương Xuân Liên, Lương Thu Trâm, Nguyễn Hoàng Lan, Phạm Văn Hưng, Nguyễn VănNgái, Nguyễn Hữu Chí, J.Y.Follezou, H.J.A.Fleury, F Barre-Sinousi, Bước đầu tìm hiểu các đặc tínhsinh học nhiễm HIV trên nhóm đối tượng tiêm chích ma tuý tại thành phố Hồ Chí Minh
7 Douglas D Heckathorn, Salaam Semaan, Robert S Broadhead, and James J Hughes (2002),Extensions of Respondent-Driven Sampling: A New Approach to the Study of Injection Drug UsersAged 18-25, AIDS and Behavior
8 Heckathorn, D 2005b RDSAT, version 5.0 Cornell University, Ithaca, NY
NGHIÊN CỨU HÀNH VI VÀ CÁC CHỈ SỐ SINH HỌC HIV/STI
TRÊN NHÓM PHỤ NỮ MẠI DÂM TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ, 2006 - 2007
Lại Kim Anh, Nguyễn Thanh Long, Đỗ Văn Dũng, Hoàng Đình Cảnh, Phạm Đức Mạnh và cộng sự
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 27Thành phố Cần Thơ là khu vực trung tâm và phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long, vừa cónhững đặc điểm tương đồng với các tỉnh trong khu vực về văn hoá - xã hội, vừa có những nét riêng củamột thành phố trực thuộc Trung ương Cùng với sự phát triển về kinh tế, Cần Thơ đã và đang thu hútnguồn lao động trẻ đến làm việc và sinh sống, nhiều dịch vụ vui chơi giải trí được hình thành và pháttriển Từ đó cũng phát sinh một số hoạt động liên quan đến tệ nạn mại dâm, ma túy Theo báo cáo củachương trình phòng, chống HIV/AIDS Cần Thơ, nguy cơ lây truyền HIV tại Cần Thơ có sự đan xengiữa hành vi TCMT và QHTD không an toàn Từ năm 2000, nhiều chương trình can thiệp dự phòngHIV được triển khai nhưng tỉ lệ nhiễm HIV trong các nhóm nguy cơ vẫn rất cao Để bổ sung chonhững thông tin thiếu hụt về tỉ lệ hiện nhiễm HIV, STI và những hành vi làm lây lan HIV trong nhómphụ nữ mại dâm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI trênnhóm phụ nữ mại dâm tại thành phố Cần Thơ 2006 - 2007” với các mục tiêu sau đây:
3 Tìm hiểu hành vi nguy cơ và các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV trong các nhóm mại dâmđường phố và mại dâm nhà hàng, khách sạn ở thành phố Cần Thơ
4 Xác định tỉ lệ hiện nhiễm HIV/STI trong nhóm phụ nữ mại dâm ở thành phố Cần Thơ
Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng góp phần đưa kết quả của nghiên cứu khoahọc áp dụng vào việc xây dựng kế hoạch và cải thiện các chương trình can thiệp một cách hiệu quả,nhằm giúp cho cộng đồng và đối tượng nguy cơ cao được bảo vệ trước đại dịch HIV/AIDS Với mongmuốn đó, chúng tôi cố gắng tìm ra những phát hiện riêng, đặc thù trên địa bàn Cần Thơ về các hành vinguy cơ làm lây nhiễm HIV và những vấn đề cốt lõi cho công tác can thiệp dự phòng, đồng thời đưa ranhững vấn đề làm cơ sở cho nghiên cứu sau này
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2006 đến tháng 6/2007
- Địa điểm nghiên cứu: nội ô thành phố Cần Thơ
2 Cỡ mẫu
Với mục đích mô tả tỉ lệ hiện nhiễm HIV, STI, các hành vi dùng BCS và dùng BKT, cỡ mẫu ướclượng lấy từ mỗi nhóm quần thể được tính toán dựa theo công thức:
2 2
) 2 1 (
)1
(
d
p p
Z
Thay vào công thức ta có: N = 267
Cỡ mẫu dự kiến thu thập cho mỗi nhóm nguy cơ là 300 mẫu
3 Phương pháp chọn mẫu : Nghiên cứu được tiến hành sau khi đã lập bản đồ các tụ điểm của
từng nhóm nguy cơ
MDĐP Chọn toàn bộ từ 35 tụ điểm Lập bản đồ ước lượng số MDĐP tối đa dưới 200 MDNH Chọn mẫu chùm 2 giai đoạn kiến thu thập Khung mẫu đủ lớn để chọn lựa chùmLâp bản đồ ước lượng quần thể lớn hơn cỡ mẫu dự
Tiêu chí chọn mẫu
- Nhóm GMD: ở độ tuổi 18 tuổi trở lên, có QHTD để kiếm tiền ít nhất một lần trong vòng mộttháng trước cuộc nghiên cứu, làm việc trên đường phố (MDĐP) hoặc các tụ điểm như quán karaoke,các điểm massage, các nhà hàng, khách sạn hoặc các cơ sở dịch vụ giải trí (MDNH)
- Tiêu chí loại trừ: Người có rối loạn tâm thần, người không tự nguyện tham gia
4 Thu thập dữ liệu: Phỏng vấn và xét nghiệm máu
- Các chỉ số sinh học: xét nghiệm máu theo qui trình
+ Sau khi kết quả phỏng vấn, người trả lời được hướng dẫn đến phòng xét nghiệm để lấy 10ml máutĩnh mạch; họ được giải thích địa điểm và thời gian nhận kết quả xét nghiệm
+ Xét nghiệm huyết thanh HIV được tiến hành theo chiến lược III để sàng lọc và khẳng định chẩnđoán dương tính:
Trang 28+ Xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán giang mai được tiến hành bằng huyết thanh bảo quản lạnh,phương pháp RPR để sàng lọc và xác chuẩn bằng phương pháp TPHA
5 Xử lý dữ liệu: bằng phần mềm STATA bản 8.2 được dùng để phân tích các dữ liệu này Sử dụng
phép kiểm χ2, Fisher's exact, tính PR với khoảng tin cậy 95%
Trang 29III KẾT QUẢ
1 Những đặc tính của 2 nhóm mại dâm
Bảng 1 Tuổi của 2 nhóm mại dâm
Bảng 2 Trình độ học vấn của 2 nhóm mại dâm
- MDNH có 3% góa, tỉ lệ ly hôn hoặc ly thân ở nhóm này chiếm 41% Chỉ 14% MDNH đang có giađình, số chưa lập gia đình chiếm 41%
- MDĐP ở trong tình trạng góa là 7%, ly hôn hoặc ly thân chiếm 47% Trong nhóm MDĐP chỉ có15% là chưa lập gia đình
2 Hành vi và các chỉ số sinh học của 2 nhóm mại dâm
Bảng 3 Thời gian bán dâm của 2 nhóm mại dâm
Đã bán dâm ở Cần Thơ
Có 86 MDĐP và 182 mại dâm nhà hàng trả lời về sử dụng BCS khi QHTD với BTTX Trong đó:+ Chỉ có 21% MDĐP và 12% MDNH thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD trong vòng 1 thángqua với BTTX
Biểu đồ : Kiến thức về STI của MDĐP
Trang 30Sử dụng BCS khi QHTD với BTTX
0 5 10 15 20 25 30 35
Có sử dụng trong lần QHTD gần nhất
Thường xuyên sử dụng khi QHTD trong vòng 12 tháng
Có 153 MDĐP và 241 MDNH trả lời về sử dụng BCS khi QHTD với khách lạ Tỉ lệ sử dụng BCStrong lần QHTD gần nhất đều đạt 99% ở cả 2 nhóm Tỉ lệ thường xuyên sử dụng BCS trong vòng 1tháng qua là 92% ở MDĐP và 95% ở MDNH
- Chỉ 4 MDNH đã từng sử dụng ma túy, 3 người sử dụng ma túy bằng cách tiêm chích Thời gian sửdụng ma tuý trung bình là 4,5 năm, trung vị là 4 năm; Thời gian TCMT trung bình của MDNH là 2,3năm, trung vị là 2 năm
Bảng 5 Tần suất TCMT trong vòng 1 tháng của 2 nhóm mại dâm
- MDĐP tiêm chích ma tuý có tần suất tiêm chích mỗi ngày từ 2 đến 3 lần là 46% Trong khi đó33% tiêm chích mỗi ngày 1 lần và 17% tiêm chích ít hơn 1 lần trong ngày Chỉ có 4% tiêm chích từ 4lần trở lên mỗi ngày
- Tần suất TCMT của 3 MDNH như sau: 1 người tiêm chích mỗi ngày 2 - 3 lần, 1 người tiêm chích
1 lần một ngày và 1 người TCMT ít hơn 1 lần 1 ngày
- Triệu chứng chảy mủ hoặc tiết dịch niệu đạo của STI được nhiều người biết nhất với tỉ lệ 73% ởnhóm MDĐP và 51% ở MDNH
- Có đến 62% MDĐP và 53% MDNH biết về triệu chứng ngứa bộ phận sinh dục của STI
- Trong khi đó các triệu chứng: đau đường tiểu, loét sùi bộ phận sinh dục, tiểu tiện buốt và đau bụng
tỉ lệ nhận biết dao động từ 21 - 28% ở nhóm MDĐP và 20 - 29% ở nhóm MDNH
Bảng 6 Kiến thức, nhận thức nguy cơ về HIV của 2 nhóm mại dâm
Hiểu biết đúng về phương pháp phòng tránh, nhận biết sai lầm về
Cho rằng mình có nguy cơ nhiễm HIV 69/111 (62) 94/183 (51)
- Có 93% MDĐP và 96% MDNH hiểu biết đúng về các phương pháp phòng tránh HIV và nhận biếtcác sai lầm về đường lây truyền HIV
- Chỉ có 62% trong số 111 MDĐP và 51% trong số 94 MDNH tự nhận thức rằng mình có nguy cơnhiễm HIV
Biểu đồ 1 Sử dụng BCS với BTTX của 2 nhóm mại dâm
Trang 31Bảng 7 Tỉ lệ nhiễm HIV và giang mai của 2 nhóm mại dâm
Đã từng xét nghiệm HIV tự nguỵện 44/72 (61) 43/119 (36)
Đã từng xét nghiệm tự nguyện, biết kết quả, nhận được tư vấn
trước và sau xét nghiệm 36/162 (22) 30/300 (10)
- Trong số 72 MDĐP đã từng xét nghiệm HIV, chỉ có 61% xét nghiệm tự nguyện 22% MDĐPnhận đủ các dịch vụ: xét nghiệm HIV tự nguyện, biết kết quả, được tư vấn trước và sau xét nghiệm
- Trong tổng số 119 MDNH đã từng xét nghiệm HIV, chỉ có 36% xét nghiệm tự nguyện 11%MDNH nhận đủ các dịch vụ: xét nghiệm HIV tự nguyện, biết kết quả, được tư vấn trước và sau xétnghiệm
- Có 33% MDĐP và 2% MDNH đã từng vào Trung tâm 05 Đến 52% MDĐP đã từng vào 2 lần trởlên, cá biệt có 24% vào Trung tâm 05 từ 3 lần trở lên Trong khi đó không có MDNH nào vào Trungtâm 05 lần thứ 2
- Trong vòng 6 tháng trước nghiên cứu: Có 25% MDĐP và 8% MDNH được tư vấn về tiêm chích
an toàn Đã nhận được tư vấn về tình dục an toàn là 81% ở MDĐP và 77% ở MDNH; nhận được tàiliệu truyền thông về HIV là 83% ở MDĐP và 76% ở MDNH
- Trong vòng 6 tháng trước nghiên cứu: 82% MDĐP và 72% MDNH đã nhận được BCS miễn phíhoặc mua được giá rẻ; Chỉ có 6% MDĐP và 1% MDNH nhận được BKT
- Trong số các MDĐP có TCMT thì 71% nhận được tư vấn về tiêm chích an toàn và 36% nhậnđược BKT miễn phí trong 6 tháng qua Trong khi 100% MDNH có TCMT nhận được tư vấn về tiêmchích an toàn nhưng không có ai nhận được BKT miễn phí
Bảng 9 Mối liên quan giữa hành vi dùng chung BKT với tình trạng nhiễm HIV của MDĐP
IV BÀN LUẬN
1 Đặc điểm nhân khẩu học:
- Về độ tuổi: dưới 30 chiếm tỉ lệ cao ở nhóm MDNH (73%) trong khi MDĐP chỉ 47% Có thể vìđây là độ tuổi có nhu cầu hoạt động tình dục, thích kết bạn và hiếu động Đối với nhóm MDNH, tỉ lệtuổi đời dưới 30 cao hơn tỉ lệ tuổi đời trên 30 là 2,6 lần (73% > 28%) và ở nhóm MDĐP tỉ lệ này íthơn so với tỉ lệ tuổi đời trên 30 (47% < 53%); nghiên cứu này phù hợp với đánh giá của năm 2000 chobiết sau thời gian làm MDNH, các đối tượng MDNH khi lớn tuổi có xu hướng chuyển sang làmMDĐP Kết quả tuổi đời dưới 30 của MDĐP Cần Thơ tương đương với nghiên cứu tại An Giang, thấphơn ở TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai; cao hơn Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh [6]
- Về trình độ học vấn, nhóm MDĐP có trình độ tiểu học cao (49%), nhóm MDNH có trình độ tiểuhọc (42%) tương đương phổ thông cơ sở (41%) Hầu hết các đối tượng này chỉ có trình độ từ tiểu học
Trang 32Khanh và cộng sự tại Hà Nội 2005-2006 (4%) [5] Có thể do trình độ văn hoá thấp nên những phụ nữnày không thể tìm được việc làm nên phải vào làm trong các nhà hàng khách sạn hoặc bán dâm đểkiếm sống; cũng có thể do trình độ văn hoá thấp nên họ dễ bị dẫn dụ vào con đường này Đây là mộtthử thách lớn đối với hoạt động truyền thông cũng như giáo dục tạo việc làm và chuyển nghề cho họ.
- Về tình trạng hôn nhân ở 2 nhóm mại dâm, hầu hết ở trong tình trạng đã ly hôn, ly thân (MDĐP47% và MDNH 41%) Có thể do bản chất nghề nghiệp hoặc tâm lý cộng đồng không chấp nhận nên đãảnh hưởng đến cuộc sống gia đình của họ Tỉ lệ độc thân ở nhóm MDNH cao gấp 3 lần MDĐP(41%>15%) trong khi tỉ lệ đang có gia đình ở MDĐP cao hơn MDNH (30%>14%) Hai tỉ lệ này phùhợp với tuổi của MDNH trẻ hơn nhiều so với MDĐP So với kết quả GSHV năm 2000, nhóm MDNH có
tỉ lệ độc thân tháp hơn (72,9%) và tỉ lệ ly hôn, ly thân/góa cao hơn (18,7%) Trong khi đó nhóm MDĐP
tỉ lệ chưa kết hôn giảm so với năm 2000 (41%); tỉ lệ đang có gia đình cao hơn năm 2000 (13,7%)
2 Hành vi và chỉ số sinh học của 2 nhóm mại dâm
2.1 Thời gian bán dâm của 2 nhóm mại dâm
Thời gian bán dâm trung bình của nhóm MDĐP tại Cần Thơ là 5 năm, cao hơn 2,5 lần so vớiMDNH (2 năm < 5 năm) Trung vị thời gian bán dâm của MDĐP là 4 năm gấp 4 lần so với nhómMDNH Có lẽ do MDĐP lớn tuổi hơn MDNH như đã nêu Đồng thời kết quả này cũng phù hợp vớithực tế là những người trẻ tuổi thường làm nghề tiếp viên trước rồi mới chuyển sang hành nghề mạidâm khi có điều kiện So sánh với kết quả nghiên cứu cùng thời điểm, nhóm MDĐP tương đương với
ở An Giang (4,5 năm) và cao hơn ở thành phố Hồ Chí Minh (3 năm) Đối với nhóm MDNH, kết quảnày lại thấp hơn nghiên cúu ở thành phố Hồ Chí Minh (2 năm) và An Giang (2 năm) [6]
Một số nghiên cứu trước đây của Nguyễn Văn Khanh và cộng sự tại Hà Nội năm 2005 – 2006 chobiết, khoảng 62% GMD có thời gian bán dâm từ 2 năm trở lên [5] Nghiên cứu của Ngân hàng châu Ánăm 2004 tại 5 tỉnh biên giới Lai Châu, Quảng trị, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang cho thấy trungbình thời gian bán dâm của MDNH và MDĐP là 34 tháng và trung vị là 24 tháng
Tỉ lệ đã từng bán dâm tại tỉnh khác của MDĐP là 21% cao gấp 3 lần so với MDNH (7%) Có lẽ dotính di biến động của MDĐP nhiều hơn MDNH Tỉ lệ này ở MDĐP tại Cần Thơ tương đương vớinghiên cứu ở An Giang (7%) và thành phố Hồ Chí Minh (7%) Trong khi ở MDNH tỉ lệ này tại CầnThơ lại thấp hơn An Giang (25%), cao hơn thành phố Hồ Chí Minh (4%) và tương đương với một sốtỉnh khác cùng nghiên cứu này [6]
2.2 Số lượng các loại bạn tình của 2 nhóm mại dâm
Kết quả trung bình và trung vị số khách trong tháng, trong tuần, trong ngày bán dâm gần nhất ởnhóm MDĐP đều cao hơn MDNH ở cả khách lạ (2,3 lần) và khách quen (1,5 lần) Cho thấy tínhchuyên nghiệp của MDĐP, bên cạnh đó họ lại có nhiều thời gian giành cho mại dâm hơn nên số khách
lạ và khách quen cũng cao hơn Trong khi MDNH thời gian chủ yếu làm nghề phục vụ ăn uống,massage trong nhà hàng khách sạn, họ chỉ bán dâm khi có điều kiện
Trung bình và trung vị BTTX trong tháng, trong tuần, trong ngày bán dâm gần nhất ở cả 2 nhómgần như tương đương nhau Kết quả này cho ta tin tưởng rằng việc khai báo số lượng bạn tình ở cả 2nhóm này là có giá trị và không có sai lệch hồi tưởng
So sánh với kết quả tại các tỉnh cùng nghiên cứu, trung bình số BTTX của 2 nhóm ở Cần Thơ tươngđương với kết quả của các tỉnh khác Trung bình số khách lạ của MDĐP tại Cần thơ tương đương với
An Giang và Hà Nội (16), thấp hơn Hải Phòng (21,2), trung bình số khách quen lại thấp hơn An Giang(10) và cao hơn các tỉnh khác Ở nhóm MDNH, trung bình số khách lạ và khách quen tại Cần Thơ thấphơn rất nhiều so với An Giang (7,3), Hà Nội (6,3), tương đương với thành phố Hồ Chí Minh Sự khácbiệt số khách của MDNH so với An Giang có thể vì đặc điểm MDNH ở Cần Thơ thường chuyển đi nơikhác sau một thời gian và GMD ở An Giang làm việc trong các nhà hàng là chủ yếu [6]
2.3 Sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình của 2 nhóm mại dâm
a) Sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với BTTX
Kết quả nghiên cứu cho biết, tỉ lệ sử dụng BCS khi QHTD với BTTX ở nhóm MDĐP trong lầnQHTD gần nhất cao hơn nhóm MDNH (30% > 23%) Tỉ lệ này cao hơn so với tỉ lệ thường xuyên sửdụng BCS trong vòng 1 tháng ở MDĐP (21%) và MDNH (12%) Điều này cho thấy có lẽ GMD chỉ sửdụng BCS để dự phòng nhiễm HIV từ khách lạ là người họ không hiểu, không biết rõ, còn đối với BTTX
họ hiểu và có thể tin tưởng hơn Đồng thời, do BTTX là chồng/ người yêu, nên một số GMD hy vọng
Trang 33được mang thai và sinh con đo đó ít sử dụng BCS với nhóm BTTX này Nhóm MDNH mặc dù có trình
độ học vấn cao hơn so với MDĐP, nhưng thực hành sử dụng BCS với BTTX lại có ti lệ thấp hơn
So với kết quả cùng nghiên cứu của các tỉnh, cho thấy tỉ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhấtvới BTTX và tỉ lệ thường xuyên sử dụng BCS trong vòng 1 tháng ở 2 nhóm mại dâm tại Cần Thơ đềuthấp hơn các tỉnh [6, 2] Đáng lo ngại hơn nữa là nguy cơ lây nhiễm HIV/STI là rất lớn trong các nhómnày Vì BTTX của có sử dụng ma túy lên đến 10% ở MDĐP và 2% ở MDNH; tỉ lệ nhiễm HIV ởMDĐP cao; nhiều GMD báo cáo có triệu chứng nhiễm STI trong 12 tháng qua
b) Sử dụng BCS khi QHTD với khách lạ và khách quen
Tỉ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất với khách quen và khách lạ của GMD rất cao (96% 99%) Tỉ lệ thường xuyên sử dụng BCS trong 1 tháng trước nghiên cứu với khách lạ và khách quen cógiảm hơn: MDĐP (92% - 91%); MDNH (95% - 89%) Có thể do hành vi sử dụng BCS không ổn địnhtheo thời gian
-So với kết quả giám sát hành vi năm 2000 tại Cần Thơ: nhóm MDĐP có tỉ lệ thường xuyên sử dụngBCS trong 1 tháng tăng lên rõ rệt trong QHTD với khách lạ (67%), khách quen (58%) Nhóm MDNH
có tỉ lệ luôn luôn sử dụng BCS với khách lạ cũng tăng đáng kể từ 76% lên 95%, nhưng lại tăng khôngđáng kể với khách quen tăng (82% lên 89%) Cho thấy có thể MDNH có khách quen thường xuyênhơn, họ dễ dàng tin tưởng vào bạn tình nên ít sử dụng BCS, do đó cần tập trung cung cấp thông tin vềhành vi QHTD an toàn cụ thể hơn cho nhóm này
Tỉ lệ luôn luôn sử dụng BCS và tỉ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất với các loại kháchhàng tại Cần Thơ cao hơn kết quả nghiên cứu của dự án Ngân hàng châu Á năm 2004 (53%) Kết quảcũng cao hơn Hà Nội (56%), Hải Phòng (62%) trong cùng nghiên cứu này [6,3]
2.4 Tiền sử sử dụng và TCMT của 2 nhóm mại dâm
a) Tiền sử sử dụng ma tuý
Nhóm MDĐP có tỉ lệ đã từng sử dụng ma tuý (19%) cao hơn rất nhiều so với nhóm MDNH (1%).Kết quả này cao gấp 17,2 lần so với giám sát hành vi tại Cần Thơ năm 2000 (1,1%) Có thể tỉ lệ nàycao trong nhóm MDĐP là do có nhiều phụ nữ sử dụng ma tuý trước rồi mới trở thành mại dâm Tuynhiên chúng ta cũng có thể nghĩ đến khả năng do đặc tính nghề nghiệp nên MDNH ngại khai báo vềvấn đề này Tỉ lệ đã từng sử dụng ma tuý ở MDĐP tại Cần Thơ thấp hơn ở Hà Nội (24%) và cao hơnthành phố Hồ Chí Minh (9%), An Giang (4%) Ngược lại, tỉ lệ sử dụng ma túy trong nhóm MDNH ởCần Thơ chỉ cao hơn Đà Nẵng nhưng thấp hơn các tỉnh có cùng nghiên cứu và đặc biệt thấp hơn rấtnhiều so với An Giang (9%) trong cùng nghiên cứu này [6,8]
b) Tiền sử tiêm chích ma tuý
Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết GMD có sử dụng ma tuý bằng cách tiêm chích: MDĐP là93%, MDNH là 75% Ở nhóm MDĐP, người sử dụng ma tuý trung bình sau 1 năm sẽ chuyển sangTCMT, trong khi đó ở nhóm MDNH thời gian này là sau 2 năm Trung bình thời gian TCMT ở cả hainhóm tương đương với trung bình thời gian bán dâm: MDĐP (5năm), MDNH (2năm) Điều này chothấy khi họ bắt đầu chuyển sang TCMT cũng lúc trở thành GMD Do đó, cần phải có kế hoạch canthiệp kịp thời và song song giữa truyền thông về tiêm chích an toàn và QHTD an toàn đối với nhómmại dâm sử dụng ma tuý
2.5 Hành vi TCMT của 2 nhóm mại dâm
a) Tần suất tiêm chích ma tuý
Nhóm MDĐP có tần suất tiêm chích ≥ 2 lần/ngày chiếm tỉ lệ 46%, cao hơn 1,4 lần so với nhómMDNH (33%) Tần suất tiêm chích ≤ 1 lần/ngày ở nhóm MDNH cao hơn 1,9 lần so với nhóm MDĐP(33%>17%) Có thể ở nhóm MDNH có số mẫu của người sử dụng ma tuý nhỏ, nhưng cũng có thể doMDĐP có thời gian sử dụng ma tuý lâu hơn nên liều tăng hơn So với các tỉnh có cùng nghiên cứu, tỉ
lệ MDĐP có tần suất tiêm chích ma tuý (2lần/ngày) thấp hơn các tỉnh phía Bắc (60-75%) và cao hơncác tỉnh phía Nam, nhất là cao hơn An Giang (29%) [6,7]
Trang 34đi khách và nghĩ không cần thiết phải sử dụng BCS nữa Cho thấy nhóm MDĐP có sử dụng ma tuý làđối tượng cần được quan tâm hơn trong giáo dục tình dục an toàn và tiêm chích an toàn.
Nhóm MDĐP có tỉ lệ sử dụng chung BKT, thuốc hoặc dụng cụ pha thuốc trong lần tiêm chích gầnnhất (19%) cao hơn so với tỉ lệ sử dụng lại BKT (10%), đưa BKT đã sử dụng cho người khác (13%)trong một tháng Kết quả này cho thấy cần phải cung cấp thêm kiến thức cho nhóm này để họ hiểu antoàn tiêm chích cũng phải bao gồm cả luôn luôn sử dụng bơm kim tiêm mới và sử dụng riêng thuốc vàdụng cụ pha thuốc Cũng như nhóm NCMT, các tỉ lệ ghi nhận trong cùng một thời gian tương đươngnhau và ghi nhận ở thời gian khác nhau thì khác nhau, có thể đây là do sai lệch hồi tưởng
2.6 Hiểu biết về triệu chứng và tình trạng STI của 2 nhóm mại dâm
Nhận biết các triệu chứng STI của nhóm MDNH tương đương nhóm MDĐP (6/7 triệu chứng), mặc
dù trình độ học vấn của nhóm MDNH cao hơn nhóm MDĐP Có 2/7 triệu chứng được GMD nhận biếtchiếm tỉ lệ cao: chảy mủ/dịch niệu đạo (73%) ngứa bộ phận sinh dục (62%) Có thể do triệu chứngchảy mủ/dịch niệu đạo là của bệnh lậu thường phổ biến hơn ở MDĐP, do đó họ có kinh nghiệm đểnhận biết hơn Kết quả này tại Cần Thơ thấp hơn so với các tỉnh cùng nghiên cứu [6], phù hợp với tỉ lệluôn luôn sử dụng BCS khi QHTD của GMD tại Cần Thơ cao
Tỉ lệ xét nghiệm giang mai dương tính ở GMD hiện nay đã giảm rất nhiều so với trước năm 2000.Điều này phù hợp với nhận xét của các chuyên gia da liễu cho biết tỉ lệ các loại STI đã thay đổi: giảmlậu và giang mai, tăng nhiễm nấm và vi rút Tuy nhiên, hiện nay kiến thức tự nhận biết triệu chứng STIcủa các nhóm mại dâm chủ yếu là triệu chứng của lậu và giang mai Trong khi đó tỉ lệ hiểu biết về cácdấu hiệu của nhiễm nấm và rút qua đường sinh dục còn rất thấp Đây chính là thách thức đối vớichương trình phòng, chống STI và cả với nguy cơ lây nhiễm HIV trong các nhóm này
2.7 Kiến thức, nhận thức nguy cơ và tình trạng nhiễm HIV của 2 nhóm mại dâm
Kiến thức đúng về các phương pháp phòng tránh HIV và nhận biết các sai lầm về đường lây truyềnHIV ở 2 nhóm mại dâm chiếm tỉ lệ cao (93-96%) Cho thấy có sự tác động tích cực của các chươngtrình tiếp cận truyền thông về kiến thức HIV cho GMD tại Cần Thơ Tỉ lệ về kiến thức HIV ở cácGMD tại Cần Thơ cao hơn so với các tỉnh cùng nghiên cứu [6]
Tuy nhiên, nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV thấp hơn nhiều so với tỉ lệ có kiến thức đúng nóitrên: MDĐP (62%<93%), MDNH (51%<96%) Kết quả này giải thích được tỉ lệ sử dụng chungBKT, thuốc và dụng cụ pha thuốc khi TCMT còn cao, tỉ lệ sử dụng BCS thấp khi QHTD với BTTX.Cho thấy tiếp cận truyền thông cần tập trung cho cung cấp kỹ năng tự nhận biết hành vi nguy cơtrong các nhóm mại dâm
Tỉ lệ nhiễm HIV ở nhóm MDĐP cao hơn 12,6 lần so với nhóm MDNH (29%>2,3%) Tỉ lệ nhiễmHIV ở MDNH thấp hơn hầu hết các tỉnh cùng nghiên cứu: An Giang (11%), thành phố Hồ Chí Minh(6%), Hà Nội (9%) Kết quả này phù hợp, vì MDNH tại Cần Thơ có kiến thức về HIV và STI cao hơn,trung bình khách quen và khách lạ/ngày, tỉ lệ sử dụng ma tuý, hành vi nguy cơ trong tiêm chích và tỉ lệnhiễm STI đều thấp hơn [6,5]
2.8 Tiền sử xét nghiệm HIV và tiếp cận với các can thiệp dự phòng của 2 nhóm mại dâm
Về tiền sử xét nghiệm HIV nghiên cứu cho biết tỉ lệ đã từng xét nghiệm HIV của nhóm MDĐP caohơn 1,7 lần so với nhóm MDNH (61%>36%) Tỉ lệ đã từng xét nghiệm HIV của nhóm MDNH thấphơn nhóm NCMT (43%) Tỉ lệ này ở GMD Cần Thơ cao hơn kết quả nghiên cứu của dự án Cộng đồngcùng hành động [5]
Tỉ lệ GMD tiếp cận được với tư vấn trước và sau xét nghiệm và biết kết quả xét nghiệm ở nhómMDĐP mặc dù cao gấp 2,2 lần so với nhóm MDNH nhưng vẫn còn rất thấp (22%>10%)
Về tiếp cận với các can thiệp dự phòng trong thời gian 6 tháng trước nghiên cứu trên 70% GMD nhậnđược tài liệu truyền thông về HIV, tư vấn về tình dục an toàn và BCS; tỉ lệ này cao hơn so với nhómNCMT tại Cần Thơ và cao nhất so với các tỉnh cùng nghiên cứu này Có lẽ do chương trình tiếp cậntruyền thông cho GMD ở Cần Thơ được triển khai sớm hơn so với nhóm ma tuý và so với các tỉnh khác Trong nhóm mại dâm có sử dụng ma tuý, có trên 70% MDĐP và 100% MDNH được tiếp cận tưvấn về tiêm chích an toàn Nhưng cũng chỉ có 36% MDĐP có sử dụng ma tuý nhận được BKT miễnphí trong 6 tháng trước nghiên cứu
MDĐP đã từng ở trung tâm 05 cao gấp 16,5 lần so với MDNH (33%>2%) Nhưng vẫn còn tỷ lệ rấtcao GMD ở tại cộng đồng Kết quả này cho thấy tính phù hợp của chương trình tiếp cận đồng đẳng tại
Trang 35cộng đồng, đã được chương trình phòng, chống AIDS tại Cần Thơ nắm bắt và xây dựng can thiệp đốivới nhóm GMD
3 Các mối liên quan:
3.1 Mối liên quan giữa TCMT và nhiễm HIV của nhóm MDĐP
Nghiên cứu cho biết tỉ lệ đã từng TCMT trong nhóm MDĐP nhiễm HIV cao hơn nhóm khôngnhiễm HIV (49%>6%) (p=0,000) Kết quả này phù hợp với kết quả chung của quốc gia, khi phân tíchhồi qui tuyến tính đa biến để đánh giá mức độ liên quan giữa hành vi tiêm chích ma tuý và tình trạngnhiễm HIV trong nhóm MDĐP và MDNH, cho thấy nhóm MDĐP ở tỉnh nào báo cáo có tỉ lệ nghiệnchích ma tuý cao thì tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm này ở nơi đó cũng cao [6] Phát hiện này cho thấy đốivới nhóm mại dâm, việc TCMT sẽ dễ dẫn đến nguy cơ nhiễm HIV hơn hành nghề mại dâm Hành vinguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm này có sự đan xen giữa tình dục không an toàn và tiêm chíchkhông an toàn Nghiên cứu cũng dự báo cần xây dựng chương trình can thiệp riêng cho nhóm mại dâm
có TCMT để hạn chế nguy cơ lây nhiễm HIV từ nhóm này sang bạn chích, bạn tình và con cái họ.3.2 So sánh tỉ lệ sử dụng ma tuý giữa nhóm GMD nhiễm HIV và nhóm GMD không nhiễm HIVKết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ đã từng sử dụng ma tuýtrong nhóm gái mại dâm nhiễm HIV so với nhóm không nhiễm HIV (43%>2%) (p=0,020) So sánhvới kết quả giám sát trọng điểm của chương trình phòng chống HIV/AIDS tại Cần Thơ từ năm 2000đến nay cho thấy tỉ lệ sử dụng ma túy tỉ lệ thuận với tỉ lệ nhiễm HIV, năm 2002 tỉ lệ sử dụng ma tuýtrong nhóm này từ (1%-2%) thì tỉ lệ nhiễm HIV ổn định từ (8%-10%) Năm 2004-2006, tỉ lệ sử dụng
ma tuý trong nhóm này tăng thì tỉ lệ nhiễm HIV cũng tăng cao (20%-30%) [21] Điều này cho thấy cần
có nhiều giải pháp tích cực và đồng bộ để khống chế tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNMD không chỉtiến hành đơn lẻ chương trình tình dục an toàn, tiêm chích an toàn mà phải tuyên truyền vận vận động
để hạn chế sử dụng hoặc hạn chế phụ nữ sử dụng ma tuý chuyển sang hành nghề mại dâm
4 Điểm mới của nghiên cứu
4.1 Nhóm mại dâm đường phố
Tỉ lệ mù chữ rất cao Tỉ lệ sử dụng ma tuý cao gấp 17 lần so với năm 2000, bên cạnh đó bạn tìnhcủa họ là người NCMT chiếm tỉ lệ cao
1 Về đặc tính của mẫu nghiên cứu
- Phần lớn những người tham gia nghiên cứu rất trẻ, tuổi dưới 30 chiếm 73% ở MDNH, trong khiGMD có độ tuổi trên 30 hiện nay cao hơn nhiều so với trước đây
- Học vấn thấp ở 3 nhóm, MDĐP 69% mù chữ hoặc học vấn tiểu học
- Nhiều GMD ở trong tình trạng ly hôn, ly thân hoặc góa
2 Hành vi nguy cơ nhiễm HIV trong các nhóm nghiên cứu
Hành vi quan hệ tình dục
Tỉ lệ có nhiều bạn tình trong nhóm này rất cao, GMD cũng có tỉ lệ cao không sử dụng BCS vớiBTTX (79% ở MDĐP và 88% ở MDNH) và tỉ lệ tương đối cao báo cáo có nhiễm STI 12 tháng qua Hành vi tiêm chích ma tuý
- Nhóm MDĐP có tỉ lệ sử dụng ma tuý cao (19%) và tỉ lệ có bạn tình là người NCMT cao (10%BTTX và khách lạ)
- Có mối liên quan giữa hành vi giữa tiền sử sử dụng ma túy, TCMT và nhiễm HIV trong nhómMDĐP cũng rất chặt chẽ
Trang 363 Kiến thức và tự nhận biết nguy cơ nhiễm HIV/STI
Kiến thức về HIV cao ( >90% hiểu biết đúng) nhưng kiến thức về STI thấp, Tỉ lệ tự nhận biết cáctriệu chứng STI rất thấp, trong khi tỉ lệ báo cáo đã từng có ít nhất 1 triệu chứng của STI cao Mặc dù ởtrong nhóm có nguy cơ cao, nhưng tỉ lệ tự nhận biết hành vi nguy cơ rất thấp
4 Thực hành hành vi dự phòng
GMD sử dụng BCS với khách quen và khách lạ cao (>90%) nhưng sử dụng BCS với BTTX cũnglại rất thấp, nhất là nhóm MDNH (<30%)
5 Tỉ lệ hiện nhiễm HIV/STI
- Tỉ lệ hiện nhiễm HIV rất cao trong nhóm MDĐP 29% Đặc biệt nhóm MDĐP sử dụng ma tuý hầuhết nhiễm HIV (82%), trong khi đó nhóm MDNH lại nhiễm HIV thấp (2,3%)
- Tỉ lệ hiện nhiễm giang mai chỉ cao ở nhóm MDĐP (5,6%),nhóm MDNH chỉ 2% nhiễm giang mai
6 Tiếp cận với các can thiệp:
- Tỉ lệ tiếp cận với VCT rất thấp GMD chỉ 25% tiếp cận dịch vụ này
- GMD nhận được tài liệu HIV cao, tiếp cận cao với can thiệp dự phòng qua QHTD, nhưng tiếp cậnthấp với can thiệp dự phòng qua TCMT Đặc biệt tỉ lệ nhận được BKT< 20%
VI KIẾN NGHỊ
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:
- Mở rộng địa bàn, triển khai toàn diện các can thiệp bao gồm các chương trình BCS, BKT, STI đểtăng độ bao phủ và tăng khả năng tiếp cận của các nhóm nguy cơ
- Triển khai đồng bộ các chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; chăm sóc điều trị;các hoạt động hạn chế chuyển sang hành nghề mại dâm nhằm hỗ trợ tốt can thiệp dự phòng
- Cải tiến thông điệp truyền thông để tập trung cho việc nhận thức hành vi nguy cơ và khuyến khíchthực hành hành vi an toàn khi QHTD và TCMT Tốt nhất nên sử dụng các đồng đẳng viên tiếp cậncung cấp thông tin
- Chú ý can thiệp sớm và mạnh mẽ cho GMD sử dụng ma túy
- Tạo điều kiện để cho MDNH tăng tiếp cận với các can thiệp dự phòng, nhất là VCT và BKT
- Trong điều kiện nguồn lực hạn chế, những phát hiện của nghiên cứu này về những hành vi chưa
an toàn trong QHTD cần được chú trọng để xây dựng các can thiệp hiệu quả với chi phí thấp
Tài liệu tham khảo:
1 Bộ Y Tế (2008), Báo cáo kết quả hoạt động Phòng, chống HIV/AIDS 2007 và kế hoạch 2008
2 Bộ Y tế (2005), Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2000 – 2005, Tạpchí Y học thực hành, số 528,529
3 Đỗ Văn Dũng (2007), Phương pháp nghiên cứu khoa học và phân tích thống kê với phần mềmSTATA 8.0, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh
4 Douglas D Heckartthorn, Salaam Semaan, Robert Broadhead và cộng sự (2003), “Mở rộngphương pháp chọn mẫu thông qua người được giới thiệu: Một cách tiếp cận mới trong nghiên cứungười NCMT ở độ tuổi 18 – 25”, Bệnh AIDS và hành vi, Vol.6, No.1
5 Trương Xuân Liên, Lương Thu Trâm, Nguyễn Hoàng Lan, Phạm Văn Hưng, Nguyễn VănNgái, Nguyễn Hữu Chí, J.Y.Follezou, H.J.A.Fleury, F Barre-Sinousi, Bước đầu tìm hiểu các đặc tínhsinh học nhiễm HIV trên nhóm đối tượng tiêm chích ma tuý tại thành phố Hồ Chí Minh
6 Bộ Y tế (2007), Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STItại Việt Nam 2005 - 2006
7 Douglas D Heckathorn, Salaam Semaan, Robert S Broadhead, and James J Hughes (2002),Extensions of Respondent-Driven Sampling: A New Approach to the Study of Injection Drug UsersAged 18-25, AIDS and Behavior
8 Heckathorn, D 2005b RDSAT, version 5.0 Cornell University, Ithaca, NY
Trang 37ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ NHIỄM HIV/AIDS Ở KHÁCH HÀNG
ĐẾN XẫT NGHIỆM TỰ NGUYỆN TẠI PHềNG TƯ VẤN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG THỊ XÃ THỦ DẦU MỘT TỈNH BèNH DƯƠNG NĂM 2009.
Lục Duy Lạc, Nguyễn Kiều Uyờn, Vũ Thị Tuyết Trinh, Nguyễn Thị Thỳy Minh, Thỏi Thị Hường, Đỗ Hữu Lợi, Thỏi Thị Tỏm.
Sở Y tế, Ban quản Lý Tiểu Dự Án Life-gap Bỡnh Dương, TT PC HIV/AIDS BD
Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, đến năm 1990 phỏt hiện ca nhiễm đầu tiờn, dịch đó lan tràn trờn phạm vi toàn quốc vàđến 31/12/2009 đó phỏt hiện hơn 160.019 ca nhiễm HIV, 35.603 ca đó chuyển thành AIDS, trong đú44.540 ca đó tử vong (12) Trờn địa bàn tỉnh Bỡnh Dương ca nhiễm HIV đầu tiờn vào thỏng 10/1993 tớnhđến ngày 31/12/2009 đó phỏt hiện hơn 6.430 ca nhiễm HIV, 2.084 ca đó chuyển thành AIDS, trong đú
356 ca đó tử vong (5) Phũng tư vấn sức khoẻ cộng đồng (TVSKCĐ) của tỉnh Bỡnh Dương chớnh thứchoạt động từ ngày 07 thỏng 07 năm 2004 đến nay được Dự ỏn Life-gap Bộ Y tế tài trợ, với nhiệm vụ làđỏp ứng cho người cú nhu cầu tư vấn về nhiễm HIV/AIDS, cung cấp cơ hội cho cỏc đối tượng này cỏcthụng tin về HIV/AIDS một cỏch bớ mật, tư vấn cho họ về cỏc nguy cơ nhiễm HIV, hỗ trợ tõm lý cho
họ vượt qua mặc cảm và thay đổi hành vi, qua đú gúp phần làm giảm bớt tỡnh hỡnh lõy lan nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng Để nõng cao chất lượng và hiệu quả cụng tỏc tư vấn, truyền thụng GDSK vềHIV/AIDS chỳng tụi muốn đỏnh giỏ tỷ lệ nhiễm HIV và cỏc yếu tố cú liờn quan của khỏch hàng Mặtkhỏc, đõy cũng là nghiờn cứu đầu tiờn của khu vực phớa Nam đỏnh giỏ về hiệu quả hoạt động tư vấnxột nghiệm tự nguyện
Mục tiờu nghiờn cứu: Xỏc định tỡnh hỡnh nhiễm HIV và cỏc yếu tố nguy cơ của đối tượng đến tư
vấn tự nguyện tại phũng TVSKCĐ tỉnh Bỡnh Dương năm 2009
Đối tượng và phương phỏp: Một nghiờn cứu cắt ngang mụ tả được tiến hành lấy mẫu toàn bộ
trong năm 2009 trờn 1.787 khỏch hàng đến phũng TVSKCĐ Thị xó Thủ Dầu Một tỉnh Bỡnh Dương.Cỏc khỏch hàng được tư vấn đầy đủ theo quy định của Tiểu Dự Án Life-gap Bỡnh Dương, tư vấn viờnphỏng vấn khỏch hàng bằng bộ cõu hỏi của phũng TVSKCĐ về cỏc kiến thức-hành vi nguy cơ liờnquan đến sự lõy nhiễm HIV/AIDS nhằm thu thập cỏc thụng tin dữ kiện nền về dõn số xó hội Số thống
kờ mụ tả là tỉ lệ nhiễm HIV/AIDS với cỏc đặc điểm dõn cư và yếu tố liờn quan đến STI, Lao Tỉ lệđược so sỏnh với phộp kiểm chi bỡnh phương, mức độ kết hợp được ước lượng bằng tỉ số số chờnh, vàkhoảng tin cậy 95%
Kết quả
Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS của khỏch hàng đến phũng TVSKCĐ là: 10,5%, tăng 2,3% so với kết quảnghiờn cứu năm 2005 là 8.2% Tỷ lệ khỏch hàng chấp nhận xột nghiệm HIV/AIDS tự nguyện 99,8%.Cỏc lý do chớnh mà những đối tượng đến với phũng TVSKCĐ của tỉnh Bỡnh Dương năm 2009:khỏch hàng cú hành vi nguy cơ cao chiếm 65,7%; ở nhúm khỏch hàng cú bạn tỡnh là người TCMT,
MD chiếm 14,3%; cú bạn tỡnh nhiễm HIV chiếm 6,96%, lý do tiếp xỳc thụng thường với ngườinhiễm HIV chiếm 6,9% Đến phũng TVSKCĐ với triệu chứng STI chiếm 1,51%, triệu chứng ho sốtkộo dài chiếm tỷ lệ 2,43% So sỏnh với kết quả ở lần nghiờn cứu trước vào năm 2005: tỷ lệ nhiễmSTD giảm xuống cũn 1,51% (năm 2005 là 2,40%) Mặc khỏc, tỷ lệ nghi nhiễm Lao tăng lờn 2,43%(năm 2005 là 1,90%)
Cú mối liờn hệ giữa tỡnh trạng nhiễm HIV của khỏch hàng với nơi cư trỳ: nhúm cư trỳ ở nụngthụn cú nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 1,44 lần so với nhúm sống ở thị trấn/thành phố; nhúm cư trỳ từtỉnh khỏc đến cú nguy cơ nhiễm cao hơn 1,9 lần so với nhúm sống ở thị trấn/thành phố Cú mối liờn
hệ giữa tỡnh trạng nhiễm HIV với giới tớnh: khỏch hàng là nam giới cú nguy cơ nhiễm HIV cao hơn1,35 lần so với nữ giới Cú mối liờn quan giữa tỡnh trạng nhiễm HIV của khỏch hàng với tuổi: nhúmtuổi từ 21-30 cú nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 5,36 lần so với nhúm tuổi từ 16-20; nhúm tuổi từ 31-40
cú nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 4,88 lần so với nhúm tuổi từ 16-20 Cú mối liờn quan giữa tỡnh trạngnhiễm HIV với cỏc hành vi nguy cơ của bản thõn khỏch hàng gồm: khỏch hàng cú tiờm chớch ma tỳythỡ nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 6,06 lần so với nhúm khụng cú hành vi nguy cơ; khỏch hàng cú tỡnhdục với nhiều người thỡ nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 5,28 lần so với nhúm khụng cú nguy cơ; khỏch
Trang 38hàng có tình dục đồng giới nam thì nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 1,37 lần so với nhóm không có nguy
cơ Có mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV với các hành vi nguy cơ của bạn tình quan hệ không
an toàn với khách hàng: Bạn tình của khách hàng là người nhiễm HIV thì nguy cơ khách hàng nhiễmHIV cao hơn 1,99 lần so với nhóm không có bạn tình; Bạn tình của khách hàng có tình dục với mạidâm thì nguy cơ nhiễm là người nhiễm HIV thì nguy cơ khách hàng nhiễm HIV cao hơn 1,45 lần sovới nhóm không có bạn tình
KiÕn nghÞ
Duy trì và củng cố hệ thống phòng TVSKCĐ và điều trị ngoại trú HIV Nâng cao chất lượng củadịch vụ tư vấn về mọi mặt tạo niềm tin cho khách hàng sau tư vấn xét nghiệm đầy đủ Duy trì và triểnkhai bổ sung các mô hình can thiệp giảm tác hại cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao, thông qua mạnglưới giáo dục đồng đẳng Tăng cường hoạt động thông tin giáo dục truyền thông phòng chốngHIV/AIDS đến mọi tầng lớp nhân dân, gia đình, đặc biệt là vùng nông thôn, bản thân người có nguy
cơ, gia đình người nhiễm, giảm kỳ thị phân biệt đối xử
Nguồn kinh phí: Chương trình phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bình Dương.
Cơ quan thực hiện: Sở Y tế Bình Dương, Ban quản lý tiểu Dự án Life-gap Bình Dương, Trung
tâm phòng chống HIV/AIDS Bình Dương
Địa chỉ: 02 Yersin Thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương.
Người liên hệ: Sở Y tế tỉnh Bình Dương ĐT: 0650.387.0891.
Tµi liÖu tham kh¶o
1 Báo cáo hoạt động phòng chống HIV giai đoạn từ 2004-2009 của Trung tâm Y tế dự phòng vàphòng chống HIV/AIDS Bình Dương
2 Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS năm 2009 của Bộ Y tế theo công văn số 1.991/BYT-AIDS
3 Báo cáo kết quả phòng chống HIV/AIDS ở 7 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Bình Phước,Bình Dương, Long An, Sóc Trăng năm 2002 Nhà xuất bản Y học
4 Tài liệu tập huấn Quy trình tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện của Dự Án Life-gap năm 2008 Bộ
10 Định nghĩa nhiễm HIV và phân giai đoạn lâm sàng và miễn dịch ở trẻ em và người lớn, Tổ chức
Y tế thế giới (TCYTTG) năm 2007
11 Lượng giá nguy cơ nhiễm HIV/AIDS ở quần thể gái mại dâm tại 7 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tỉnh, Bình Phước, Bình Dương, Long An, Sóc Trăng năm 2002 của các tác giả Nguyễn Trần Hiền,Nguyễn Thu Anh, Trần Việt Anh và cộng sự
12 Lượng giá nguy cơ nhiễm HIV/AIDS ở quần thể tiêm chích ma túy tại 7 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tỉnh, Bình Phước, Bình Dương, Long An, Sóc Trăng năm 2002 của các tác giả Nguyễn TrầnHiền, Nguyễn Thu Anh, Trần Việt Anh và cộng sự
13 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Lào Cai từ năm 1996-2004 của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Hà và cộng sự
14 Báo cáo hai mươi năm đương đầu với HIV/AIDS 1990-2010 do Cục phòng chống HIV/AIDSViệt Nam
Trang 39ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ NHIỄM VÀ CÁC YẾU TỐ LIấN QUAN
Ở NHỮNG NGƯỜI TỰ NGUYỆN ĐẾN XẫT NGHIỆM NHIỄM HIV
TẠI PHềNG TVSKCĐ HUYỆN DĨ AN TỈNH BèNH DƯƠNG NĂM 2010
Lục Duy Lạc, Nguyễn Kiều Uyờn, Vừ Văn Võn,
Đào Thị Yến, Phan Thị Kim Anh, Huỳnh Hữu Nhõn, Đặng Khắc Viết Tựng.
Sở Y tế, Ban quản Lý Tiểu Dự Án Life-gap Bỡnh Dương, TTYT huyện Dĩ An, Trạm Y tế xó Tõn Đụng Hiệp
Đặt vấn đề
HIV/AIDS hiện vẫn tiếp tục gia tăng và tàn phỏ nặng nề khu vực chõu Á-Thỏi Bỡnh Dương Theo
dự bỏo, số trường hợp nhiễm HIV ở chõu Á cú thể lờn đến 10 triệu người vào năm 2010 và mỗi năm sẽ
cú thờm khoảng 500.000 ca mới nhiễm HIV nếu cỏc quốc gia khụng tăng cường cỏc hoạt động nhằmngăn chặn sự lõy lan của vi rỳt này Theo WHO và chương trỡnh phối hợp PC AIDS của liờn hiệp quốc(UNAIDS) cụng bố ước tớnh đến 31/12/2008: số người nhiễm HIV/AIDS đang cũn sống: 33,4 triệu,trong đú người lớn : 31,3 triệu; phụ nữ : 15,7 triệu và trẻ em: 2,1 triệu Việt Nam là quốc gia cú nhiều
nỗ lực trong cụng tỏc PC HIV/AIDS, đến nay dịch HIV/AIDS vẫn trong giai đoạn tập trung, cỏctrường hợp nhiễm HIV chủ yếu tập trung cao nhất trong nhúm nghiện chớch ma tỳy với tỷ lệ hiệnnhiễm là 18,4% và gỏi mại dõm tỷ lệ nhiễm HIV là 3,2 %, bờn cạnh đú số liệu giỏm sỏt phỏt hiện chothấy trờn 50% người nhiễm HIV là nghiện chớch ma tỳy Chương trỡnh PC HIV/AIDS đó kiềm chếđược tốc độ gia tăng của đại dịch thể hiện tỷ lệ hiện nhiễm HIV dưới 0,3 % so với mục tiờu của chiếnlược quốc gia Năm 2009 là năm thứ hai liờn tiếp cú số trường hợp nhiễm HIV mới phỏt hiện và số tửvong giảm hơn so với cỏc nước Cụ thể, năm 2008 giảm số mắc so với 2007 là 37,8 % Năm 2009giảm số mắc so với năm 2008 là 16,5% Số tử vong năm 2009 giảm 33,4% so với năm 2008 Hỡnh thỏilõy nhiễm HIV cú xu hướng chuyển dịch từ lõy truyền qua đường mỏu sang lõy truyền qua đường tỡnhdục Nhúm tuổi nhiễm HIV cú sự chuyển dịch từ 20-29 sang 30-39 tuổi trong hai năm gần đõy, điềunày cho thấy nguy cơ lõy truyền qua đường tỡnh dục cú xu hướng gia tăng
Mục tiờu nghiờn cứu: Xỏc định tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở những người tự nguyện đến XN nhiễm
HIV tại phũng TVSKCĐ huyện Dĩ An, tỉnh Bỡnh Dương năm 2010 Mối liờn quan giữa nhiễmHIV/AIDS với cỏc yếu tố đặc điểm dõn số học (tuổi, giới, học vấn, hụn nhõn, nơi cư trỳ, nguy cơ bảnthõn và nguy cơ của bạn tỡnh)
Đối tượng và phương phỏp: Một nghiờn cứu cắt ngang mụ tả được tiến hành lấy mẫu toàn bộ trờn
384 khỏch hàng đến phũng TVSKCĐ xó Tõn Đụng Hiệp huyện Dĩ An tỉnh Bỡnh Dương Cỏc khỏchhàng được tư vấn đầy đủ theo quy định của Tiểu Dự Án Life-gap Bỡnh Dương, tư vấn viờn phỏng vấnkhỏch hàng bằng bộ cõu hỏi của phũng TVSKCĐ về cỏc kiến thức-hành vi nguy cơ liờn quan đến sựlõy nhiễm HIV/AIDS nhằm thu thập cỏc thụng tin dữ kiện nền về dõn số xó hội Số thống kờ mụ tả là tỉ
lệ nhiễm HIV/AIDS với cỏc đặc điểm dõn cư Tỉ lệ được so sỏnh với phộp kiểm định bỡnh phương,mức độ kết hợp được ước lượng bằng tỉ số số chờnh, và khoảng tin cậy 95%
Kết quả
Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS của khỏch hàng đến phũng TVSKCĐ là: 8,25%, thấp hơn so với kết quảnghiờn cứu ở phũng TVSKCĐ Thị xó Thủ Dầu Một năm 2009 là 10,5% Nguồn thụng tin mà khỏchhàng tiếp cận: thụng tin đại chỳng (Đài phỏt truyền hỡnh-Sỏch bỏo-internet…) chiếm tỷ lệ 51,5%,khỏch hàng khỏch giới thiệu chiếm 25,5%, nhõn viờn y tế chiếm 16,5%, bạn chớch chung 3,5%, nhõnviờn tiếp cận cộng đồng chiếm 2%, thấp nhất bạn tỡnh giới thiệu chiếm 1,25% Tỷ lệ nhiễm HIV chủyếu tập trung cao ở lứa tuổi 21-30 chiếm 10,75%, nhúm tuổi 31-40 chiếm 7,22% Theo giới, nữ giớichiếm 10% cao hơn nam giới chỉ chiếm 7,81% Theo học vấn, nhúm 6 năm đến 9 năm tỷ lệ nhiễmHIV chiếm 8,33% Về hụn nhõn, tập trung ở nhúm người đó kết hụn chiếm tỷ lệ 8,18% Theo nơi cưtrỳ, tập trung ở nụng thụn chiếm 8,39%, cho thấy HIV diễn biến phức tạp cả ở nụng thụn lẫn thànhthị Tỷ lệ nhiễm HIV ở thị trấn chiếm 7,89% Về nguy cơ bản thõn khỏch hàng: Nhúm khỏch hàngTCMT chiếm tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất chiếm 38,1% và nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 4,7 lần so vớinhúm khụng cú nguy cơ, kế đến nhúm hành nghề mại dõm chiếm 9,52%, cú quan hệ tỡnh dục vớinhiều người chiếm 4,8%, bản thõn khụng cú nguy cơ (nhưng cú nguy cơ từ bạn tỡnh) chiếm 3,77%
Trang 40Về nguy cơ của bạn tình: tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất khi khách hàng có QHTD với người tiêm chích
ma tuý nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 3,39 lần so với nhóm bạn tình không có nguy cơ Bạn tình cóhoạt động mại dâm thì nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 2,51 lần so với các yếu tố nguy cơ khác của bạntình Bạn tình có quan hệ tình dục với mại dâm thì nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 1,91 lần so ở nhómcác yếu tố nguy cơ khác của bạn tình
Tµi liÖu tham kh¶o
1 Báo cáo hai mươi năm đương đầu với HIV/AIDS 1990-2010 do Cục phòng chống HIV/AIDSViệt Nam
2 Báo cáo hoạt động phòng chống HIV giai đoạn từ 2004-2009 của Trung tâm Y tế dự phòng vàphòng chống HIV/AIDS Bình Dương
3 Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS năm 2009 của Bộ Y tế theo công văn số 1.991/BYT-AIDS
4 Báo cáo kết quả phòng chống HIV/AIDS ở 7 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Bình Phước,Bình Dương, Long An, Sóc Trăng năm 2002 Nhà xuất bản Y học
5 Dịch tễ học HIV/AIDS tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 1993-2004 của tác giả Nguyễn Lê Tâm,Dương Quang Minh và cộng sự
6 Dịch tễ học về HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam năm 2008 theo Bệnh Viện Nhiệt ĐớiTP.HCM
7 Đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở khách hàng đến xét nghiệm tại phòng TVSKCĐ tại Thị xãThủ Dầu Một tỉnh Bình Dương năm 2005, 2009 của Sở Y tế Bình Dương
8 Đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên những người có chồng đã bị nhiễm HIV/AIDS tại tỉnhKhánh Hòa năm 2000 của tác giả Trương Tấn Minh, Nguyễn Vũ Quốc Bình, Trần Thị Kim Dung vàcộng sự
9 Định nghĩa nhiễm HIV và phân giai đoạn lâm sàng và miễn dịch ở trẻ em và người lớn, Tổ chức
Y tế thế giới (TCYTTG) năm 2007
10 Hướng dẫn chuẩn đoán và điều trị HIV/AIDS, Ban hành kèm theo Quyết định số BYT ngày 19/8/2009của Bộ trưởng Bộ Y tế
3003/QĐ-11 Lượng giá nguy cơ nhiễm HIV/AIDS ở quần thể gái mại dâm tại 7 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tỉnh, Bình Phước, Bình Dương, Long An, Sóc Trăng năm 2002 của các tác giả Nguyễn Trần Hiền,Nguyễn Thu Anh, Trần Việt Anh và cộng sự
12 Lượng giá nguy cơ nhiễm HIV/AIDS ở quần thể tiêm chích ma túy tại 7 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tỉnh, Bình Phước, Bình Dương, Long An, Sóc Trăng năm 2002 của các tác giả Nguyễn TrầnHiền, Nguyễn Thu Anh, Trần Việt Anh và cộng sự
13 Tài liệu tập huấn Quy trình tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện của Dự Án Life-gap năm 2008