1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005

38 495 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005 - 2007
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra trong số 30%doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào sản xuất giầy da thì có tới 70% làm giacông vì thế giá trị lợi nhuận đích thực do ngành này mang lại không lớn.Vàchưa đến 20 doanh

Trang 1

Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005 - 2007

2.1 Ngành Da - Giầy Việt Nam

2.1.1.Bối cảnh chung ngành Da - Giầy Việt Nam

Ngành Da - Giầy Việt Nam đã phát triển rất nhanh và được xem là mộttrong những ngành công nghiệp chính đưa nền kinh tế nước ta phát triển Da -Giầy là một trong ba ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất hiện nay saudầu thô và dệt may, chiếm trên 10% tổng kim ngạch xuất khẩu Với khoảng 240doanh nghiệp đang hoạt động, ngành Da - Giầy đang là một ngành xuất khẩumũi nhọn, thu hút khoảng 500.000 lao động hàng năm

Hiện nay ngành Da - Giầy Việt Nam đứng thứ tư trong số 8 nước xuấtkhẩu trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Hồng Kông và Italia, thế nhưng 90%sản phẩm của giầy da Việt Nam là hàng gia công.Kim ngạch xuất khẩu củangành Da - Giầy vẫn đạt mức tăng trưởng đều đặn hàng năm.Tuy nhiên theocác chuyên gia, hiện nay ngành này đang phải đối mặt với bài toán hóc búa vềthương hiệu, chiến lược phát triển và mất dần lợi thế

Các doanh nghiệp nội địa ngành Da - Giầy Việt Nam đang có ba bất lợilớn: Thứ nhất là không chủ động được nguồn nguyên liệu nên phụ thuộc vàokhách hàng và các nhà cung cấp nguyên liệu từ Trung Quốc, Đài Loan và HànQuốc Thứ hai là tiềm lực khoa học công nghệ chưa mạnh nên không có sứccạnh tranh và doanh nghiệp phải làm gia công cho các Công ty liên doanhnước ngoài là chủ yếu.Và cuối cùng là công tác xúc tiến thương mại kém, nênhầu hết các doanh nghiệp sản xuất làm gia công ở tầng thứ 2, thứ 3.Như vậy,cái gọi là sức cạnh tranh, tiềm lực mạnh của ngành Da - Giầy đều thuộc về cácCông ty lớn của Trung Quốc, Đài Loan…đặt tại Việt Nam.Theo Bộ CôngThương, mỗi năm nước ta vẫn phải nhập 6 triệu feet vuông da thuộc Nhà máythuộc da chưa đáp ứng được 10% nhu cầu và hiện chỉ hoạt động được 25% côngsuất do thiếu nguyên liệu Hàng năm, Việt Nam chỉ có thể cung cấp 5000 tấn da

Trang 2

bò và 100 tấn da trâu nhưng nguồn nguyên liệu nội địa không được tận dụng vàgiá trị xuất khẩu thấp 60% nguồn da này được xuất sang Trung Quốc và TháiLan, phần còn lại thì không đủ sản xuất để xuất khẩu Ngoài ra trong số 30%doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào sản xuất giầy da thì có tới 70% làm giacông vì thế giá trị lợi nhuận đích thực do ngành này mang lại không lớn.Vàchưa đến 20 doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam đủ sức làm hàng dạng FOB.Giầy vải vốn là mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam đang bị hàng của TrungQuốc chiếm chỗ và Việt Nam hiện đang xuất khẩu chủ yếu là hàng thể thao,giầy dép, hài đi trong nhà Hiện nay, giầy Trung Quốc chiếm phần lớn là giầythể thao( bằng vải hoặc bằng cao su đúc nguyên khối), kế đến là giầy thời tranggiả da lót simili và một số ít dép xốp đi trong nhà bằng cao su mềm(EVA) Mặc

dù hàng Trung Quốc chất lượng thật sự không cao nhưng với tốc độ mẫu mới raliên tục, đủ màu sắc mà giá lại mềm nên đã thu hút được người tiêu dùng

Điểm yếu của các Công ty sản xuất giầy Việt Nam là chưa có sự địnhhướng rõ rệt, chưa tạo được dấu ấn cho thương hiệu của mình dẫn đến ngườitiêu dùng có nhận thức khá mơ hồ về các thương hiệu

Công ty cổ phần Long Sơn là một doanh nghiệp trẻ của ngành Da - GiầyViệt Nam cũng đang có được rất nhiều thuận lợi và phải đối mặt với không ítnhững thách thức do sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanhtrong nước và quốc tế Để có thể đứng vững và không ngừng phát triển, Công tyđang tiếp tục duy trì và hoàn thiện chiến lược kinh doanh nhằm đạt được mụctiêu chiến lược trong từng thời kỳ nhất định

Thuận lợi và khó khăn của ngành Da - Giầy Việt Nam nói chung và củaCông ty cổ phần Long Sơn nói riêng trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới vàkhu vực:

2.1.1.1 Thuận lợi:

- Được EU dành cho thuế ưu đãi GSP, sản phẩm nhập khẩu của Việt Nam bántại các nước EU có mức giá cạnh tranh ( do thuế nhập khẩu thấp hơn các

Trang 3

nước trong khu vực ) Lợi thế này các đối tác với Việt Nam đang hưởng lợinhiều hơn chính các doanh nghiệp Việt Nam.

- Nhu cầu tiêu dùng lớn, ổn định và ngày càng gia tăng cùng với sự gia tănggiá trị của đồng EURO

- Chất lượng sản phẩm giầy dép của Việt Nam phù hợp và đáp ứng yêu cầucủa người tiêu dùng trong các nước EU

- Các nước EU mở rộng tạo thêm nhiều cơ hội để các doanh nghiệp Da –Giầy Việt Nam xuất khẩu sang EU ( với chính sách đồng nhất của EU đượcthực thi từ tháng 5/2004 )

- Các lợi thế khác từ mối quan hệ Việt Nam – EU , giữa các doanh nghiệp Da– Giầy Việt Nam với các nhà nhập khẩu EU ( quan hệ trực tiếp và thông quađối tác EU )

2.1.1.2.Khó khăn, thách thức:

- Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU tăng trong thời gian qua Hiệntại chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu giầy dép của EU ( khi vượt qua25%, EU sẽ có biện pháp mạnh để hạn chế )

- Sức ép do Trung Quốc gia nhập WTO, hiện tại sản lượng giầy dép của TrungQuốc tiêu thụ tại thị trường EU rất lớn với mẫu mã đa dạng, phong phú, giá

cả rất cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu nhanh ( tuy chất lượng không được đảmbảo như giầy dép sản xuất tại Việt Nam Khi chính thức Trung Quốc đượcthực thi các quy định của WTO ( sau năm 2005 ), các lợi thế đã tăng lênnhiều và các sản phẩm của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn

- Những hạn chế do phương thức gia công, các doanh nghiệp Việt Nam ít cóquan hệ trực tiếp với các nhà nhập khẩu và người tiêu dùng EU để nắm bắt

xu hướng tiêu dùng, nhu cầu và những biến động của thị trường theo thờigian nhằm có chiến lược kinh doanh thích hợp

- Hạn chế về khả năng tự thiết kế, ra mẫu chào hàng, chủ động cân đối cácđiều kiện cho sản xuất ( từ nguồn vật tư trong nước ) và khả năng đáp ứng

Trang 4

các yêu cầu của các nhà nhập khẩu ( về tiêu chuẩn sản phẩm, về môi trường

và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp )

- Các doanh nghiệp trong ngành sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nếu EU xem xétkhông cho phép được tiếp tục hưởng ưu đãi thuế quan ( GSP ), đặc biệt cácđối tác sẽ di dời sản xuất tới các quốc gia có lợi thế xuất khẩu hơn trong khuvực

2.1.2 Tình hình xuất khẩu hàng Da – Giầy Việt Nam

- Việt Nam chiếm vị trí thứ tư trên thế giới về xuất khẩu hàng giầy dép sauTrung Quốc, Hồng Kông và Italia, với kim ngạch đạt trên 2,6 tỷ USD trongnăm 2004, tăng gần 15% so với năm 2003 Và năm 2005, ngành Da - GiầyViệt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu 470 triệu đôi giáy dép với tổng kim ngạchxuất khẩu ngành đạt 3,3 tỷ USD Năm 2005, Việt Nam mở rộng thị trườngxuất khẩu với Nhật, Nga, các nước Đông Nam Á, Đông Âu, Trung Đông vàchâu Phi

- Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của ngành này trong vài năm gần đây đạt khácao Việt Nam hiện là một trong 10 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩugiầy dép Trong đó, 20% lượng giầy dép nhập khẩu của EU là từ Việt Nam,chiếm tới 80% tổng giá trị xuất khẩu của toàn ngành với trên 200 triệu đôinăm 2002, đứng thứ 2 sau Trung Quốc

Bảng 2.1 Giá trị xuất khẩu Da - Giầy Việt Nam 2001-2006

ĐVT: Triệu USD

(Nguồn: Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam)

Trang 5

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu giầy dép các loại trong tháng

10 năm 2006 đạt 280,9 triệu USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu của toànngành 10 tháng đầu năm 2006 đạt 2,9 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm

2005

Năm 2006, tình hình sản xuất kinh doanh của toàn ngành có nhiều biếnđộng so với năm 2005, một phần do 3 tháng đầu năm 2006, nhiều doanh nghiệpphải ngừng sản xuất hoặc ít đơn hàng hơn do ảnh hưởng của vụ kiện chống bánphá giá các loại giầy có mũ từ da xuất xứ Việt Nam và Trung Quốc xuất khẩuvào các nước EU, một phần do phải cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế,sức ép của quá trình hội nhập ngày càng gia tăng, cùng với việc phải đáp ứngnhiều yêu cầu của các nhà nhập khẩu, người tiêu dùng quốc tế (yêu cầu về cảithiện cơ sở hạ tầng và môi trường làm việc, đáp ứng các tiêu chuẩn về nhãnmác, yêu cầu hạn chế các hoá chất độc hại trong sản phẩm, yêu cầu thực hiện tốtTrách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và yêu cầu thực hiện tốt các tiêu chuẩnquốc tế ) Tuy nhiên, các biến động lớn nhất là thị trường và cơ cấu sản phẩm,

cụ thể:

Theo đề án phát triển ngành Da - Giầy Việt Nam giai đoạn 2002-2010 đãđược Bộ Công nghiệp( nay là Bộ Công Thương ) trình Chính phủ phê duyệt, đểđạt được mục tiêu trên, ngành Da - Giầy sẽ cần phải đầu tư khoảng 12.000 tỷđồng từ đây đến năm 2005 và 14.000 tỷ đồng giai đoạn 2005-2010 Với chiếnlược phát triển này, ngành Da - Giầy dự kiến sẽ sản xuất được khoảng 50%nguyên liệu cho sản xuất giầy vào năm 2005 và tăng lên 80% vào năm 2010.Các chuyên gia của ngành này cho biết, mặc dù có đến 90% sản lượng xuấtkhẩu nhưng lợi nhuận thu về từ ngành Da - Giầy chỉ đạt ở mức 25% giá trị giatăng, vì ngành này chủ yếu vẫn gia công hàng cho các đối tác nước ngoài.Nguyên vật liệu sản xuất trong ngành Da - Giầy (chiếm đến 80% giá trị giatăng của sản phẩm) hiện nay đang là khâu yếu nhất của ngành Da - Giầy ViệtNam, trong đó đặc biệt là khâu chế biến da, nguyên liệu chính cho ngành sản

Trang 6

xuất giầy Các loại giầy như giầy thể thao, giầy nữ là những mặt hàng Việt Namđang có lợi thế cạnh tranh do có thị trường tiêu thụ lớn.

Thị trường EU vẫn là thị trường xuất khẩu chính của các doanh nghiệptrong ngành song có nhiều biến động do ảnh hưởng vụ kiện, sức mua và cơ cấusản phẩm thay đổi, đồng thời phụ thuộc nhiều vào các đối tác đặt hàng, hợp tácsản xuất và sức ép về thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế Kim ngạch xuất khẩu và

số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ tăng đáng kể Chỉtính riêng trong 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳtăng trưởng 37% Thị trường Hoa kỳ được nhiều doanh nghiệp trong ngànhhướng tới, một phần do tác động vụ kiện, một phần do nhu cầu đa dạng, phongphú, và quan hệ song phương được cải thiện, các doanh nghiệp chuyển hướngnhằm đa dạng hoá thị trường, hạn chế rủi ro khi bị áp thuế phá giá cao tại thịtrường EU, đặc biệt tranh thủ các lợi thế về ưu đãi thuế quan, cải thiện quan hệthương mại khi VN chính thức gia nhập WTO Tuy nhiên, để xâm nhập thịtrường Hoa kỳ, các doanh nghiệp cần tìm kiếm đối tác tin cậy, gắn với các kênhphân phối lớn và các nhãn hiệu giầy nổi tiếng (Hiện tại, gần 80% lượng hàngtiêu thụ thụ tại Hoa kỳ do các nhà phân phối lớn chi phối, trên 50% lượng giầytiêu thụ tại Hoa kỳ là hàng hiệu Thị trường Nhật vẫn là thị trường yêu cầu chấtlượng cao và khó tính, hiện tại kim ngạch xuất khẩu giầy dép vào Nhật chiếm tỷtrọng rất thấp và khó có khả năng tăng trưởng nhanh trong thời gian tới đây Đểxâm nhập thị trượng này, các doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị đầy đủ các điềukiện cho sản xuất, sẵn sàng thực hiện các lô hàng nhỏ và đáp ứng nhanh yêucầu, đồng thời sản xuất các loại giầy có chất lượng cao Thị trường Mêhicô, tuychiếm tỷ trọng không lớn (Năm 2005 đạt 105,257 triệu USD), song có dấu hiệu

sẽ bị kiện phá giá do tốc độ xuất khẩu từ Việt Nam vào Mehicô tăng nhanh, giá

cả thấp (các doanh nghiệp và đối tác tranh thủ xuất khẩu qua thị trường này đểvào Hoa Kỳ và các nước lân cận với lợi thế ưu đãi của khu vực mậu dịch tự doBắc Mỹ (NAFTA)) Các thị trường khác (như Đông Âu, các nước Nam Phi )

Trang 7

đã và đang được các doanh nghiệp quan tâm khảo sát và tìm hiểu, song hạn chếcủa thị trường này là khâu thanh toán, rủi ro cao

Hàng Việt Nam khó có thể cạnh tranh với Trung Quốc về mặt giá cả trênhầu hết các thị trường Do đó, các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép của nước tacần đặc biệt chú trọng những sản phẩm có chất lượng cao để tạo ra lợi thế cạnhtranh riêng Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Công nghiệp( nay là Bộ CôngThương ), giá trị gia tăng trong xuất khẩu mặt hàng này còn thấp (bình quânkhoảng 25%) do phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào theo đơn hàng của các tậpđoàn lớn Vấn đề này đòi hỏi ngành trong năm 2005 và những năm tới phải cónhững giải pháp nâng cao tỷ lệ sử dụng nguyên phụ liệu trong nước cao hơn.Ngoài ra, các thị trường khác như Nhật Bản, Đông Âu và Nam Phi cũng là mụctiêu mà các doanh nghiệp trong ngành đang hướng tới Hiệp hội Da - Giầy ViệtNam vẫn đang tiếp tục tìm kiếm những giải pháp tích cực để đề suất và kiếnnghị Uỷ ban Châu Âu xem xét lại quyết định áp thuế càng sớm, càng tốt, đảmbảo lợi ích của các doanh nghiệp trong ngành Da - Giầy Việt Nam, đặc biệttrong quá trình hội nhập

2.2.Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Long Sơn

2.2.1.Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn

2005 – 2007

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Long Sơnđược tổng hợp và đánh giá qua Bảng 2.2:

Bảng 2.2.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần

Long Sơn giai đoạn 2005 – 2007

Trang 8

(Nguồn: Phòng Kế toán – Tài vụ Công ty cổ phần Long Sơn)

Từ bảng tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổphần Long Sơn ta có thể nhận thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực song lại chưa ổn định Cụ thểlà:

- Doanh thu thuần năm 2006 giảm 6% so với doanh thu thuần năm 2005tương ứng với số tiền giảm là 1.603.921.000VNĐ, nhưng đến năm 2007doanh thu thuần lại tăng 51% so với năm 2006 tương ứng với số tiền tănglên là 13.996.844.000VNĐ

- Giá vốn hàng bán năm 2006 giảm 4% so với giá vốn hàng bán năm 2005tương ứng với số tiền giảm là 924.461.000VNĐ, giá vốn hàng bán năm 2007lại tăng 44% so với giá vốn hàng bán năm 2006 tương ứng với số tiền tănglên là 10.412.876.000VNĐ

- Chi phí quản lý năm 2006 giảm 19,5% nhưng năm 2007, khoản chi phí nàylại tăng lên 103% so với chi phí quản lý năm 2006 tương ứng với số tiềntăng lên là 3.509.135.000VNĐ

- Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Long Sơn năm

2006 tăng lên tới mức 476% so với năm 2005 tương ứng với số tiền tăng lên

Trang 9

là 144.580.000VNĐ, năm 2007 khoản lợi nhuận này tăng lên 43% so vớinăm 2006 tương ứng với số tiền tăng là 74.834.000VNĐ.

- Khoản đóng góp của Công ty cổ phần Long Sơn vào Ngân sách Nhà nướctăng từ 8.678.000VNĐ (2005) lên đến 48.992.000VNĐ(2006) và69.946.000VNĐ(20070, điều này cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Công ty đóng góp một phần làm tăng GDP của nước ta

- Lợi nhuận sau thuế của Công ty năm 2006 và 2007 đều tăng lên cụ thể là:năm 2006 tăng 404% so với năm 2005 tương ứng với số tiền tăng lên là102.666.000VNĐ, năm 2007 tăng 43% so với năm 2006 tương ứng với sốtiền tăng lên là 53.880.000VNĐ

Về hoạt động sản xuất kinh doanh mặt hàng giầy dép các loại thì doanhthu thuần chiếm 7,69% so với tổng doanh thu thuần(2005), chiếm 93% so vớitổng doanh thu thuần( 2006), chiếm 73,5% so với tổng doanh thu thuần(2007).Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh giầy dép của Công ty chiếm 56,1%năm 2005, 33,2% năm 2006 và 57,2% năm 2007 so với tổng lợi nhuận củaCông ty Từ đó, ta có thể thấy doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động sản xuấtkinh doanh giầy dép chiếm tỷ lệ lớn trong tổng doanh thu và lợi nhuận sauthuế của Công ty Tuy nhiên, Công ty chủ yếu nhận đặt hàng gia công các sảnphẩm giầy dép từ đối tác nước ngoài nên còn phụ thuộc nhiều vào việc nhậpnguyên, phụ liệu cho hoạt động sản xuất của Công ty và do đó lợi nhuận thuđược tuy đã tăng nhưng chưa cao, hoạt động sản xuất chưa thực sự ổn định

Hoạt động xuất khẩu giầy dép các loại là hoạt động mang lại nguồn lợinhuận lớn, lợi nhuận sau thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh giầy dép chiếmtới 56,12% ( năm 2005), 33,22% ( năm 2006 ), và chiếm 57,23% trong tổng lợinhuận sau thuế của Công ty.Dưới đây là bảng tình hình xuất khẩu của Công ty:

Bảng 2.3.Tình hình xuất khẩu giầy dép của Công ty cổ phần Long Sơn

giai đoạn 2005 - 2007

ĐVT: Đôi

Trang 10

Stt Thị trường tiêu thụ Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007

( Nguồn: Phòng Xuất – Nhập khẩu Công ty cổ phần Long Sơn )

Trong thời gian qua, Công ty cổ phần Long Sơn vẫn duy trì việc xuấtkhẩu giầy dép sang các nước thuộc thị trường châu Âu ( EU ) và không ngừngtìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước ngoài khối Liên minh

EU Nhìn chung, thị trường xuất khẩu lớn của Công ty cổ phần Long Sơn vẫn làthị trường các nước như Đức, Anh Tuy nhiên, sản lượng giầy dép xuất khẩusang các nước không đều qua các năm, do có sự biến động về số lượng giầy dép

ký kết trong hợp đồng với các đối tác nước ngoài và do sự biến động về giá cảnguyên, phụ liệu cho hoạt động gia công Biểu 2.1; 2.2; 2.3 sẽ cho ta thấy sảnlượng giầy dáp xuất khẩu sang thị trường các nước của Công ty cổ phần LongSơn giai đoạn 2005 – 2007:

Biểu 2.1.Sản lượng giầy dép tiêu thụ trên thị thường các nước của Công ty cổ

phần Long Sơn giai đoạn 2005 -2007

Tại thị trường các nước Anh, Đức, Pháp vẫn được Công ty duy trì và mở rộng, tuy nhiênthị trường Bỉ, Canada và Đan Mạch vẫn chưa được chú trọng Sản lượng giầy dép xuất khẩusang các nước này chỉ chiếm khoảng 0,7 – 1,2% so với tổng sản lượng xuất khẩu sang các nướcthuộc thị trường châu Âu

Trang 11

2.2.2.Phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty thông qua các yếu tố

nội lực

2.2.2.1.Nguồn lực vật chất và tài chính

Nguồn lực vật chất của Công ty cổ phần Long Sơn không chỉ biểu hiện ở

hệ thống phân xưởng, nhà máy của Công ty mà còn được biểu hiện thông qua sốlượng máy móc, thiết bị được sử dụng vào hoạt động sản xuất, gia công sảnphẩm giầy dép các loại của Công ty:

Bảng 2.4 Tình hình máy móc thiết bị của Công ty tính đến 31/12/2007

Stt Tên thiết bị Nước sản xuất Số lượng Giá trị còn lại

(Nguồn : Phòng Quản lý và điều hành sản xuất Công ty cổ phần Long Sơn)

Nhìn chung, máy móc thiết bị trong toàn Công ty cổ phần Long Sơn phầnlớn là được nâng cấp, sửa chữa và mua sắm mới, dây chuyền sản xuất đượcđồng bộ hóa do đối tác Đài Loan cung cấp do đó đảm bảo cho hoạt động giacông, sản xuất giầy dép xuất khẩu trong Công ty đạt hiệu quả cao nhất

Trang 12

Tổng giá trị máy móc, thiết bị và khấu hao tài sản cố định được sử dụng

và hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Long Sơn được thống

kê trong Bảng 2.5:

Trang 13

Bảng 2.5.Tình hình tăng, giảm TSCĐ hữu hình của Công ty cổ phần Long Sơn tính

đến 31/12/2007

Khoản mục Nhà cửa,

vật kiến trúc

Máy móc, thiết bị

Phương tiện vận tải, vật truyền dẫn Tổng cộng 1.Nguyên giá TSCĐ 26.779.991.161 1.370.508.300 1.534.469.000 29.684.968.461

2.Giá trị khấu hao 2.091.059.000 127.821.000 88.000.000 2.306.888.000

3.Giá trị còn lại của

TSCĐ hữu hình

15.188.840.161 425.705.300 1.370.043.000 16.984.588.461

Biểu 2.2.Biểu đồ % TSCĐ của Công ty cổ phần Long Sơn

Vốn là một trong những nguồn lực quan trọng nhất và không thể thiếutrong quá trình sản xuất kinh doanh và là yếu tố quan trọng tạo nên năng lựccạnh tranh của Công ty Trong thời gian qua, hoạt động sản xuất kinh doanhnói chung và hoạt động xuất khẩu giầy dép của Công ty cổ phần Long Sơn đạtđược nhiều thành tựu đáng kể do đó mà nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn cũngtăng lên và thay đổi qua các năm:

Bảng 2.6 Tình hình nguồn vốn của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005 – 2007

ĐVT: VNĐ

I.Tổng giá tị tài sản 35.503.918.71

55.162.627.179 34.910.697.718

1.Vốn CSH 6.723.205.718 30.732.760.719 15.691.884.718

Trang 14

2.Vốn vay 28.780.713.00

0

24.429.867.000 19.218.813.000

(Nguồn : Phòng Kế toán – Tài vụ của Công ty cổ phần Long Sơn)

Từ bảng số liệu trên ta có biểu đồ thể hiện sự tương quan giữa giá trị tàisản và giá trị nguồn vốn của Công ty cổ phần Long Sơn như sau:

Biểu đồ 2.3.Tài sản và nguồn vốn của Công ty cổ phần Long Sơn

2.2.2.2.Nguồn nhân lực

Lực lượng lao động trong Công ty cổ phần Long Sơn phần lớn là laođộng trẻ, nhiệt tình, sáng tạo nhưng nếu phân theo trình độ giáo dục, đào tạo ta

có thể nhận thấy Công ty còn thiếu một đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp

và đội ngũ công nhân lành nghề Cơ cấu lao động của Công ty được thống kêtrong Bảng 2.7:

Bảng 2.7.Tình hình lao động của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn

2005 – 2007 phân theo trình độ giáo dục, đào tạo

(Nguồn: Phòng Quản lý nhân sự Công ty cổ phần Long Sơn)

Từ bảng số liệu về lao động của Công ty ta có Biểu 2.4 cho thấy cơ cấu lao động của Công ty cổ phần Long Sơn thay đổi từ năm 2005 đến năm 2007 như sau:

Biểu 2.4.Biểu đồ cơ cấu lao động trong Công ty cổ phần Long Sơn

Trang 15

Theo bảng và biểu đồ trên ta thấy: Hện tại số nhân lực có trình độ đạihọc, sau đại học trong Công ty cổ phần Long Sơn chỉ chiếm khoảng 4% trongtổng số công nhân viên trong Công ty, số nhân lực có trình độ cao đẳng, trungcấp cũng chỉ chiếm khoảng 6% trong khi đó số nhân lực có trình độ trung họcphổ thông thì chiếm tới 90% tổng số công nhân viên trong Công ty.

2.2.2.3.Chiến lược kinh doanh

Chiến lược kinh doanh là một trong những yếu tố quyết định năng lựccạnh tranh của Công ty cổ phần Long Sơn Chiến lược kinh doanh chỉ ra đườnglối, phương hướng phát triển của Công ty trong ngắn hạn cũng như dài hạn, làmcăn cứ cho việc huy động các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu chiến lược đãđịnh Tại Công ty cổ phần Long Sơn, chiến lược kinh doanh thể hiện thông quachiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm, chiến lược đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực, chiến lược định hướng khách hàng Các chiến lược này đã gópphần giúp Công ty nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường cácnước châu Âu( EU ) trong thời gian qua:

- Về chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm: Trước yêu cầu của thị trườngngày càng cao, Công ty cổ phần Long sơn đã quan tâm đế yếu tố chất lượng sảnphẩm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thị trường Tuy nhiên các sảnphẩm của Công ty có đặc điểm là: yếu tố tư bản vốn trong cấu thành sản phẩmthấp, hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản phẩm không cao, chủ yếu dựavào yếu tố lao động giá rẻ, chất lượng sản phẩm chưa thực sự có ưu thế rõ rệttrên thị trường thế giới, năng suất lao động thấp Tính độc đáo của sản phẩmchưa cao , nhiều sản phẩm còn đi sau các Công ty khác trong ngành như Công

ty giầy Thụy Khuê, Công ty Giầy Thượng Đình, Công ty cổ phần giầy HàNội…về kiểu dáng và màu sắc

- Về chiến lược phân phối: Công ty cổ phần Long Sơn vẫn áp dụng hình thứckênh phân phối qua các trung gian thương mại nên chưa thiết lập được hệ thốngphân phối hàng hóa đến đại lý hoặc người tiêu dùng cuối cùng Với phương

Trang 16

thức này, Công ty không thể kiểm soát được quá trình phân phối và tiêu thụ sảnphẩm của họ và không thể nắm bắt trực tiếp những thông tin phản ánh tình hìnhthị trường Hiện nay, Công ty đã tận dụng được các đại lý để phân phối bán lẻ,

mà chưa chú trọng đến việc nghiên cứu đặc điểm của thị trường gồm đặc tínhcủa các tập khách hàng (cá nhân, tổ chức, khách hàng mục tiêu, tiềm năng, đốithủ cạnh tranh…), đặc tính của sản phẩm (tính dễ hư hỏng, tính mùa vụ, đặcđiểm kỹ thuật của sản phẩm ), đặc điểm môi trường (điều kiện kinh tế, khảnăng quản lý, quy định ràng buộc về pháp lý, điều kiện địa lý, giao thông, vậnchuyển ) Xác lập hệ thống này chưa hình thành được chiến lược về kênh phânphối chuẩn

- Về chiến lược truyền tin và xúc tiến hỗn hợp: Hoạt động xúc tiến hỗn hợpcủa Công ty đã được quan tâm chú trọng song vẫn còn ở trình độ thấp, giản đơn

và chưa mang lại hiệu quả thiết thực Công ty chưa có trang Web riêng đểquảng bá hình ảnh và sản phẩm của Công ty, chưa dành chi phí cho việc quảngcáo sản phẩm giầy dép các loại trên thị trường trong nước cũng như thị trườngnước ngoài

- Về chiến lược cạnh tranh: Trong thời gian qua, Công ty cổ phần Long Sơnchủ yếu sử dụng công cụ cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm nhưng chưa cóhiệu quả cao Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực đang diễn ra vôcùng mạnh mẽ, thị trường các sản phẩm giầy đã trở nên hết sức sôi động với sựtham gia của nhiều loại hình sản xuất, của nhiều doanh nghiệp lớn, nhỏ khácnhau trên thế giới Công ty cổ phần Long Sơn đã và đang không ngừng phấnđấu, tồn tại, phát triển bền vững, sử dụng một cách linh hoạt các công cụ cạnhtranh của mình Một số công cụ cạnh tranh được Công ty tiếp tục sử dụng là:Chất lượng sản phẩm; chính sách giá cả; hệ thống phân phối; chính sáchMarketing

Trang 17

2.2.3.Phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm giầy dép thông qua các công cụ cạnh tranh

là đối tác khó tính như Pháp và Canada

Trên một góc độ nào đó thì giá cả là nhân tố thể hiện chất lượng sảnphẩm nghĩa là sản phẩm có giá cả càng cao thì chất lượng càng tốt Nhưng nếuxét trên một góc độ khác, giá cả được xác định dựa trên cơ sở khai thác lợi thế

về năng suất lao động, năng suất của máy móc tạo nên Hơn nữa chất lượng củasản phẩm còn phụ thuộc và cảm nhận chủ quan của mỗi đối tượng khách hàngkhác nhau Do đó việc đánh giá chất lượng các sản phẩm giầy dép xuất khẩucủa Công ty cổ phần Long Sơn, chúng ta phải xem xét tất cả các thuộc tính cấuthành nên chất lượng sản phẩm như công dụng của sản phẩm, tính tiện dụng haytính hữu ích do sản phẩm mang lại Đặc biệt là phải xem xét, đánh giá các yếu

tố có liên quan đến việc hình thành chất lượng sản phẩm của Công ty như yếu tốchính xác về thời gian, số lượng, giá cả và điều kiện vận chuyển đã ký kết tronghợp đồng gia công của Công ty Theo những số liệu về tình hình xuất khẩu vàthực hiện các hợp đồng gia công của Công ty giai đoạn 2003 – 2007 , số lượngsản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của đối tác nước ngoài màCông ty đã ký kết hợp đồng đạt gần như 100%, chỉ có một số rất ít kiện hàng bịgửi trả lại do có 2 đến 3 sản phẩm bị lỗi Hầu hết các đơn hàng đều được thựchiện theo đúng kế hoạch, Thủ tục Hải quan cũng được giải quyết thuận tiện vànhanh chóng

Trang 18

Về chất lượng các sản phẩm giầy dép nói chung của Công ty cổ phầnLong sơn có thể được đánh giá trên một số khía cạnh sau:

- Tính năng :

+ Thông thoáng : có các lỗ khí tạo sự thoát hơi nước của mồ hôi, đảm bảokhông bị ẩm ướt và không có mùi, đồng thời làm giảm nhiệt độ phát sinh tronggiầy, tạo mát mẻ và thoải mái

+ Độ cứng của đế ngoài : có khả năng chịu được lực va đập, độ mài mòn cao,nhưng vẫn đảm bảo tính êm dịu, không gây cảm giác đau bàn chân

+ Tính mềm dẻo : tạo sự đàn hồi, cảm giác dễ dàng, thoải mái khi vận động do

sử dụng loại vật tư mềm, đàn hồi tốt, nhưng vẫn đảm bảo độ bền theo tiêu chuẩn

đã đăng ký

+ Ôm chân : phần quai được thiết kế chính xác vừa vặn với cổ chân theo thông

số bàn chân của từng vùng khác nhau tạo cảm giác an toàn khi sử dụng

+ Ma sát : Phần đế ngoài được thiết kế các hoa văn đặc biệt, có độ ma sát cao,chống được trơn trượt, rất phù hợp với các hoạt động thể dục thể thao

+ Trọng lượng : Sản phẩm giầy da có trọng lượng nhẹ vừa phải, phù hợp vớimọi hoạt động đi lại hoặc thể thao, nhưng cũng đảm bảo tính mềm dẻo, che chởcho bàn chân tránh được va đập từ bên ngoài

+ Tính thẫm mỹ : Sản phẩm giầy dép của Công ty cổ phần Long Sơn đã và đangphát triển và cho ra đời một số kiểu dáng mới lạ theo từng mùa và thị hiếu củatừng khu vực khác nhau

- Công dụng một số chủng loại sản phẩm giầy – dép :

+ Các loại sandal thể thao: Dùng để mang thông dụng ngoài trời cho nhữngvùng khí hậu nóng, phù hợp tính thời trang, dã ngoại

+ Dép da nữ: Dùng để mang trong những buổi tiệc hoặc dạ hội

+ Giầy chạy (Jogging): có đặc điểm nhẹ, êm, thông thoáng, mũ quai có thể codãn được; phần đế sử dụng PU, phylon, EVA,… thích hợp cho thể thao, chạy

bộ

+ Giầy tây: Dùng để mang thông dụng trong công sở, tiệc tùng, khiêu vũ, vv…

Trang 19

+ Giầy bóng rổ, bóng chuyền: có đặc điểm êm chân và thông thoáng , cổ quaivững chắc, có bề ngang rộng tạo sự thoải mái khi rơi từ tên cao xuống, thíchhợp cho thể thao bóng rỗ, bóng chuyền

+ Giầy Tennis: có đặc điểm êm chân và thông thoáng, có khả năng chịu lực tácdụng ngang cao, có túi khí giảm sốc thích hợp cho thể thao, giải trí tennis + Giầy thông dụng: Gọi chung là giầy thể thao thông dụng, phù hợp tính thờitrang sử dụng cho thể thao và dã ngoại

Ngày đăng: 04/10/2013, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh  của Công ty cổ phần - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần (Trang 7)
Bảng 2.4 .Tình hình máy móc thiết bị của Công ty tính đến 31/12/2007 - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.4 Tình hình máy móc thiết bị của Công ty tính đến 31/12/2007 (Trang 11)
Bảng 2.5.Tình hình tăng, giảm TSCĐ hữu hình của Công ty cổ phần Long Sơn tính - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.5. Tình hình tăng, giảm TSCĐ hữu hình của Công ty cổ phần Long Sơn tính (Trang 13)
Bảng 2.6 .Tình hình nguồn vốn của Công ty  cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005 – 2007 - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.6 Tình hình nguồn vốn của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005 – 2007 (Trang 13)
Bảng 2.8.Một số mẫu giầy của Công ty cổ  phần Long Sơn so với các doanh - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.8. Một số mẫu giầy của Công ty cổ phần Long Sơn so với các doanh (Trang 20)
Bảng 2.9.Tương quan mức giá giầy dép xuất khẩu trung bình của Công ty cổ phần - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.9. Tương quan mức giá giầy dép xuất khẩu trung bình của Công ty cổ phần (Trang 22)
Sơ đồ 2.2.Kênh phân phối của Công ty giầy Thụy Khuê - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Sơ đồ 2.2. Kênh phân phối của Công ty giầy Thụy Khuê (Trang 24)
Bảng 2.10.Tương quan sản lượng tiêu thụ trung bình của Công ty với một số - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.10. Tương quan sản lượng tiêu thụ trung bình của Công ty với một số (Trang 27)
Bảng 2.11.Sản lượng tiêu thụ của Công ty giai đoạn 2005 - 2007 - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.11. Sản lượng tiêu thụ của Công ty giai đoạn 2005 - 2007 (Trang 28)
Bảng 2.12.Sản lượng thụ sản phẩm theo mặt hàng của Công ty cổ phần - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.12. Sản lượng thụ sản phẩm theo mặt hàng của Công ty cổ phần (Trang 28)
Bảng 2.13.Doanh  thu tiêu thụ của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005 – 2007 - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.13. Doanh thu tiêu thụ của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005 – 2007 (Trang 29)
Bảng 2.14.Lợi nhuận của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005 – 2007 - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.14. Lợi nhuận của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005 – 2007 (Trang 30)
Bảng 2.15.Tỷ suất lợi nhuận của Công ty cổ phần Long Sơn - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công  ty cổ phần Long Sơn giai đoạn 2005
Bảng 2.15. Tỷ suất lợi nhuận của Công ty cổ phần Long Sơn (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w