1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY LÂM CÔNG NGHIỆP LONG ĐẠI

67 394 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Giải Pháp Chủ Yếu Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Của Công Ty Lâm Công Nghiệp Long Đại
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Quản Lý Kinh Tế
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 113,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải phù hợp với quy hoạch phát triển của Nhà nước, của ngành và của tỉnh trong giai đoạn 2006 - 2010.- Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Trang 1

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY LÂM CÔNG NGHIỆP LONG ĐẠI

4.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRONG NHỮNG NĂM TỚI

4.1.1 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Quảng Bình đến năm 2010

Phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và vững chắc, đưa tỉnh Quảng Bình ra khỏi tình trạng một tỉnh nghèo, phấn đấu đến năm 2010 cơ bản đạt trình độ phát triển ngang mức trung bình của cả nước [34] Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Phấn đấu đạt giá trị sản xuất tăng hàng năm 4 - 4,5%; năm 2010 sản lượng lương thực đạt 25,5 - 26 vạn tấn; huy động các nguồn lực đẩy nhanh việc xây dựng kết cấu hạ tầng, xem đây là khâu đột phá để phát triển trong giai đoạn 2006 - 2010 và chuẩn bị cho bước tiếp theo; tăng cường công tác quản lý tài nguyên - môi trường; nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực

Mục tiêu phát triển chủ yếu kinh tế - xã hội tỉnh trong giai đoạn

2006-2010 đó là:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm 10 -11%/năm Trong đó: Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 20 - 21%/ năm

- Cơ cấu kinh tế đến năm 2010: Nông, lâm, ngư nghiệp đạt 20%; Công nghiệp

- xây dựng đạt 40%; Dịch vụ đạt 40% Kim ngạch xuất khẩu tăng 14 - 15%/năm

Trang 2

- GDP bình quân đầu người đến năm 2010 đạt: 700 - 800 USD Giải quyết việc làm hàng năm 2,4 - 2,5 vạn lao động/năm

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 65% [34]

4.1.2 Phương hướng và mục tiêu phát triển của Công ty

Trên cơ sở các thông tin về thị trường khu vực và trên thế giới, để thực hiện thành công định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đồng thời, để tồn tại và phát triển trong điều kiện mới, Công ty Lâm Công nghiệp Long Đại căn cứ vào khả năng nội tại đã đề ra định hướng chiến lược với những mục tiêu cơ bản sau đây [3]:

- Tiếp tục nâng cao uy tín, vị thế của Công ty nhằm tạo lợi thế trong công tác mở rộng thị trường nội địa; tích cực tìm kiếm và khai thác thị trường nước ngoài; coi trọng đầu tư cho hoạt động chế biến hàng xuất khẩu Sắp xếp, đổi mới, phát triển các Lâm trường theo Nghị quyết 28NQ/TW của Bộ Chính trị

và Nghị định 200 NĐ/CP của Chính phủ; mở rộng hoạt động liên doanh liên kết; đầu tư thêm công nghệ, thiết bị hiện đại để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm dầu thông, colophan, sản phẩm từ gỗ, thu hồi công nợ; tập trung triển khai công tác cổ phần hoá doanh nghiệp theo quyết định của tỉnh

- Phấn đấu đến năm 2010: tăng trưởng kinh tế đạt 10 đến 11%/năm; doanh thu đạt từ 45 đến 50 tỷ đồng/năm; lợi nhuận đạt từ 2 đến 2,5 tỷ đồng/năm; độ che phủ của rừng do Công ty quản lý đạt 79% đến 80%; kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1.000.000 USD/năm

4.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY

4.2.1 Những yêu cầu cơ bản khi xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Trang 3

- Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải phù hợp với quy hoạch phát triển của Nhà nước, của ngành và của tỉnh trong giai đoạn 2006 - 2010.

- Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải dựa trên sự phân tích đầy đủ về các tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

- Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải dựa trên tiềm năng thế mạnh thực tế của Công ty nhằm đạt tính khả thi cao

- Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải đảm bảo cho Công ty phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện và tình hình mới của cơ chế thị trường , xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

4.2.2 Những giải pháp cụ thể

4.2.2.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Qua phân tích và khảo sát thực tế tại công ty cho thấy, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn thấp, Công ty cần thực hiện một số giải pháp sau:

4.2.2.1.1 Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm

Công ty phải xây dựng kế hoạch tiêu thụ trên cơ sở nghiên cứu rõ thị trường, quy mô và cầu thị trường, nhu cầu của từng đối tác khách hàng,

dự đoán xu hướng biến đổi của thị trường để có phương án sản xuất đúng đắn, có hiệu quả Trong thời gian tới việc nghiên cứu thị trường trở nên hết sức cần thiết đối với Công ty Để thực hiện tốt công việc này, đòi hỏi phải có bộ phận nghiên cứu thị trường Bộ phận này chia làm 2 nhóm:

Nhóm 1: ở trong nước;

Nhóm 2: ở nước ngoài;

Mỗi nhóm gồm từ 2-3 người trong đó có sự phân công phụ trách về nghiên cứu thị trường từng loại sản phẩm chủ yếu như: colophan, dầu thông, hàng song mây, ván opcan, hàng mộc dân dụng, hàng vật liệu xây dựng

Trang 4

Mỗi nhóm có nhiệm vụ nghiên cứu về sản phẩm của Công ty Cách phân chia này sẽ tránh tình trạng công việc chồng chéo, phân bổ trách nhiệm từng người và bao quát được ở mọi thị trường.

Công ty có thể sử dụng phương pháp nghiên cứu hiện trường Đối với những sản phẩm có số lượng khách hàng ít nhưng doanh thu lớn, Công ty có thể tiến hành trao đổi trực tiếp với từng khách hàng về sản phẩm của mình qua giao tiếp đàm phán để ký kết hợp đồng Thông qua đàm phán này, có thể giảm chi phí nghiên cứu thị trường nhưng vẫn đảm bảo có được thông tin tin cậy Ngoài ra, hàng năm Công ty có thể tổ chức Hội nghị khách hàng một lần, tham gia các Hội chợ trên địa bàn để giới thiệu và quảng bá sản phẩm, xâm nhập thị trường mới, mở rộng thị trường

Sau khi đã có những thông tin cần thiết, Công ty cần so sánh, phân loại thị trường từ đó xác định những thị trường có triển vọng nhất Để làm việc này, Công ty nên sử dụng phương pháp so sánh và đánh giá triển vọng thị trường (mẫu 4.1) theo 4 loại sau:

- Thị trường lớn (quan trọng về khối lượng) và có điều kiện thuận lợi

- Thị trường lớn nhưng điều kiện kém thuận lợi

- Thị trường nhỏ (khối lượng giảm) nhưng có điều kiện thuận lợi

- Thị trường nhỏ và điều kiện không thuận lợi

Trong đó:

1- Điều kiện không thuận lợi;

2- Điều kiện trung bình;

3- Điều kiện thuận lợi;

4- Điều kiện rất thuận lợi

Trong biểu so sánh, Công ty đánh giá tiêu chuẩn vào các điểm tương ứng, cộng tổng điểm và so sánh các thị trường với nhau theo số điểm

Trang 5

Đồng thời với việc nghiờn cứu thị trường, cần tăng cường hoạt động quảng cỏo giới thiệu sản phẩm và giữ vững thị trường hiện cú, phỏt triển thị trường mới nhất là thị trường xuất khẩu Cụng ty nờn cú một chớnh sỏch quảng cỏo cụ thể trớch tỷ lệ % theo tổng doanh thu Phương phỏp này cú một

số ưu điểm nhất định; trước hết là tớnh kinh phớ bằng tỷ lệ % doanh số bỏn cú nghĩa là tổng kinh phớ cho cụng tỏc kớch thớch tiờu thụ chắc chắn sẽ thay đổi tuỳ theo mức độ bỏn nhiều hay ớt và trong phạm vi cho phộp Ngoài ra, cỏch tớnh này núi lờn Cụng ty đó chỳ ý tới mối quan hệ qua lại giữa chi phớ quảng cỏo và giỏ bỏn với tổng lợi nhuận trờn một đơn vị hàng hoỏ Như vậy trong thời gian tới Cụng ty nờn cú chớnh sỏch trớch tỷ lệ % doanh số bỏn ra và nờn

cú chớnh sỏch đói ngộ, trớch thưởng nếu nhõn viờn khai khỏc được nhiều hợp đồng tiờu thụ

Mộu bảng 4.1 Biểu so sánh và đánh giá triển vọng thị trờng

Trang 6

Triển vọng của thị trường.

Các tiêu chuẩn đánh giá.

Thị trường

Vị trí của thị trường

+ Nhu cầu theo giá trị

+ Nhu cầu theo khối lượng

+ Triển vọng tăng trưởng

4.2.2.1.2 Tăng cường công tác thu đòi các khoản phải thu

Trang 7

Các khoản phải thu của Công ty rất lớn (năm 2006 đã giảm nhiều nhưng vẫn chiếm 35,61% so với TSLĐ), làm ảnh hưởng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Vì vậy cần đẩy mạnh công tác thu đòi công nợ để tránh thất thoát vốn, hạn chế rủi ro, nhanh chóng thu hồi theo một số hướng sau:

* Công ty giao cho phòng Tài chính - Kế toán xây dựng chính sách tín dụng

cụ thể trình Giám đốc quyết định theo từng thời điểm Chính sách này phải xác định rõ các điều kiện về vốn, về tình trạng kinh doanh, tình trạng lợi nhuận và trách nhiệm trả nợ của khách hàng Mục tiêu của việc xây dựng các tiêu chuẩn tín dụng là nhằm giảm khối lượng các khoản thu, rút ngắn kỳ thu tiền Tuy nhiên phải xây dựng cho phù hợp với từng đối tượng khách hàng Xây dựng chính sách tín dụng là việc phân loại các khách hàng của Công ty về quy mô,

về ngành nghề để vừa quản lý có hiệu quả các khoản phải thu vừa không ảnh hưởng đến tổng doanh thu Chính sách tín dụng phải đảm bảo mềm mỏng, linh hoạt, vì nếu không sẽ vô tình loại bỏ đi một số khách hàng tiềm năng

* Công ty cần đa dạng hoá các chính sách chiết khấu, nhằm khuyến khích khách hàng thanh toán đúng hạn; có thể nâng cao tỉ lệ chiết khấu, áp dụng hình thức có thưởng nếu thanh toán đúng hạn hoặc trước thời hạn; ngoài ra, Công ty cần có chế độ khen thưởng kịp thời cho đội ngũ cán bộ nhân viên thu đòi công nợ, mức thưởng tính trên số tiền thu đòi được

* Cần có ràng buộc cụ thể, chặt chẽ khi ký hợp đồng tiêu thụ Hiện nay, thị trường của Công ty chủ yếu là khách hàng truyền thống, khách hàng quen thuộc nên việc ký kết hợp đồng chưa được chặt chẽ nếu không nói là lỏng lẻo Điều này sẽ rất nguy hiểm và có thể gây ra rủi ro lớn khi đối tác khách hàng

có ý chủ quan trì trệ việc thanh toán hoặc thực hiện kinh doanh không đảm bảo Do vậy, Công ty phải quy định và làm tốt khâu giao kết hợp đồng; phải gắn trách nhiệm của khách hàng thông qua các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng, các điều khoản về giao nhận, thời gian, điều kiện thanh toán và thời hạn thanh toán Đặc biệt, trong thời gian tới, Công ty có chiều hướng đẩy mạnh

Trang 8

xuất khẩu hàng hoá như: colophan, dầu thông, hàng mộc dân dụng thì việc đảm bảo tính chất pháp lý và chặt chẽ trong hợp đồng phải được coi trọng.

* Công ty cần xây dựng các chính sách thanh toán hợp lý trên cơ sở đó tăng tốc độ thu hồi các khoản phải thu Chính sách này căn cứ vào số lượng

và giá trị từng đơn hàng, từng đối tượng khách cụ thể

Định kỳ hàng tháng, hàng quý Phòng Tài chính - Kế toán phải đối chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình công nợ đặc biệt là các khoản nợ đến hạn, quá hạn Các bản đối chiếu phải có chữ ký xác nhận tình trạng công nợ, đối với các khoản nợ khó đòi, không thể thu hồi phải xác định rõ nguyên nhân và biện pháp xử lý kịp thời để tránh tình trạng này xảy ra với đối tác khách hàng khác

4.2.2.1.3 Tăng cường công tác quản lí dự trữ tồn kho

Hàng hoá tồn kho của Công ty chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản lưu động (năm 2006 chiếm đến 42,7%), điều này thể hiện vốn lưu động bị ứ đọng

ở khâu dự trữ, làm tăng chi phí kinh doanh, giảm hiệu quả sử dụng Vì vậy, thời gian tới Công ty cần phải thực hiện:

* Căn cứ vào kế hoạch sản xuất hàng quý, năm để xác định mức tồn kho tối ưu từng thời kỳ Điều này sẽ làm giảm thiểu khối lượng hàng tồn kho, nhưng vẫn đảm bảo phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra bình thường; theo đó, tính toán xác định chính xác nhu cần vốn tối thiểu cần thiết cho từng khâu dự trữ Việc xác định khối lượng hàng tồn kho tối ưu có thể sử dụng mô hình đặt hàng hiệu quả

Công ty nên sử dụng mô hình sản lượng đơn đặt hàng kinh tế cơ bản (EOQ) để xác định mô hình đặt hàng tối ưu

Công thức xác định:

H

D S

Q* = 2* *

Trong đó: S là chi phí đặt hàng;

D là nhu cầu hàng năm của hàng tồn kho;

Trang 9

H là chi phí tồn trữ cho 1 đơn vị tồn kho mỗi năm;

Q * là sản lượng hàng tối ưu cho một đơn hàng

* Xây dụng kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu phù hợp, tối ưu trên cơ

sở đánh giá nhu cầu thị trường, các đơn hàng, tình trạng máy móc thiết bị và

kế hoạch sản xuất của bộ phận, từng phân xưởng cũng như toàn Công ty Hiện nay, do công tác đánh giá nhu cầu và cân đối sản xuất còn hạn chế nên việc

dự trữ nguyên vật liệu chưa hiệu quả; nguyên liệu lâm sản chủ yếu được khai thác, thu mua từ nhiều nguồn, giá trị lớn nếu để dự trữ lâu ngày chưa sử dụng

sẽ phát sinh nhiều chi phí như bảo quản, lưu kho, dẫn đến vốn tồn đọng lớn, vòng quay vốn lưu động chậm Cần phải giao cụ thể cho một cán bộ chuyên trách theo dõi việc xuất nhập vật tư và báo cáo thường xuyên về tình trạng vật

tư, nguyên vật liệu của Công ty để có biện pháp xử lí kịp thời Cụ thể, cần xác lập cho mỗi loại vật tư, nguyên vật liệu một tiêu chuẩn về lượng tồn kho Chẳng hạn như loại vật tư nào thường dùng để sản xuất sản phẩm truyền thống có thể dự trữ một lượng tương đối bằng lượng sử dụng hai tháng như nguyên liệu gỗ sản xuất hàng mộc dân dụng, nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng; loại vật tư ít dùng thì chỉ nên dự trữ một lượng rất nhỏ tránh để tình trạng tồn kho lớn trong một khoảng thời gian dài

Bên cạnh đó, Công ty cần thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp, tạo ra sự chủ động về nguồn cung cấp nguyên vật liệu; xây dựng các quy định ràng buộc ngoài việc nhằm tạo ra mối quan hệ thân thiết còn tránh được trường hợp nhà cung ứng độc quyền về nguyên vật liệu; cần phải có các nguồn thay thế dự phòng và đề phòng trường hợp xấu, tiêu cực xảy ra xuất phát từ phía nhà cung ứng đã giao kết

* Tăng cường công tác quản lí về chất lượng, quản lý về mặt hiện vật đối với hàng hoá và nguyên vật liệu Muốn vậy Công ty phải xây dựng quy định trách nhiệm vật chất đối với công nhân và các thủ kho; thực hiện tốt các

Trang 10

điều kiện về nhà kho, các quy định về an toàn phòng chống cháy nổ, tác động thời tiết, lụt lội

Trang 11

4.2 .2.2 Khai thác có hiệu quả các hình thức huy động vốn

- Để đáp ứng nhu cầu vốn lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty cần phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn.

- Trong thời gian qua, ngoài số vốn ngân sách Nhà nước cấp cho công ty và nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận giữ lại rất hạn chế, công ty đã tích cực sử dụng các phương thức huy động vốn khác để đáp ứng nhu cầu về vốn của mình Các hình huy động vốn bên ngoài mà công ty đã sử dụng là: sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại, vay vốn ngân hàng, huy động góp vốn liên doanh Tuy nhiên, các hình thức huy động vốn của công ty chưa được đa dạng hoá và khai thác chưa có hiệu quả.

Trong thời gian tới công ty cần thực hiện những nội dung sau:

- Khai thác có hiệu quả các hình thức huy động vốn truyền thống của công ty

Thời gian qua công ty chủ yếu vay vốn từ ngân hàng, vốn vay ngân hàng đã đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, trong đó chủ yếu là vốn vay ngắn hạn, vì vậy công ty phải chịu áp lực thanh toán nợ vay lớn, chịu rủi ro cao, chưa đảm bảo sự ổn định và an toàn về tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Việc khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại trong thời gian qua của công ty cũng bị hạn chế, nợ phải trả người bán chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nợ phải trả của công ty Vì thế trong thời gian tới công ty cần:

Trang 12

* Khai thác tốt nguồn vốn tín dụng thương mại nhằm giảm bớt vốn vay ngắn hạn ngân hàng Để khai thác tốt nguồn vốn này công ty cần phải giữ uy tín trong kinh doanh, chấp hành tốt kỷ luật thanh toán, xây dựng mối quan hệ hợp tác làm ăn lâu dài với các nhà cung cấp và khách hàng của công ty Tuy nhiên, mức độ sử dụng tín dụng thương mại của công ty cần căn cứ vào chi phí của khoản tín dụng đó, có nhiều trường hợp công ty không phải chịu chi phí, nhưng có những trường hợp chi phí sử dụng khá cao Chi phí của tín dụng thương mại là chi phí mà khi người mua không thanh toán được tiền trong thời hạn được hưởng chiết khấu

* Đối với vay vốn ngân hàng, công ty cần tăng cường vốn vay dài hạn nhằm tăng vốn lưu động thường xuyên, đảm bảo an toàn tài chính và tạo điều kiên thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Mặt khác, vay ngắn hạn ngân hàng của công ty thời gian qua chủ yếu là vay theo hạn mức tín dụng Hình thức vay này có ưu điểm là chi phí vay thấp, không phải thế chấp, công ty có thể sử dụng vốn bất kỳ khi nào có nhu cầu Song có hạn chế

là khi nhu cầu vốn tạm thời của công ty lớn hơn hạn mức tín dụng mà ngân hàng đặt ra, công ty sẽ gặp khó khăn về vốn Vì vậy công ty phải kết hợp sử dụng với các hình thức vay khác như vay ngắn hạn bằng cách thế chấp các khoản phải thu, hoặc thế chấp hàng tồn kho của công ty để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động gia tăng tạm thời

- Sử dụng các hình thức huy động vốn mới

Nhu cầu đầu tư của công ty trong thời gian tới là rất lớn Mặt khác công

ty cũng sẽ tiến hành cổ phần hoá chuyển sang hoạt động theo hình thức công

ty cổ phần, đây chính là điều kiện thuận lợi để công ty sử dụng các hình thức huy động vốn mới và đa dạng hoá các hình thức huy động vốn nhằm đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư Do đó, trong thời gian tới công ty cần sử dụng một

số hình thức huy động vốn mới như sau:

* Huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu

Trang 13

Trong thời gian tới công ty sẽ tiến hành cổ phần hoá và chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần Khi trở thành công ty cổ phần, công ty có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới Công

ty có quyền lựa chọn hình thức phát hành cổ phiếu mới như:

+ Phát hành cổ phiếu mới với việc giành quyền ưu tiên đặt mua cho các

cổ đông nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông hiện tại và tránh phải chia sẽ quyền kiểm soát công ty cho người khác

+ Phát hành cổ phiếu mới cho người thứ ba, là người có quan hệ mật thiết với công ty như người lao động, các đối tác kinh doanh, Hình thức phát hành cổ phiếu này sẽ giúp công ty vừa tăng được vốn kinh doanh, vừa tạo ra mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa công ty với những người có quan hệ thường xuyên với công ty

+ Phát hành cổ phiếu mới ra công chúng, tức là công ty chào bán cổ phiếu công khai trên thị trường

Tuy nhiên, việc phát hành cổ phiếu để huy động thêm vốn thường rất tốn kém Chi phí phát hành cổ phiếu phổ thông thường dao động trong khoảng 5% cho tới 10% tổng số vốn huy động Vì thế công ty nên sử dụng hình thức phát hành cổ phiếu khi muốn huy động vốn chủ sở hữu với số lượng lớn Mặt khác, để phát hành cổ phiếu ra công chúng thành công công ty phải tạo dựng được danh tiếng và uy tín trên thị trường được công chúng đầu tư biết đến, thực hiện các nguyên tắc quản trị công ty tốt được quốc tế thừa nhận thể hiện qua mẫu điều lệ áp dụng cho các công ty niêm yết và có các dự án đầu tư hứa hẹn mang lại tỷ suất sinh lời cao Đây sẽ là mục tiêu phấn đấu lâu dài của công ty Bởi vì chỉ có những công ty được quản trị tốt, hoạt động có hiệu quả, có uy tín, danh tiếng trên thị trường mới dễ dàng trong việc huy động vốn qua thị trường chứng khoán

* Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu

Trang 14

Công ty cần có sự điều chỉnh trong việc huy động vốn, từ chỗ lệ thuộc chủ yếu vào vốn vay ngân hàng công ty có thể kết hợp cả hai phương thức vừa vay vốn từ ngân hàng vừa huy động vốn trực tiếp qua thị trường vốn Để huy động vốn vay dài hạn, trong thời gian tới công ty có thể sử dụng hình thức phát hành trái phiếu ra thị trường Trước khi phát hành, công ty cần lựa chọn loại trái phiếu, kỳ hạn của trái phiếu phát hành cho phù hợp với dự kiến

về tình hình kinh doanh của công ty trong thời gian tới Các loại trái phiếu mà công ty có thể lựa chọn phát hành như: trái phiếu có lãi suất cố định, đây là loại trái phiếu các công ty thường hay phát hành nhất trong các loại trái phiếu công ty; hoặc trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có thể thu hồi sớm, Công ty có thể phát hành trái phiếu riêng rẽ hoặc phát hành ra công chúng Để phát hành trái phiếu riêng rẽ, công ty phải thoả mãn các điều kiện qui định tại Nghị định 52/2006/NĐ-CP về phát hành trái phiếu riêng rẽ Các điều kiện này phù hợp với điều kiện thực tế của các doanh nghiệp Việt Nam và công ty có thể đáp ứng được Phát hành trái phiếu riêng rẽ là hình thức có tính khả thi đối với công ty, vì thế trong tương lai gần công ty nên sử dụng hình thức này để tạo thêm một kênh huy động vốn mới, đa dạng hoá nguồn vốn cho công ty Việc phát hành trái phiếu riêng rẽ sẽ tạo tiền đề tốt cho công ty tiến tới phát hành trái phiếu ra công chúng sau này Vì phát hành trái phiếu ra công chúng, doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục phức tạp hơn, phải thoả mãn các điều kiện qui định khắt khe hơn, cao hơn theo pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán

* Thuê dài hạn tài sản

Trang 15

Đây cũng là một phương thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn, tuy nhiên nó có những ưu thế hơn so với vay vốn tín dụng ngân hàng Trong thời gian tới công ty cần đầu tư mua sắm, đổi mới một số máy móc thiết bị, phương tiện vận tải nhằm mở rộng và nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của công ty Trong điều kiện vay vốn dài hạn từ ngân hàng khó khăn, do dư

nợ vay tín dụng ngân hàng của công ty lớn, nguồn vốn chủ sở hữu bị hạn chế, Công ty nên sử dụng hình thức thuê dài hạn tài sản Việc sử dụng phương thức này sẽ giúp công ty có được thiết bị, công nghệ hiện đại phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của công ty mà không nhất thiết phải đầu tư một lần với số lượng vốn lớn Với hình thức này, Công ty có thể được tài trợ 100% nhu cầu vốn mà không bị đòi hỏi về thế chấp, bảo lãnh cũng như không bị hạn chế bởi hạn mức tín dụng Tuy nhiên, trước khi quyết định thuê dài hạn tài sản công ty cần lập và đánh giá phương án thuê tài sản có hiệu quả kinh tế không,

để thực hiện Mặt khác, công ty phải tìm kiếm được đơn vị cho thuê tài chính đáp ứng được nhu cầu của mình Hiện nay, thị trường cho thuê tài chính ở nước ta đang trong giai đoạn phát triển, nhiều công ty cho thuê tài chính ra đời và ngày càng lớn mạnh về khả năng tìm kiếm nguồn cung ứng máy móc thiết bị, về đội ngũ chuyên gia giỏi am hiểu và nắm vững khoa học công nghệ mới tiên tiến Đây chính là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ta nói chung và công ty nói riêng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận dịch vụ cho thuê tài chính

Để khai thác có hiệu quả các hình thức huy động vốn truyền thống và sử dụng các hình thức huy động vốn mới công ty cần phải thực hiện một số yêu cầu sau:

- Phải trên cơ sở kế hoạch nhu cầu vốn cần huy động của công ty để lựa chọn, xác định các hình thức huy động vốn hợp lý;

- Thực hiện các hình thức huy động vốn phải lưu ý đảm bảo một cơ cấu tài chính của công ty hợp lý để sử dụng nguồn vốn có hiệu quả cao nhất;

Trang 16

- Quá trình huy động tạo lập nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh phải tính toán, sử dụng kết hợp các hình thức huy động vốn khác nhau nhằm hạ thấp chi phí vốn;

- Việc sử dụng các hình thức huy động vốn, đặc biệt là những hình thức huy động vốn mới đòi hỏi công ty phải tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc các quy định của Nhà nước và pháp luật về nội dung liên quan;

Giải pháp được thực hiện tốt sẽ mang lại những tác dụng sau:

- Khai thác có hiệu quả nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty;

- Đây cũng là cơ sở để công ty được tài trợ máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại nhất là trong khi điều kiện tài chính công ty còn khó khăn không cho phép;

- Tạo điều kiện để hạ thấp chi phí vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận, an ninh tài chính công ty được tăng cường

4.2.2.3 Tăng cường công tác lập kế hoạch nhu cầu vốn lưu động hàng năm cho nhà máy Chế biến nhựa thông, vốn kinh doanh của Công ty

Qua khảo sát tại nhà máy chế biến Nhựa thông và Công ty nói chung, tác giả xin đưa ra giải pháp này dựa trên hai căn cứ quan trọng sau đây:

- Về mặt khoa học: Muốn sản xuất một khối lượng sản phẩm nhất định cần phải có một lượng vốn lưu động tương ứng để dự trữ những TSLĐ cần thiết cho nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp Nếu lượng vốn lưu động quá ít thì dự trữ vật tư ở mức thấp không đủ cho sản xuất dẫn đến tình trạng ngừng sản xuất, ngược lại sẽ dư thừa vật tư, ứ động và lãng phí vốn [37] Từ đó, cần

dự tính số vốn lưu động cần thiết, tối thiểu nhằm đầu tư đáp ứng hoạt động bình thường tránh tình trạng thiếu, hoặc thừa

- Về mặt thực tế tại Công ty: Từ khi bước vào hoạt động từ đầu năm

2001 đến nay, nhà máy chế biến Nhựa thông chưa thực hiện đầy đủ công tác lập kế hoạch vốn lưu động, chủ yếu sản xuất theo số lượng kế hoạch của Công ty yêu cầu Hơn nữa, vốn lưu động của nhà máy chiếm tỷ trọng lớn,

Trang 17

nguyên liệu được mua về nhập kho, phục vụ cho quá trình chế biến Xuất phát

từ tình hình dự trữ và sử dụng vốn lưu động thiếu cơ sở tính toán một cách khoa học, dẫn đến có lúc lượng vốn lưu động dự trữ quá lớn so với mức cần thiết, có lúc lại thiếu hụt làm cho quá trình sản xuất gặp phải khó khăn

Quá trình sản xuất của Nhà máy trải qua 07 công đoạn tương ứng với công việc của 3 phân xưởng chính: phân xưởng Hoá lỏng; phân xưởng Rửa, lọc, chưng cất; phân xưởng Đóng gói Quy trình sản xuất nhựa thông tại Nhà máy cụ thể như sau [3]:

Sơ đồ 4.1: Quy trình sản xuất sản phẩm của nhà máy chế biến Nhựa thông

Nội dung của giải pháp đưa ra là xác định nhu cầu vốn lưu động cho nhà máy bằng phương pháp trực tiếp Theo đó, việc xác định nhu cầu vốn này là xác định vốn lưu động qua 3 khâu sau đây:

* Xác định nhu cầu VLĐ khâu dự trữ sản xuất: bao gồm xác định nhu cầu

vốn nguyên vật liệu chính; nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, vật liệu phụ và phụ tùng khác

- Xác định nhu cầu đối với nhựa thông (nguyên vật liệu chính) theo công thức xác định như sau:

Số ngày trong năm SX (360 ngày)

Số ngày định mức dự trữ nhựa thông (NNP) là số ngày kể từ lúc Nhà máy bỏ tiền ra mua nhựa thông cho đến lúc đưa nó vào sử dụng, bao gồm năm loại ngày

Nhập kho

Bao gói

Chưng cất

Lắng lọc

Rửa

DD

Lọc nhựa Hoá

lỏng

Trang 18

sau: số ngày hàng đi trên đường; số ngày kiểm nhận; số ngày cung cấp cách nhau; số ngày chuẩn bị xuất dùng; số ngày bảo hiểm.

- Xác định nhu cầu vốn vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, bao bì vật đóng gói thực hiện theo định mức đã quy định

* Xác định nhu cầu VLĐ khâu sản xuất:

Xác định nhu cầu vốn sản phẩm colophan và dầu thông đang chế biến: đó

là số vốn cần thiết chiếm dụng trong khâu sản xuất, kể từ khi đưa nhựa thông vào chế biến cho đến khi có được sản phẩm colophan và dầu thông Vốn được xác định theo công thức sau đây:

VNĐC = Pn x CK x HS

Trong đó: VNĐC là nhu cầu vốn về colophan và dầu thông đang chế biến; Pn

là phí tổn sản xuất bình quân mỗi ngày;

CK là chu kỳ sản xuất của colophan và dầu thông; HS là hệ số sản phẩm đang chế tạo

Tổng sản lượng trong năm SX * vị mỗi loại SPGiá thành đơn

Pn =

Số ngày SX trong năm (360 ngày)

Chu kỳ sản xuất của colophan và dầu thông là 0,5 ngày

Hệ số sản phẩm đang chế biến đối với colophan và dầu thông có quy trình rất phức tạp, bởi vì phải qua 7 khâu Do đó sử dụng công thức sau đây để xác định:

Z C

C Z H H

K i

Ki i Si

với i là công đoạn thứ i

HSi là hệ số sản phẩm đang chế biến của công đoạn thứ i

Zi là giá thành sản xuất ở công đoạn thứ i

CKi là chu kỳ sản xuất sản phẩm ở công đoạn thứ i

* Xác định nhu cầu vốn colophan và dầu thông thành phẩm (V NTP ): là số

vốn colophan và dầu thông cần thiết chiếm dụng kể từ khi sản phẩm được chế

Trang 19

biến xong nhập kho cho đến lúc xuất cho đơn vị mua hàng và thu được tiền bán hàng Nhu cầu vốn này nhiều hay ít phụ thuộc vào hai nhân tố:

Một là, giá thành sản xuất sản phẩm bình quân mỗi ngày, ký hiệu ZN

Hai là, số ngày luân chuyển thành phẩm, kí hiệu NTP

Công thức xác định:

VNTP = ZN x NTP

Để xác định Zn phải sử dụng công thức sau đây:

Số lượng sản phẩm SX * Giá thành đơn vị mỗi loại SP

Zn =

Số ngày SX trong năm (360 ngày)

Sau khi xác định được vốn lưu động ở ba khâu trên, tổng hợp lại, sẽ được nhu cầu vốn lưu động cho Nhà máy trong năm kế hoạch…

Giải pháp này thực hiện dựa trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất trong năm; sản lượng chế biến và số lượng tiêu thụ; danh mục mặt hàng; dự toán chi phí sản xuất; kế hoạch cung cấp vật tư kỹ thuật; biện pháp tổ chức kỹ thuật sản xuất; độ dài chu kỳ sản xuất chế biến

Trong quá trình xác định nhu cầu vốn lưu động cần phải phân tích tình hình thực tế về cung cấp, phân phối và tiêu thụ (chủ yếu là xuất khẩu), phát hiện những vấn đề tồn tại để xử lý kịp thời các khoản dự trữ vật liệu, kết hợp với các biện pháp cải tiến quản lý nhằm tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác để trực tiếp xuất khẩu rút ngắn thời gian cung cấp, rút ngắn thời gian kiểm nhận và vận chuyển vật liệu để nâng hiệu quả sử dụng đồng vốn

Khi xác định nhu cầu vốn lưu động cho Nhà máy cần phải có sự tham gia của phân xưởng, Phòng chức năng nhằm thu thập ý kiến đóng góp của các

bộ phận này, nếu không, nhu cầu vốn lưu động được xác định sẽ thiếu cơ sở thực tế và kém chính xác

Việc xác định nhu cầu vốn lưu động hàng năm cho Nhà máy chế biến nhựa thông được thực hiện, sẽ có ba tác dụng lớn:

Trang 20

Thứ nhất, đảm bảo cho quá trình SXKD được diễn ra thường xuyên,

liên tục đồng thời tránh được ứ đọng và lãng phí vốn

Thứ hai, là cơ sở để tổ chức các nguồn vốn hợp lý, hợp pháp đáp ứng

kịp thời nhu cầu vốn lưu động cho Nhà máy

Thứ ba, sử dụng tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả vốn lưu động, đồng thời

còn là căn cứ để đánh giá kết quả công tác quản lý vốn trong nội bộ Công ty

Như vậy, việc tăng cường công tác lập kế hoạch vốn lưu động tại Nhà máy chế biến nhựa thông là một biện pháp hữu hiệu để một mặt nâng cao năng lực sản xuất, chủ động được nguồn vốn, đảm bảo tiến độ sản xuất kinh doanh, đồng thời giảm thiểu chi phí sản xuất một cách hợp lý Trên cơ sở đó

sẽ hạ được giá thành sản phẩm, tạo thêm được lợi thế trong cạnh tranh, nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy nói riêng và của Công ty Lâm Công nghiệp Long Đại

* Xác định nhu cầu vốn kinh doanh của Công ty đến năm 2010 bằng phương pháp dự báo:

Để xác định nhu cầu vốn kinh doanh của Công ty đến năm 2010, chúng

ta có thể sử dụng số liệu thống kê về Doanh thu, Lợi nhuận trong 5 năm (2002

- 2006) và một số phương pháp dự báo thực hiện như sau:

- Dự báo mức doanh thu, lợi nhuận và vốn chủ sở hữu đến năm 2010 bằng phương trình đường thẳng thống kê:

b at

Do đó: Doanh thu năm 2010 là 127.764 triệu đồng

Kết quả tính toán được cho dự báo lợi nhuận:

Trang 21

Do đó: Lợi nhuận năm 2010 là 2.986 triệu đồng

Kết quả tính toán được cho vốn chủ sở hữu:

Do đó: Vốn chủ sở hữu năm 2010 là 35.986 triệu đồng

- Dự báo nhu cầu vốn kinh doanh năm 2010 bằng phương pháp đường hồi quy tương quan tuyến tính: Yt = aX + b

Kết quả tính toán được cho nhu cầu vốn kinh doanh:

- Xác định vốn kinh doanh của Công ty đến năm 2010 theo mức lợi nhuận đã dự báo ở trên (2.986 triệu đồng): Yt = a X + b

Trang 22

Phân tích hiệu quả sử dụng vốn là một nội dung trong phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp nắm rõ tình hình tài chính, tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, biết được điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của nó từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời về sản xuất kinh doanh và tài chính

Qua xem xét thực trạng sử dụng vốn tại công ty Lâm Công nghiệp Long Đại cho thấy công tác phân tích tài chính ở đây chưa được chú trọng thực hiện, chưa có bộ phận chuyên đảm trách công tác này Phân tích tài chính công ty chưa đáp ứng được nhu cầu quản trị Vì vậy, trong thời gian tới công

ty cần hoàn thiện công tác phân tích tài chính công ty theo hướng sau:

- Về mặt tổ chức: Cần có một bộ phận chuyên đảm trách công tác phân

tích tài chính công ty Với quy mô Công ty, bộ phận này cần bố trí một người nằm trong Phòng Tài chính - Kế toán Cán bộ phân tích tài chính cần có trình

độ chuyên môn về phương pháp phân tích, am hiểu kế toán, tài chính, tình hình đặc điểm ngành nghề kinh doanh của công ty, các điều kiện kinh tế vĩ mô

- Về nội dung phân tích:

Hiện tại, phân tích tài chính công ty mới dừng lại ở việc tính toán một

số chỉ tiêu cơ bản đánh giá khái quát tình hình hoạt động SXKD theo yêu cầu của việc lập báo cáo tài chính do Nhà nước quy định như: các chỉ tiêu về khả năng thanh toán ( khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh); chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn; các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời ( tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu) Vì vậy, cần bổ sung thêm một số chỉ tiêu phân tích tài chính khác nhằm xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu phân tích đầy đủ, toàn diện Đó là:

+ Chỉ tiêu về khả năng thanh toán lãi vay Việc tính chỉ tiêu này cho phép Công ty biết được mức độ lợi nhuận thu được đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế nào

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Trang 23

Khả năng thanh toán lãi vay =

Lãi vay+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động như: vòng quay vốn lưu động, vòng quay dự trữ, kỳ thu tiền bình quân, sức sản xuất của vốn cố định, số vòng quay tổng vốn kinh doanh

+ Phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn

Phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn là một công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị có thể hoạch định và kiểm tra tình hình tài chính công ty, xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó Phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn được thực hiện thông qua việc lập Bảng tài trợ Để lập bảng, cần phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên bảng cân đối kế toán cuối kỳ so với đầu kỳ Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở hai cột:

Trang 25

( Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty năm 2005, 2006)

Qua Bảng tài trợ của công ty năm 2006 cho thấy:

Nguồn vốn của công ty trong năm 2006 được khai thác một phần từ nguồn vay và giảm TSLĐ khác, phần chủ yếu còn lại là từ các khoản phải thu Với tổng nguồn vốn 14.406 triệu đồng, công ty đã sử dụng để mua nguyên liệu

dự trữ cho sản xuất, chế biến và chủ yếu là tăng trưởng TSCĐ (chiếm 60,4% tổng nguồn vốn huy động được), phần còn lại để gia tăng tiền mặt

- Về phương pháp phân tích: Công ty chủ yếu sử dụng phương pháp so

sánh theo thời gian để phân tích các chỉ tiêu tài chính Muốn đánh giá đúng thực trạng tài chính, chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của công ty cần phải sử dụng các phương pháp phân tích tài chính khác, cụ thể:

- Sử dụng phương pháp so sánh theo không gian, là so sánh với các doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực Cách so sánh này sẽ cho thấy được vị thế của Công ty trên thị trường, sức mạnh tài chính so với đối thủ cạnh tranh và giải thích được sự thành công hay thất bại của Công ty Tuy nhiên, do kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực nên việc sử dụng phương pháp này chỉ cho kết luận đúng khi tiến hành so sánh từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty với các doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực tương ứng hay với chỉ số trung bình của ngành tương ứng Để làm được điều này đòi hỏi số liệu thống kê theo từng ngành cũng như hệ thống thông tin kế toán của Công ty phải phản ảnh và cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời, chi tiết

- Sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont (hay còn gọi là phương pháp phân tích Dupont các tỷ số tài chính)

Trang 26

Phương pháp này cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ số tài chính chủ yếu Theo đó chúng ta có thể trình bày một tỷ số tài chính bằng tích một vài tỷ số tài chính khác, qua đó phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ số tài chính cần phân tích

Ví dụ dạng thu gọn các công thức của Dupont:

Tỷ suất sinh lợi của

tổng tài sản

Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần

Tỷ suất sinh lợi

của vốn chủ sở

hữu

= Lợi nhuận sau thuế * Doanh thu thuần * Tổng tài sản

Chẳng hạn từ số liệu báo cáo tài chính năm 2006, lập sơ đồ phân tích Dupont với tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của công ty như sau:

Sơ đồ 4.2: Sơ đồ phân tích Dupont của Công ty Lâm Công nghiệp Long Đại

Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu 6,62%

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản 3,07%

Tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu 2,15%

:

:

Tổng doanh thu 89.747 triệu đồng

Tổng chi phí 86.966,5 triệu đồng Thuế thu nhập doanh nghiệp 778,5 triệu đồng

TSCĐ 32.064 triệu đồng

Trang 27

TSLĐ 33.132 triệu đồng

-+

Trang 28

Sử dụng phương pháp Dupont trong phân tích tài chính sẽ giúp công ty thấy rõ các tỷ lệ tài chính then chốt liên hệ qua lại với nhau như thế nào để xác định khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu Đồng thời giúp công ty phân tích các phương cách nhằm cải tiến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Chẳng hạn, với sơ đồ Dupont đã lập ở trên, nếu công ty nỗ lực giảm chi phí hoạt động, làm cho tỷ lệ chi phí trên doanh thu giảm từ 96,9% (= 86.966,5/89.747) xuống còn 95,9% (giảm 1%), sẽ làm tỷ suất sinh lời của doanh thu tăng lên là 3,23%, thì điều này dẫn đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu sẽ tăng lên 9,5% (giả định các tỷ lệ tài chính khác giữ nguyên) Tương tự, công ty có thể phân tích các phương cách khác để cải thiện tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty như tăng vòng quay tài sản, giảm giá để tăng khối lượng hàng bán,

4.2.2.5 Thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá công ty

Theo kế hoạch đặt ra, năm 2008 - 2009 công ty sẽ hoàn thành việc sắp xếp lại các Lâm trường theo Nghị quyết 28 NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 200/2004 NĐ-CP của Chính phủ; cổ phần hoá các Xí nghiệp SXKD theo hình thức công ty cổ phần Quá trình cổ phần hoá phải đạt được mục tiêu là huy động vốn của các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của Công ty.

Trang 29

Thực tế cho thấy, các công ty đã được cổ phần hoá trong đó nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần chi phối hoặc có cơ cấu sở hữu nội bộ quá lớn (tỷ lệ sở hữu nhà nước và

sở hữu của cán bộ công ty quá lớn), thì mục tiêu về đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hoá rất khó thực hiện Nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn cũng như lý luận cho thấy việc duy trì phần vốn Nhà nước quá lớn sẽ không thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công tác quản trị và để nâng cao hiệu quả kinh doanh Cơ cấu sở hữu tối ưu là công ty có các cổ đông cá nhân lớn, hoạt động vì lợi nhuận chiếm tỷ lệ khống chế Vì vậy, đối với các Xí nghiệp trực thuộc Công ty Lâm Công nghiệp Long Đại thuần tuý hoạt động sản xuất - kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, Nhà nước không cần nắm giữ

cổ phần chi phối sau cổ phần hoá Thực hiện cổ phần hoá theo phương án bán toàn bộ

số vốn Nhà nước hiện có tại công ty, kết hợp phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn nhằm tăng thêm nguồn vốn chủ sở hữu Việc xác định mức vốn huy động tăng thêm trong quá trình cổ phần hoá phải căn cứ vào nhu cầu vốn của công ty trong thời gian tới Công ty cần xác định số lượng cổ phần bán ưu đãi cho người lao động làm việc tại công ty, cho nhà đầu tư chiến lược và số cổ phần bán đấu giá công khai

Để quá trình cổ phần hoá công ty được hoàn thành nhanh chóng, công ty cần quan tâm xử lý tốt các vấn đề sau:

- Đôn đốc thu hồi các khoản nợ phải thu đã quá hạn, các khoản thu về bồi thường vật chất của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài công ty Đối với các khoản

nợ phải thu khó đòi thực sự không đòi được thì công ty cần xử lý xoá nợ theo đúng chế độ tài chính hiện hành

- Thanh lý, nhượng bán những tài sản không cần dùng hoặc đến thời hạn thanh lý.

- Công khai, minh bạch hoá các thông tin về Công ty và cổ phần hoá Công ty nhằm thu hút các nhà đầu tư bên ngoài, tránh hiện tượng cổ phần hoá khép kín trong nội bộ Xây dựng các phương án đầu tư khả thi để thu hút các nhà đầu tư mua cổ phiếu bán đấu giá của công ty.

4.2.2.6 Đào tạo nâng cao năng lực và trình độ nguồn nhân lực của công ty

Trang 30

Đội ngũ các nhà quản trị cũng như người lao động trực tiếp được đào tạo, bồi dưỡng sẽ tăng thêm hiểu biết, cải tiến phương pháp, rèn luyện kỹ năng, nâng cao tay nghề và thái độ làm việc…, từ đó làm tăng hiệu quả thực hiện công việc Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng lao động, tăng số lượng lao động có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao nhằm phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với người lao động, nâng cao trình độ đội ngũ quản trị tại doanh nghiệp Với quy mô và lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Lâm Công nghiệp Long Đại như hiện nay thì lực lượng lao động trong toàn Công

ty cần được quan tâm đáp ứng hơn Về chất lượng, phần lớn cán bộ quản lý của Công ty đều được qua đào tạo có trình độ đại học Lực lượng công nhân

đã qua đào tạo chiếm một tỷ trọng rất nhỏ Thời gian tới, Công ty đang tích cực đầu tư đổi mới công nghệ thì lực lượng công nhân kỹ thuật đã qua tạo tạo như hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Bởi vì, số lượng công nhân chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng lớn: năm 2004 chiểm gần 79%; năm 2005 là 78,3% và năm 2006 chiếm 75,1% trong tổng số Đây là lực lượng làm việc trực tiếp với máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ, trong điều kiện Công

ty mua sắm công nghệ mới, hiện đại chắc chắn bộ phận đó sẽ không đáp ứng được yêu cầu về mặt chuyên môn kỹ thuật

Trang 31

Quản trị doanh nghiệp là một trong những nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, đặc biệt là trong môi trường kinh doanh đầy biến động như ngày nay Kết quả và hiệu quả hoạt động của quản trị doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị của doanh nghiệp Trong thời gian qua do sự hạn chế về trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm và kỷ năng quản trị của đội ngũ các nhà quản trị của DN đã ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả kinh doanh của công ty nói chung cũng như công tác quản lý, sử dụng vốn tại công ty Vì vậy, cần thiết phải nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn cho đội ngũ các nhà quản trị đồng thời phải thay đổi phương thức quản trị kiểu cũ còn mang nặng

tư tưởng ỷ lại, bao cấp, mệnh lệnh hành chính đang tồn tại ở công ty Cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỷ năng quản trị điều hành hiện đại cho đội ngũ các nhà quản trị của công ty Trong thời đại ngày nay, trí tuệ, tri thức về các lĩnh vực khoa học, trong đó có tri thức về kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh phát triển nhanh chóng, nếu nhà quản trị không có đủ trình độ chuyên môn cần thiết, không thường xuyên cập nhật những kiến thức hiện đại sẽ trở nên lạc hậu, không có được tầm nhìn

xa và tư duy trí tuệ cần thiết để quản trị thành công

Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên, trong những năm tới cần phải tập trung đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ các nhà quản trị và lực lượng công nhân kỹ thuật để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của Công ty trong điều kiện mới

Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của sản xuất kinh doanh trong những năm tới, Công ty có kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo lực lượng công nhân lành nghề có trình độ kỹ thuật cao Kế hoạch đào tạo này Công ty phải xây dựng cụ thể theo từng năm, theo thời kỳ

5 năm và thực hiện chiến lược đào tạo dài hạn, có chính sách khuyến khích,

Trang 32

tạo điều kiện để các nhà quản trị cũng như công nhân viên trong công ty tự học tập nâng cao kiến thức chuyên môn, tay nghề của mình, như học tập qua mạng, qua sách báo tạp chí, tham gia các lớp học theo phương thức đào tạo từ

xa, hoặc vừa làm vừa học, tham gia các lớp học bồi dưỡng ngắn ngày, Đồng thời, cần có chính sách thu hút và tuyển dụng những nhà quản trị có tài năng

và phẩm chất vào làm việc cho công ty, có chế độ đãi ngộ hợp lý về vật chất

và tinh thần, bố trí công việc phù hợp và tạo cơ hội thăng tiến để họ phát huy hết tài năng cống hiến cho công ty Bên cạnh việc nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ các nhà quản trị, công ty cần xây dựng được văn hoá công

ty, môi trường làm việc "dân chủ" cho phép phát huy mọi khả năng, sức sáng tạo của mọi thành viên vì sự phát triển của công ty

Giải pháp này được thực hiện thành công sẽ phát huy được hiệu quả trên các mặt sau:

- Thực hiện đào tạo, phát triển nhân lực đúng hướng sẽ tạo ra được đội ngũ lao động thành thạo chuyên môn nghiệp vụ và kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý của cán bộ

- Là cơ sở sát thực, đồng thời cũng là cơ sở tạo ra cơ hội thăng tiến hợp

lý cho phép Công ty lựa chọn được những người có năng lực quản lý, phù hợp với việc thực hiện chức năng quản trị tác nghiệp

- Đào tạo, phát triển và bố trí sử dụng nhân lực tốt sẽ phát huy đầy đủ trí lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh doanh

4.2.2.7 Xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty phù hợp với môi trường kinh doanh trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO

Trang 33

Khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO thì môi trường cạnh tranh lại càng khốc liệt hơn Nếu công ty không có một chiến lược kinh doanh thích hợp, chắc chắn thì sẽ thất bại và phá sản.

Thực tế hiện nay, Công ty chưa xây dựng được một chiến lược kinh doanh cho mình theo đúng nghĩa của nó, các phản ứng chiến lược của Công ty chủ yếu dựa vào sự nhạy cảm, trực quan và dự đoán của Ban Giám đốc

Việc xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết, là cơ sở để xác định quy mô, nguồn vốn, lao động…giúp Công ty chủ động, linh hoạt đối với quá trình hoạt động kinh doanh trong những năm tới

Để xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiện của mình, trước hết lãnh đạo công ty cần phải nhận thức đúng đắn vai trò và sự cần thiết của nó để tiến hành phân tích những yếu tố cơ bản sau đây:

- Đặc điểm tình hình Công ty.

Chiến lược kinh doanh chỉ có thể thực hiện có hiệu quả khi nó được xây dựng căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh thực tế của Công ty Việc phân tích nội dung này còn là cơ sở để so sánh với các đối thủ cạnh tranh, từ đó tìm ra những điểm mạnh điểm yếu của mình so với họ

Phân tích tình hình Công ty bao gồm việc phân tích thực lực hiện tại và triển vọng hướng tới về các yếu tố trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ, năng lực trình độ của cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý và người lao động, năng lực tổ chức, vốn và khả năng huy động vốn, để phát huy, khai thác tốt nhất những thế mạnh của công ty

- Các điều kiện kinh tế vĩ mô

Phân tích điều kiện kinh tế vĩ mô cần đặc biệt quan tâm phân tích xu hướng phát triển về công nghiệp chế biến gỗ, chế biến sau nhựa thông trên

Ngày đăng: 04/10/2013, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Bình (2000), Phân tích hoạt động doanh nghiệp, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Tấn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
2. Bộ Giáo dục và đào tạo (2004), Giáo trình Kinh tế học vi mô, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học vi mô
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
3. Công ty Lâm Công nghiệp Long Đại Quảng Bình, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Công ty nhiệm kỳ 2005 - 2010, Công ty cổ phần In Quảng Bình; Điều lệ Công ty, Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Công ty nhiệm kỳ 2005 - 2010, "Công ty cổ phần In Quảng Bình; "Điều lệ Công ty
4. TS.Trương Đình Chiến (2002), Giáo trình Quản trị Marketing trong doanh nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị Marketing trong doanh nghiệp
Tác giả: TS.Trương Đình Chiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
5. Cục Thống kê Quảng Bình (2004), Niên giám thống kê 2003, Cục Thống kê Quảng Bình, Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2003
Tác giả: Cục Thống kê Quảng Bình
Năm: 2004
6. TS Vũ Kim Dũng, TS Cao Thuý Xiêm (2003), Giáo trình Kinh tế quản lý, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quản lý
Tác giả: TS Vũ Kim Dũng, TS Cao Thuý Xiêm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
7. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2005), Các văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Năm: 2005
8. PGS.TS Đặng Đình Đào (2003), Những vấn đề cơ bản về hậu cần vật tư doanh nghiệp (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về hậu cần vật tư doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS Đặng Đình Đào
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
9. GS.TS Đặng Đình Đào - GS.TS Hoàng Đức Thân (2003), Giáo trình Kinh tế thương mại, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế thương mại
Tác giả: GS.TS Đặng Đình Đào - GS.TS Hoàng Đức Thân
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
10. PGS.TS. Phạm Thị Gái (2004), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: PGS.TS. Phạm Thị Gái
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2004
11. GS.TS.Nhà giáo ưu tú Ngô Đình Giao (1997), Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp
Tác giả: GS.TS.Nhà giáo ưu tú Ngô Đình Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 1997
12. GS.TS Dương Phú Hiệp - TS Vũ Văn Hà (2001), Toàn cầu hoá kinh tế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá kinh tế
Tác giả: GS.TS Dương Phú Hiệp - TS Vũ Văn Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2001
13. PGS.TS Hoàng Hữu Hoà (2001), Phân tích số liệu thống kê (dùng cho Cao học), Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích số liệu thống kê
Tác giả: PGS.TS Hoàng Hữu Hoà
Năm: 2001
14. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ( 2001), Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lê Nin tập 1, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lê Nin tập 1
15. Khoa Kinh tế Đại học Huế (1997), Quản trị sản xuất, Bộ môn Quản trị kinh doanh, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị sản xuất
Tác giả: Khoa Kinh tế Đại học Huế
Năm: 1997
16.TS Lê Quốc Lý (2005), "Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thể chế tài chính ở Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (số 03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thể chế tài chính ở Việt Nam
Tác giả: TS Lê Quốc Lý
Năm: 2005
17. Hồ Xuân Hùng (2006), “Quan điểm, định hướng đổi mới cơ chế quản lý DNNN”, Tạp chí Tài chính, (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm, định hướng đổi mới cơ chế quản lý DNNN”, "Tạp chí Tài chính
Tác giả: Hồ Xuân Hùng
Năm: 2006
18. PGS.TS. Nguyễn Đình Kiệm ( 2006), “Đầu tư vốn nhà nước và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”, Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán, ( số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư vốn nhà nước và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”, "Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán
21. TS. Nguyễn Bạch Nguyệt (2004), Giáo trình Lập dự án đầu tư (Dùng cho hệ sau đại học), Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lập dự án đầu tư
Tác giả: TS. Nguyễn Bạch Nguyệt
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2004
22. TS Nguyễn Năng Phúc (2003), Phân tích kinh tế doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh tế doanh nghiệp
Tác giả: TS Nguyễn Năng Phúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1:  Bảng tài trợ - NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY LÂM CÔNG NGHIỆP LONG ĐẠI
Bảng 4.1 Bảng tài trợ (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w