So với các nớc trong khu vực công nghệ của talùi xa về thế hệ khoảng 15 - 20 năm trong ngành điện tử, 20 năm trong ngành cơkhí; 3-5 thập kỉ đối với công nghiệp sản xuất giấy in, giấy bao
Trang 1Thực trạng công nghệ và hoạt động chuyển giao
công nghệ tại Việt Nam
I thực trạng công nghệ và hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam.
1 Khái quát chung về thực trạng công nghệ Việt Nam hiện nay.
1.1 Mức độ tiên tiến của công nghệ
Về toàn cảnh công nghệ Việt Nam có thể khái quát nh sau: "Công nghệ
Việt Nam ở mức trung bình kém, cố gắng đến 2005 đạt trình độ trung bình khá của khu vực" [1]
Theo đánh giá của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng đăng trên tạp chí
" Kinh tế Việt Nam và thế giới "số 71 xuất bản tháng 6/1999, và cũng theo báocáo của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng trình Chính phủ cho thấy một tổngquan về Công nghệ Việt Nam Công nghệ Việt Nam lạc hậu so với các nớc trênthế giới khoảng 50 đến 100 năm So với mức trung bình của thế giới thì thiết bịcủa ta hiện nay lạc hậu từ 2-3 thế hệ hoặc 4- 5 thế hệ tuỳ từng lĩnh vực chuyênngành cụ thể Kết quả điều tra thực trạng máy móc thiết bị và công nghệ ở 2292Doanh nghiệp nhà nớc cho thấy hiện có 1217 doanh nghiệp có các loại máy mócthiết bị hỗn tạp, có xuất xứ từ gần 20 nớc trên thế giới khác nhau Trên 11000 doangnghiệp có 50% máy móc thiết bị đã quá cũ
Theo một báo cáo khác của Bộ công nghiệp cũng cho hay qua khảo sát ở 727thiết bị và dây chuyền công nghệ tại 42 nhà máy thì có tới 70% thiết bị mới nhậpthuộc thế hệ những năm 50 - 60 thế kỷ 20, trên 70% thiết bị đã hết khấu hao, 50%thiết bị đợc tân trang lại Trình độ công nghệ kỹ thuật và thiết bị máy móc ở cácdoanh nghiệp nhỏ còn yếu kém hơn Trên 1/2 doanh nghiệp này mua máy móc cũ
điều này dẫn đến sản phẩm kém chất lợng, doanh nghiệp không có khả năng đổimới và sáng tạo ra sản phẩm mới Trong 2733 doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế đóng trên điạ bàn Hà Nội có 90- 92% thuộc loại này[2]
[1] [1] GS - TS Trần Đắc Vụ - Vụ trởng vụ phát triển công nghệ Bộ khoa học Công nghệ và Môi trờng - Công nghệ Việt Nam đang đứng ở đâu - Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 22/3/1995, Tr.12
Trang 2Và theo những đánh giá gần đây nhất cũng cho thấy trình độ đổi mới côngnghệ của nớc ta còn nhiều hạn chế Về chỉ tiêu đánh giá trình độ tự động hoá mớichỉ có 3% doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc sử dụng thiết bị tự động hoá, 39%doanh nghiệp Nhà nớc sử dụng thiết bị bán cơ khí Chỉ có 40% số doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài đạt trình độ tự động hoá và 45% số doanh nghiệp này đạttrình độ bán tự động[3] Với tốc độ đổi mới công nghệ nh hiện nay 8-10% năm thìsau 10 năm chúng ta mới đổi mới đợc một thế hệ công nghệ chúng ta
Bảng 1: Đánh giá Công nghệ 10 nớc ASEAN( Qua ý kiến của 24 công ty Nhật Bản đang hoạt động ở 10 nớc ASEAN) ( Thang điểm tối đa là 5)
Phi lip-pin
Indonê sia
Việt Nam
mar
Myan-Lào Campu
chia
Nguồn: Danh Sơn Đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp Nhà Nớc ở Việt Nam
- thực trạng, vấn đề và giải pháp -T/c Nghiên cứu kinh tế số 264-5/2000, tr 4.
Việc huy động và khai thác công nghệ- thiết bị lạc hậu đã qua sử dụng làmcho khoảng cách tụt hậu về công nghệ so với thế giới ngày càng xa Trong cáclĩnh vực: lắp ráp điện, lắp ráp xây dựng, thuỷ sản đông lạnh lạc hậu 1-2 thế hệ;
điện, giấy sửa chữa, máy lâm nghiệp, đờng mía lạc hậu 2-3 thế hệ; đờng sắt đờng
bộ, đóng tàu cơ khí là 3-5 thế hệ So với các nớc trong khu vực công nghệ của talùi xa về thế hệ khoảng 15 - 20 năm trong ngành điện tử, 20 năm trong ngành cơkhí; 3-5 thập kỉ đối với công nghiệp sản xuất giấy in, giấy bao bì 70% công nghệdệt, sợi, nhuộm đã sử dụng trên 20 năm; công nghệ sản xuất phân bón đã sử dụng
từ 25 - 30 năm[4]
Do công nghệ lạc hậu dẫn đến năng suất ở Việt Nam rất thấp, mức hao phínăng lợng nguyên vật liệu trên một đơn vị sản phẩm ở mức cao từ đó làm hạn chếtính cạnh tranh hàng hoá Việt Nam Cụ thể năng suất ở Việt Nam chỉ bằng 30%
[2] [2] Đoàn Châu Thanh - Chuyển giao công nghệ nớc ngoài vào Việt Nam trong công cuộc CNH - HĐH nền kinh tế - Luận văn thạc sĩ - Trờng Đại học Ngoại thơng
Trang 3mức trung bình của thế giới Tiêu hao phí năng lợng so với các nớc trên thế giới ởngành cơ khí bằng 120%, ngành quần áo may mặc sản xuất xuất khẩu 127%,ngành giấy 126% , dệt 110% , ngành than 175%, xăm lốp cao su 204%, hoá chấtcơ bản 138%, luyện kim đen 250%, luyện kim màu 148%, các sản phẩm kim loại170%, quạt điện 246% Chi phí đầu vào của công nghệ hiện có khá cao so vớicông nghệ tiên tiến, ví dụ nh tiêu hao điện năng trên đơn vị công suất ở thiết bịsản xuất xi măng cao gấp 1,4 lần; gạch chịu lửa 2,5 lần; trong luyện thép 1,7 lần[5].Chính do yếu tố công nghệ lạc hậu sẽ gây ra một phản ứng dây chuyền đó lànền kinh tế chỉ có thể sản xuất ra sản phẩm có chất lợng trung bình thậm chí thấp,giá thành cao, và sản phẩm sản xuất ra không theo kịp thay đổi về nhu cầu thị tr-ờng
Để có thể đánh giá sát thực hơn nữa về mức độ tiên tiến và năng suất củacông nghệ Việt Nam hiện nay, dới đây ngời viết sẽ trình bày cụ thể hơn về thựctrạng của một số ngành, một số lĩnh vực chủ chốt của Việt Nam hiện nay
[5] [5] Nguyễn Mạnh Hùng - Giảm chi phí sản xuất nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Việt Nam - Tạp chí kinh tế và dự báo số 11/2000
Trang 4Hiện nay chỉ có khoảng 2% (gần 3000 doanh nghiệp) trong tổng số doanhnghiệp Việt Nam có Website riêng, và khoảng 8% số doanh nghiệp tham gia cótính phong trào hoặc mới bắt đầu đi vào thử nghiệm Đã thế số doanh nghiệptham gia "thơng mại điện tử" chủ yếu dừng lại ở giai đoạn 1 và 2 của quy trìnhgiao dịch "thơng mại điện tử" nên hiệu quả còn thấp Có tới 97% số doanh nghiệpcha thực hiện thanh toán qua ngân hàng Với 90% số doanh nghiệp cha tham gia
"thơng mại điện tử", đây thực sự là một vấn đề đáng lo ngại[7]
Cho đến nay mới có khoảng chục sản phẩm điện tử - tin học mang thơng hiệu ViệtNam do các công ty trong nớc thiết kế, chế tạo nh (Vietronics, Gvec, VTB, VTD,Setro, Jec ), máy tính cá nhân (CMT,Genpacific ) số doanh nghiệp tham gia tăngnhanh, nhng doanh số thanh toán không lớn, không đứng vững trên thị trờng vàkhông có sức mạnh cạnh tranh ngay cả với các sản phẩm điện tử nớc ngoài sảnxuất tại Việt Nam
• Ngành sinh học
Dựa trên công nghệ sinh học để thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá là mộtbớc quan trọng để thúc đẩy công nghiệp hoá ở nông thôn Vì nớc ta là một nớcnông nghiệp, 80% số dân ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp chiếm 27,2%[8].Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với công nghiệp hiện đại hoá nông thôn
đúng theo tinh thần văn kiện Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam lànhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành sinh học
Công nghệ sinh học bao gồm từ kỹ thuật chọn, lai tạo giống truyền giống,công nghệ vi sinh, công nghệ mô, công nghệ tế bào đến công nghệ di truyền, côngnghệ AND có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển toàn diện ở Việt Nam một cáchbền vững, với sự bảo vệ và cải thiện môi trờng thiên nhiên và môi trờng sinh thái
Về công nghệ sinh học, trên thực tế Việt Nam mới dừng lại ở 2 sản phẩm làrợu cồn và bia Những sản phẩm hết sức quan trọng khác của công nghệ sinh học
[6] Kỳ Minh - Bảo Châu - Triển vọng của ngành công nghệ thông tin ở nớc ta - Tạp chí Con số và Sự kiện số quý I/2002, Tr.16
[7] [7] Thanh Xuân - Thơng mại điện tử còn xa lạ với doanh nghiệp Việt Nam - Báo khoa học và phát triển số 50 ngày 12/12/2002, Tr.12
[8]
[8] GS Nguyễn Đình Phan - CNH - HĐH nông nghiêp nông thôn - Tạp chí KCM tháng 3/1998, Tr.3.
Trang 5nh kháng sinh, axit amin, axit hữu cơ, dung môi hữu cơ có mặt trên thị trờngViệt Nam đều là sản phẩm nhập ngoại Công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩmkhông đủ sức cạnh tranh với các nớc trong khu vực, đang chao đảo do thiếu vốn,thiếu vốn thiếu công nghệ
Thành tựu của chúng ta trong áp dụng công nghệ sinh học mới chỉ là nhữngbớc sơ khai, do chúng ta ít sáng tạo, mới chỉ ứng dụng máy móc, dập khuôn thànhtựu khoa học kỹ thuật nớc ngoài, thiếu đầu t chiều sâu
UNESCO đã có sáng kiến giúp cho các nớc đang phát triển đi vào công nghệsinh học và nớc ta về danh nghĩa là thành viên của trung tâm công nghệ gen, côngnghệ sinh học quốc tế, nhng trên thực tế cho đến nay còn ít tham gia vào các hoạt
động CGCN quốc tế về lĩnh vực này
• Ngành thiết bị vật liệu.
Có thể nói rằng, Việt Nam cha thiết lập đợc nền công nghiệp chế tạo vật liệumới, nh vật liệu thông minh, vật liệu phi tuyến Các loại vật liệu gốm kỹ thuật,vật liệu composit gần đây mới phát triển ở nớc ta chỉ chiếm 5% tổng số các loạivật liệu Các loại vật liệu này chỉ là vật liệu của giai đoạn tiền công nghiệp hoá.Trong khi đó công nghiệp chế biến và sử dụng nguyên liệu khoáng sản truyềnthống lạc hậu so với thế giới từ 30-100 năm.
• Ngành cơ khí chế tạo
Ngành cơ khí chế tạo của Việt Nam lạc hậu từ 3-5 thế hệ (khoảng 50-100năm) so với thế giới Hệ số cơ giới hoá trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệpcủa Việt Nam đạt khoảng 50% (còn ở giai đoạn đầu của cơ khí hoá), tỷ lệ tự độnghoá không đáng kể, nhiều khâu lao động còn thủ công
Cả nớc hiện nay có khoảng 39000 máy công cụ thì trong đó hơn 10000chiếc là do Việt Nam tự chế tạo từ những năm 50 của thế kỷ 20, số còn lại nhập từLiên Xô (cũ) và Đông Âu đã lạc hậu ngay từ lúc lắp đặt, chỉ có 1% là máy hiện
đại mới nhập gần đây Những minh chứng sau cho thấy sự yếu kém của ngành cơ
Trang 6khí nớc ta: Việt Nam mới chỉ đóng đợc tàu đi biển trọng tải lớn nhất là 6,5 vạn tấnsong động cơ chủ yếu là nhập khẩu (tàu Vĩnh Thuận do nhà máy đóng tàu Bạch
Đằng thực hiện).Trong khi đó các nớc trên thế giới đã đóng tàu chở hàng có trọngtải 20 vạn tấn, tàu chở dầu 1 triệu tấn
Theo ông Nguyễn Xuân Chuẩn Thứ trởng Bộ công nghiệp chủ tịch hội kỹ s ôtô Việt Nam cho biết: “ngành công nghiệp ô tô Việt Nam mới đợc hình thànhsong công nghệ không tơng xứng với trình độ thế giới, công nghệ còn nghèo nànlạc hậu, 70% số lợng công nghệ cần phải đợc thay thế tính từ năm 1995 đến năm
2000 Chúng ta mới chế tạo hoàn chỉnh động cơ diezel 50 ml còn các nớc tiêntiến khác đã chế tạo hoàn chỉnh động cơ diezel 20000 - 30000 ml
Trong ngành đờng sắt tổng sức kéo sử dụng trong đờng sắt Việt Nam khônglớn (250.000 CV) gồm 11 chủng loại khác nhau do hơn 20 nớc chế tạo Đặc biệtloại đầu máy TY- 7 do Liên Xô (cũ) chế tạo chiếm quá nửa số lợng đầu máy hiện
có chế tạo từ những năm 70 làm nhiệm vụ kéo gỗ trong các lâm trờng ở Liên Xô
đợc chuyển sang Việt Nam từ trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại và hiệnnay vẫn còn kéo trong đoàn tàu chính tuyến Số đầu máy còn lại đều thuộc loạicông suất nhỏ Nếu năng suất đầu máy của ta là 100% thì của Trung Quốc là153,5%, Indonexia 444,58%, Thái Lan 656,85% Maylaixia 249,17%, ấn Độ973,65% Số toa xe sử dụng trớc năm 1970 29,3%; trớc 1980 là 58,5%; số thích hợp vớinhu cầu hiện tại chỉ có 4,1%[9]
[9] [9] TS Lu Văn Nghiêm - Định hớng tt trong phát triển công nghệ đờng sắt trớc tiến trình hội nhập - Tạp chí kinh tế và dự báo số tháng 6/2002
Trang 74 Ngành công nghiệp thép và luyện kim
Ngành công nghiệp thép và luyện kim sẽ đánh giá trình độ phát triển nềncông nghiệp mỗi quốc gia, nó là công nghiệp nền tảng để phát triển các ngànhcông nghiệp cơ khí và các ngành có trình độ kỹ thuật cao hơn
Cha thể nói là Việt Nam đã có công nghiệp luyện kim một cách cơ bản bởi
lẽ công nghệ của ngành luyện kim ở ta lạc hậu so với thế giới tới hơn 50 năm.Chúng ta chỉ có mỗi khu gang thép Thái Nguyên ở miền Bắc và chỉ sản xuất đợc20% nhu cầu về phôi thép là nguyên liệu chính phục vụ luyện và cán thép thànhphẩm, số còn lại phải nhập từ nớc ngoài ở miền Nam mới chỉ có nhà máy luyện
và cán thép, cha có quá trình luyện quặng thành gang
Công suất trung bình của các nhà máy ớc tính chỉ khoảng 10 ngàn tấn thépmột năm so với 500 ngàn tấn thép một năm của các nhà máy sản xuất thép ở khuvực Đông Nam á Ngành thép Việt Nam mới chỉ cán đợc các sản phẩm dài cỡnhỏ và vừa với các mác phổ biến là Cacbon thấp Xét về thực chất vẫn chỉ là giacông thép cho nhu cầu vừa và thấp, còn các sản phẩm thép hình, thép chất lợngcao phải nhập khẩu 100 %[10]
Việt Nam đang chế tạo lò điện luyện thép 40 tấn/mẻ, trong khi thế giới có lòsản suất 500 tấn/ mẻ Dung tích của lò cao Thái Nguyên, con chim đầu đàn củangành luyện kim Việt Nam là 100m3 tức là bằng 1/20 lần so với thế giới (2000-5000m3) Công nghệ cũ nát này đã ngốn rất nhiều nguyên liệu Lò điện ở ViệtNam tiêu hao điện năng 900- 1000 kw/ tấn thép so với 400- 500 kw / tấn của thếgiới.Theo ông Nguyễn Hữu Thơ - Phó Tổng giám đốc Tổng công ty thép ViệtNam cho biết: “hiện nay nớc ta có 35 doanh nghiệp sản xuất thép, 40 cơ sở cánthép Nếu tính tổng sản lợng thép sản xuất ra của các nhà máy sản xuất thép(Công ty thép Đà Nẵng, Công ty thép Miền Nam, Công ty gang thép Thái
[10] [10] Lê Huy Khôi - Hớng đi nào cho ngành thép Việt Nam - Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2002, Tr.18.
Trang 8Nguyên) hiện nay sản lợng thép của cả nớc ớc khoảng 3,454 triệu tấn thépnăm”[11]
• Ngành sản xuất xi măng
Hiện cả nớc có tất cả 65 nhà máy xi măng, trong đó chỉ có 10 nhà máy lòquay hiện đại với tổng công xuất thiết kế là 15,2 triệu tấn / năm, 55 nhà máy ximăng lò đứng công nghệ lạc hậu với công suất thiết kế 3 triệu tấn / năm Ngoài racòn có 40 trạm nghiền xi măng với tổng công suất thiết kế 43,35 triệu tấn / năm
Do công nghệ lạc hậu nên chủng loại xi măng sản xuất hiện nay còn nghèo, chủyếu là PCB 30, PCB 40, xi măng Puzôla[12]
Đối với ngành dệt thoi, hiện đa số các nớc trong khu vực và trên thế giớichuyên sản xuất vải cung cấp cho ngành may đều sử dụng máy dệt không thoi vớitốc độ 700 - 900 vòng/ phút và một công nhân có thể quản lý đợc 30 - 50 máy dệt,hiệu suất thiết bị đạt từ 90 - 98% Trong khi đó ở Việt Nam máy dệt thoi chỉ cótốc độ 140 - 170 vòng/ phút và một ngời công nhân chỉ đứng đợc 8 - 10 máy Cómột số ít máy dệt không thoi vừa đợc trang bị nhng cũng chỉ đạt tốc độ 500 - 600vòng/ phút, một công nhân đứng đợc 10 - 12 máy Hiệu suất thiết bị chỉ đạt đợc 70
- 80%[13]
[11] [11] Tạp chí Công nghiệp Việt Nam số 20/2002, Tr.12
[12] [12] Linh Hoa - Ngành xi măng Việt Nam công nghệ lạc hậu năng lực yếu - Báo khoa học và phát triển số 44 ngày 31/10 - 6/11/2002
[13] [13] Thách thức phát triển ngành dệt - Báo công nghiệp và Thơng mại số 27 - 2002, Tr.10
Trang 9Chất lợng vải của ngành dệt Việt Nam còn nhiều hạn chế Trong một lô hàng
đa vào may thì khổ vải phải đồng đều, màu sắc phải đúng mẫu, các lỗi chỉ chophép bình quân 30 - 40 m một lỗi Tuy nhiên các công ty dệt trong nớc cha đápứng đợc yêu cầu này, nguyên nhân chính là do công nghệ trong ngành dệt của tacòn nhiều lạc hậu
1.2 Giá cả của công nghệ.
Giá cả của công nghệ đợc biểu hiện bằng tiền của giá trị công nghệ Thôngthờng với những công nghệ có trình độ kỹ thuật hiện đại,có hiệu quả thơng mạicao sẽ có giá cao Tuy nhiên điều này lại không hoàn toàn đúng với thực tế củacác vụ CGCN nớc ngoài vào Việt Nam
Do thiếu những thông tin về thị trờng CGCN trên thế giới, cũng nh các thôngtin có liên quan tới đối tợng công nghệ chuyển giao vì vậy phía Việt Nam gặp rấtnhiều khó khăn trong việc xác định đúng giá cả công nghệ Mặt khác do thiếukinh nghiệm, kiến thức liên quan đến CGCN cùng với những biểu hiện yếu kém
về phẩm chất của một số cán bộ thực hiện CGCN đã làm cho phía Việt Nam chịuthua thiệt lớn về giá cả khi CGCN Giá cả của công nghệ đợc chuyển giao trongcác dự án thờng bị khai khống rất nhiều so với giá trị thực có của nó, và đặc biệt
là đối với các dự án liên doanh Song vì các lý do khác nhau, mà rất ít ngời và cáccơ quan ban hành có thể biết đợc những thua thiệt về giá cả của các công nghệ n-
ớc ngoài chuyển giào vào trong nớc
Để minh chứng cho những nhận định trên, ngời viết xin đa ra một số ví dụ
điển hình về các trờng hợp khai khống giá công nghệ đợc chuyển giao
Trong dự án liên doanh gia cầm giữa Việt Nam và Thái Lan, phía Thái Lanthực hiện góp vốn bằng dây chuyền giết mổ gia súc, tuy nhiên qua thẩm định chothấy phía Thái Lan đã khai khống giá của dây chuyền này lên tới 600.000 USD.Trong dự án liên doanh giữa công ty du lịch thành phố Hồ Chí Minh vàVinagroup, phía Vinagroup thực hiện góp vốn bằng giá trị thiết bị Tổng trị giácủa số dây chuyền thiết bị đợc hai bên quyết toán là 4.340.000 USD nhng sau khi
đợc một công ty quốc tế giám định lại thì giá trị thực còn lại là 2.990.000 USD
Trang 10Công ty kiểm toán SGS đợc Nhà nớc uỷ nhiệm thí điểm thẩm định ở 12 đơn
vị có vốn đầu t nớc ngoài Kết quả cho thấy có tới 6 đơn vị có chênh lệch về giámua thiết bị, số chênh lệch này lên tới 14.000.000 USD
Qua một cuộc khảo sát của Bộ Công nghiệp cho thấy 42 liên doanh của Bộ
có vốn FDI, do mua phải thiết bị cũ đã qua tân trang con số thiệt hại lên tới50.000.000 USD[14] Việc giá tài sản cố định bị nâng lên cao làm tăng khấu hao tàisản cố định và có lợi cho việc thu hồi vốn của phía nớc ngoài Phía Việt Nam thiệthại về tỷ lệ chia lãi, ngành thuế thiệt về thuế thu nhập doanh nghiệp Cũng tơng tự
nh tài sản cố định hữu hình, giá trị của tài sản cố định vô hình (nhãn hiệu, bảnquyền ) do phía nớc ngoài xác định thờng rất cao từ đó làm tăng khấu hao, giảmlợi tức chịu thuế
1.3 Mức độ gây ô nhiễm môi trờng của công nghệ.
CGCN và nhập máy móc thiết bị cũ lạc hậu vào Việt Nam đã gây tác độngxấu tới môi trờng và sức khoẻ của ngời lao động cũng nh ngời dân
Máy móc không hiện đại không sử dụng công nghệ sạch đã gây nên lợngchất thải lớn Tại các nhà máy chế biến thuỷ sản Hải Phòng, Nha Trang, T.P HồChí Minh do khí Freon và NH3 từ hệ thống máy cấp đông, kho đông lạnh, xe phátlạnh bị rò rỉ cộng với khí CO, SO2 bốc lên từ các bể dầu để chế biến các sản phẩm
đông lạnh đã gây ô nhiễm không khí ở mức rất cao
Tại khu công nghiệp Biên Hoà gồm 65 nhà máy phân bổ trên 1 diện tích 382
ha có phần lớn thiết bị công nghệ thuộc thế hệ năm 1970 nên vừa tiêu hao năng ợng nhiều vừa dẫn đến chất thải công nghiệp có tỷ lệ cao Trung bình mỗi ngày
l-đêm khu công nghiệp Biên Hoà thải ra hơn 26.000m3 nớc thải xả trực tiếp vàosông Đồng Nai (cung cấp 90%, lợng nớc cho 3 khu vực dân c : Thành phố Hồ ChíMinh, Đồng Nai và một phần tỉnh Bình Dơng) Nớc tại đây thải nhiều chất hữu cơ,nhiều dầu mỡ, kim loại nặng và vợt quá mức cho phép Tải lợng nhiễm BODS lên
đến 15.091 kg ngày đêm Nồng độ bụi Oxi- Ni tơ trong khu công nghiệp cao hơnnhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép (TCCP) Đặc biệt là tại các nhà máy hoá chất
ở Biên Hoà nồng độ khí Clo cao gấp 15- 30 lần so với mức cho phép
[14] [14] Tạp chí công nghiệp số quý I/2002
Trang 11Tại nhà máy phân lân Văn Điển lợng bụi lên tới 1100mg/m3 chiếm trên90% lợng thải vào không khí Xí nghiệp hoá chất sơn Hà Nội bụi chì vợt nồng độcho phép tới hàng ngàn lần Nhà máy cao su Hà Nội có nồng độ ô nhiễm cao , vợtquá TCCP 40 lần Qua điều tra nồng độ khí độc trong các liên doanh về hoá chấtvợt quá 11 lần so với tiêu chuẩn quy định; nồng độ bụi vợt quá 28 lần cho phép và
có tới 10 % dây chuyền thiết bị gây ô nhiễm quá mức quy định.[15]
Nhà máy xi măng Hà Tiên 1, nhập máy nghiền 90 tấn của Pháp: Nồng độbụi vợt quá TCCP từ 3 - 138 lần, Nhà máy luyện kim cán thép VICASA Biên Hoànhập lò hồ quang của Trung Quốc và dây chuyền đúc thép liên tục của ấn Độ có
độ bụi vợt quá 3,4 lần so với TCCP và tiếng ồn vợt cao nhất 10d BA, nhà máy cao
su Việt Hng với toàn bộ dây chuyền nhập của ITALIA có nồng độ bụi vợt TCCP
18 lần
Công ty dệt Việt Thắng với máy dệt thế hệ mới nhất của Nhật Bản songtiếng ồn vẫn vợt quá TCCP từ 6,7 - 12dBA Nhà máy bột ngọt Vedan do không có
hệ thống xử lý nớc thải công nghiệp nên đã thải nớc thải công nghiệp không xử lý
có lẫn độc tố ra sông Thị Vải làm sông bị ô nhiễm nặng, làm chết hàng loạt tômnuôi trên diện tích hàng trăm ha
Chính yếu tố công nghệ lạc hậu đã tác động trực tiếp tới môi trờng xungquanh, và đặc biệt hơn là nó đã tác động xấu đến sức khỏe của ngời lao động Đợt
điều tra toàn diện từ trớc đến nay về môi trờng lao động do Viện nghiên cứu kỹthuật thuộc Bộ Lao động thơng binh xã hội cho thấy công nhân phải làm việcvới các yếu tố độc hại mà không ý thức đợc Ô nhiễm, hơi độc, phóng xạ
đã tăng lên hàng năm tới 19,6 % ở các công ty liên doanh mức độ độchại còn cao hơn nhiều, số ngời mắc bệnh nghề nghiệp tăng vọt từ nămnày qua năm khác; ốm tăng 22,5%; bệnh nghề nghiệp tăng 6% mộtnăm[16] Theo tin từ Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trờng Việt Nam trong số hàng
[15] [15] Nguyễn Văn Hảo - Chuyển giao công nghệ từ Nhật Bản vào các nớc ASEAN - Luận văn thạc sĩ kinh tế - Trờng Đại học Ngoại thơng, Tr.101
[16]
[16] Báo lao động số 9/1996
Trang 12trăm dự án đầu t công nghiệp vào Việt Nam từ 1991- 1995, hầu hết nh không có
dự án công nghiệp sạch, và hầu hết là công nghệ gây ô nhiễm lớn
1.4 Tình hình nhân lực và tài chính phục vụ cho nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ trong nớc.
1.4.1.Về nhân lực
Về đội ngũ nhân lực cho khoa học và công nghệ không phải là ít song chamạnh, lại có những nhợc điểm cơ bản Theo thống kê hiện nayViệt Nam có800.000 cán bộ có trình độ đại học, gần 9.000 tiến sỹ, gần 3.000 giáo s, phó giáo
s Riêng trong các cơ quan nghiên cứu và triển khai có hơn 45.000 cán bộ khoahọc công nghệ của hơn 300 viện nghiên cứu, 30.000 nhà khoa học vừa nghiên cứuvừa giảng dạy trong 105 trờng đại học, cao đẳng, có 12 trờng và viện đào tạo caohọc, 74 viện và trờng đào tạo nghiên cứu sinh[17] Chất lợng đào tạo cán bộ khoahọc công nghệ còn thấp, cha đợc cập nhật tri thức hiện đại của thế giới, bị hổngnhiều về hiểu biết công nghệ, quản trị kinh doanh, tiếp thị, ngoại ngữ, thiếu cán
bộ đầu đàn có khả năng tổ chức thực hiện những chơng trình nghiên cứu có tính
đột phá cao Lực lợng chuyên gia giỏi ở các ngành rất mỏng, phần đông chỉ nắm
lý thuyết thiếu kinh nghiệm thực tế
Trong các cơ quan nghiên cứu và triển khai số lợng cán bộ nghiên cứu bậccao còn quá thấp, số tiến sĩ khoa học mới chiếm 0,4%, số phó tiến sĩ (tiến sĩchuyên ngành khoa học) mới có 5,1% Mục đích đào tạo trên đại học là phục vụcho công tác nghiên cứu và triển khai nhng hiện nay lực lợng đó trong khu vựcnghiên cứu và triển khai chỉ có 25% trong tổng số chung trong cả nớc Trongnhững năm vừa qua lực lợng nghiên cứu khoa học có tăng, song so với tốc độ giatăng của các nớc khác thì ở Việt Nam tỷ lệ cán bộ nghiên cứu trên 1 triệu dân cònquá thấp, mới trên 300 ngời Đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ của chúng ta sovới trớc có phát triển, nhng so với số dân hiện nay có khoản 4 cán bộ khoa họccông nghệ trên 10.000 dân ( chỉ tiêu này ở Singapo là 40, Hàn Quốc là 47, NhậtBản là 81) vào loại thấp trên thế giới nhng thuộc mức trung bình khá so với các n-
[17]
[17] Nguyễn Hoàng Giáp - Khai thác môi trờng kinh tế quốc tế cho CNH - HĐH - Tạp chí nghiên cứu kinh tế số
267 tháng 8/2000
Trang 13ớc đang phát triển (ấn Độ: 1,1, Thái Lan: 2,5, Malaysia:4, Trung Quốc 2,5) Độingũ cán bộ khoa học công nghệ thiếu nhiều cán bộ đầu ngành, những chuyên giagiỏi, đặc biệt là những chuyên gia về công nghệ Tỷ trọng cán bộ khoa học côngnghệ hoạt động nghiên cứu và triển khai trong khu vực doanh nghiệp ở Việt Namcòn thấp khoảng 32% (Thái Lan con số này là 58,2%, Sigapo :44% , HànQuốc:48%) Số cán bộ đợc đào tạo về ngành công nghệ còn thấp, chỉ chiếm15,4% trong tổng số đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ[18]
Về độ tuổi, hiện tợng " lão hoá" trong đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ là
đáng kể Theo số liệu điều tra, có trên 63% tiến sĩ, trên 32% phó tiến sĩ và trên20%đại học đã trên 50 tuổi Tuổi bình quân của cán bộ có học vị cao ( tiến sĩ, phótiến sĩ) là 48,5, trong đó tiến sĩ là 52,1 và phó tiến sĩ là 48,1 [19]
[18] [18] ,[19] Nguyễn Thanh Thịnh - Đào Duy Tính - Lê Dũng - Quy hoạch hệ thống nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia 1999, Tr.126, 128,129.
Trang 14bộ khoa học và công nghệ trong một năm So với các nớc, đầu t của Việt Nam quáthấp, chỉ chiếm 1/500 của Singapo, 1/240 của Hàn Quốc,1/300 của Nhật Bản,1/450 của ấn Độ, 1/40 của Thái Lan chỉ đủ duy trì mức tối thiểu tồn tại của cơquan khoa học công nghệ[20]
Bảng 2: Đánh giá khả năng bắt kịp các nớc láng giềng của Việt Nam Thứ hạng theo từng yếu tố ( lý tởng là 1)
Thứ hạng chung nguyênTài Vốn Trình độlao động thị trờngĐộ rộng Thể chế Dân tộctính
2 Thực trạng chuyển giao công nghệ tại việt nam
2.1 Trị giá các hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trong ngành công nghiệp đa số các nhà máy đợc hình thành tại Việt Namluôn phải trải qua các công đoạn sau: xây dựng nhà máy, lắp đặt các trang thiết bịmáy móc, vận hành bảo trì, tuyển nhân lực và đào tạo nhân lực, tổ chức sảnxuất
Trong các liên doanh giữa Việt Nam và nớc ngoài phía Việt Nam phổ biến làcòn khó khăn nhiều về vốn nên chủ yếu góp vốn bằng đất đai, khi đó các công tynớc ngoài thờng dùng hình thức góp vốn bằng tiền và dây chuyền công nghệ sảnxuất Đối với các nhà máy đợc xây dựng bởi nội lực, do trình độ khoa học côngnghệ trong nớc còn nhiều hạn chế, việc nhập khẩu dây chuyền công nghệ từ nớcngoài cũng là phổ biến Vì vậy trên cơ sở lý thuyết phải có hợp đồng CGCN nhngtrên thực tế lại không hoàn toàn nh vậy Do nhiều nguyên nhân trong các liên
[20] [20] Nguyễn Thanh Thịnh - Đào Duy Tính - Lê Dũng - Quy hoạch hệ thống nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia 1999, Tr.141.
1
Trang 15doanh, cũng nh các doanh nghiệp trong nớc khi CGCN từ bên ngoài vào Việt Namcác chủ đầu t nớc ngoài do sợ bị kéo dài thời gian do phải xem xét hợp đồng, phảiqua thẩm định hay không muốn công khai hoá tình trạng công nghệ sản xuất ở
đơn vị mình nên thờng bỏ qua việc lập hợp đồng CGCN Vì vậy rất khó có thể xác
định đợc chính xác đợc trị giá các hợp đồng CGCN từ nớc ngoài vào Việt Nam từtrớc đến nay
Ngay cả các liên doanh lớn giữa Việt Nam và nớc ngoài cũng không có hợp
đồng CGCN Công ty liên doanh ô tô Hoà Bình (VMC) với tổng số vốn đầu t58.000 USD đợc liên doanh bởi Columbian Motor Corp và Imex Pan.Pacific(Phiplipin) với nhà máy ô tô Hoà Bình và Công ty Trancimex; Công ty liên doanh
ô tô Mê kông (Mekong Auto Corp) đợc liên doanh bởi Silio Machinery Co Ltd
và Sae Young Intl Inco Ltd (của Hàn Quốc) với nhà máy cơ khí Cổ Loa và nhàmáy SAKYNO với tổng số vốn 35.995 USD đều không có hợp đồng CGCN[21].Trong những năm qua các doanh nghiệp trong nớc đã ý thức rất rõ về việcnhập khẩu dây chuyền thiết bị máy móc từ nớc ngoài để tăng năng lực sản xuất.Chính vì lẽ đó trong tổng kim ngạch nhập khẩu giá trị máy móc dây chuyền nhậpkhẩu chiếm một tỷ trọng tơng đối cao Từ năm 1995 - 2000 khối lợng thiết bị toàn
bộ và máy móc dụng cụ nền kinh tế nhập khẩu đạt tới 30% trong tổng kim ngạchnhập khẩu [22]
2.2 Chuyển giao công nghệ theo lĩnh vực và theo đối tác.
2.2.1 Chuyển giao công nghệ theo lĩnh vực.
Do yêu cầu phát triển của nền kinh tế, mọi ngành mọi lĩnh vực sản xuất đã
và đang tiến hành đổi mới công nghệ thông qua con đờng CGCN nớc ngoài vàotrong nớc Trong những năm vừa qua công nghệ đợc chuyển giao chủ yếu đợc tậptrung vào các ngành các lĩnh vực nh: công nghệ thông tin; công nghệ sinh học;ngành vật liệu; ngành dệt may
[21]
[21] Bộ kế hoạch và đầu t 1999 - Tạp chí Công nghiệp số 20/1999.
[22] [22] Nguyễn Mạnh Hùng - Giảm chi phí sản xuất nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Việt Nam - Tạp chí kinh tế và dự báo số 11/2002.
Trang 16• Ngành công nghệ thông tin
Phải nói rằng thông qua hoạt động CGCN mà ngành công nghệ thông tin củanớc ta đã phát triển nhanh chóng và đã dần tiếp cận đợc với trình độ hiện đại củathế giới, trong đó đặc biệt phải kể đến Bu chính viễn thông
ở nớc ta từ chỗ chỉ có 9 đờng dây quốc tế năm 1987, đến cuối 1995 đã lên
đến 2500 Sự tăng tốc này phần lớn là do sự tham gia mạng lới của hãng Telstra(Australia), Ericssion (của Thuỵ Điển) từ cuối năm 1987 Một dự án khác đợcnhiều công ty nớc ngoài tham gia cùng với đối tác Việt Nam là Tổng công ty Buchính viễn thông (VNPT) là hệ thống cáp sợi quang xuyên biển nối liền Thái Lan,Việt Nam, Hồng Kông Năm 1993 Tổng công ty bu chính viễn thông Việt Nam đãhoàn thành việc xây dựng và đa vào khai thác tuyến thông tin cáp quang Bắc Nam
đầu tiên có dung lợng 34Mbit/s dài 1830 km Số hoá hoàn toàn mạng truyền dẫnliên tỉnh với tổng chiều dài 167.906km luồng 2Mbit/s tăng 918,5% so với 1992.Ngày 03/12/1995 VNPT đã hoàn chỉnh chỉ tiêu phát triển đạt 742.000 máy điệnthoại đa mật độ điện thoại bình quân cả nớc lên 1/100 dân Đến năm 2000 vợt quamật độ 4máy/100 dân tăng 4,23 lần so với 1995 số lợng máy điện thoại toàn mạng
là 3,3 triệu máy Việt Nam đợc liên minh viễn thông thế giới ITU đánh giá là nớc
có tốc độ phát triển điện thoại nhanh thứ hai thế giới
Tính đến hiện tại, 90% số xã trong cả nớc có máy điện thoại Mật độ điệnthoại trên toàn quốc là 5,44 máy/ 100 dân Công ty viễn thông quân đội Vietel,Công ty viễn thông điện lực ETC, Công ty viễn thông hàng hải VISHIPEL, Công
ty dịch vụ cổ phần bu chính viễn thông Sài Gòn (SPT) đang tích cực trong việckhai thác các dịch vụ thông tin trên thị trờng bu chính viễn thông Việt Nam.Nhiều dịch vụ mới ra đời nh Vo/P trong nớc và quốc tế, chuyển vùng điện thoại di
động trong nớc và quốc tế, Internet Card, Mobimail Bên cạnh dịch vụ điện thoại
đờng dài giá rẻ nh 171 của VNPT các dịch vụ 178 của công ty Vietel, 177 của SàiGòn Postel đang hoạt động trên thị trờng bu chính viễn thông Việt Nam Phấn đấu
đến năm 2005 của VNPT đạt 8- 10 thuê bao điện thoại/ 100 dân (gồm cả máy cố