1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Đề tài nghiên cứu: Kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sanh tại BVHV năm 2009

12 192 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 254 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng về việc nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) của sản phụ sau sanh tại Khoa Hậu sản A – B Bệnh viện Hùng Vương. Mời các bạn cùng tham khảo Đề tài nghiên cứu: Kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sanh tại BVHV năm 2009 để nắm bắt nội dung của vấn đề.

Trang 1

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH VỀ NUÔI CON BẰNG SỮA

MẸ CỦA SẢN PHỤ SAU SANH TẠI BVHV NĂM 2009

Lê Thị Yến Phi 

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng về việc nuôi con bằng sữa mẹ

(NCBSM) của sản phụ sau sanh tại Khoa Hậu sản A – B Bệnh viện Hùng Vương.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 384 sản phụ có bé nằm theo mẹ nhập Khoa Hậu sản A

(khu dịch vụ) – 384 sản phụ có bé nằm theo mẹ nhập Khoa Hậu sảnB (khu không dịch vụ) từ 31/8/2009 đến 31/12/2009.

Kết quả: Tỷ lệ sản phụ có kiến thức đúng là 29%, thái độ đúng là 13%, thực hành đúng là 4% Ở

sản phụ sanh con so thực hành tốt hơn ở sản phụ sanh con rạ Ở sản phụ có trình độ học vấn > cấp 2 có thái độ và thực hành đúng hơn.Ở Khoa Hậu Sản B (khu không dịch vụ) có đến 329 (96%) sản phụ thực hành cho bé bú sớm trong 2 giờ đầu sau sanh cao hơn Khoa Hậu Sản A (khu dịch vụ) chỉ có 263 (68%) sản phụ cho bé bú sớm trong 2 giờ đầu sau san Chỉ có 06 sản phụ (0.78%) vừa có KT, TĐ và TH đúng về NCBSM

Kết luận: Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tỷ lệ các sản phụ có kiến thức, thái độ, thực

hành về NCBSM còn thấp Các sản phụ chưa có đầy đủ kiến thức về NCBSM nên chưa tự tin mình

đủ sữa cho bé bú, vì thế các bà mẹ thường cho bé bú sữa công thức trước khi cho con bú sữa của mình Phần lớn các sản phụ chưa thực hành đúng Điều này đòi hỏi cần phải đẩy mạnh công tác truyền thông để các phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có đầy đủ kiến thức về NCBSM

Từ khóa: Kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con bắng sữa mẹ.

KNOWLEDGE, ATTITUDE AND PRACTICE ON BREASTFEEDING OF

POSTPARTUM WOMEN IN HUNG VUONG HOSPITAL

ABSTRACT

Objectives: To determine percentage of postpartum women having appropriate knowledge,

attitude and practice on breastfeeding at A & B Postpartum wards of Hung Vuong Hospital

Method: Descriptive, cross – sectional study was carried out on 384 mothers of neonates staying

at A Postpartum ward (serviced area) and 384 mothers of neonates staying at B Postpartum ward

(non serviced area) from 31/8/2009 to 31/12/2009

Result: 29% postpartum woman were appropriate knowledge, 71% inappropriate knowledge,

13% appropriate attitude, 87% inappropriate attitude, 4% appropriate practice, 96%

inappropriate practice Null parity women have better practice than multiparity women Women

graduated secondary school and upwards have better attitude and practice 329 (96%) Women staying at B Postpartum wards (non serviced area) carry out early breastfeeding within 2 first hours after giving birth while only 263 (68%) women staying at A Postpartum ward (serviced area) do

so There is only 6 (0.78%) women having appropriate knowledge, attitude and practice on

breastfeeding

Conclusion: Percentage of postpartum woman having appropriate knowledge, attitude and

practice of breastfeeding is low They haven’t had enough knowledge on breastfeeding They are not confident of having suficient milk for their neonates, therefore, they often to feed their neonates formula milk before breast-milk Most of them practise inappropriately A strong promotion of propaganda to give women in the age of reproduction sufficient knowledge on breastfeeding should be carried out.

Keyword: Knowledge, attitude and practice on Breastfeeding

*Phòng Điều Dưỡng Bệnh viện Hùng Vương,

1

Trang 2

Tác giả liên lạc: CN Lê Thị Yến Phi ĐT: 0918115035 Email: phivygdhp@ymail.com

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

NCBSM là biện pháp tự nhiên mang lại nhiều lợi ích về kinh tế, nhiều hiệu quả bảo vệ sức khỏe

bà mẹ và bé Sữa mẹ chứa hàng trăm thành phần dinh dưỡng và các yếu tố bảo vệ giúp tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể của bé Đặc biệt, sữa non là dòng sữa đầu tiên do bầu vú tiết ra rất giàu năng lượng, vì vậy ngay trong giờ đầu sau sanh cần cho bé bú mẹ [2] Nhiều năm trước đây các nhà nghiên cứu đã biết sữa mẹ cung cấp nhiều ích lợi cho sức khỏe của bé, hạ thấp

tỷ lệ: tiêu chảy, phát ban, dị ứng thức ăn và nhiều vấn đề Y Khoa nữa, khi so sánh với những bé được nuôi bằng sữa bò [10] Bà mẹ NCBSM giúp phát triển mối quan hệ gần gủi yêu thương, gắn bó tình cảm mẹ con [2] Ngoài ra việc NCBSM rất kinh tế vì có thể tiết kiệm cho nhà nước hàng triệu USD vào việc sản xuất, vận chuyển phân phối các sản phẩm, thực phẩm đắt đỏ dùng

để chữa trị, phục hồi cho các trẻ em bị suy dinh dưỡng [8].Mặc dù lợi ích như vậy, hầu hết các bà

mẹ ở Việt Nam chưa thực hiện tốt cho bé bú đúng phương pháp Theo UNICEF ước tính 1.3 triệu trẻ chết hàng năm bởi không được NCBSM hoàn toàn trong vòng sáu tháng đầu mà bị nuôi bằng các thức ăn, đồ uống khác [8] Theo Anthony Bloomberg, đại diện UNICEF ở Việt Nam thì chỉ có chưa đến 1/3 các bà mẹ NCBSM trong 4 tháng đầu Tỷ lệ trung bình Thế Giới là khoảng 40% Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ ở Việt Nam giảm xuống còn 5% khi bé được 4 – 6 tháng tuổi Đây là một trong các vùng có tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ thấp nhất và có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ nhỏ [11] Thêm vào đó là trong cuộc sống hiện đại, người phụ nữ không có nhiều thời gian dành cho con bú Nguyên nhân chủ yếu là thái độ xã hội, trong đó thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng, nhất là người chồng Các bậc ông, bà, thiếu kiến thức và các bà mẹ không ý thức được vai trò quan trọng của việc NCBSM Tại Bệnh viện Hùng Vương –

Tp Hồ Chí Minh, là Bệnh Viện Bạn Hữu Trẻ Em từ năm 1995, trong khu vực của môi trường sống công nghiệp hiện đại cũng cần được tìm hiểu, nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của sản phụ sau sanh về việc NCBSM ra sao, nhằm đề ra những biện pháp can thiệp thích hợp Nghiên cứu được thực hiện với câu hỏi nghiên cứu và các mục tiêu sau:

Câu hỏi nghiên cứu: Tỷ lệ kiến thức (KT), thái độ (TĐ), thực hành (TH) đúng trong việc

NCBSM của sản phụ sau sanh tại Khoa Hậu Sản A - B BVHV năm 2009 là bao nhiêu?

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát:

Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng về việc nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sanh tại Khoa Hậu Sản A - B - Bệnh viện Hùng Vương vào 31 tháng 9 năm 2009 đến 31 tháng

12 năm 2009

Mục tiêu cụ thể:

1 Xác định tỷ lệ kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sanh tại BVHV

2 Xác định tỷ lệ thái độ đúng về nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sanh tại BVHV

3 Xác định tỷ lệ thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sanh tại BVHV

4 Tìm mối tương quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành của sản phụ về việc nuôi con bằng sữa mẹ tại BVHV

III THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

III 1 Loại nghiên cứu:

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Thời gian nghiên cứu: Từ 31/8/2009 đến 31/12/2009

Địa điểm nghiên cứu: Khoa Hậu Sản A – B

III 2 Đối tương nghiên cứu:

- Dân số chọn mẫu: Sản phụ sau sanh không can thiệp có bé nằm theo mẹ nhập Khoa Hậu Sản A

- B Bệnh viện Hùng Vương

- Dân số nghiên cứu: Sản phụ sau sanh ngày thứ nhất không có bệnh lý nội khoa, có bé nằm theo

mẹ nhập Khoa Hậu Sản A - B - BVHV từ 31/8/2009 đến 31/12/2009 đồng ý tham gia

3

Trang 4

III 3 Định nghĩa các biến số thu thập:

Kiến thức

01 Lợi ích của sữa

non Gồm 2 giá trị có biết và không biết:Có biết (1đ) khi trả lời được 1/3 ý: Nhiều chất dinh dưỡng, nhiều

kháng thể, dễ tiêu hóa

Không biết khi không trả lời được ý nào

02 Lợi ích cho bé

khi được NBSM

Gồm 2 giá trị đúng và sai:

Đúng (1đ) khi trả lời được 2/3 ý: Nhiều chất dinh dưỡng, dễ tiêu

hóa, bảo vệ cơ thể bé không nhiễm bệnh

Sai khi trả lời 1 ý hoặc không đúng ý trên

03 Lợi ích cho mẹ

khi cho bé bú mẹ

Gồm 2 giá trị đúng và sai:

Đúng (1đ) khi trả lời được 3/5 ý: Không tốn tiền, tiện lợi, tăng

tình cảm mẹ con (gần gủi), giúp ngừa thai, chống ung thư vú

Sai khi trả lời 1,2 ý hoặc không đúng ý trên

04 Nguyên tắc đề

NCBSM

Gồm 2 giá trị đúng và sai:

Đúng (1đ) khi trả lời được 3/5 ý: Cho bú mẹ ngay sau sinh càng

sớm càng tốt, bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong vòng 6 tháng, không cho uống thêm bất kỳ gì ngoài sữa mẹ (kể cả nước chín), cho bú kéo dài đến 24 tháng, cho bú theo nhu cầu của bé, đến 6 tháng tuổi mới cho bé ăn dặm

Sai khi trả lời 1,2 ý hoặc không đúng ý trên

05 Cách duy trì

nguồn sữa

Gồm 2 giá trị đúng và sai:

Đúng (1đ) khi trả lời được 3/5 ý: Uống nhiều nước, ăn đầy đủ

chất dinh dưỡng, nghỉ ngơi thoải mái, cho bé bú nhiều lần hơn, vắt bỏ lượng sữa thừa sau mỗi lần cho bú

Sai khi trả lời 1,2 ý hoặc không đúng ý trên

06 Những hạn chế

khi nuôi bé bằng

sữa nhân tạo

Gồm 2 giá trị đúng và sai:

Đúng (1đ) khi trả lời được 2/3 ý: Dễ tiêu chảy, nhiễm bệnh, tốn

tiền

Sai khi trả lời khác ý trên

Sản phụ có KT đúng về NCBSM khi trả lời đúng cả 6 phần trên (hay 6 điểm).

Thái độ:

Các biến trong phần TĐ có 2 giá trị: đồng ý và không đồng ý (1đ).

01 Sữa mẹ là tốt nhất vì có đầy đủ chất dinh dưỡng (1đ).

02 NCBSM là biện pháp bảo vệ sức khỏe cho cả mẹ và bé (1đ).

03 Lời khuyên về lợi ích của việc NCBSM là hoàn toàn đúng (1đ).

04 Chấp nhận cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sanh (1đ).

05 Chấp nhận cho bé bú sữa mẹ hoàn toàn theo nhu cầu kể cả ban đêm (1đ).

06 Chấp nhận không cho bé uống thêm nước vì sữa mẹ đủ lượng nước (1đ).

07 Chấp nhận cho bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 – 6 tháng đầu (1đ).

Sản phụ có TĐ đúng khi trả lời đồng ý cả 5/7 phần trên (hay ≥ 5 điểm)

Thực hành: Các biến trong phần thực hành có 2 giá trị có và không.

01 Quan sát cách bà mẹ bế bé cho bú đúng (1đ).

02 Quan sát cách bà mẹ cho bé ngậm bắt vú đúng (1đ).

03 Cho bé sớm trong vòng 1 giờ sau sanh (1đ).

04 Cho bé bú sữa mẹ hoàn toàn theo nhu cầu kể cả ngày và đêm (1đ).

05 Không cho bé uống nước thêm sau mỗi lần bú (1đ).

06 Không cho ăn thức ăn, nước uống khác ngoài sữa mẹ (1đ).

07 Cần vắt bỏ sữa dư sau mỗi lần cho bú (1đ).

Sản phụ có thực hành đúng khi trả lời 5/7 ý trên (hay ≥ 5 điểm).

Trang 5

III 4 Kỹ thuật chọn mẫu:

- Chọn mẫu: Chọn sản phụ sau sanh thường ngày thứ nhất không có bệnh lý nội khoa có bé nằm

theo mẹ nhập Khoa Hậu Sản A (khu dịch vụ) - Khoa Hậu Sản B (khu không dịch vụ) - BVHV từ

31/8/2009 đến 31/12/2009

- Cỡ mẫu: 384 sản phụ nhập Khoa Hậu Sản A và 384 sản phụ nhập Khoa Hậu Sản B sau sanh không can thiệp Theo công thức:

n = Z2 ( 1 – α /2 ) x pq

d2

n: cỡ mẫu

Z2 ( 1 – α /2 ): hệ số tin cậy = 1,96

d: sai số ước lượng = 5 %

q = ( 1 – p )

p: tỷ lệ có kiến thức = 0,5

- Cách chọn mẫu : Chọn mẫu xác xuất dựa theo tuần tự

III 5 Tiêu chí chọn mẫu:

- Tiêu chí thu nhận:

- Tất cả sản phụ sau sanh không can thiệp

- Không có bệnh lý nội khoa

- Có bé nằm theo mẹ nhập Khoa Hậu Sản Khu A và khu B – BVHV

- Sản phụ đồng ý cho con bú và tham gia nghiên cứu

- Tiêu chí loại trừ:

- Những sản phụ không có khả năng trả lời như: những người câm điếc hay những tâm thần

- Những sản phụ sanh khó: sanh mổ, sanh kềm, sanh hút

- Những sản phụ có bệnh lý không cho phép NCBSM: suy tim, lao phổi, HIV, ung thư đang điều trị hóa chất, đang dùng thuốc chống động kinh

III 6 Phương pháp thu thập số liệu:

- Phương pháp thu thập: Nhóm nghiên cứu sẽ phỏng vấn trực tiếp sản phụ qua bảng câu hỏi đã soạn sẵn Quan sát thái độ và thực hành của sản phụ theo bảng kiểm

- Công cụ thu thập: Bảng câu hỏi

- Kiểm soát sai lệch thông tin:

- Tiến hành soạn bộ câu hỏi với những từ ngữ dễ hiểu, rõ ràng phù hợp với người dân Bảng câu hỏi sau khi soạn xong sẽ được thử nghiệm trên một số sản phụ sau đó chỉnh sửa lại cho hợp lý Rồi mới bắt đầu tiến hành thu thập số liệu

- Nhóm nghiên cứu sẽ được tập huấn kỹ về phương pháp thu thập số liệu để sử dụng bảng phỏng vấn được đồng bộ

IV XỬ LÝ SỐ LIỆU

Phân tích số liệu và xử lý số liệu:

- Các bộ câu hỏi sau khi đã phỏng vấn xong sẽ được kiểm tra tính phù hợp, sự hoàn tất của bộ câu hỏi, những phiếu không đầy đủ những chi tiết hoặc không phù hợp sẽ được phỏng vấn lại hoặc loại bỏ những câu hỏi không đúng đối tượng chọn mẫu

- Dữ liệu được mã hóa và nhập vào máy tính sử dụng phần mềm Microsoft Excel

- Thống kê mô tả: Cho tất cả các biến số nghiên cứu được tính bằng tần số và tỷ lệ phần trăm gồm: các biến số là tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư ngụ và các biến số kiến thức, thái độ, thực hành về NCBSM

Lợi ích thu nhận từ nghiên cứu:

- Biết được kiến thức, thái độ, thực hành của sản phụ sau sanh về việc NCBSM ra sao nhằm đề

ra những biện pháp can thiệp Tìm ra hướng bổ sung trong công tác tham vấn NCBSM Từ đó

có hướng giáo dục cho những người trong độ tuổi sinh đẻ ở cộng đồng, để họ có định hướng đúng góp phần bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em

- Những số liệu trong nghiên cứu có thể được cung cấp làm thông tin nền cho các nghiên cứu

về sau trong lĩnh vực tham vấn NCBSM

5

Trang 6

V VẤN ĐỀ Y ĐỨC:

- Đề tài này được thông qua Hội Đồng Nghiên Cứu Khoa Học của BVHV

- BVHV được công nhận là Bệnh viện Bạn Hữu Trẻ Em và NCBSM nằm trong chiến lược chăm sóc của Bệnh viện

- Nghiên cứu tuân thủ các yêu cầu về y đức Không vi phạm đến vấn đề nhạy cảm, riêng tư của sản phụ

- Sản phụ được nhận thông tin đầy đủ từ nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu

VI KẾT QUẢ - BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu được trình bày bao gồm: Mô tả đặc tính của mẫu nghiên cứu, tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng về việc nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sanh

1 Đặc tính của mẫu: Qua khảo sát 768 sản phụ tham gia nghiên cứu có các đặc tính chung sau Bảng 2.1 Đặc tính chung của sản phụ.

Nhóm tuổi

Số lần sanh

Dân tộc

Nghề nghiệp

Trình độ học vấn

Trên cấp 3 (trung cấp, cao đẳng, đại học) 107 13.93%

Nghiên cứu được thực hiện trên 768 bà mẹ sau sanh trong đó 384 sản phụ nhập Khoa Hậu Sản

A và 384 sản phụ nhập Khoa Hậu Sản B sau sanh không can thiệp Đa số (60.67%) thuộc nhóm tuổi từ 25 - 35 Có 50.13% là sản phụ sanh con so và 49.87% là sản phụ sanh con rạ

Những sản phụ tham gia nghiên cứu là nội trợ (40%) và kế đến là công nhân viên chức (31%) Về văn hóa thì chỉ có 13.93% có trình độ cao đẳng, đại học đa số ở trình độ cấp 2 (42.84%) Điều này cho thấy trình độ các bà mẹ tham gia nghiên cứu không cao nên có phần hạn chế về tiếp nhận thông tin và đa số là nội trợ nên có điều kiện gần bé để thực hiện NCBSM

2 Đặc điểm NCBSM:

a Kiến thức:

Bảng 2.2 Nguồn thông tin về NCBSM của sản phụ.

Qua tạp chí, báo đài, tranh ảnh, tờ rơi 397 52%

Trang 7

Không biết 4 1%

Trong 120 sản phụ nhận được nguồn thông tin qua lớp giáo dục tiền sản:

Sản phụ có kiến thức đúng là 35 (29,17%)

Thái độ đúng là 20 (16.67%)

Thực hành đúng là 5 (4.17%)

Kết quả này cho thấy hiệu quả từ lớp giáo dục tiền sản không cao Nên cần kết hợp học lý thuyết với thực hành và cụ thể là ngay sau sanh để giúp sản phụ thực hiện tốt

Bảng 2.3 Tỷ lệ KT về NCBSM (384 sản phụ Khoa Hậu SảnA và 384 sản phụ Khoa Hậu Sản B)

1 Biết được sữa đầu tiên là sữa non nên cho bé bú (1đ) 726 94.5%

5 Biết được những hạn chế khi nuôi bé bằng sữa nhân tạo (1đ) 593 77%

6 Biết được cần làm gì để giúp mình duy trì nguồn sữa (1đ) 575 75%

7 Biết được thời gian từ 4 - 6 tháng trở lên mới cho bé ăn dặm (1đ) 668 87%

8 Biết được nên cho bé bú mẹ đến khi nào thì cai sữa (1đ) 364 47%

29%

71%

Kiến thức đúng 29%

Kiến thức sai 71%

Biểu đồ 1 1 Kiến thức chung đúng về NCBSM

65%

21%

13%

2.87%

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

Tốt (đạt ≥ 7đ) Khá (đạt 5 - 6đ) TB (đạt 3 - 4đ) Kém (đạt < 3đ)

Biểu đồ 1 2 Kiến thức về NCBSM theo điểm đạt.

Kiến thức về NCBSM: KT từng vấn đề khá cao nhưng KT chung đúng về NCBSM chỉ có 223

sản phụ (29%) trả lời đúng 100% các câu hỏi về phần KT (hay đạt 8đ) Số còn lại là 545 sản phụ (71%) có KT không đúng hoặc có một ít KT nhưng không đủ trong đó có 259 sản phụ (34%) trả lời gần đúng tất cả các câu hỏi về phần KT (hay đạt 7đ) Ở đây các sản phụ có KT không đúng bao gồm: chưa có kiến thức đủ về lợi ích cho bé khi NBSM cũng như những hạn chế khi nuôi bé bằng sữa nhân tạo nên cho bé ăn dặm sớm và cho bé cai sữa sớm Nguyên nhân dẫn đến các sản

7

Trang 8

phụ này có kiến thức không đúng có thể do tiếp nhận thông tin về NCBSM không đầy đủ (Qua bạn bè người thân 59%) Tuy nhiên kết quả nghiên cứu trên cao hơn kết quả nghiên cứu năm

2008 ( Khoa Sơ sinh BV Nhi Đồng 2 là 17.91%) [4] Sự khác biệt này là do sự tiến bộ của các phương tiện truyền thông tuyên truyền về NCBSM: báo, đài, internet, lớp giáo dục tiền sản

b Thái độ:Thái độ về NCBSM được đo lường bằng 9 câu hỏi về NCBSM.

Bảng 2.4 Tỷ lệ thái độ đúng về NCBSM (384 sản phụ Khoa Hậu Sản A và 384 sản phụ Khoa Hậu Sản B ).

1 Đồng ý sữa mẹ là tốt nhất phù hợp với nhu cầu phát

triển của trẻ (1đ)

2 Đồng ý lời khuyên về lợi ích của việc NCBSM là hoàn

toàn đúng (1đ)

3 Đồng ý NCBSM là biện pháp bảo vệ sức khỏe cho mẹ

và bé (1đ)

4 Đồng ý cho bé bú mẹ ngay sau sanh càng sớm càng tốt

để trẻ bú được sữa non (1đ)

5 Đồng ý cho bé bú mẹ hoàn toàn theo nhu cầu của bé khi

7 Không đồng ý cho bé uống nước sau mỗi lần bú mẹ vì

sữa mẹ đã đủ nước (1đ)

8 Đồng ý cho bé bú mẹ hoàn toàn trong 4 – 6 tháng đầu

(1đ)

9 Không đồng ý cho bú thêm sữa công thức vài ngày trong

khi chờ đợi mẹ lên sữa (1đ)

13%

87%

Thái độ đúng 13%

Thái độ chưa đúng 87%

Biểu đồ 1 3 Thái độ đúng về NCBSM

51%

47%

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

Biểu đồ 1 4 Thái độ về NCBSM theo điểm đạt.

Trang 9

Thái độ NCBSM: Từng vấn đề về thái độ rất cao nhưng thái độ chung phù hợp về NCBSM

chỉ có 100 sản phụ (13%) trả lời đúng 100% các câu hỏi về phần thái độ (hay đạt 9đ), có 290 sản phụ (38%) trả lời gần đúng về phần thái độ (hay được 8đ) Các sản phụ có thái độ không đúng do thiếu kiến thức về NCBSM nên dẫn đến thái độ không đúng bao gồm: không đủ tự tin vào bản thân đã đủ sữa cho con bú nên cho con bú sữa công thức trước vài ngày trong khi chờ đợi mẹ lên sữa và đã cho bé uống thêm nước sau mỗi cử bú Trong quá trình mang thai sản phụ đã uống loại sữa dành cho bà mẹ mang thai nên trang bị sẵn cho mình khi sinh loại sữa nhân tạo dành cho trẻ

sơ sinh cùng loại

c Thực hành:

Bảng 2.5 Tỷ lệ TH đúng về NCBSM (384 sản phụ Khoa Hậu Sản A và 384 sản phụ Khoa Hậu Sản B ).

1 Cho bé bú sớm trong 2 giờ đầu sau sanh (1đ) 592 77%

2 Không cho bé uống thêm nước sau mỗi cử bú (1đ) 364 47%

5 Cho bé bú theo nhu cầu cả ngày và đêm (1đ) 618 80%

4%

96%

TH đúng 4%

TH sai 96%

Biểu đồ 1 5 Thực hành đúng về NCBSM

17%

48%

32%

3.39%

0%

10%

20%

30%

40%

50%

Tốt (đạt ≥ 6đ) Khá (đạt 4 - 5đ) TB (đạt 2 - 3đ) Kém (đạt < 2đ)

Biểu đồ 1 6 Thực hành về NCBSM theo điểm đạt.

Thực hành về NCBSM: Thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ chỉ có 33 sản phụ (4%) thực

hành đúng 100% (hay đạt 7 điểm) Có sự khác biệt trong thực hành NCBSM của 2 nhóm sản phụ

ở Khoa Hậu Sản A (khu Dịch vụ) (0.5%) và Khoa Hậu Sản B (khu không dịch vụ) (8.1%), ở khu

không dịch vụ do điều kiện kinh tế nên bà mẹ cho bé bú sữa mẹ sớm trong 2 giờ đầu sau sanh nên kết quả thực hành cao hơn khu dịch vụ Nguyên nhân dẫn đến kết quả thực hành thấp do thiếu kiến thức và thái độ không phù hợp về NCBSM nên các sản phụ đã không cho bé bú sữa mẹ sớm ngay sau sanh và khi cho con bú thì phần lớn ở ngày đầu sau sanh do mệt mỏi và do đau vết may nên về tư thế các sản phụ chưa bế bé cho bú đúng cách, từ đó bé ngậm bắt vú không tốt (có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số lần sanh) Mặt khác, do hoàn cảnh xã hội bà mẹ phải đi làm lại sau thời gian nghỉ hậu sản nên đã không cho bé bú hoàn toàn bằng SM (có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nhóm nghề nghiệp về NCBSM).Vì vậy cần có giải pháp thiết thực, hỗ trợ và nâng cao

9

Trang 10

thực hành NCBSM cho những bà mẹ ngay sau sanh.Tuy nhiên kết quả nghiên cứu trên thấp hơn

so với nghiên cứu năm 2008 (Khoa Sơ sinh BV Nhi Đồng 2 là 26.43%) [4] Sự khác biệt này có

thể giải thích: Các bà mẹ hạn chế vận động ở ngày đầu sau sanh (tại thời điểm nghiên cứu)

3 Mối tương quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành của sản phụ về NCBSM:

3.1 Số lần sanh

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P≤ 0.05 về số lần sanh (TĐ, TH về NCBSM) Ở sản phụ sanh con so thực hành tốt hơn ở sản phụ sanh con rạ, có thể giải thích ở sản phụ con rạ có thái độ chưa đúng và đã thành thói quen nên dẫn đến thực hành không đúng

3.2 Trình độ học vấn

So sánh Học vấn ≤ cấp2 (449) Học vấn > cấp2 (319) P

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P≤ 0.05 về trình độ học vấn (TĐ, TH về NCBSM) Ở sản phụ có trình độ học vấn > cấp 2 có thái độ và thực hành đúng hơn, điều này hợp lý với thực

tế vì nhóm học vấn cao có điều kiện tiếp nhận thông tin về NCBSM nên có thái độ tích cực và thực hành tốt

3.3 Sản phụ nhập viện ở khoa hậu sản A (khu dịch vụ) và khoa Hậu Sản B (khu không dịch vụ)

Bảng 2.6 So sánh KT, TĐ, TH về NCBSM của sản phụ ở Khoa Hậu Sản A (khu dịch vụ) và

Khoa Hậu Sản B (khu không dịch vụ)

N = 384 Khoa Hậu Sản B N = 384

Có sự khác biệt trong thực hành NCBSM của 2 nhóm sản phụ ở Khoa Hậu Sản A (khu Dịch vụ)

và Khoa Hậu Sản B (khu không dịch vụ): ở Khoa Hậu Sản A chỉ có 263 (68%) sản phụ cho bé

bú sớm trong 2 giờ đầu sau sanh nhưng ở Khoa Hậu Sản B có đến 329 (96%) sản phụ cho bé bú sớm trong 2 giờ đầu sau sanh

Khi quan sát bà mẹ cho con bú: ở Khoa Hậu Sản A chỉ có 53 (14%) sản phụ đúng về tư thế bế bé cho bú nhưng ở Khoa Hậu Sản B có đến 192 (50%) sản phụ đúng về tư thế bế bé cho bú Ở Khoa Hậu Sản A chỉ có 77 (20%) sản phụ cho bé ngậm bắt vú đúng nhưng ở Khoa Hậu Sản B có đến

271 (71%) sản phụ cho bé ngậm bắt vú đúng Điều này có thể giải thích do đối tượng ở Khoa Hậu sản B (không phải khu dịch vụ) do điều kiện kinh tế nên bắt buộc họ phải cho bé bú mẹ nên

có cố gắng trong việc thực hành cho con bú mẹ

3.4 Mối tương quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành của sản phụ về NCBSM:

Chỉ có 06 sản phụ (0.78%) vừa có KT, TĐ và TH đúng về NCBSM

Có 51 sản phụ (6.64%) có cả 2 KT và TĐ đúng

Có 15 sản phụ (2%) có cả 2 KT và TH đúng

Có 10 sản phụ (1.3%) có cả 2 TĐ và TH đúng

Trong 223 sản phụ có KT đúng về NCBSM chỉ có 99 sản phụ (44%) có TĐ đúng và chỉ có 33 sản phụ (14.8%) TH đúng Trong 100 sản phụ có TĐ đúng về NCBSM chỉ có 51 sản phụ (51%)

có KT đúng và chỉ có 10 sản phụ (10%) TH đúng

Ngày đăng: 08/06/2020, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w