1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TUYẾN TRÙNG KÝ SINH GÂY HẠI TRÊN CÀ RỐT Ở VIỆT NAM VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP SINH HỌC TRONG PHÒNG TRỪ CHÚNG

27 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích nghiên cứu thành phần loài và nhóm tuyến trùng gây hại quan trọng trên cà rốt, đánh giá thử nghiệm biện pháp sinh học trong phòng trừ tuyến trùng tạo cơ sở cho việc quản lý

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

NGUYỄN THỊ DUYÊN

TUYẾN TRÙNG KÝ SINH GÂY HẠI TRÊN CÀ RỐT Ở VIỆT NAM

VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP SINH HỌC TRONG

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS TS Nguyễn Ngọc Châu Người hướng dẫn khoa học 2: TS Trịnh Quang Pháp

… năm 201…

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

Cà rốt (Daucus carota L Him) hiện nay được trồng và tiêu thụ rộng rãi trên

thế giới nhờ có giá trị dinh dưỡng và giá trị trong y học cao(Chen et al., 2016)

Ở Việt Nam, Lâm Đồng và Hải Dương có diện tích trồng tập trung lớn nhất Tuy nhiên, tại các vùng trồng chuyên canh cà rốt đã xuất hiện thiệt hại do tuyến trùng thực vật gây ra ảnh hưởng đến năng suất chất lượng Hiện nay, ở Việt Nam, chưa

có nhiều nghiên cứu sâu về thành phần tuyến trùng ký sinh gây hại trên cà rốt

Để phòng trừ tuyến trùng ký sinh gây hại trên cà rốt, biện pháp sử dụng thuốc hóa học vẫn là chủ yếu Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc hóa học đã và đang gây ra những hậu quả tiêu cực đến môi trường sống, sức khỏe con người

và các sinh vật khác (Meira et al 2006) Biện pháp sinh học là một trong những biện pháp hiệu quả trong phòng trừ tuyến trùng thực vật và an toàn với môi trường (Perry & Moens, 2013) Vì vậy, việc lựa chọn những sản phẩm sinh học thân thiện với môi trường để phòng trừ tuyến trùng là rất cần thiết Với mục đích nghiên cứu thành phần loài và nhóm tuyến trùng gây hại quan trọng trên cà rốt, đánh giá thử nghiệm biện pháp sinh học trong phòng trừ tuyến trùng tạo cơ sở cho việc quản lý dịch hại tuyến trùng trên cà rốt, chúng

tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Tuyến trùng ký sinh gây hại trên

cà rốt ở Việt Nam và thử nghiệm biện pháp sinh học trong phòng trừ chúng”

Mục tiêu của luận án

- Xác định được thành phần loài tuyến trùng ký sinh trên cà rốt ở các vùng trồng cà rốt chính ở Việt Nam

- Xác định được nhóm tuyến trùng ký sinh gây hại quan trọng trên cà rốt ở các vùng nghiên cứu

- Đánh giá được khả năng phòng trừ trong phòng thí nghiệm một số loài tuyến

trùng ký sinh gây hại quan trọng trên cà rốt bằng các loài nấm đối kháng

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ghi nhận và công bố 1 loài mới cho khoa học Bổ sung một giống tuyến trùng mới được ghi nhận ở Việt Nam Ghi nhận thêm 16 loài tuyến trùng ký sinh trên cà rốt ở Việt Nam

- Xác định các nhóm tuyến trùng ký sinh gây hại quan trọng trên cà rốt ở các vùng nghiên cứu

Trang 4

- Bước đầu, đưa ra dẫn chứng khoa học về ảnh hưởng của dịch bào tử nấm

Paecilomyces sp và dịch nhân nuôi nấm Lentinus squarrosulus đối với hai

loài tuyến trùng ký sinh gây hại quan trọng trên cà rốt trong phòng thí nghiệm

- Đánh giá khả năng phòng trừ tuyến trùng ký sinh gây hại cà rốt của nấm đối kháng làm cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp phòng trừ sinh học hữu hiệu góp

phần giảm lượng thuốc hóa học, phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững

- Những dẫn liệu về tuyến trùng ký sinh gây hại trên cà rốt trong luận án có thể sử dụng làm nguồn tài liệu trong giảng dạy bệnh hại cà rốt, cũng như giúp

người nông dân có thể tham khảo trong quá trình sản xuất cà rốt

Nội dung của luận án

Nội dung 1: Xác định thành phần loài tuyến trùng thực vật ký sinh trên cà rốt

dựa vào các đặc điểm hình thái và phân tử

Nội dung 2: Xác định nhóm tuyến trùng thực vật gây hại quan trọng trên cà

rốt ở các vùng nghiên cứu

Nội dung 3: Thử nghiệm khả năng phòng trừ của 2 loài nấm đối kháng

Paecilomyces sp và dịch nhân nuôi nấm L squarrosulus đối với nhóm tuyến

trùng gây hại chính trên cà rốt trong phòng thí nghiệm

Bố cục của luận án

Luận án gồm 156 trang, trong đó: mở đầu 6 trang, tổng quan 19 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 9 trang, kết quả và thảo luận 120 trang, kết luận và kiến nghị 2 trang Luận án gồm 34 bảng, 49 hình, 268 tài liệu tham khảo Ngoài ra còn có danh mục các công trình công bố và phụ lục đi kèm

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu tuyến trùng ký sinh gây hại cà rốt trên thế giới

1.1.1 Các nhóm tuyến trùng ký sinh quan trọng trên cà rốt

Tuyến trùng ký sinh trên cà rốt trên thế giới đã được tập trung nghiên cứu

từ những năm 50 thế kỷ trước Các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở khu vực Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Úc Cho đến nay đã ghi nhận được 21 giống tuyến trùng ký sinh trên cà rốt (Nobbs, 2003) Trong đó, tuyến trùng giống

Meloidogyne và Pratylenchus là nhóm gây hại phổ biển ở nhiều vùng canh tác

cà rốt như: Mỹ, Đức, Úc, Canada,… nhưng ít đề cập đến thành phần loài

Trang 5

1.1.2 Phân loại hình thái và phân tử các tuyến trùng thực vật

Mô tả đặc điểm hình thái, hình thái lượng kết hợp với các kỹ thuật phân tích đặc trưng phân tử giúp cho việc định loại đến loài được chính xác hơn Phân đoạn mở rộng D2D3 của vùng 28S rDNA được sử dụng để phân loại một số giống tuyến trùng thực vật (Subbotin et al., 2008; Van Den Berg et al., 2015)

1.1.3 Khả năng phòng trừ tuyến trùng thực vật bằng nấm đối kháng

Nấm Paecilomyces spp là nấm hoại sinh trong đất, được quan tâm và

nghiên cứu nhiều nhất, do tiềm năng ký sinh và khả năng kiểm soát tuyến

trùng thực vật tốt (Brand et al., 2010) Cơ chế của nấm Paecilomyces spp là

ký sinh trực tiếp bởi sợi nấm (Jones et al., 1984), đồng thời sản sinh ra các hoạt chất và enzyme có khả năng phân hủy lớp kitin bên ngoài trứng và tuyến trùng, tạo điều kiện thuận lợi cho sợi nấm xâm nhập (Mukhtar et al., 2013)

Nấm L squarrosulus là một loài nấm có thể ăn được, giàu dinh dưỡng

(Omar et al., 2011) Chưa có nghiên cứu về khả năng tiêu diệt tuyến trùng của

nấm L squarrosulus Tuy nhiên, trong dịch nhân nuôi nấm L squarrosulus có

chứa hàm lượng enzyme chitinase cao, đây là enzyme phân hủy lớp vỏ và trứng tuyến trùng (Deborah, 2018) và chứa hoạt chất kháng tuyến trùng 1,2 - dihydroxymintlactone (Isaka et al., 2011), phenolic (Ghatr & Sridhar, 2017)

1.2 Tình hình nghiên cứu tuyến trùng thực vật ở Việt Nam

Ở Việt Nam, thành phần loài tuyến trùng ký sinh và gây hại trên cà rốt chưa được nghiên cứu nhiều Theo N.N Châu & N.V Thanh (2000), ghi nhận 12 loài tuyến trùng thuộc 4 giống ký sinh trên cà rốt ở Lâm Đồng Ở Hải Dương,

V.Đ Phiên (2014), đã xác định giống Meloidogyne và Pratylenchus gây hại

trên cà rốt ở Hải Dương Phương pháp phân tích đặc điểm hình thái được đánh giá đầu tiên trong chẩn loại đến loài tuyến trùng Bên cạnh đó, các kỹ thuật phân tử đã được áp dụng trong phân loại tuyến trùng, giúp cho việc định loại đến loài chính xác hơn Trên cơ sở phân tích DNA kết hợp với đặc điểm hình

thái, một số loài mới đã được công bố cho khoa học như: R duriophilus,

R daklakensis, M daklakensis,… (Trinh et al., 2004; 2012; 2018)

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tuyến trùng ký sinh trên rễ, củ cà rốt và đất xung quanh vùng rễ

- Cây cà rốt Daucus carota L Him

- Hai loài nấm đối kháng được sử dụng trong thí nghiệm phòng trừ tuyến trùng

là: dịch bào tử nấm Paecilomyces sp và dịch nhân nuôi nấm L squarrosulus

Trang 6

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Quá trình khảo sát, điều tra tình trạng tuyến trùng ký sinh trên cà rốt tại các vùng canh tác chính thuộc 4 tỉnh là: Đông Anh (Hà Nội); Cẩm Giàng và Nam Sách (Hải Dương); Văn Giang (Hưng Yên); Đức Trọng, Đơn Dương và Đà Lạt (Lâm Đồng) Nghiên cứu được thực hiện tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Luận án được tiến hành từ tháng 10/2014-10/2018

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp điều tra, thu mẫu tuyến trùng

Điều tra thành phần loài được thu mẫu ngẫu nhiên theo phương pháp 5

điểm chéo góc (N.N Châu, 2003; Perry & Moens, 2013)

2.2.2 Phương pháp tách lọc tuyến trùng từ đất và mô thực vật

Tuyến trùng được tách lọc từ đất và rễ theo phương pháp được mô tả bởi N.N Châu và N.V Thanh (1993)

2.2.3 Phương pháp nhân nuôi tuyến trùng

- Tuyến trùng sần rễ giống Meloidogyne được nhân nuôi trên cây cà chua

theo mô tả của López-Pérez et al (2011) có hiệu chỉnh

- Tuyến trùng gây tổn thương rễ thuộc giống Pratylenchus được nhân nuôi

trên các đĩa cà rốt theo phương pháp của Coyne et al (2014)

2.2.4 Phương pháp xử lý, làm trong và làm tiêu bản tuyến trùng

Tuyến trùng được cố định theo phương pháp của Courtney et al (1995),

làm trong và lên tiêu bản cố định theo mô tả được đề cập bởi N.N Châu (2003)

2.2.5 Phương pháp chuẩn bị mẫu chụp ảnh KHV điện tử quét

Xử lý mẫu tuyến trùng để quan sát và chụp ảnh hiển vi điện tử quét được thực hiện theo quy trình của Abolafia (2015)

2.2.6 Các chỉ số đo hình thái trong phân loại tuyến trùng

Các chỉ số hình thái lượng thực hiện theo Siddiqi (2000) Tuyến trùng phân loại theo khóa phân loại của N.N Châu & N.V Thanh (2000), Castillo & Vovlas (2007), Kazachenko & Mukhina (2013), Geraert (2010; 2011),

2.2.7 Phương pháp phân tích phân tử tuyến trùng

Tách chiết DNA theo Holterman et al (2009) PCR khuếch đại vùng gene theo De Ley et al (1999) Sản phẩm PCR được tinh sạch bằng kít GeneJet PCR Purification và được gửi giải trình tự ở Công ty Macrogen - Hàn Quốc

2.2.8 Phương pháp thử nghiệm đánh giá hiệu lực phòng trừ tuyến trùng của nấm đối kháng

Thí nghiệm đánh giá hiệu lực phòng trừ tuyến trùng của nấm đối kháng

được tiến hành theo phương pháp mô tả bởi Pau et al (2012)

Trang 7

2.2.9 Phân tích số liệu

Xử lý số liệu theo các phần mềm: i) phân tích hình thái lượng: Microsoft Excel, GENSTAT 12 (Payne et al., 2009); ii) phân tích trình tự DNA: chương trình BLAST, BioEdit (Hall, 1999), MEGA 6 (Tamura et al., 2013); iii) phân tích sai khác giữa các công thức thí nghiệm đối kháng: SPSS

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần loài tuyến trùng ký sinh trên cà rốt ở Việt Nam

Kết quả phân loại hình thái và phân tử tuyến trùng ký sinh cà rốt đã xác định 25 loài, thuộc 15 giống, 9 họ, 4 bộ (bảng 3.1)

Bảng 3.1 Thành phần loài tuyến trùng ký sinh trên cà rốt ở các vùng điều tra

BỘ TYLENCHIDA THORNE, 1949

Họ Belonolailidae Whitehead, 1960

Giống Tylenchorhynchus Cobb, 1913

1 T mashhoodi Siddiqi & Basir, 1959 + +

2 T annulatus Golden, 1971 + + + +

Họ Hoplolaimidae Filipjev, 1934

Giống Helicotylenchus Steiner, 1945

3 H dihystera (Cobb 1893) Sher, 1961 +

4 H indicus Siddiqi, 1963 + + +

Giống Hoplolaimus Von Daday, 1905

5 H chambus Jairajpuri & Baqri, 1973 +

Giống Rotylenchulus Linford & Oliveira, 1940

6 R reniformis Linford & Oliveira, 1940 + + + +

Giống Mesocriconema Andrássy, 1965

10 M sphaerocephalum (Taylor, 1936) Loof, 1989 + +

Họ Meloidogynidae Filipjev, 1934

Giống Meloidogyne Goeldi, 1892

Trang 8

11 M incognita Chitwood, 1949 + + + +

12 M arenaria Chitwood, 1949 +

13 M graminicola Golden & Birchfield 1965 +

Họ Pratylenchidae Thorne, 1949

Giống Pratylenchus Filipjev, 1936

14 P thornei Sher & Allen, 1953 +

15 P zeae Graham, 1951 + +

16 P haiduongensis Nguyen et al., 2017 +

17 P coffeae Filipjev & Sch Stekhoven, 1941 +

18 P penestran Filipjev & Sch Stekhoven, 1941 +

Giống Xiphinema Cobb, 1913

23 X brevicolle Lordello & Da Costa, 1961 +

Trong đó, tuyến trùng ký sinh trên cà rốt ở Hải Dương có số lượng giống

và loài nhiều nhất với 16 loài thuộc 12 giống, tiếp theo là Lâm Đồng đã ghi nhận được 12 loài thuộc 10 giống, Hà Nội gồm 8 loài thuộc 7 giống và Hưng Yên gồm 7 loài thuộc 7 giống Các kết quả nghiên cứu cũng là những ghi nhận đầu tiên về thành phần loài tuyến trùng ký sinh trên cà rốt tại Hà Nội, Hưng Yên và Hải Dương

Trong nghiên cứu này, trên cà rốt ở Lâm Đồng đã ghi nhận thêm 7 giống

là: Ditylenchus, Tylenchorhychus, Rotylenchulus, Meloidogyne, Hemicaloosia,

Trang 9

Xiphinema và Diphterophora Trong số 15 giống tuyến trùng ký sinh được tìm

thấy ở 4 vùng điều tra, có 6 giống chưa từng được ghi nhận ở trên thế giới là:

Hemicriconemoides, Hemicaloosia, Hoplolaimus, Paralongidorus, Diphterophora và Aphelenchoides

3.2 Đặc điểm hình thái và phân tử các loài tuyến trùng ký sinh trên cà rốt

Đặc điểm hình thái, các chỉ số đo, ảnh chụp, đặc trưng phân tử, cây chủ và phân bố của các loài tuyến trùng ký sinh trên cà rốt ghi nhận trong nghiên cứu

này được mô tả chi tiết và đầy đủ trong luận án

3.2.1 Giống Tylenchorhynchus Cobb, 1913

Có 2 loài thuộc giống Tylenchorhynchus là T annulatus và T mashoodi Loài T annulatus ghi nhận ở 3 vùng canh tác cà rốt là: Hà Nội, Hải Dương

và Lâm Đồng Quần thể phân lập ở Hà Nội có kích thước cơ thể, chiều dài kim hút, chiều dài từ đầu đến lỗ bài tiết và chiều dài thực quản lớn nhất Cả ba quần thể này đều có các đặc điểm hình thái và chỉ số đo tương đồng với quần thể được mô tả bởi Geraert (2010) So với quần thể ở Việt Nam mô tả trước đó, chỉ số a, c’ lớn hơn và kim hút ngắn hơn (N.N Châu & N.V Thanh, 2000)

Loài T mashhoodi ghi nhận ở Hải Dương và Hưng Yên Hai quần thể này

có khoảng biến thiên của kích thước cơ thể nhỏ hơn so với quần thể gốc của loài (Siddiqi & Basir, 1959) và có kích thước cơ thể, chỉ số a nhỏ hơn so với quần thể ở Việt Nam mô tả trước đó (N.N Châu & N.V Thanh, 2000)

Loài T annulatus khác với loài T mashhoodi ở các đặc điểm như: Loài

T annulatus có kích thước của cơ thể, chiều dài từ đỉnh đầu đến vòng thần

kinh lớn hơn loài T mashhoodi Vùng đầu của loài T annulatus không phân biệt với đường viền cơ thể khác với loài T mashhoodi hơi tách biệt với đường viền cơ thể Vị trí lỗ bài tiết của loài T annulatus nằm ngang với phần eo thắt của thực quản, còn lỗ bài tiết ở loài T mashhoodi lùi về phía sau hơn nằm ngang với cạnh trước hoặc gần giữa của thực quản tuyến Loài T annulatus có

đuôi dài, hình trụ, mút đuôi tròn rộng, túi chứa tinh tiêu giảm, không chứa tính

trùng và không tìm thấy con đực Trong khi loài T mashhoodi có đuôi ngắn,

hình chóp, mút đuôi hẹp, túi chứa tinh hình tròn, to, có chứa đầy tinh trùng và

có sự ghi nhận của con đực

3.2.2 Giống Helicotylenchus Steiner, 1945

Có 2 loài thuộc giống Helicotylenchus được ghi nhận ký sinh trên cà rốt là loài H dihystera và H indicus

Loài H dihystera được ghi nhận ở vùng canh tác cà rốt Hải Dương So với

các quần thể của loài được mô tả bởi Sher (1966) và N.N Châu & N.V.Thanh

(2000), quần thể loài H dihystera phân lập từ cà rốt có khoảng biến thiên của

Trang 10

giá trị a, c và kim hút nhỏ hơn

Loài H indicus được ghi nhận ở 3 vùng canh tác cà rốt là: Hà Nội, Hưng

Yên và Lâm Đồng Cả ba quần thể này đều có đặc điểm hình thái, số đo tương đồng với quần thể gốc được mô tả bởi Siddiqi (1963), cũng như quần thể được

mô tả bởi N.N Châu & N.V Thanh (2000)

Loài H indicus được phân biệt với loài H dihystera ở vị trí của phasmid Phasmid của loài H indicus nằm ở phía trước lỗ hậu môn từ 1 - 4 vòng cutin Trong khi loài H dihystera có phasmid nằm ở vị trí cao hơn phía trước hậu

môn từ 8 - 11 vòng cutin

3.2.3 Giống Hoplolaimus Von Daday, 1905

Giống này ghi nhận 1 loài là loài H chambus với 1 cá thể ở vùng canh tác cà

rốt Hải Dương Cá thể này có các đặc điểm hình thái và số đo tương tự với loài

gốc và quần thể ở Việt Nam được mô tả trước đó, ngoại trừ chỉ số b có giá trị nhỏ hơn (Jairajpuri & Baqri, 1973; N.N Châu & N.V Thanh, 2000)

3.2.4 Giống Rotylenchulus Linford & Oliveira, 1940

Giống Rotylenchulus ghi nhận 1 loài R reniformis Loài này được ghi nhận

ở cả 4 vùng canh tác cà rốt Cả bốn quần thể này đều có các đặc điểm hình thái

và số đo tương đồng với nhau và tương đồng với quần thể được mô tả bởi Dasgupta et al (1968) và N.N Châu & N.V Thanh (2000)

3.2.5 Giống Hemicriconemoides Chitwood & Birchfield, 1957

Giống Hemicriconemoides ghi nhận loài H strictathecatus ở Hải Dương và

Hưng Yên Quần thể ở Hưng Yên có kích thước cơ thể nhỏ hơn quần thể ở Hải Dương Hai quần thể này đều có các đặc điểm hình thái và số đo tương đồng với các quần thể đã được mô tả trước đó bởi Esser 1960 và Geraert 2010 Hiện

nay, loài H strictathecatus được gộp chung từ ba loài trước đây là loài

H strictathecatus, H litchi và H mangiferae

Đặc trưng phân tử

Trình tự vùng gen D2D3 của quần thể H4359 tương đồng từ 95 - 99% với

các quần thể thuộc loài H strictathecatus Quần thể H4359 biến đổi nucleotide

từ 1 - 2% so với các quần thể thuộc loài H strictathecatus (từ KM516173 -

KM516178) và biến đổi nucleotide là 5% so với các quần thể thuộc loài

H litchi (AY780956, KF856540, MH142618 và KP192481) Tuy nhiên, 2 loài

này đã được nhập chung thành một loài là loài H strictathecatus Quần thể H4359 tạo thành cùng 1 nhánh lớn đối với H strictathecatus với giá trị

bootstrap là 96

Trang 11

Hình 3.10 Cây phát sinh chủng loại dạng ML (mô hình TN93+G) dựa trên

vùng gen D2D3 của các loài Hemicriconemoides spp

3.2.6 Giống Mesocriconema Andrássy, 1965

Giống Mesocriconema ghi nhận loài M sphaerocephalum ở Hà Nội và Hải

Dương Hai quần thể này có đặc điểm hình thái tương đồng với quần thể được

mô tả bởi Geraert (2010) Tuy nhiên, lại có nhiều sai khác so với quần thể được mô tả ở Việt Nam như: chiều dài cơ thể, các giá trị a, c, vị trí của vulval

và chiều dài kim hút biến thiên rộng hơn; giá trị b, số vòng cơ thể, số vòng từ đầu đến lỗ bài tiết nhỏ hơn (N.N Châu và N.V Thanh, 2000)

Đặc trưng phân tử

Trình tự vùng gen D2D3 của quần thể M4694 phân lập ở Hải Dương tương

đồng với loài M sphaerocephalum (AB933464) 99% Quần thể M4694 biển

KM516177 H strictathecatus KM516176 H strictathecatus KM516174 H strictathecatus KM516173 H strictathecatus KM516175 H strictathecatus

H strictathecatus H4359

MH142613 H strictathecatus KP192481 H strictathecatus AY780956 H strictathecatus KF856540 H strictathecatus MG029574 H parataiwanensis MG029573 H parataiwanensis MG029572 H parataiwanensis MG029571 H paracamelliae MG029570 H paracamelliae KF856534 H chitwoodi KF856533 H chitwoodi KF856539 H californianus KF856538 H californianus MG029576 H kanayaensis MG029575 H kanayaensis KF856521 H wessoni KF856520 H wessoni KF856519 H wessoni KF856527 H promissus KF856529 H promissus KF856522 H macrodorus

KT381016 Hemicaloosia guangzhouensis KT381017 H.guangzhouensis FN433861 Mesocriconema xenoplax FN433869 M xenoplax FN433856 M xenoplax DQ328717 Basiria gracilis AY780979 Aglenchus agricola

100

100

87 99

84 100 100

100

100

100

100 99

94

76 100

90 84 89 83

99 66 84 100

94

89 96 99

0.1

Trang 12

đổi nucleotide từ 0 - 2% so với các quần thể thuộc loài M sphaerocephalum

Quần thể M4694 thuộc cùng 1 nhánh đối với các quần thể thuộc loài

M sphaerocephalum, nhánh này tách biệt hoàn toàn so với nhánh các loài khác

Hình 3.12 Cây phát sinh chủng loại dạng ML (mô hình TN93+G) dựa trên

vùng gen D2D3 của các loài Mesocriconema spp

3.2.7 Giống Hemicaloosia Ray & Das, 1978

Có 1 loài thuộc giống Hemicaloosia được ghi nhận ký sinh trên cà rốt là loài Hemicaloosia sp Theo khóa định loại của Chitambar & Subbotin (2014),

loài Hemicaloosia sp ký sinh trên cà rốt gần giống với loài H luci Tuy nhiên, loài Hemicaloosia sp khác với loài H luci ở các đặc điểm như: Các chỉ số a,

b, c, V đều nhỏ hơn, còn chiều dài từ đầu đến lỗ bài tiết, số vòng từ vulva đến

hậu môn và từ hậu môn đến mút đuôi lại lớn hơn Đuôi của loài Hemicaloosia

sp cũng dài và nhọn hơn so với loài H luci Như vậy, loài Hemicaloosia sp

có thể là loài mới cho khoa học

3.2.8 Giống Xiphinema Cobb, 1913

Có 1 loài thuộc giống Xiphinema được ghi nhận ký sinh trên cà rốt là loài

X brevicolle Loài X brevicolle ghi nhận được 1 cá thể phân lập ở Lâm Đồng

Cá thể này có các đặc điểm hình thái tương đồng với quần thể đã được ghi

nhận ở Việt Nam trước đó cũng như với quần thể loài gốc (N.N Châu & N.V

Mesocriconema sphaerocephalum M4694

AB933464 M.sphaerocephalum AY780950 M.sphaerocephalum AB933464 M.sphaerocephalum AB933465 M.sphaerocephalum AB933465 M.sphaerocephalum AB933466 M.sphaerocephalum AB933467 M.sphaerocephalum KF430522 M.sphaerocephalum AY780969 M.solivagum AY780968 M.ornatum AY780967 Mesocriconema sp Vovlas AY780965 M.xenoplax

FN433855 M.xenoplax AY780964 M.xenoplax FN433869 M.xenoplax FN433856 M.xenoplax FN433871 M.xenoplax DQ328717 Basiria gracilis AY780979 Aglenchus agricola

96 99

95

89 96 100 99 92 93 94 97

0.1

Trang 13

Thanh, 2000; Luc & Coomans, 1992)

3.2.9 Giống Meloidogyne Goeldi, 1892

Có 3 loài thuộc giống Meloidogyne được ghi nhận ký sinh trên cà rốt là loài

M incognita, M arenaria và M graminicola

Loài M incognita ghi nhận được ở cả 4 vùng canh tác cà rốt So sánh với

quần thể được mô tả trước đó bởi Chitwood (1949), bốn quần thể loài

M incognita ký sinh trên cà rốt có các chỉ số như: kích thước cơ thể và kim

hút của ấu trùng, giá trị a của con đực lớn hơn; chỉ số a, c của ấu trùng, kim hút của con đực, con cái nhỏ hơn Các quần thể này cũng tương đồng với quần thể ở Việt Nam được mô tả bởi N.N Châu & N.V Thanh, 2000

Loài M arenaria ghi nhận được 1 quần thể ở Hải Dương Quần thể này ít

biến đổi so với quần thể gốc Chitwood (1949), ngoại trừ kích thước cơ thể của con trưởng thành và ấu trùng, chỉ số b của con đực và ấu trùng nhỏ hơn, chỉ số

c và kim hút của ấu trùng lớn hơn Quần thể này có chiều dài kim hút nhỏ hơn

so với quần thể ở Việt nam đã được mô tả trước đó (N.N Châu & N.V Thanh, 2000)

Loài M graminicola ghi nhận được 1 quần thể ở Hà Nội Quần thể này có

đặc điểm hình thái ít biến đổi so với quần thể gốc, ngoại trừ, con cái có kích thước cơ thể nhỏ hơn và chiều dài kim hút lớn hơn; con đực có kích thước cơ thể và kim hút lớn hơn; ấu trùng có kích thước cơ thể và chiều dài kim hút nhỏ hơn (Golden & Birchfield, 1965) Quần thể này có kim hút của con cái, con đực và ấu trùng, chỉ số c của ấu trùng nhỏ hơn; chỉ số a của ấu trùng lớn hơn

so với quần thể ở Việt Nam (N.N Châu & N.V Thanh, 2000)

Ba loài thuộc giống Meloidogyne ký sinh trên cà rốt có các đặc điểm hình

thái sai khác như:

- Con cái: Loài M arenaria cơ thể có dạng hình tròn đến hình quả hồ lô, cổ ngắn và eo thắt lại ở giữa cơ thể Loài M incognita và loài M.graminicola có

cơ thể hình tròn, cổ ngắn Tuy nhiên, loài M incognita có kích thước lớn hơn

so với loài M graminicola Loài M incognita có vùng lưng cao, vuông, vân bụng tròn mịn, đứt đoạn Loài M arenaria có phần lưng thấp, vân hơi phình sang hai bên Loài M graminicola có vân tròn, mịn, liền không bị đứt đoạn, vùng lưng thấp Loài M incognita lỗ bài tiết nằm ngang hoặc ngay sau gốc kim hút, loài M arenaria và M graminicola lỗ bài tiết nằm cách xa gốc kim hút

- Ấu trùng: Loài M graminicola có đuôi nhọn hơn và hyalin dài hơn so với hai loài còn lại Vị trí Phasmid của loài M incognita nằm ở khoảng giữa của hyaline, vị trí phasmid của loài M arenaria nằm ở nửa trên của hyaline và nằm sát mút đuôi là loài M graminicola

Ngày đăng: 08/06/2020, 15:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w