1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Đặc điểm nuôi dưỡng trẻ non tháng nhẹ cân trong chương trình hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ tại khu cách ly khoa sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 2

7 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 296,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trẻ non tháng hay nhẹ cân cần dinh dưỡng hỗ trợ bằng đường tĩnh mạch và đường ruột, đặc biệt là cần sữa mẹ để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cũng như giảm các biến chứng nhiễm trùng và viêm ruột hoại tử. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định các đặc điểm về nuôi dưỡng ở trẻ non tháng hay nhẹ cân nhịn ăn qua đường tiêu hóa lúc vào khu cách ly khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM NUÔI DƯỠNG TRẺ NON THÁNG - NHẸ CÂN

TRONG CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ TẠI KHU CÁCH LY KHOA SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Nguyễn Duy Tân*, Phạm Diệp Thùy Dương*, Bùi Quang Vinh*

TÓM TẮT

Mở đầu: Trẻ non tháng hay nhẹ cân cần dinh dưỡng hỗ trợ bằng đường tĩnh mạch và đường ruột, đặc biệt là

cần sữa mẹ để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cũng như giảm các biến chứng nhiễm trùng và viêm ruột hoại tử Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định các đặc điểm về nuôi dưỡng ở trẻ non tháng hay nhẹ cân nhịn ăn qua đường tiêu hóa lúc vào khu cách ly khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2

Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu mô tả hàng loạt ca từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2017 trong chương

trình “Hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ” tại khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi đồng 2 Giai đoạn 1 (8/2016-12/2016) của chương trình chỉ có điều dưỡng tham gia, giai đoạn 2 (12/2016-4/2017) có thêm bác sĩ Tiêu chuẩn chọn vào là trẻ non tháng hay nhẹ cân, <7 ngày tuổi và nhịn ăn qua đường ruột ít nhất 24 giờ Tiêu chuẩn loại ra là đa dị tật, tử vong, chuyển khoa Hồi sức Sơ sinh Các biến số chính là thời gian nuôi ăn tĩnh mạch (hoàn toàn, một phần) và tỷ

lệ nuôi ăn đường ruột với sữa mẹ lúc nhập khu cách ly, rời khu cách ly, và xuất viện

Kết quả nghiên cứu: Tổng số 97 trường hợp trẻ non tháng – nhẹ cân, không có cực non và cực nhẹ cân

Tuổi thai trung bình 33,1±2,2 tuần, cân nặng lúc sinh trung bình 1886,6±386 g Thời gian nuôi tĩnh mạch hoàn toàn và một phần là 3,1±2,7 ngày và 6,1±3,5 ngày, với 55,7% đường truyền ngoại biên và 44,3% trung ương 100% trường hợp nuôi ăn đường ruột là dùng sonde dạ dày nhỏ giọt Tại thời điểm xuất viện, trung bình 18,7±8,1 ngày tuổi, có 94,9% trẻ dùng sữa mẹ Giai đoạn 2 có thời gian đạt nuôi ăn đường ruột hoàn toàn ngắn hơn (8±3,6 ngày so với 10,3±5,9 ngày) và tỷ lệ trẻ dùng sữa mẹ nhiều hơn ở mọi thời điểm (p<0,05)

Kết luận: Ở trẻ sanh non - nhẹ cân, nuôi ăn tĩnh mạch còn ngắn và đa số dùng đường truyền ngoại biên

Nuôi ăn đường ruột có tỷ lệ trẻ dùng sữa mẹ ban đầu thấp nhưng tăng dần và khi trẻ nhập viện và khi bắt đầu ăn qua đường ruột thấp Việc bác sĩ tham gia chương trình có tác động tốt đến tỷ lệ trẻ dùng sữa mẹ

Từ khóa: sữa mẹ, non tháng, nhẹ cân

ABSTRACT

FEEDING CHARACTERISTICS OF PRETERM OR LOW BIRTHWEIGHT INFANTS IN THE

"BREASTFEEDING SUPPORT" PROGRAM AT ISOLATION WARD IN THE NEONATAL UNIT OF

HOSPITAL OF CHILDREN 2

Nguyen Duy Tan, Pham Diep Thuy Duong, Bui Quang Vinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 222 - 227

Background: Preterm or low birth weight infants require parenteral or enteral nutrition especially breast

milk to improve nutritional status and reduce the rate of infection, necrotizing enterocolitis Study objectives were

to determine the feeding characteristics of preterm or low birth weight infants who have contraindications for enteral nutrition at the entrance to isolation ward in Neonatal Unit of Children’s Hospital 2

Method: A prospective study described a series of cases from August 2016 to April 2017 in the

Trang 2

"Breastfeeding Support" program at the Neonatal Unit in Hospital of Children 2 In Stage 1 of the program (8/2016-12 /2016), the participants were nurses and in stage 2 (12/2016-4/2017), the physicians also participated

in Inclusion criteria were preterm or low birth weight infants who were less than 7 days old and had contraindications for enteral feeding for at least 24 hours Exclusion criteria were multiple deformities, death, and transfer to Neonatal Intensive Care Unit The main variables were the duration of parenteral feeding (total, partial) and enteral feeding with breast milk at entrance, leave isolation ward, and at discharge

Results: A total of 97 preterm infants - low birth weight do not have extremely preterm and extremely low

birth weight Mean gestational age was 33.1±2.2 weeks, mean birth weight was 1886.6±386g Duration of total and partial parenteral nutrition was 3.1±2.7 days and 6.1±3.5 days; with 55.7% through peripheral veins and 44.3% through central veins 100% enteral feeding was using gastric tube At the time of discharge, mean 18.7±8.1 days old, 94.9% of infants used breast milk Stage 2 with the additional physician’s participation (compared with stage 1 only nurse participation) had a shortening effect on the time that infants had a full enteral feeding (8±3.6 days vs 10.3±5.9 days) It also increases the rate of infants using breast milk at all times (p <0.05)

Conclusions: In preterm - low birth weight infants, parenteral nutrition is short-term and most through

peripheral vein At the time of admission to the hospital and starting enteral nutrition, the rate of infants using breastmilk was low, but then increases gradually The participation of physicians has a positive effect on the rate of breastfeeding

Key words: breast milk, preterm, low birth weight

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trẻ non tháng hay nhẹ cân có nguy cơ cao bị

các biến chứng nặng Do đó, những trẻ này cần

được nhập viện và theo dõi sát, thường phải

cách ly khỏi mẹ; và đôi khi phải tạm nhịn ăn qua

đường tiêu hóa trong một thời gian(5) Theo sinh

lý của sự tiết sữa, sữa mẹ chỉ được tiết ra khi

được trẻ bú hoặc được vắt đều đặn để làm trống

bầu vú(10) Sữa mẹ dễ tiêu hóa và hấp thu, tạo

thuận lợi cho quá trình nuôi dưỡng và giúp giảm

tỷ lệ nhiễm trùng khởi phát muộn, dự phòng

bệnh lý viêm ruột hoại tử và bệnh võng mạc của

trẻ non tháng ở trẻ non tháng hay nhẹ cân(9) Do

đó, việc bảo vệ, duy trì nguồn sữa mẹ cho trẻ

non tháng, nhẹ cân là rất quan trọng

Từ tháng 5/2016, khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi

Đồng 2 đã khởi động chương trình “Hỗ trợ nuôi

con bằng sữa mẹ” tuyên truyền về lợi ích của

sữa mẹ, của việc vắt sữa cũng như thành lập một

khu vực trang bị tủ lạnh và đầy đủ các dụng cụ

cần thiết để các bà mẹ có con non tháng hay nhẹ

cân nằm tại khu cách ly của khoa có thể vắt sữa

đều đặn và dự trữ sữa cho con mình

Do vậy, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của chương trình “Hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ” lên các đặc điểm về nuôi dưỡng ở trẻ non tháng nhẹ cân phải nhịn ăn qua đường tiêu hóa lúc vào khu

cách ly của khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2 ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu

Xác định các đặc điểm về nuôi dưỡng ở trẻ non tháng hay nhẹ cân nhịn ăn qua đường tiêu hóa lúc vào khu cách ly khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2017, trong chương trình “Hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ”

Thiết kế nghiên cứu

Tiến cứu mô tả hàng loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả trẻ non tháng (<37 tuần) hay nhẹ cân (< 2500 g), dưới 7 ngày tuổi và nhịn ăn qua đường tiêu hóa ≥ 24 giờ khi nhập khu cách ly của khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng II từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2017

Trang 3

Tiêu chí chọn vào: trẻ non tháng hay nhẹ cân,

dưới 7 ngày tuổi, nhập khu cách ly của khoa Sơ

sinh bệnh viện Nhi Đồng 2 và nhịn ăn qua

đường tiêu hóa ít nhất 24 giờ, từ tháng 8/2016

đến tháng 4/2017, có thân nhân hoặc mẹ đồng ý

tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại ra: đa dị tật, có chống chỉ

định nuôi con bằng sữa mẹ, mẹ không đồng ý

nuôi con bằng sữa mẹ, trẻ chuyển khoa Hồi sức

tích cực, và tử vong tại bệnh viện

Kỹ thuật chọn mẫu: lấy trọn

Các bước tiến hành

Chương trình “Hỗ trợ nuôi con bằng sữa

mẹ” được thực hiện ở khoa Sơ sinh bệnh viện

Nhi Đồng 2 từ 5/2016 với sự giúp đỡ của tập thể

điều dưỡng của khoa Khi trẻ vào viện, nếu có

chống chỉ định nhịn ăn qua đường ruột, điều

dưỡng sẽ hướng dẫn bà mẹ vắt sữa ở nhà để bảo

vệ nguồn sữa mẹ cho con Khi trẻ bắt đầu ăn qua

đường ruột, điều dưỡng sẽ khuyến khích bà mẹ

vào bệnh viện và hướng dẫn quy trình vắt sữa,

gửi sữa, trữ sữa ở Khoa để cho con ăn

Quy trình vắt sữa, gửi sữa, trữ sữa tại khoa

Sơ sinh

- Bà mẹđến phòng vắt sữa trước 10 phút

- Rửa tay bằng xà phòng đúng qui định

- Vệ sinh bầu vú bằng nước sạch, lau khô

bằng khăn sạch

- Ghi đầy đủ tên trẻ, số giường, số phòng,

ngày giờ vắt sữa vào dụng cụ chứa

- Để sữa đúng nơi quy định

- Điều dưỡng lấy sữa để chuẩn bị cử ăn cho

trẻ hoặc để vào ngăn mát tủ trữ sữa của khoa sơ

sinh ngay

- Sữa vắt ra được trữ ở nhiệt độ 40 C trong tủ

dự trữ của khoa Sơ sinh; và được sử dụng trong

vòng 72 giờ sau vắt Nếu không, sữa này phải

được hủy

- Sữa lấy ra từ tủ dự trữ được làm ấm lại

trong chậu nước ấm để nâng nhiệt độ lên đến 370

C, lắc đều rồi đem cho con của chính bà mẹ đó

Hai giai đoạn nghiên cứu: Trong quá trình

thực hiện nghiên cứu (8/2016-4/2017) chúng tôi chia làm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 (1/8/2016 – 31/11/2016) chúng tôi chỉ tiến hành lấy số liệu, không tham gia vào chương trình “Hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ” ở khoa Sơ sinh

- Giai đoạn 2 (1/12/2016 - 30/4/2017) chúng tôi (bác sĩ chuyên khoa Nhi) tham gia trực tiếp vào chương trình “Hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ” cùng với sự hỗ trợ của điều dưỡng tại khoa Ở giai đoạn này, lúc trẻ vào viện, chúng tôi đã tiến hành tư vấn cho bà mẹ (hay thân nhân trẻ nếu bà

mẹ chưa vào bệnh viện Nhi Đồng 2) về lợi ích của sữa mẹ, cách bảo vệ nguồn sữa mẹ, quy trình vắt sữa, gửi sữa cũng như số lần vắt sữa trong ngày và khuyến khích bà mẹ nhập viện với con sớm nhất có thể khi xuất viện khỏi bệnh viện Sản Sau đó, chúng tôi đã chủ động gặp lại bà mẹ mỗi ngày, nhằm tư vấn giải quyết những khó khăn cụ thể trong quá trình vắt sữa, cho đến khi

bà mẹ có đủ sữa cho con mình

Thu thập và xử lý số liệu

Dùng phần mềm thống kê STATA 13.0 Các biến số định tính được tính bằng n (%); các biến

số định lượng được tính bằng TB ± SD (min, max) Sử dụng phép kiểm T-test cho so sánh 2 trung bình và Chi square cho so sánh 2 tỷ lệ giữa

các nhóm

KẾT QUẢ

Có 97 ca thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong 9 tháng thực hiện nghiên cứu Tuổi thai trung bình

33 tuần, bao gồm 18,6% rất non, 45,6% non vừa, 29,9% non muộn, và 6,2% đủ tháng Cân nặng lúc sanh trung bình 1886,6±386 (g), nam 42 (43,3%), bao gồm 12,4% rất nhẹ cân (12,4%) và 87,6% nhẹ cân vừa

Các đặc điểm nhân trắc của trẻ được trình bày trong bài báo khác nên chỉ xin nhắc lại ngắn gọn Lúc nhập viện trung vị 1 (0;2) ngày tuổi, trẻ cân nặng trung bình 1847,4±393,2g, với 14,4% cân nặng thấp (cân theo tuổi WA <10 pct), 8,25%

Trang 4

10,3% vòng đầu thấp (vòng đầu theo tuổi HC

<10 pct)

Đặc điểm của mẹ

Tuổi mẹ trung bình 27 tuổi, BMI trước sinh

trung bình 21 (kg/m2) Đa số các bà mẹ sinh 1 con

(46,9%) hoặc 2 con (38,5%) Học vấn mẹ khá cao,

đa số cấp 3 (54,6%) và đại học (18,6%)

Đặc điểm nuôi dưỡng trẻ

Bảng 1 trình bày đặc điểm nuôi dưỡng trẻ

trong toàn thời gian nghiên cứu Thời điểm nhập

viện trung vị 1 (0;2) ngày tuổi, thời điểm xuất

viện trung bình 18,7±8,1 ngày tuổi

Ban đầu trẻ đa số được nuôi ăn tĩnh mạch

hoàn toàn (89,7%), chỉ 6,2% kèm bú sữa mẹ và

4,1% kèm bú sữa công thức cho trẻ non tháng 22

kcal/oz Thời gian nuôi tĩnh mạch hoàn toàn

trung bình là 3,1±2,7 ngày Thời gian nuôi ăn tĩnh

mạch một phần trung bình là 6,1±3,5 ngày

Đường nuôi ăn tĩnh mạch ngoại biên chiếm tỷ lệ

55,7%, cao hơn đường tĩnh mạch trung ương

44,3% Khi trẻ được nuôi ăn đường ruột, tỷ lệ

nuôi bằng sữa mẹ cải thiện dần với tỷ lệ có sữa

mẹ 72,2% tại thời điểm ăn đường ruột hoàn toàn,

88,7% lúc rời khu cách ly và 94,9% lúc xuất viện

Bảng 1 Đặc điểm nuôi dưỡng chung (N=97)

TB ± ĐLC

Thời điểm nhập viện (ngày tuổi) 1 (0;2)

Thời điểm xuất viện (ngày tuổi) 18,7 ± 8,1

Thời gian nuôi ăn tĩnh mạch đơn thuần (ngày) 3,1±2,7

Thời gian nuôi ăn tĩnh mạch + ruột (ngày) 6,1±3,5

Thời gian đạt nuôi ăn đường ruột đơn thuần

(ngày)

9,2±5 Đường truyền tĩnh mạch

Nuôi ăn sonde dạ dày nhỏ giọt 97(100)

Loại sữa ăn khi nhập viện

Sữa mẹ Sữa mẹ & sữa công thức

3(3,1) 3(3,1)

Loại sữa khi bắt đầu ăn đường ruột

Sữa mẹ Sữa mẹ & sữa công thức

4(4,1) 8(8,3%) Sữa công thức 85 (87,6)

Loại sữa khi ăn đường ruột hoàn toàn

TB ± ĐLC

Sữa mẹ Sữa mẹ & sữa công thức

41(42,3) 29(29,9) Sữa công thức 27 (27,8) Loại sữa khi rời khu cách ly

Sữa mẹ Sữa mẹ & sữa công thức

63(65) 24(23,3)

Loại sữa khi xuất viện Sữa mẹ Sữa mẹ & sữa công thức

70(72,2) 22(22,7)

Khi xuất viện, hầu hết các bà mẹ có sữa cho

con (94,9%) (Bảng 2) Tuy nhiên tỷ lệ nuôi sữa

mẹ phối hợp với sữa công thức còn khá cao với

tỷ lệ 22,7% hỗn hợp sữa mẹ - sữa công thức; chỉ 72% sữa mẹ hoàn toàn Sữa công thức sử dụng thường là sữa non tháng 22 kcal/oz, ít khi dùng sữa 24 kcal/oz; không có gói tăng cường sữa mẹ (Human Milk Fortifier - HMF) Tỷ lệ bà mẹ có đủ sữa và dư sữa cho con khá cao lần lượt là 64,9%

và 8,3% Đa số (73,2%) bà mẹ sử dụng máy vắt sữa

Kết quả nuôi dưỡng lúc xuất viện là trẻ có vận tốc tăng trưởng khá chậm, chỉ tăng cân 9,3±5,9 g/ngày, và có 29,9% cân nặng theo tuổi

<10 pct

Bảng 2 Tình trạng ăn sữa mẹ lúc xuất viện (N=97)

Sữa mẹ

Phương pháp

Lượng sữa

* Có: trẻ ăn sữa mẹ một phần hoặc hoàn toàn

**Thiếu: bà mẹ phải cho con ăn thêm sữa công thức vào bất

kỳ cữ ăn nào

So sánh nuôi dưỡng trong 2 giai đoạn

Giai đoạn 1 (8/2016 -11/2016) có 50 trường hợp thỏa tiêu chuẩn nhận vào, giai đoạn 2 (12/2016 –

Trang 5

4/2017) có 47 trường hợp thỏa tiêu chuẩn nhận

vào (Bảng 3) Nhờ sự hỗ trợ tích cực hơn, đặc

điểm nuôi dưỡng sữa mẹ ở giai đoạn 2 có cải

thiện hơn giai đoạn 1 Thời gian đạt nuôi ăn

đường ruột hoàn toàn giai đoạn 2 ngắn hơn giai

đoạn 1 (8±3,6 so với 10,3±5,9, p = 0,02) Tỷ lệ ăn

sữa mẹ ở giai đoạn 2 cao hơn giai đoạn 1 tại các

thời điểm nuôi ăn đường ruột hoàn toàn (91,5%

so với 54%, P <0,001) và rời cách ly (97,9% so với

82%, P = 0,01) Khi xuất viện, tất cả 100% trẻ

được ăn sữa mẹ ở giai đoạn 2, trong khi giai

đoạn 1 chỉ 90% trẻ có sữa mẹ (p = 0,05)

Bảng 3 So sánh đặc điểm nuôi dưỡng của giai đoạn 1

(8/2016 – 11/2016) và giai đoạn 2 (12/2016 – 4/2017)

Đặc điểm nuôi dưỡng Giai đoạn 1

n = 50

Giai đoạn 2

n = 47

p

Thời gian nuôi ăn tĩnh

mạch đơn thuần (ngày)

3,5±2,9 2,6±2,3 0,1 Thời gian nuôi ăn bán

phần (ngày)

6,8±4,3 5,4±2,1 0,04 Thời gian đạt nuôi ăn

đường ruột đơn thuần

(ngày)

10,3±5,9 8±3,6 0,02

Ngoại biên 23(46) 31(66)

Trung ương 27(54) 16(34)

Cách nuôi ăn đường ruột

Sonde dạ dày nhỏ

giọt

50(100) 47(100)

1,00

Loại sữa ăn khi nhập viện

Chưa ăn qua đường

ruột

45(90) 42(89,3) 1,00

Sữa công thức 2(4) 2(4,3)

Khi bắt đầu ăn đường

ruột

0,5

Có sữa mẹ 5(10) 7(14,9)

Sữa công thức 45(90) 40(85,1)

Khi ăn đường ruột hoàn

toàn

<0,001

Có sữa mẹ 27(54) 43(91,5)

Sữa công thức 23(46) 4(8,5)

Có sữa mẹ 41(82) 46(97,9)

Sữa công thức 9(18) 1(2,1)

Có sữa mẹ 45(90) 47(100)

Sữa công thức 5(10) 0(0)

Chướng bụng 4(8) 2(4,2)

Ứ dịch dạ dày 5(10) 3(6,5)

BÀN LUẬN

Tỷ lệ ăn sữa mẹ lúc bắt đầu ăn qua đường ruột của nghiên cứu chúng tôi khá thấp (12,4%) khi so sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Maastrup(4), Smith(8) Điều này có thể giải thích một phần là nghiên cứu của chúng tôi thực hiện

ở khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2, là đơn nguyên chuyên sơ sinh, khi trẻ bắt đầu ăn đường tiêu hóa thì phần lớn các bà mẹ vẫn còn chưa xuất viện khỏi bệnh viện sản, tỷ lệ tiếp xúc mẹ - con lúc đầu thấp dẫn đến tỷ lệ ăn sữa mẹ lúc đầu trong nghiên cứu chúng tôi khá thấp Tuy nhiên,

tỷ lệ ăn sữa mẹ hoàn toàn đã cải thiện vào các thời điểm ăn đường ruột hoàn toàn, rời khu cách

ly và lúc xuất viện, do khi đó, các bà mẹ thường

đã xuất viện từ bệnh viện sản và vào bệnh viện Nhi đồng 2 để sẵn sàng chăm sóc và cung cấp sữa mẹ cho trẻ Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tỷ

lệ ăn sữa mẹ của trẻ non tháng khi bắt đầu ăn qua đường ruột, hay ăn sữa mẹ lúc xuất viện như tuổi thai lớn, không hỗ trợ thông khí nhân tạo, tiếp xúc với mẹ sớm, mẹ có trình độ học vấn cao, bà mẹ đã từng cho con ăn sữa mẹ, mẹ nhập viện cùng với con, bà mẹ có dự định nuôi con bằng sữa mẹ, hạn chế sử dụng núm vú giả, vắt sữa sớm trong 12h đầu sau sinh(3, 6)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn bà

mẹ có sữa cho con khi xuất viện, đa số bà mẹ có

đủ sữa cho con, đều này cho thấy chương trình

hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ khá thành công Các bà mẹ của trẻ non tháng gặp nhiều khó khăn khi bắt đầu nuôi con bằng sữa mẹ và duy trì sữa

mẹ, đặc biệt khi con phải cách ly khỏi mẹ để vào nằm ở đơn vị chăm sóc sơ sinh đặc biệt và mẹ lo

âu căng thẳng cho tình trạng sức khỏe của con;

do đó, các bà mẹ này cần được hỗ trợ vắt sữa sớm đều đặn trong thời gian đầu sau sinh để tăng khả năng tạo sữa đầy đủ cho trẻ Việc vắt sữa khi con nằm cách ly không những có lợi ích cho con, mà còn giúp mẹ giảm stress(1, 2)

Nhờ sự hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ tích cực hơn, tỷ lệ trẻ non tháng hay nhẹ cân có sữa mẹ cải thiện một cách rõ rệt vào các thời điểm ăn

Trang 6

đường ruột hoàn toàn, lúc rời khu cách ly, lúc

xuất viện ở giai đoạn 2 so với giai đoạn 1 Nhiều

phương pháp được chứng minh là có hiệu quả

tăng tỷ lệ ăn sữa mẹ ở trẻ non tháng khi trẻ nằm

cách ly khỏi mẹ, như tiếp xúc thể chất sớm giữa

mẹ và con, tác động tư vấn viên tại nhà hoặc tại

bệnh viện, kích thích tiết sữa bằng máy vắt sữa,

tập huấn nhân viên y tế lợi ích của sữa mẹ(7)

KẾT LUẬN

Nghiên cứu 97 trường hợp sơ sinh sanh non

– nhẹ cân (không có cực non và cực nhẹ cân)

trong chương trình “Hỗ trợ nuôi con bằng sữa

mẹ” ở khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi đồng 2 cho

thấy nuôi ăn tĩnh mạch khá ngắn (thời gian nuôi

tĩnh mạch hoàn toàn và một phần là 3,1 và 6,1

ngày) và đa số qua đường ngoại biên Nuôi ăn

đường ruột đều dùng sonde dạ dày nhỏ giọt,

chủ yếu là sữa mẹ và sữa non tháng So với giai

đoạn 1, giai đoạn 2 có thêm bác sĩ tham gia

chương trình có tác động rút ngắn thời gian đạt

nuôi ăn đường ruột hoàn toàn và tăng tỷ lệ trẻ

dùng sữa mẹ ở mọi thời điểm

TÀI LIÊU THAM KHẢO

1 Flaherman JV, Lee CH (2013) “Breastfeeding by Feeding

Expressed Mother’s Milk” Pediatr Clin North Am, 60(1):

227-246

2 Lau C (2001) “Effects of Stress on Lactation” Pediatr Clin North

Am, 48(1): 221-234

3 Maastrup R, Hasen MB, Kronborg H, et al (2014) “Factors

Associated with Exclusive Breastfeeding of Preterm Infants

Results from a Prospective National Cohort Study” PloS one,

9(2): e890077

4 Maastrup R, Hasen MB, Kronborg H, et al (2014)

“Breastfeeding Progression in Preterm Infants Is Influenced by

Factors in Infants, Mothers and Clinical Practice: The Results of

a National Cohort Study with High Breastfeeding Initiation

Rates” PloS one, 9(9): e108208

5 Natarajan G, Shankaran S (2016) “Short- and Long-Term

Outcomes of Moderate and Late Preterm Infants” Am J

Perinatol, 33(3): 305-17

6 Niela-Vilén H, Melender HL, Axelin A, et al (2016) “Predictors

of Breastfeeding Initiation and Frequency for Preterm Infants in

the NICU” J Obstet Gynecol Neonatal Nurs, 45(3): 346-58

7 Renfrew MJ, Craig D, Dyson L, et al (2009) “Breastfeeding promotion for infants in neonatal units: a systematic review

and economic analysis” Health Technol Assess, 13(40): 1-146

8 Smith MM, Durkin M, Hinton VJ, et al (2003) “Initiation of breastfeeding among mothers of very low birth weight

infants” Pediatrics, 11(6): 1337-42

9 Underwood A (2013) “Human milk for the premature infant”

Pediatr Clin North Am, 60(1):189–207

10 WHO (2009) “The physiological basis of breastfeeding” In:

WHO, Infant and young child feeding, pp9-18 WHO Press,

Geneva

Ngày đăng: 08/06/2020, 14:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm